Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

Khảo sát truyền thuyết và lễ hội của các di tích Thăng Long tứ trấn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.97 MB, 119 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG VIỆT HƯƠNG

KHẢO SÁT TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI
CỦA CÁC DI TÍCH THĂNG LONG TỨ TRẤN


LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian







Hà Nội – 2012



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



HOÀNG VIỆT HƯƠNG





KHẢO SÁT TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI CỦA
CÁC DI TÍCH THĂNG LONG TỨ TRẤN







Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học dân gian
Mã số: 60 22 36







Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị An











Hà Nội-2012




MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU trang
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
3. Lịch sử vấn đề 4
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Những đóng góp mới của luận văn 7
6. Kết cấu của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Bối cảnh lịch sử và sự hình thành không gian
địa lý – tâm linh Thăng Long tứ trấn 9
1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội 9
1.1.1. Khái niệm “tứ trấn” trong “Thăng Long tứ trấn” 9
1.1.2. “Tứ trấn” ở các địa phương khác 15
1.2. Quá trình xây dựng và tu tạo Thăng Long tứ trấn 18
1.2.1. Đền Quán Thánh 18
1.2.2. Đình Kim Liên 21
1.2.3. Đền Voi Phục 24
1.2.4. Đền Bạch Mã 25
1.3. Kiến trúc của các di tích và không gian địa lý – tâm linh của
Thăng Long tứ trấn 26
1.3.1. Đền Quán Thánh và việc trấn giữ phía Bắc kinh thành 26
1.3.2. Đình Kim Liên và việc trấn giữ phía nam kinh thành 27
1.3.3. Đền Voi Phục và việc trấn giữ phía tây kinh thành 29
1.3.4. Đền Bạch Mã và việc trấn giữ phía đông kinh thành 31

Tiểu kết chương 1 32
Chương 2: Ý nghĩa văn hóa tâm linh trong truyền thuyết về
Thăng Long tứ trấn 34
2.1. Các truyền thuyết về Thăng Long tứ trấn 34
2.1.1. Cốt truyện 34
2.1.1.1. Truyền thuyết về Huyền Thiên Trấn Vũ 34
2.1.1.2. Truyền thuyết về Cao Sơn Đại Vương 37
2.1.1.3. Truyền thuyết về Linh Lang Đại Vương 41
2.1.1.4. Truyền thuyết về thần Tô Lịch - Long Đỗ - Bạch Mã 44
2.1.2. Một số motif cơ bản trong truyền thuyết Thăng Long tứ trấn 48
2.1.2.1. Motif sự ra đời kỳ lạ 48
2.1.2.2. Motif chiến công hiển hách 51
2.1.2.3. Motif hóa thân 56
2.2. Phong tục tín ngưỡng của người Việt qua các truyền thuyết
về Thăng Long tứ trấn 58
2.2.1. Tục thờ các vị thần tự nhiên 58
2.2.2. Tục thờ thành hoàng làng 65
2.2.3. Các ảnh hưởng của Đạo giáo 68
2.3. Mối liên quan giữa truyền thuyết dân gian với lịch sử
của một kinh thành 70
Tiểu kết chương 2 72
Chương 3: Lễ hội ở các di tích Thăng Long tứ trấn 74
3.1. Hội đền Quán Thánh 74
3.2. Hội đình Kim Liên 79
3.3. Hội đền Voi Phục 87
3.4. Hội đền Bạch Mã 95
3.2. Ý nghĩa của các lễ hội đối với người dân Hà Nội hôm nay 100
Tiểu kết chương 3 103
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 113
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mảnh đất Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến hội tụ trong mình bề
dày lịch sử của truyền thống, văn hóa. Một trong số những di tích hồn thiêng của
mảnh đất văn vật này phải kể đến là Thăng Long tứ trấn. Song song trong suốt
chiều dài lịch sử mảnh đất kinh kỳ, Thăng Long tứ trấn đã hình thành, được lưu
giữ, tồn tại và in dấu trong tâm trí của biết bao người cho đến hôm nay. Nhắc
đến Thăng Long tứ trấn, người ta không chỉ nghĩ đến những danh lam thắng
cảnh nổi tiếng, những công trình đền chùa với kiến trúc tinh tế mà Thăng Long
tứ trấn còn hấp dẫn biết bao người bởi những truyền thuyết, huyền tích lịch sử
hào hùng, những lễ hội văn hóa, phong tục đầy màu sắc và ý nghĩa thiêng liêng.
Chính vì vậy, trong nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian, khảo sát truyền
thuyết và lễ hội của các di tích Thăng Long tứ trấn là một công việc hết sức thú
vị đồng thời có ý nghĩa rất quan trọng.
Mặc dù mang vai trò lớn lao trong văn hóa Thăng Long – Hà Nội, song,
trên thực tế, không phải người dân Hà thành nào cũng có thể nắm rõ và đầy đủ
giá trị nội hàm của Thăng Long tứ trấn. Từ khi hình thành cho đến nay, tứ trấn
Thăng Long đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và có nhiều biến đổi. Do đó,
ngoài niềm yêu thích tìm hiểu một trong những nét văn hóa đặc sắc của mảnh
đất kinh kỳ, thì mong muốn được đem đến cho một cái nhìn hệ thống, toàn diện
hơn về truyền thuyết và lễ hội của các di tích Tứ trấn Thăng Long chính là lý do
mà tôi chọn đề tài này.
Một lý do khác nữa thúc đẩy tôi đến với đề tài Khảo sát truyền thuyết và lễ
hội của các di tích Thăng Long tứ trấn là bởi vừa qua, năm 2010, Hà Nội và cả
nước đã tưng bừng tổ chức lễ kỉ niệm thủ đô tròn 1000 năm tuổi. Nhiều di tích
văn hóa vật thể đã được chọn để tu bổ, trong đó có các di tích của Thăng Long
tứ trấn. Là một người được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, cá nhân người làm luận
văn rất mong muốn tìm hiểu rõ hơn về những đặc sắc văn hóa nơi mình sinh ra
và lớn lên. Vì vậy, luận văn này có thể được xem như một công trình được thực

