Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

Những quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên và vận dụng những quan điểm đó trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (889.93 KB, 94 trang )


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




NGUYỄN THỊ KIM CHI



NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ VẬN DỤNG
NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐÓ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY





LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC







Hà Nội – 2008

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN





NGUYỄN THỊ KIM CHI


NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ VẬN DỤNG
NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐÓ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 27


LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS. TS. Mạch Quang Thắng




Hà Nội - 2008

- 1 -
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan

Mục lục
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 7
7. Kết cấu luận văn 8
Chương 1. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN
BỘ
1.1. Đạo đức là gốc của người cách mạng 9
1.2. Những nội dung về đạo đức cán bộ 15
1.2.1. Những đạo đức cơ bản của người cán bộ, đảng viên 15
1.2.1.1. Trung với nước, hiếu với dân 15
1.2.1.2. Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư 21
1.2.1.3. Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm 27
1.2.1.4. Tinh thần yêu lao động, nỗ lực học tập, cầu tiến bộ 29
1.2.1.5. Tinh thần quốc tế trong sáng 31
1.2.2. Những căn bệnh thường mắc phải của người cán bộ, đảng viên 34
1.2.2.1.Bệnh tham lam 35
1.2.2.2.Bệnh lười biếng 36

- 2 -
1.2.2.3.Bệnh kiêu ngạo 36
1.2.2.4.Bệnh quan liêu 37
1.2.2.5.Bệnh hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa 40
1.2.2.6.Bệnh tự cho mình là lãnh tụ 41
1.3. Phương pháp xây dựng, rèn luyện cán bộ, đảng viên 46
1.3.1. Tu dưỡng bền bỉ, thường xuyên 47

1.3.2. Nói đi đôi với làm 48
1.3.3. Nêu gương đạo đức 50
1.3.4. Xây dựng đạo đức mới, đấu tranh với những hiện tượng
phi đạo đức 52
1.3.5. Tự phê bình và phê bình 54
Chương 2. RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ HIỆN NAY Ở VIỆT
NAM THEO QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH
2.1. Tình hình đạo đức cán bộ hiện nay 58
2.2. Phương hướng, yêu cầu, quan điểm đối với xây dựng đạo đức cán
bộ hiện nay 65
2.2.1. Phương hướng xây dựng đạo đức cán bộ, đảng viên hiện nay 65
2.2.2. Yêu cầu đối với xây dựng đạo đức cán bộ, đảng viên hiện nay 68
2.2.3. Quan điểm xây dựng đạo đức cán bộ, đảng viên hiện nay 70
2.3. Một số giải pháp rèn luyện đạo đức của người cán bộ hiện nay 72
2.3.1. Nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh để chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động của mỗi người 73
2.3.2. Tăng cường giáo dục về Đảng và đường lối, quan điểm của Đảng cho
cán bộ, đảng viên 74
2.3.3. Đổi mới phương thức giáo dục chính trị - tư tưởng 76

- 3 -
2.3.4. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm rõ con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội để củng cố niềm tin cho cán bộ, đảng viên 77
2.3.5. Kết hợp giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống với
việc quản lý cán bộ, đảng viên 78
2.3.6. Kết hợp giáo dục, thuyết phục với kiểm tra, xử lý nghiêm những
người vi phạm nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước 80
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84




1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử nhân loại thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là biểu tượng về quyết
tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các
dân tộc vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội…Với những cống hiến
của Người cho sự nghiệp cách mạng nước nhà và sự nghiệp cách mạng thế
giới, Hồ Chí Minh đã được Đảng và nhân dân ta tôn vinh là anh hùng dân tộc
vĩ đại, và được UNESCO đánh giá là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn
hoá kiệt xuất của Việt Nam.
Di sản tư tưởng của Người để lại thật vô cùng quan trọng và có ý nghĩa
to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Đảng lấy chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động. Để phấn đấu thực hiện đạt mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
ở nước ta “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, việc
vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như chủ
nghĩa Mác – Lênin trở nên hết sức quan trọng và cần thiết.
Trong suốt quá trình hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn quan tâm
đến vấn đề đạo đức của người cách mạng. Những quan điểm của Hồ Chí
Minh về đạo đức cũng như tấm gương đạo đức của Người là một bộ phận
quan trọng trong hệ thống di sản tư tưởng của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức cách mạng đã trở thành nền tảng đạo đức ở nước ta, một di sản
văn hoá vô cùng quý báu, một động lực tinh thần cho toàn Đảng, toàn dân.
Trong những quan điểm đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt chú
ý đến đạo đức của cán bộ, đảng viên, Người luôn đòi hỏi cán bộ, đảng viên