hiện để đáp ứng khao khát tìm hiểu kỹ hơn về một trong số những nét văn hóa
của mảnh đất quê hương tôi.
Với những lý do khách quan và chủ quan đó, tôi đã đi sâu tìm hiểu Tứ trấn
Thăng Long và chọn đây là đề tài cho luận văn của mình.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: 4 di tích được xem là 4 trấn của Thăng Long, gồm:
đền Quán Thánh (Trấn Vũ) – trấn Bắc, đình Kim Liên – trấn Nam, đền Voi Phục
– trấn Tây và đền Bạch Mã – trấn Đông.
- Phạm vi nghiên cứu: Truyền thuyết về các vị thần được thờ ở 4 ngôi
đình/đền trên và lễ hội tại các ngôi đình/đền (tài liệu truyền thuyết được ghi
chép trong thư tịch và do tác giả luận văn sưu tầm).
3. Lịch sử vấn đề
Mảnh đất Thăng Long hội tụ nhiều đặc sắc trong cảm thức tâm linh, tín
ngưỡng của người dân Kẻ Chợ và nhiều nét phong phú trong văn hóa dân gian
của mảnh đất kinh kỳ. Từ trước tới nay, đã có nhiều cuốn sách giới thiệu về 4 vị
thần ở 4 di tích gồm đền Bạch Mã, đền Quán Thánh, đền Voi Phục và đình Kim
Liên hoặc kể về những truyền thuyết gắn liền với sự ra đời cùng nghi lễ thờ
cúng tại 4 ngôi đền này. Ở đây, chúng tôi xin điểm lại một số cuốn cơ bản.
Trước năm 1975, các sách viết về 4 vị thần cũng như 4 ngôi đình/đền
thiêng của mảnh đất Thăng Long và các truyền thuyết về 4 ngôi đình/đền này
hầu như không có, hoặc không đầy đủ. Tài liệu thư tịch sớm nhất còn lại đến
ngày nay là Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái. Tại hai công trình này, tuy
chưa có các ghi chép về 4 di tích mà đời sau gọi là Thăng Long tứ trấn, nhưng
đã có những ghi chép về các truyền thuyết về các vị thần được thờ ở đất Thăng
Long.
+ Việt điện u linh, thư tịch sớm nhất còn lại hiện nay về các anh hùng thời
kỳ Bắc thuộc của soạn giả Lý Tế Xuyên được ra đời từ thế kỷ 14. Trong cuốn
sách này, theo bản A.751 của Thư viện khoa học do Trịnh Đình Rư dịch được
NXB Văn hóa Viện Văn học phát hành năm 1961 thì gồm có 2 truyện; trong đó,
truyện Quảng lợi Thánh hựu uy tế phu ứng Đại Vương từ trang 49 đến trang 51