2
phải trau dồi đạo đạo đức cách mạng. Chính cán bộ, đảng viên là nhân tố
quyết định sự thành bại của toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam do Đảng
ta lãnh đạo. Công tác cán bộ, đảng viên bao giờ cũng được Đảng và Hồ Chí
Minh hết sức coi trọng. Những thành tựu vĩ đại của cách mạng nước ta mấy
chục năm qua có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân cơ bản là
chúng ta thực sự coi trọng và làm tốt công tác cán bộ, đảng viên. Hồ Chí
Minh cho rằng, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.
Theo Người, điều chủ chốt với cán bộ, đảng viên là có thấm nhuần đạo đức
cách mạng hay không. Vì thế, việc giáo dục đạo đức, tu dưỡng phẩm chất đạo
đức của người cán bộ, đảng viên là vô cùng quan trọng. Trong Di chúc, Hồ
Chí Minh không quên dặn Đảng ta là giữ gìn đạo đức cách mạng cho đảng
viên và cán bộ nói chung: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần
đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư ” [39,498] .
Ở bất cứ giai đoạn nào của cách mạng thì đạo đức cách mạng luôn là
một chuẩn mực quan trọng của người cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, trong tình
hình hiện nay, nhiều vấn đề mới nảy sinh, Đảng ta đang đứng trước những
thách thức mới rất gay gắt khi đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ
cán bộ, đảng viên đang bị suy thoái và xu hướng ngày càng gia tăng cả về số
lượng và phạm vi. Sự suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ
cán bộ, đảng viên thực sự đang là một vấn đề bức xúc đối với xã hội, ảnh
hưởng trực tiếp đến mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, làm giảm lòng tin
của nhân dân vào Đảng…. Làm thế nào để ngăn chặn và đầy lùi sự thoái hoá,
biến chất và yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong điều kiện hiện
nay để xây dựng một chiến lược cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách
mạng, theo chúng tôi, có nhiều nội dung, trong đó tìm hiểu, học tập một cách
sâu sắc và thực hiện đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng
viên là chìa khoá quan trọng nhất.



3
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức nói chung, những quan điểm của Người về đạo đức cán bộ, đảng viên
nói riêng là quan trọng nhưng việc vận dụng những tư tưởng, quan điểm đó
vào thực tiễn còn quan trọng hơn và cấp thiết hơn nhiều. Nghiên cứu và vận
dụng quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên trở thành nhiệm
vụ quan trọng nhằm góp phần bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực trong
thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước .
Ngày 7-11-2006, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức
cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Mục
đích của cuộc vận động là: làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về
những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn
luyện và làm theo tấm gương đạo đức của Người; đẩy lùi sự suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện
thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Cuộc vận động được phát động
trong Đảng và xã hội bắt đầu từ ngày 03-02-2007 và tổng kết vào ngày 03-02-
2011. Điều đó càng chứng tỏ rằng, những quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo
đức, trong đó có đạo đức cán bộ, đảng viên đang và sẽ là những chỉ dẫn rất
quan trọng cho cuộc sống của người Việt Nam nói chung, cho cán bộ, đảng
viên nói riêng. Chúng tôi nghiên cứu những quan điểm của Hồ Chí Minh về
đạo đức cán bộ, đảng viên cũng là để góp phần nhỏ bé của mình vào việc
hưởng ứng và thực hiện cuộc vận động đó.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Những quan điểm
của Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên và vận dụng những quan
điểm đó trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.




4
2. Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận bao gồm nhiều lĩnh vực
rộng lớn và phong phú. Chính vì thế, trước đây và cả hiện nay có nhiều nhà
khoa học đã tập trung tìm hiểu những tư tưởng của Người. Trong số đó, có
một số công trình liên quan mật thiết tới đề tài này là:
Đặng Xuân Kỳ với tác phẩm “Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh” (Nxb
Thông tin lý luận, 1990) đã tìm hiểu quá trình Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa
Mác – Lênin và cách mạng Tháng Mười, tìm đường giải phóng cho đất nước,
đồng thời trình bày quan điểm của Người về vấn đề cán bộ, bồi dưỡng thế hệ
cách mạng, về nâng cao đạo đức cách mạng, về tư cách người đảng viên và về
vấn đề giáo dục thanh niên và xây dựng Đảng.
Nguyễn Quang Phát (chủ biên) với cuốn “Quan điểm tư tưởng Hồ Chí
Minh về đức – tài trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội” (Nxb Quân đội
nhân dân, 2006)nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài của người
cán bộ cách mạng và việc nâng cao đạo đức, phát triển tài năng của đội ngũ
cán bộ quân đội theo tư tưởng của Người.
Bùi Đình Phong với “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán
bộ” (Nxb Lao động, 2006) tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác
cán bộ và vận dụng tư tưởng đó trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Luận án tiến sĩ triết học “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức người cán
bộ quân sự” của Hà Huy Thông đã khai thác tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức người cán bộ quân sự; phân tích, luận giải các quan điểm của Người về
những chuẩn mực đạo đức cơ bản, phương châm và phương pháp rèn luyện
đạo đức người cán bộ quân sự; phân tích tính tất yếu khách quan phải tăng


5

cường tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Hồ Chí Minh đối với đội ngũ cán bộ quân
sự.
Phạm Quốc Thành với cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo
đức cho cán bộ đảng viên” (Nxb Chính trị quốc gia, 2004), đã nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của người cán bộ và những chuẩn mực đạo đức
cơ bản của người cán bộ, đảng viên, những căn bệnh mà người cán bộ, đảng
viên cần tránh và những phương pháp phấn đấu rèn luyện để trở thành người
cán bộ, đảng viên tốt và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng, đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Cuốn sách đã nghiên cứu
tư tưởng về rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên thông qua
các tác phẩm, bài nói, bài viết của Người trong thời kỳ 1945-1954. Tác giả đã
góp phần làm rõ điều kiện lịch sử và yêu cầu rèn luyện đạo đức cho cán bộ,
đảng viên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; từ đó tác
giả nêu lên giá trị của những quan điểm ấy đối với lịch sử xây dựng, rèn luyện
đạo đức cho cán bộ, đảng viên và vận dụng vào sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Phạm Ngọc Dũng với bài “Hồ Chí Minh với việc rèn luyện đạo đức
cách mạng cho cán bộ đảng viên” trên website: w. w. w.cpv.vn ngày 09-5-
2007 đã đưa ra những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức cán bộ, đảng viên và nêu cao tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Một số bài trên các tạp chí như: Đại tá. TS Đặng Nam Điền với “Một
số biện pháp giáo dục đạo đức lối sống cho cán bộ đảng viên ở chi bộ trong
tình hình hiện nay” trên website: www.cpv.vn ngày 15-5-2007, Nguyễn Văn
Phúc (1999) với “ Một số giải pháp xây dựng nhân cách đạo đức hiện nay”,
Tạp chí triết học, số 4; Lê Trọng Âu (2005) với “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức”, Tạp chí triết học, số 1 , Nguyễn Đình Tường với “Một số biểu hiện
của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện


6
nay và giải pháp khắc phục”, trên website: www.chungta.com.vn ngày 14-5-

2007, đã nghiên cứu những biểu hiện cụ thể khác nhau của đạo đức cán bộ và
đưa ra giải pháp để khắc phục những biểu hiện tiêu cực trong đạo đức.
Các tác giả trên đây đã nghiên cứu và tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức cán bộ, đảng viên và cũng đã đưa ra những giải pháp khác nhau để
tu dưỡng và rèn luyện đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên những
công trình trên đây hoặc là nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán
bộ trong trong tổng thể nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Người, hoặc là
nghiên cứu tư tưởng của Người về đạo đức cán bộ, đảng viên trong một giai
đoạn lịch sử nhất định… Chưa có đề tài nào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên một cách hệ thống và khái quát. Vì thế,
chúng tôi chọn đề tài này nghiên cứu và vận dụng trong thực tiễn Việt Nam
hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài này có mục đích tìm hiểu những quan điểm của Hồ Chí Minh về
đạo đức cán bộ, đảng viên một cách có hệ thống, cơ bản và vận dụng những
quan điểm đó vào trong thực tiễn xây dựng đạo đức đội ngũ cán bộ, đảng viên
Việt Nam hiện nay.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài phải giải quyết một số
nhiệm vụ cụ thể.
Thứ nhất, làm rõ những quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức cán
bộ, đảng viên.
Thứ hai, làm rõ thực trạng đạo đức cán bộ, đảng viên hiện nay.


7
Thứ ba, nêu phương hướng, yêu cầu đối với việc xây dựng đạo đức cán
bộ, đảng viên và đưa ra giải pháp xây dựng đạo đức cán bộ, đảng viên hiện
nay theo quan điểm của Hồ Chí Minh .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ,

đảng viên
- Phạm vi nghiên cứu: vận dụng tư tưởng trên trong thực tiễn xây dựng
đạo đức cán bộ, đảng viên hiện nay.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là phép biện chứng duy vật. Bởi vì chỉ có phép
biện chứng duy vật mới đem lại cho chúng ta phương pháp nhận thức duy
nhất khoa học và hiệu nghiệm nhất, mới cho phép chúng ta thực hiện đúng
đắn quá trình nhận thức, vạch ra những mối liên hệ và quan hệ sâu xa nhất
của sự vật cũng như hiện tượng của thế giới khách quan.
Trên cơ sở phép biện chứng duy vật, đề tài sử dụng phương pháp kết
hợp lôgic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu làm phương
pháp nghiên cứu chính.
6. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một vấn đề hoàn
toàn mới mẻ song nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ,
đảng viên cho đến nay còn hạn chế. Qua tìm hiểu các tác phẩm, các bài nói,
bài viết của Người về đạo đức, đồng thời tiếp thu và kế thừa thành quả lao
động của các nhà khoa học nghiên cứu về đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí
Minh, luận văn này tìm hiểu và nghiên cứu một cách cơ bản khái quát quan
điểm Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên.