được chú thích rõ là “Đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm, Hà Nội” [52, tr.49].
Ngoài ra còn có 1 truyện nữa về thần sông Tô Lịch có tên gọi là Bảo quốc trấn
linh định bang Quốc đô Thành hoàng Đại Vương.
+ Lĩnh Nam chích quái, tập sách ghi chép những truyền thuyết và truyện cổ
tích của nước ta viết bằng chữ Hán của Trần Thế Pháp (XV), Vũ Quỳnh và Kiều
Phú (nhuận sắc, XV), trong đó đã có truyện kể về thần Long Đỗ. Trong các bản
in khác nhau của sách được lưu hành sau này, thì có bản in truyện về thần Long
Đỗ được đề tên là Long Đỗ chính khí thần truyện, có bản in lấy tên là Long Đỗ
vượng khí truyện.
Ngoài ra, cũng phải kể đến bộ sách Đại Nam nhất thống chí gồm 5 cuốn,
bộ sách địa lý học được xem là đầy đủ nhất của nước ta thời kỳ phong kiến.
Trong bộ sách này, ở cuốn Tỉnh Hà Nội phần Núi non, sông nước có một đoạn
giới thiệu về sông Tô Lịch cũng như truyền thuyết liên quan đến con sông này
trích từ sách Lĩnh Nam chích quái [53, tr.177]; và phần Đình, đền, chùa có đoạn
giới thiệu về đền Bạch Mã [53, tr.199] và đền Cao Sơn [53, tr.200]
Sau năm 1975, các sách viết về 4 ngôi đình/ đền trên của Thăng Long bắt
đầu xuất hiện đa dạng hơn, mô tả chi tiết hơn, và giới thiệu hấp dẫn hơn. Một số
cuốn đáng kể là Hà Nội nghìn xưa của Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán (NXB
Hà Nội, 1976, 2 tập sau này, năm 1998, tái bản thành 1 cuốn dày 401 trang do
NXB Hà Nội phát hành) giới thiệu về đền thần Bạch Mã và huyền tích về thần
Linh Lang và có giới thiệu sơ qua về thần sông Tô Lịch; cuốn Lễ hội Thăng
Long của Lê Trung Vũ chủ biên do NXB Hà Nội ấn hành, năm 1998 giới thiệu
về đền Voi Phục và đền Bạch Mã. Từ năm 2000 trở đi có nhiều cuốn sách khác
như: cuốn Lễ hội Việt Nam của Lê Trung Vũ và Lê Hồng Lý đồng chủ biên
(NXB Văn hóa thông tin) năm 2005, viết khá sâu về lễ hội của Việt Nam nói
chung và lễ hội tại Thăng Long tứ trấn nói riêng cũng như giới thiệu sơ qua về
truyền thuyết về các vị thần ở 4 ngôi đình/ đền này, quá trình xây dựng và tu tạo
4 ngôi đình/đền. Một cuốn sách khác cũng có nhiều đóng góp trong việc nghiên
cứu về Thăng Long tứ trấn là cuốn Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân của 2
nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc và Nguyễn Duy Hinh (do NXB Hà Nội phát

hành năm 2005) đề cập khá sâu sắc về những thần tích của Hà Nội nói chung,
trong đó có những thần tích về Thăng Long tứ trấn và tín ngưỡng của cư dân Kẻ
Chợ từ truyền thống đến nay. Ngoài ra, có một số cuốn khác như Bách thần Hà
Nội của Nguyễn Minh Ngọc biên soạn (NXB Cà Mau, 2000), Văn hóa Thăng
Long – Hà Nội: hội tụ và tỏa sáng do Trần Văn Bính chủ biên (NXB Thời đại,
2000), bộ sách ảnh 4 quyển về Tứ trấn Thăng Long của NXB Trẻ năm 2006,
Truyền thuyết dân gian người Việt do Kiều Thu Hoạch, Trần Thị An, Mai Ngọc
Hồng biên soạn (NXB KHXH, 2009, quyển 2) .v.v.
Năm 2010, kỷ niệm Thăng Long – Hà Nội tròn 1000 năm tuổi, có nhiều
công trình nghiên cứu về văn hóa vùng đất Thăng Long – Hà Nội được xuất bản,
trong đó giới thiệu về 4 ngôi đình/đền trên đất Thăng Long được ra đời với
nhiều hình ảnh chân thực và các truyền thuyết về 4 trấn được miêu tả kỹ càng
hơn. Các công trình đó là: 36 thần tích, huyền tích Thăng Long – Hà Nội, 36
đình đền chùa Hà Nội, các sách về du lịch, lịch lễ hội .v.v. Đồng thời, các công
trình cũ đã được tiếp tục được tái bản.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết nghiên cứu liên quan đến 4 ngôi đình/đền
trên, trong đó, đáng kể nhất là một số bài viết được đăng trên tạp chí Văn hóa
dân gian như: Về vấn đề giải mã các lễ hội ở Hà Nội của Lê Hồng Lý (Tạp chí
Văn hóa dân gian số 2 năm 2010), Lễ nghênh xuân thời Lê – Trịnh của Trần
Thị Kim Anh (Tạp chí Văn hóa dân gian số 3 năm 2006), Nhận diện những đặc
điểm của lễ hội Thăng Long – Hà Nội của Lê Trung Vũ (Tạp chí Văn hóa dân
gian số 1 năm 2007), Mô hình quan liêu trong trật tự bách thần Thăng Long –
Hà Nội của Đỗ Thị Minh Thúy (Tạp chí Văn hóa dân gian số 5 năm 2006),
Thăng Long tứ trấn của Phùng Thành Chủng (Tạp chí Văn hóa dân gian số 5
năm 2006)…
Nhìn chung, các sách và bài viết về 4 vị thần trong 4 ngôi đình/đền thiêng
của đất Thăng Long cho đến hôm nay có khá nhiều. Tuy nhiên, mỗi công trình
chỉ đề cập được một vấn đề như: hoặc về kiến trúc, hoặc về truyền thuyết hình
thành, hoặc về phong tục lễ hội, trong đó, các công trình viết về lễ hội tại các
ngôi đình/đền của đất Thăng Long miêu tả chưa thật cụ thể, đầy đủ, phần nhiều

công trình chỉ mới dừng lại ở tính “giới thiệu”. Về 4 ngôi đình/đền và 4 vị thần
được thờ của kinh thành Thăng Long, một chuyên khảo về truyền thuyết và lễ
hội về Thăng Long tứ trấn vẫn chưa được tiến hành.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sẽ tiến hành sử dụng cách tiếp cận văn hóa học
và tiếp cận văn bản truyền thuyết (gồm truyền thuyết trong thư tịch và truyền
thuyết truyền miệng).
Các phương pháp chúng tôi sử dụng là: điền dã, thống kê và phân tích văn
bản.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Như đã nói ở trên, cho đến nay, dù nhiều cuốn sách viết về 4 ngôi đình/đền
trên đất Thăng Long (mà sau này được gọi là Thăng Long tứ trấn) đã ra đời
song, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về di tích này được xuất bản.
Mặt khác, đối với Thăng Long tứ trấn, các cách hiểu cũng chưa thật thống nhất
và thấu đáo.
Luận án của chúng tôi sẽ khảo sát tục thờ Thăng Long tứ trấn theo dòng
lịch sử bằng cách khảo sát tục thờ này từ nhiều góc độ: các ghi chép trong thư
tịch, truyền thuyết dân gian, di tích, lễ hội với mong muốn có một cái nhìn toàn
cảnh về tục thờ này. Tuy nhiên, đây là một luận án chuyên ngành văn học dân
gian cho nên chúng tôi sẽ dành một dung lượng thích đáng cho việc phân tích
truyền thuyết dân gian (trong các tập truyền thuyết đã xuất bản và các truyền
thuyết do chúng tôi sưu tầm được). Bên cạnh đó, việc đối chiếu truyền thuyết
với di tích và lễ hội là phần không thể thiếu được bởi văn học dân gian luôn tồn
tại trong môi trường văn hóa. Thông qua việc khảo sát tổng thể văn hóa dân gian
này, chúng tôi mong muốn chỉ ra những lớp văn hóa trong tục thờ Tứ trấn của
Thăng Long và qua đó, góp phần hiểu thêm truyền thống của thủ đô nghìn năm
văn vật.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử và sự hình thành không gian địa lí – tâm linh

của Thăng Long tứ trấn
Chương 2: Các tầng ý nghĩa văn hóa trong truyền thuyết về Thăng Long tứ
trấn
Chương 3: Lễ hội ở các di tích Thăng Long tứ trấn



PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ HÌNH THÀNH KHÔNG GIAN ĐỊA LÝ
– TÂM LINH CỦA THĂNG LONG TỨ TRẤN
1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội
1.1.1. Khái niệm “Tứ trấn” trong “Thăng Long tứ trấn”
“Tứ trấn” là một từ ghép gốc Hán. Từ này được giải thích theo các cách
sau:
+ nghĩa 1: “tứ trấn” mang nghĩa là 4 ngôi đình/ đền gồm: đền Bạch Mã,
đền Quán Thánh, đền Voi Phục, đình Kim Liên.
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (công trình do
Hoàng Phê chủ biên, NXB Từ điển Bách Khoa, 2011) có định nghĩa về từ
“trấn”. Theo đó, từ này gồm 3 nghĩa. Trong đó, nghĩa thứ nhất là: “ở trụ một nơi
nào đó để ngăn giữ bảo vệ. Ví dụ: Bộ đội trấn các vùng xung yếu ở biên giới;
Đứng trấn ở cửa không cho ai vào [47, tr.1317]. Như vậy, “trấn” ở đây có nghĩa
là: bảo vệ, gìn giữ, canh phòng… Ý nghĩa này ta có thể thấy xuất hiện trong các
từ ghép khác như: trấn an, trấn áp, trấn yểm, trấn giữ, trấn thủ, trấn nhiệm, trấn
ngự .v.v.
Theo quan niệm Ngũ hành của tư duy vũ trụ luận cổ xưa, trong văn hóa
phương Đông, người ta coi không gian vũ trụ gồm 5 phương gồm: vị trí trung
tâm và 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc [36, tr.70]. Quan niệm Ngũ hành cũng
được ứng dụng vào thuật phong thủy. Thực tế, thuật phong thủy là một nhánh
của Đạo giáo mà Quách Phác đời Tấn (265 – 420) Trung Quốc là người đầu tiên