8
Tìm hiểu quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên sẽ giúp
chúng ta hiểu rõ hơn về sự quan tâm của Người dành cho đội ngũ cán bộ,
đảng viên và việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức cán bộ, đảng viên qua đó để có
nhận thức khoa học hơn về tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đề tài: “Những quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng
viên và vận dụng những quan điểm đó trong giai đoạn hiện nay” sẽ góp phần
làm phong phú hơn, đầy đủ hơn cho những nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí

Minh về đạo đức nói riêng và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Đồng thời, đề
tài cũng gợi mở để việc nghiên cứu sâu hơn về những giải pháp xây dựng đạo
đức cán bộ, đảng viên được áp dụng vào trong thực tiễn.
Về ý nghĩa thực tiễn của luận văn, trước hết sẽ giúp chúng tôi, những
người nghiên cứu và tìm hiểu, xác định được những phẩm chất đạo đức cơ
bản để tu duỡng rèn luyện đạo đức cho mình. Sau đó, đề tài còn có thể góp
phần vào quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 2 chương 6 tiết, không kể phần mở đầu, kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo.









9
Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
1.1. Đạo đức là gốc của người cách mạng
Đạo đức hiểu theo nghĩa chung nhất, là một hình thái ý thức xã hội, bao
gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận,
có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với
người khác và toàn xã hội. Đối với mỗi cá nhân, ý thức và hành vi đạo đức
mang tính tự giác chủ yếu xuất phát từ nhu cầu bên trong, đồng thời chịu tác
động của dư luận xã hội, chịu sự kiểm tra của những người xung quanh.
Như vậy, đạo đức là một phạm trù lịch sử, kết quả của quá trình phát

triển của xã hội loài người. Đạo đức thuộc kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy
định bởi cơ sở hạ tầng. Sự thay đổi của hạ tầng kinh tế xã hội làm thay đổi các
chuẩn mực đạo đức xã hội. Tuy nhiên, nhiều chuẩn mực, giá trị đạo đức, như
nhân đạo, dũng cảm, vị tha… có ý nghĩa toàn nhân loại và tồn tại phổ biến
trong các xã hội khác nhau. Do tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội nên
trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Trong xã hội có giai cấp
đối kháng, chuẩn mực đạo đức của giai cấp thống trị chiếm vị trí chi phối đạo
đức xã hội. Do hành vi đạo đức bắt nguồn từ ý thức đạo đức nên đạo đức
thường tỷ lệ thuận với trình độ học vấn, trình độ nhận thức của mỗi cá nhân.
Nhưng không phải cứ có trình độ học vấn cao là có trình độ văn hóa, đạo đức
cao và ngược lại, bởi có sự khác biệt và khoảng cách giữa ý thức đạo đức và
hành vi đạo đức, giữa nhận thức và hành động của mỗi người.
Đạo đức giữ vai trò quan trọng trong xã hội, là một bộ phận quan trọng
của nền tảng tinh thần của xã hội. Đạo đức cách mạng ở nước ta góp phần giữ
ổn định chính trị xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội, xây
dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.


10
Trong xã hội, sự khủng hoảng của đạo đức là một trong những nguyên nhân
dẫn đến khủng hoảng chính trị , kinh tế, xã hội…
Trong suốt quá trình chiến đấu lâu dài dựng nước và giữ nước ở Việt
Nam đã hình thành nên các chuẩn mực các giá trị đạo đức tốt đẹp trong quan
hệ gia đình, cộng đồng và xã hội, phù hợp với yêu cầu tồn tại, phát triển của
cộng đồng dân tộc. Ông cha ta luôn luôn coi trọng đạo đức, giữ gìn và phát
huy những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp. Đó là truyền thống yêu quê hương đất
nước, gắn bó với thiên nhiên, với cộng đồng, đoàn kết, chung thủy, cần cù,
yêu lao động, dũng cảm, kiên cường, hiếu học, sáng tạo…
Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây
dựng xã hội mới, Đảng ta và Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo giữ gìn phát huy

truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, xây dựng nền đạo đức mới, đạo đức
cách mạng. Nội dung đạo đức được Hồ Chí Minh xây dựng trên cơ sở khẳng
định những giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu và phát triển tinh hoa đạo
đức nhân loại, đặc biệt là nội dung tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa
Mác-Lênin. Đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh, một mặt tiếp thu những
yếu tố tích cực của đạo đức cũ, đạo đức truyền thống, mặt khác phát triển tạo
ra nội dung mới, khác về chất, so với đạo đức cũ. Để phân biệt đạo đức cũ và
đạo đức mới, Hồ Chí Minh nói: “Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới
không có gì khác. Nói như vậy là lầm to. Đạo đức cũ và đạo đức mới khác
nhau nhiều.
Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo
đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên
trời”[33, 320]. Người đã dẫn chứng: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần,
kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân
theo để phụng sự quyền lợi của chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm,