viết thành sách về nó [10, tr.111]. Theo bước chân của Đạo giáo du nhập vào
nước ta từ rất sớm, thuật phong thủy cũng được người dân tiếp thu và thực hành
nhanh chóng.
Trong tín ngưỡng dân gian người Việt, khi xây xong nhà cửa, thành ốc,
người ta thường trấn yểm để tà ma khỏi xâm phạm. Người Việt quan niệm rằng,
khi một vùng đất mới được định hình thì những thế lực dữ hoặc những sức mạnh
đen tối ở vùng đất đó sẽ tìm cơ hội để phá hoại vùng đất hoặc căn nhà mới xây.
Vì thế, người ta thường tìm đến những thế lực siêu nhiên để mong họ có thể
giúp sức bảo vệ vùng đất hoặc căn nhà của mình. Những thế lực siêu nhiên này
được thờ phụng, coi trọng như những vị thần bảo hộ họ trong suốt quá trình sinh
sống, an cư và lạc nghiệp. Về nguyên tắc cơ bản, thuật phong thủy quan niệm
lấy chỗ đứng làm trung tâm, với bốn phương trời đất hội tụ chầu về, thành ngũ
phương ngũ thần. [10, tr.117]. Trong mỗi gia đình cư trú, ngũ thần gồm có thần
cổng, thần sân, thần cửa, thần giếng, thần bếp. Vì thế, người Việt thường trừ tà
ma bằng bùa Ngũ sắc (= Ngũ hành) và bằng bức tranh dân gian (Ngũ hổ vẽ 5
con hổ ở 5 phương với 5 màu theo Ngũ hành với ý nghĩa: Hổ tượng trưng cho
sức mạnh, trấn trị ở khắp 5 phương, tà ma không còn lối thoát [36, tr.70]. Nhà ở,
lăng mộ là các công trình xây dựng của người Việt rất chú trọng yếu tố này.
Chẳng hạn: ở lăng Trần Thủ Độ (Thái Bình) có đặt tượng hổ đá phía tây, rồng
phía đông, phượng phía nam, rùa phía bắc, mộ Trần Thủ Độ ở giữa theo đúng
quy định vật biểu trong Ngũ hành [36, tr.70]. Tương tự như vậy, ở kinh đô, nhà
vua thờ thần trung quân ở trung tâm, nơi vua ngự, bốn bên là thần Tứ trấn – trời
đất trấn giữ. Phía Đông gọi là Thanh thiên (phương trời xanh trong sáng, biểu
hiện con vật thanh long – rồng xanh), phía Tây gọi là Bạch thiên (phương trời
đêm trắng, biểu hiện con vật bạch hổ), phía Nam gọi Chu thiên (phương trời
hồng đỏ, biểu hiện chim chu tước), phía Bắc gọi là Huyền Thiên (phương trời
màu đen, biểu hiện chim huyền vũ) [10, tr.117].
Trở lại với 4 ngôi đình/đền trên đất Thăng Long, theo các truyền thuyết và
tài liệu trong đền kể lại thì trừ đền Bạch Mã do Cao Biền xây dựng vào khoảng
năm 860 – 874 do sự sợ hãi với thần sông Tô Lịch, sau này khi thần Long Đỗ có