11
chính cho cán bộ thực hiện, làm gương cho nhân dân noi theo để lợi cho
nước, cho dân”[33, 320].
Qua sự phân biệt đạo đức cũ, đạo đức mới của Hồ Chí Minh, chúng ta
có thể thấy rằng không phải là chúng không có gì khác nhau, nhưng như thế
cũng không có nghĩa là chúng khác nhau hoàn toàn. Rõ ràng là về mặt tư
tưởng đạo đức thì xã hội cũ và xã hội mới giống nhau tuy nhiên việc thực hiện
những tư tưởng đạo đức ở hai xã hội lại khác nhau. Đạo đức cũ phục vụ cho
giai cấp phong kiến, lấy bản thân mình làm chuẩn, lấy đạo đức cá nhân làm
cơ sở để ứng xử với mọi người. Chính vì thế, Hồ Chí Minh xác định cán bộ,
đảng viên cần phải rèn luyện đạo đức mới, giúp cho họ hành động đúng,
không chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân mình như giai cấp phong kiến ngày
xưa, mà ý thức được trách nhiệm của mình trước dân tộc, đem lại lợi ích cho

dân, cho nước. Đó là lòng yêu nước thương nòi, sẵn sàng chiến đấu hy sinh,
xả thân vì sự nghiệp độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, sống có
tình, có nghĩa, có đạo đức, có lý tưởng, vì nước, vì dân, có ý chí tự lực, tự
cường, tinh thần đoàn kết nhân ái…đạo đức cách mạng đã trở thành một bộ
phận quan trọng của nền tảng tinh thần xã hội, là động lực, nguồn sức mạnh
to lớn để Đảng và nhân dân ta vượt qua mọi thử thách, hy sinh giành độc lập,
tự do, thống nhất Tổ quốc và xây dựng xã hội mới.
Bắt đầu bước chân vào cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã
quan tâm đến vấn đề đạo đức, đặc biệt từ khi tiếp nhận được ánh sáng từ chủ
nghĩa Mác-Lênin, Người đã có sự phân tích đạo đức truyền thống trên một
tinh thần cách mạng và khoa học. Càng nghiên cứu lý luận Mác - Lênin và đi
sâu vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh càng nhận thức rõ và sâu sắc vị trí,
vai trò của đạo đức cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây
dựng xã hội mới. Người nhắc nhở một điều quan trọng: Muốn thực hiện được
mục tiêu theo con đường cách mạng vô sản, mỗi người cần được trang bị và


12
thấm nhuần những điều thuộc tư cách một người cách mạng và như thế làm
cách mạng chỉ giác ngộ chính trị và tăng cường sức mạnh tổ chức thôi là chưa
đủ, cần phải thấm nhuần đạo đức cách mạng. Có thế mới tăng sức mạnh cho
cách mạng lên bội phần. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cũng như sông thì có
nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài
giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân
tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có
đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc
gì”. Cho nên vai trò của đạo đức ở đây cần hiểu rằng: Nó tác động theo hai
hướng, có đạo đức thì cách mạng thuận lợi, ngược lại nếu không có đạo đức
thì cách mạng thất bại. Bởi thế, mọi việc thành công hay thất bại chủ chốt là

do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không.
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, với con người, điều cốt lõi nhất là đạo
đức. Càng quan trọng hơn đối với người cách mạng là phải có đạo đức cách
mạng. Người chỉ rõ: làm cách mạng là cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới tốt
đẹp hơn. Vì thế, đây là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng cũng là nhiệm vụ rất
nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ; nên người cách
mạng phải có đạo đức làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách
mạng lớn lao.
Khi nói về đạo đức của cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh luôn đặt đức
trong mối quan hệ với tài và đức luôn luôn là gốc. Người giải thích: “Đức là
đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức
cách mạng thì có tài mấy cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung
thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân” [38,329]. Rõ ràng
với Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên là nhân tố quyết định sự thành bại của
cách mạng, trong đó đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên là quan


13
trọng nhất, là tiêu chí số một. Người nhiều lần khẳng định: không có đạo đức
cách mạng thì có tài mấy cũng vô dụng.
Quan điểm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt
đối hóa mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp,
phẩm chất và năng lực phải đi đôi, không thể chỉ có mặt này mà thiếu mặt kia.
Như Người phân tích, người nào có đức mà không có tài thì cũng chẳng khác
nào ông bụt ngồi trong chùa, không làm hại ai, nhưng cũng chẳng có ích gì.
Ngược lại, nếu có tài mà không có đức thì cũng chẳng khác gì một anh kinh
doanh giỏi, đem lại nhiều lãi nhưng lãng phí, tham ô, ăn cắp của công, thì chỉ
có hại cho dân, cho nước còn sự nghiệp của bản thân thì sớm muộn cũng đổ
vỡ. Bất luận trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn hay thuận lợi của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, người cán bộ, đảng viên cũng phải có đức, có tài

mới hoàn thành được nhiệm vụ. Đức và tài là hai phẩm chất không thể thiếu
của một người cán bộ, đảng viên tốt. Hai phẩm chất này có mối quan hệ biện
chứng với nhau, bổ sung cho nhau và tạo tiền đề cho nhau phát triển. Đức là
nền tảng của tài, định hướng cho tài năng phát triển. Ngược lại, tài là thành tố
góp phần tạo nên đức, hoàn thiện đức. Dó đó cần phải trang bị cả hai phẩm
chất này cho người cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên trong hai phẩm chất đó đức
là cái gốc. Bởi vì, đức có ý nghĩa quyết định thái độ, lập trường chính trị, tư
tưởng của người cán bộ, đảng viên và quyết định mục tiêu, lý tưởng mà người
cán bộ, đảng viên phấn đấu.
Chính vì nhất quán trong tư tưởng vấn đề cán bộ là cốt tuỷ của sự
nghiệp cách mạng nên suốt cuộc đời mình, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Người
cũng đau đáu một niềm suy nghĩ xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa
hồng, vừa chuyên ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng, xứng đáng với niềm
tin yêu và trông cậy của nhân dân. Người đặc biệt quan tâm xây dựng đạo đức
cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng


14
làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Và người
cán bộ cách mạng phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ
cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng theo Người có thể tóm tắt là:
Nhận rõ phải, trái, giữ vững lập trường; tận trung với nước, tận hiếu với dân.
Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách
mạng. Đó là điều chủ chốt nhất Người muốn khẳng định: muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội cần có con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa
là con người có đạo đức cách mạng với phẩm chất: cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng.
Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vai trò của đạo đức, Hồ Chí Minh
đã tự rèn luyện để có phẩm chất đạo đức cao quý của người cộng sản. Suốt
thời gian bôn ba ở nước ngoài, nằm gai nếm mật, tìm đường giải phóng cho

dân tộc, Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản có đạo đức sáng ngời.
Người cũng đã không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng ấy cho lớp lớp thế
hệ cán bộ Việt Nam. Trong quá trình đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ từ lớp
huấn luyện đầu tiên vào những năm 1925-1927 tại Quảng Châu (Trung
Quốc), Hồ Chí Minh đã rất chú ý đến đạo đức của người cán bộ và coi đức là
cái gốc. Phần bài giảng đầu tiên của Người tại lớp huấn luyện này là Tư cách
của người cách mạng với 23 điều cụ thể về rèn luyện phẩm chất đạo đức cho
người cán bộ cách mạng. Vào cuối năm 1940, trước khi về nước lãnh đạo sự
nghiệp cách mạng của dân tộc, Hồ Chí Minh đã mở nhiều lớp huấn luyện cho
thanh niên yêu nước của tỉnh Cao Bằng tại Tĩnh Tây (Trung Quốc) để đào tạo
cán bộ nòng cốt cho việc xây dựng mặt trận Việt Minh. Trong các bài giảng
của Người ở các lớp học này, nội dung rèn luyện phẩm chất đạo đức người
cán bộ cách mạng cũng luôn được nhấn mạnh. Những nội dung về đạo đức
mà Hồ Chí Minh giáo dục cho cán bộ, đảng viên là cơ sở để các lớp cán bộ
cách mạng Việt Nam rèn luyện, phấn đấu. Nhờ vậy khi mới ra đời, Đảng


15
Cộng Sản Việt Nam có số lượng đảng viên còn rất ít, nhưng sau 15 năm đã
phát triển lên 5000 đảng viên – nòng cốt của cách mạng Việt Nam. Họ đã
thức tỉnh hàng triệu người cùng giác ngộ cách mạng, đứng lên tự giải phóng
cho mình lập nên một kỳ tích vẻ vang - Cách mạng Tháng Tám năm 1945 -
dân tộc Việt Nam đã đập tan hai tầng xiềng xích là thực dân Pháp và phát xít
Nhật; lật nhào chế độ quân chủ, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội cho dân tộc.
Có được kỳ tích này là do công lao của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản
Việt Nam đã dày công giáo dục, rèn luyện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
phẩm chất đạo đức cách mạng, một lòng vì dân, vì nước, vì độc lập, tự do
hạnh phúc của dân tộc.
1.2. Những nội dung về đạo đức cán bộ, đảng viên

Từ tư tưởng coi đạo đức là cái gốc, nền tảng của người cách mạng, Hồ
Chí Minh đã có nhiều bài nói, bài viết đề cập đến đạo đức cách mạng. Đối với
cán bộ, đảng viên, Người đã chỉ ra những phẩm chất đạo đức cơ bản cần rèn
luyện và những căn bệnh mà cán bộ, đảng viên mắc phải cần được khắc phục.
Để từ đó Người đưa ra những nguyên tắc để rèn luyện đạo đức cho cán bộ,
đảng viên.
1.2.1. Những đạo đức cơ bản của người cán bộ, đảng viên
1.2.1.1. Trung với nước, hiếu với dân
Trong bài báo “Người cán bộ cách mạng”, đã đăng trên báo Nhân Dân,
ngày 3 tháng 3 năm 1955, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Người cán bộ cách mạng
phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người
cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là:
Nhận rõ phải trái. Giữ vững lập trường


16
Tận trung với nước. Tận hiếu với dân
Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức
cách mạng hay là không”[34,480].
Trong các mối quan hệ đạo đức mà nhân dân ta thường nói là: đạo cha
con, đạo vợ chồng, đạo thầy trò, đạo nghề nghiệp, thì đạo với dân, với nước là
đạo lớn nhất. Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất đạo đức quan trọng
nhất. Trung, hiếu là những khái niệm đã có từ lâu đời trong đạo đức truyền
thống của Việt Nam và đạo đức Phương Đông, đã được Hồ Chí Minh sử dụng
với những nội dung mới, rộng lớn và cách mạng.
Theo quan niệm cũ, chữ Trung là đạo thờ vua, chữ Hiếu là đạo thờ cha
mẹ. Tuy những đạo này có ưu điểm là răn dạy con người luôn biết tu dưỡng
đạo đức cá nhân, nhưng lại có nhiều yếu tố chật hẹp, không phù hợp với cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc. Vì thế, Hồ Chí Minh đã tiếp biến khái niệm
trung, hiếu của Nho giáo để chọn lọc, tiếp thu những mặt tích cực, gạt bỏ

những mặt hạn chế, từng bước bổ sung, phát triển ngày càng hoàn thiện khái
niệm này cho phù hợp với đặc điểm tâm lý, cốt cách người Việt Nam. Trên
nền tảng truyền thống yêu nước, Hồ Chí Minh đã nâng ý nghĩa, phẩm chất
của khái niệm trung ở đây là trung với nước, trung với Đảng, hiếu ở đây là
hiếu với dân; cải biến, đổi mới thang bậc giá trị cũ thành chuẩn mực giá trị
đạo đức mới - đạo đức cách mạng ở phạm vi rộng hơn.
Trung với nước nghĩa là phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, trung
thành với nước để thực hiện trách nhiệm của cá nhân đối với sự nghiệp dựng
nước và giữ nước. Để trung với nước, phải giáo dục cho cán bộ, đảng viên
tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc, mọi hoạt động đều hướng tới phục vụ
lợi ích của Tổ quốc. Người nói: Yêu Tổ quốc là cái gì trái với quyền lợi Tổ
quốc, chúng ta kiên quyết chống lại.


17
Trung với Đảng là luôn cố gắng hoàn thành tốt nhất mọi nhiệm vụ mà
Đảng giao cho, biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng. Trung với
nước, với Đảng không phải chỉ dừng lại ở việc dành tình cảm cho Đảng, cho
Tổ quốc mà còn bằng cả hành động cách mạng. Người cán bộ, đảng viên cần
thực hiện đầy đủ, hiệu quả mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước, chống mọi nguy cơ làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc, của Đảng.
Người viết: “Nói tóm tắt thì đạo đức cách mạng là:
Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ
chốt nhất.
Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt
đường lối”[36,285].
Xuất phát từ truyền thống quý báu của dân tộc ta, những phẩm chất cao
quý của nhân dân ta và vai trò lãnh đạo của Đảng, Người nhắc nhở phải giáo
dục cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng và tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo
của Đảng, trí tuệ tập thể và của nhân dân. Chính vì vậy, cán bộ, đảng viên

phải biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, cho tập thể, cho nhân
dân, phải đặt lợi ích của Đảng, của tập thể lên trước lợi ích riêng của cá nhân.
Sau khi nói về các tấm gương anh hùng, liệt sĩ, Hồ Chí Minh viết: “Họ cũng
có xương thịt như mọi người, cũng có gia đình như mọi người, cũng biết đau
đớn như mọi người. Nhưng vì họ đã nhận rõ PHẢI, TRÁI, và giữ vững lập
trường, cho nên họ đã hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích chung của nhân dân,
của Tổ quốc, và làm cho kháng chiến thắng lợi”[34,481]. Cuối bài báo, Hồ
Chí Minh viết: “Phải hiểu rằng bổn phận của người cán bộ cách mạng là suốt
đời hết lòng hết sức phục sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”[34,482].
Bên cạnh trung với Đảng, với Tổ quốc, Hồ Chí Minh xác định người
cán bộ, đảng viên còn phải biết hiếu với nhân dân. Khi đến thăm trường cán


18
bộ tự vệ Hồ Chí Minh ngày 7 tháng 1 năm 1946, Người nói: “Đạo đức, ngày
trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức
cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào”.
Qua những lời dạy của Hồ Chí Minh, mọi người Việt Nam đều có thể hiểu là:
Thời đại mới ngày nay, đất nước là của nhân dân mà nhân dân lại là chủ nhân
của đất nước. “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì
dân”, “bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Đảng và Chính phủ
là công bộc, là đày tớ của nhân dân, chứ không phải là làm “quan nhân dân để
đè đầu cưỡi cổ nhân dân”. Người xưa chỉ hiếu với cha mẹ mình thôi, ngày nay
mà phải hiếu với nhân dân. Hồ Chí Minh nói: “…hiếu là hiếu với nhân dân; ta
thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều
biết thương cha mẹ”[32,640].
Nho giáo chỉ giới hạn chữ hiếu đối với cha mẹ. Hồ Chí Minh cũng
thường xuyên nhắc nhở chúng ta phải hiếu với cha mẹ mình, đồng thời Người
mở rộng phạm vị chữ hiếu thành hiếu với nhân dân. Đó là thái độ yêu mến,
quý trọng nhân dân, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân. Hồ Chí