công giúp vua xây thành thì vua Lý Thái Tổ cho sửa lại đền thờ mới phong thần
Long Đỗ là Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần, trấn phía Đông kinh
thành, còn lại 2 ngôi đền: Quán Thánh, Thủ Lệ, và đình Kim Liên, ngay sau khi
xây dựng kinh thành xong, các vị vua Việt đã xây dựng các ngôi đình/đền thờ
những vị thần với mục đích trấn yểm cho kinh thành. Từ đó, Thăng Long –
mảnh đất “rồng cuộn hổ ngồi” nằm ở vị trí trung tâm, xung quanh là 4 vị thần
thiêng làm nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ cho nó đảm bảo tồn tại và phát triển bền
vững. Đó là thần Huyền Thiên Trấn Vũ được thờ ở đền Trấn Vũ (Quán Thánh)
nằm ở phía Bắc, thần Cao Sơn Đại Vương được thờ ở đình Kim Liên nằm ở phía
Nam, thần Bạch Mã hay còn gọi là thần Long Đỗ, thần sông Tô Lịch được thờ ở
đền Bạch Mã nằm ở phía Đông và thần Linh Lang Đại Vương được thờ ở đền
Voi Phục nằm ở phía Tây.
Một vấn đề nữa cũng cần đề cập là, người lập nên 4 ngôi đình/ đền là các vị
vua (chúng tôi xin trình bày ở phần sau), song người gọi 4 ngôi đình/ đền này là
“tứ trấn” lại chính là dân gian. Bởi vì 4 ngôi đình/ đền này không phải được khởi
tạo cùng một lúc, cùng khoảng thời gian ngay sau khi việc xây thành hoàn tất
mà thực tế, chúng được xây dựng vào những khoảng thời gian khác nhau, do
những vị vua khác nhau. Do đó, chúng tôi cho rằng, người gọi 4 ngôi đình/đền
trên là “tứ trấn” của Thăng Long chính là dân gian sau khi việc xây dựng 4 ngôi
đình/đền này hoàn tất. “Tứ trấn” trong Thăng Long tứ trấn cũng có thể hiểu là
“tứ trấn thần” được thờ trong 4 ngôi đình/ đền. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện
cụm từ “Thăng Long tứ trấn” với ý nghĩa này là chính xác từ năm nào thì hiện
nay không có thư tịch nào ghi chép hiện nay còn lưu giữ được.
Trong một bài viết có tựa đề Thăng Long tứ trấn mục Hỏi đáp Folklore của
nhà nghiên cứu Phùng Thành Chủng được đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian
số 5 năm 2006, ông cho rằng, từ năm 1490, từ “tứ trấn” có thêm nghĩa thứ hai -
tức là “tứ trấn” ở ngoài thành Thăng Long [7, tr.76]. Chúng tôi cho mốc năm
1490 là chưa hoàn toàn chính xác mà đúng ra phải là mốc giữa năm Hồng Thuận
(1510-1516) mới đúng.Việc lý giải vấn đề này, chúng tôi xin trình bày ở phần
tiếp theo: nghĩa thứ 2 của từ “tứ trấn”.

+ nghĩa 2: tứ trấn nghĩa là 4 trấn của thành Thăng Long gồm: trấn Sơn
Nam, Kinh Bắc, Hải Dương và Sơn Tây.
Cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do NXB Từ điển Bách
Khoa ấn hành năm 2011 nghĩa thứ 2 của từ “trấn” được định nghĩa như sau:
“Đơn vị hành chính thời xưa, thường tương đương với một tỉnh” [47, tr.1317].
Cuốn Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam của NXB Văn hóa Thông tin
Hà Nội năm 1998, trang 8 định nghĩa rõ hơn: trấn là một đơn vị hành chính cấp
tỉnh, có từ đời Trần [35, tr.20]. Cụ thể: “Năm 1397, (triều đình nhà Trần) đã cho
đổi một số lộ ở xa thành trấn: Thanh Hóa đổi thành trấn Thanh Đô, Diễn Châu
đổi thành trấn Vọng Giang; cấp xã được thay thế bằng giáp” [35, tr.23]
Để làm rõ hơn điều này, chúng tôi đã khảo sát 2 cuốn sách là Khâm định
Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn (2 tập) – một
trong số những bộ quốc sử lớn nhất và quan trọng nhất của nước ta và Đại Nam
nhất thống chí thì được biết như sau: Vào năm Quang Thái thứ 10 đời Trần ở
nước ta đã có các trấn như: Vọng An trấn, Lâm An trấn… [34, tr.1042]. Năm
1428, Lê Lợi chia cả nước thành 5 đạo (Đông, Tây, Nam, Bắc, Hải Tây), mỗi
đạo gồm các lộ hoặc trấn, tiếp đến lần lượt là phủ, huyện, châu, xã. Xã lại có 3
loại: đại, trung, tiểu. Năm 1466, Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo: 2
huyện Quảng Đức và Thọ Xương được lập thành phủ Trung Đô do triều đình
quản lý. Lộ đổi thành phủ, trấn đổi thành châu, hoán vị huyện và châu cho nhau.
Đến năm Kỷ Sửu thứ 10 (1469), một sự kiện trọng đại xảy ra ở nước ta, đó là
vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước, quy định rõ khu vực hành
chính thuộc 12 đạo thừa tuyên [Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1,
quyển thứ 21, tr.1035 - 1052]. Việc lập bản đồ quốc gia với từng khu vực cụ thể
đánh dấu một bước tiến lớn lao trong sự phát triển của cơ cấu đơn vị hành chính
lãnh thổ nước ta theo hướng thống nhất, khoa học, chính xác và tiện lợi. Năm
1471, sau khi mở rộng bờ cõi về phía Nam, Lê Thánh Tông cho lập thêm xứ
thừa tuyên Quảng Nam. Như vậy cả nước ta được chia thành 13 xứ thừa tuyên,
13 xứ thừa tuyên này đến giữa năm Hồng Thuận (1510-1516) thì được vua Lê
Tương Dực đổi là trấn, bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Nam Sách

(sau đổi là Hải Dương), Thiên Trường (sau đổi là Sơn Nam), Quốc Oai (sau đổi
là Sơn Tây), Bắc Giang (sau đổi là Kinh Bắc), An Bang, Tuyên Quang, Hưng
Hóa, Lạng Sơn, Thái Nguyên (sau đổi là Ninh Sóc) và Quảng Nam. Trong đó,
có 4 trấn nội kinh (nằm gần kinh thành) và 9 trấn ngoại kinh (là các trấn nằm xa
hơn). Tứ trấn nội kinh (ngoài ra là các phiên trấn) bao quanh kinh thành Thăng
Long, có nhiệm vụ che chắn, bảo vệ kinh thành ngay từ vòng ngoài khi kinh
thành trực tiếp bị đe doạ. Ngoài ra, vì ở gần kinh thành nên bốn kinh trấn còn là
những lực lượng có nhiệm vụ “cứu giá” và dẹp yên nội loạn khi kinh thành có
biến. Tứ trấn nội kinh được quy định gồm: Trấn Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải
Dương và Sơn Tây [Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, quyển
thứ 33, tr.317]. Cụ thể:
1) Trấn Kinh Bắc
Gồm 4 phủ (20 huyện) bao gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Phúc
Yên sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Đông Ngàn, Yên Phong, Tiên Du, Võ
Giàng, Quế Dương (5 huyện - thuộc phủ Từ Sơn) Gia Lâm, Siêu Loại, Văn
Giang, Gia Định, Lang Tài (5 huyện - thuộc phủ Thuận An) Kim Hoa, Hiệp
Hoà, Yên Việt, Tân Phúc (4 huyện - thuộc phủ Bắc Hà), và cuối cùng là:
Phượng Nhãn, Hữu Lũng, Yên Dũng, Bảo Lộc, Yên Thế, Lục Ngạn (6 huyện -
thuộc phủ Lạng Giang). Vì trấn lỵ ở Đáp Cầu, huyện Võ Giàng (phía Bắc kinh
thành), nên Kinh Bắc cũng được gọi là trấn Bắc hay trấn Khảm.
2) Trấn Sơn Nam
Gồm 11 phủ (42 huyện), tương đương với các tỉnh: Hà Đông, Hà Nam,
Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và Hưng Yên sau này. Cụ thể, đó là các
huyện: Thanh Đàm, Thượng Phúc, Phú Xuyên (3 huyện - thuộc phủ Thường
Tín) Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh, Hoài An (4 huyện - thuộc phủ Ứng
Thiên) Nam Xang, Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục (5 huyện -
thuộc phủ Lý Nhân) Đông An, Kim Động, Tiên Lữ, Thiên Thi, Phù Dung (5
huyện - thuộc phủ Khoái Châu) Nam Chân, Giao Thuỷ, Mỹ Lộc, Thượng
Nguyên (4 huyện - thuộc phủ Thiên Trường) Đại An, Vọng Doanh, Thiên Bản,
Ý Yên (4 huyện - thuộc phủ Nghĩa Hưng) Thuỵ Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi,

Đông Quan (4 huyện - thuộc phủ Thái Bình) Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê,
Thanh Lan (4 huyện - thuộc phủ Tân Hưng) Thư Trì, Vũ Tiên, Chân Định (3
huyện - thuộc phủ Kiến Xương) Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang (3 huyện thuộc
phủ Trường An) và cuối cùng là: Phụng Hoá, An Hoá, Lạc Thổ (3 huyện - thuộc
phủ Thiên Quan). Vì trấn lị ở phía Nam kinh thành, nên Sơn Nam cũng được gọi
là trấn Nam hay trấn Ly.
3) Trấn Hải Dương
Gồm 4 phủ (18 huyện), bao gồm các tỉnh: Hải Dương, Hải Phòng và Kiến
An sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Đường Hào, Đường An, Cẩm Giàng (3
huyện - thuộc phủ Thượng Hồng) Gia Phúc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại (4
huyện - thuộc phủ Hạ Hồng) Thanh Hà, Thanh Lâm, Tiên Minh, Chí Linh ( 4
huyện - thuộc phủ Nam Sách) và cuối cùng là: Giáp Sơn, Đông Triều, An Lão,
Nghi Dương, Kim Thành, Thuỷ Đường, An Dương (7 huyện - thuộc phủ Kinh
Môn). Vì trấn lị ở phía Đông kinh thành, nên Hải Dương cũng được gọi là trấn
Đông hay trấn Chấn.
4) Trấn Sơn Tây
Gồm 6 phủ (24 huyện), tương đương với các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên, và
Sơn Tây sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Từ Liêm, Phúc Lộc, Yên Sơn, Thạch
Thất, Đan Phượng (5 huyện - thuộc phủ Quốc Oai) An Lãng, An Lạc, Bạch Hạc,
Tiên Phong, Lập Thạch, Phù Khang (6 huyện - thuộc phủ Tam Đái) Sơn Vi,
Thanh Ba, Hoa Khê, Hạ Hoà (4 huyện - thuộc phủ Lâm Thao) Đông Lan, Tây
Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương (5 huyện - thuộc phủ Đoan Hùng)
Tam Nông, Bất Bạt (2 huyện - thuộc phủ Đà Dương) và cuối cùng là: Mỹ
Lương, Minh Nghĩa (2 huyện - thuộc phủ Quảng Oai). Vì trấn lị ở phía Tây kinh
thành, nên Sơn Tây cũng được gọi là trấn Tây hay trấn Đoài [Khâm định Việt
sử thông giám cương mục, tập 1, quyển thứ 21, tr.1035 - 1052]
Kể từ đó (giữa năm Hồng Thuận (1510-1516) đến sau này, bất kỳ chiếu
nào của nhà vua có liên quan đến tứ trấn như: đặt hiệu quân ở tứ trấn, kén vệ
binh ở tứ trấn, định ngạch lính ở tứ trấn, tuyển thêm quân lính ở tứ trấn… thì “tứ
trấn” đều được hiểu là 4 trấn trên. Cũng kể từ đó, khi nói đến “tứ trấn”, người