Minh nói: “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình, chí hiếu
nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà
hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến giày vò.
Mình không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố
mẹ của cả nước nữa.
Phải hiểu chữ hiếu của cách mạng rộng rãi như vậy”[34,60].
Dân là trung tâm của sự nghiệp cách mạng. Đối với Hồ Chí Minh điều
quan trọng có ý nghĩa quyết định của đạo đức cách mạng chính là thái độ đối
với dân. Đảng và nhà nước không chỉ coi dân là gốc mà còn phải coi dân là
đối tượng phục vụ trước hết, việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc


19
gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Hiếu với dân, theo lời dạy của Người, thì
cán bộ, đảng viên phải biết yêu mến nhân dân, quý trọng nhân dân, học tập,
làm việc và chiến đấu vì lợi ích của nhân dân, làm cho ai cũng có cơm ăn, áo
mặc, ai cũng được học hành. Chiến đấu vì độc lập tự do, vì hạnh phúc của
nhân dân là mục tiêu của Hồ Chí Minh. Người mong muốn cán bộ, đảng viên
sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ cùng toàn dân xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Cán bộ, đảng viên phải biết chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng của
nhân dân, tích cực giúp đỡ nhân dân vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.
Trong bài báo: Chính phủ là công bộc của dân”, trên báo Cứu quốc, ngày 19
tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã xác định rõ nội dung mới của chữ công
bộc, khác hẳn chính quyền cũ. Người viết: “Người xưa nói: quan là công bộc
của dân, ta cũng có thể nói: chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc
của chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, hạnh
phúc cho mọi người. Cho nên chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt
quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại
cho dân thì phải tránh.”[31,22]. Theo Hồ Chí Minh, không sợ bất cứ khó khăn
gian khổ nào, mỗi cán bộ, đảng viên cần sẵn sàng vì nhân dân chiến đấu, vì

nhân dân phục vụ, làm tôi tớ của nhân dân. Người nói: “Đảng Lao động Việt
nam không sợ kẻ địch nào duc cho chúng có hung tợn đến mấy, không sợ
nhiệm vụ nào dù nguy hiểm nặng nề đến mấy, những đảng Lao động Việt
Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, tôi tớ trung thành của nhân dân”[33,185].
Chuẩn mực đạo đức “Trung với nước, hiếu với dân” theo Hồ Chí Minh
cũng chính là giá trị tư tưởng “ái quốc, ái dân”. Khi mất nước, nhà tan thì mọi
người có tinh thần yêu nước, có tinh thần dân tộc phải tìm đường cứu nước,
cứu dân. Khi có nền độc lập dân tộc, nếu lúc đất nước bị lâm nguy, phải quyết
tâm bảo vệ giang sơn gấm vóc của tổ tiên để lại với tinh thần “Quyết tử cho
Tổ quốc quyết sinh”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,


20
nhất định không chịu làm nô lệ”. Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương mẫu
mực trong thực hành chuẩn mực đạo đức “Trung với nước, hiếu với dân”.
Người ra đi tìm đường cứu nước không phải vì vinh thân, phì gia mà là để
cứu nước, cứu dân. Cuộc đời hoạt động của Người là cả quá trình đấu tranh,
cống hiến cho Đảng, cho cách mạng, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngay sau
khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, với tư cách là Chủ tịch nước,
trước muôn vàn khó khăn sống còn của đất nước, Hồ Chí Minh đã có nhiều
bức thư, bài báo, bài nói để giáo dục và xác định mối quan hệ mới giữa chính
phủ với nhân dân, giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân.
Đọc lại những bài báo, bài nói, bức thư và cả những việc làm của Hồ
Chí Minh về mối quan hệ với dân, chúng ta sẽ hiểu cụ thể và sâu sắc hơn thế
nào là trung với nước, hiếu với dân. Từ đó càng hiểu được vì sao nhân dân ta
đã kính yêu và tin tưởng ở Hồ Chí Minh đến thế. Chúng ta thấy rằng tình cảm
đạo đức của Hồ Chí Minh Hồ đã hòa làm một với tấm lòng yêu nước thương
dân của Người, và đã trở thành mục đích lý tưởng cao đẹp nhất, mà suốt đời
Hồ Chí Minh không một phút giây nào xa rời.
Nhân dân ta vốn đã gắn bó với nước, với nhà, yêu nước với thương

dân, thương người như thể thương thân. Hai tiếng đất nước, Tổ quốc đã là tên
gọi chung của những gì thiêng liêng nhất. Cuộc sống của mỗi người luôn gắn
bó với vận mệnh của đất nước. Cả đất nước Việt Nam là một gia đình, mỗi
người con dân đất Việt là những thành viên, là những người con trung hiếu
của gia đình lớn ấy. Đạo đức trung hiếu của Hồ Chí Minh Hồ đã kế thừa
truyền thống đạo đức của dân tộc, trở thành những chuẩn mực giá trị đạo đức
bao trùm và cao nhất của thời đại ngày nay. Vì đã trung với nước, hiếu với
dân thì càng biết yêu thương tôn trọng con người, cùng các dân tộc anh em và
các nước bạn.

×