dân sẽ hiểu là 4 trấn Kinh Bắc, Sơn Nam, Sơn Đông và Hải Dương.
Cũng theo cuốn Khâm định Việt sử thông giám cương mục, năm Minh
Mệnh thứ 12 (1831) thì ở nước ta đổi các “trấn” thành “tỉnh”. Kể từ đó đến nay,
trong quy hoạch, khái niệm “trấn” không còn được dùng với ý nghĩa là một đơn
vị hành chính của nhà nước như trước đây nữa.
Tóm lại, từ “Thăng Long tứ trấn” gồm có 2 nghĩa: a) 4 ngôi đình/đền của
đất Thăng Long (Quán Thánh, Trấn Vũ, Kim Liên, Bạch Mã) – đây là một cách
gọi lưu truyền trong dân gian và không được ghi chép trong các thư tịch; b) 4
trấn ngoài kinh thành Thăng Long (Hải Dương, Sơn Đông, Sơn Nam, Kinh Bắc)
– cách gọi này có từ giữa năm Hồng Thuận (1510-1516) cho đến năm Minh
Mệnh thứ 12 (1831). Từ năm Minh Mệnh thứ 12 (1381) đến nay, nghĩa 4 trấn
mất đi theo sự thay thế tên gọi và phân chia đơn vị hành chính của nước ta, chỉ
còn lại nghĩa 4 ngôi đình/đền thiêng trên đất Thăng Long.
Ở đây, trong luận văn, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu Thăng Long tứ trấn
theo cách hiểu thứ nhất là tứ trấn thuộc kinh thành Thăng Long nghĩa là 4 ngôi
đình/ đền thiêng ở Hà Nội mà không nghiên cứu tứ trấn ở phía ngoài kinh thành
Thăng Long.
1.1.2. “Tứ trấn” ở các địa phương khác
Rất thú vị là “tứ trấn” không chỉ có ở vùng đất Thăng Long mà ở một số
địa phương khác, ta cũng thấy xuất hiện “tứ trấn”. Điểm lý thú này đã tạo nên
nhiều nét song trùng trong văn hóa tín ngưỡng ở các vùng miền của Tổ quốc,
song, khi đi sâu nghiên cứu, ta vẫn thấy ở mỗi vùng có một nét độc đáo, khác
biệt riêng.
Hoa Lư (Ninh Bình) trước kia cũng là vùng đất đẹp được chọn là kinh đô
của vua chúa. Vì thế, việc trấn trạch là điều không thể thiếu trong xây dựng. Vua
Đinh Tiên Hoàng là người sùng đạo phật, nên ông cho xây dựng ở trong kinh đô
Hoa Lư rất nhiều chùa tháp. Kinh đô Hoa Lư xưa có 3 vòng thành: thành ngoài,
thành trong và thành nam với diện tích mỗi thành khoảng 1,4km2. Riêng thành
nam (còn gọi là Tràng An) có thêm phần núi non hiểm hóc bao bọc. Theo Địa
chí Ninh Bình, không gian văn hóa Hoa Lư tứ trấn chỉ vùng văn hóa kinh đô

Hoa Lư được bởi giới hạn trong tầm ảnh hưởng của 4 ngôi đền thiêng thờ các vị
thần, thánh trấn giữ 4 hướng chính vào kinh thành xưa – nay là cố đô. Không
gian này nằm trong phạm vi 5 km từ trung tâm cố đô Hoa Lư. 4 Ngôi đền chính
của Hoa Lư tứ trấn: đông – tây – nam – bắc lần lượt là: đền Thiên Tôn, đền Cao
Sơn, đền Quý Minh và đền Thánh Nguyễn. Bốn vị thần “bảo hộ”, trấn giữ các
hướng đông tây nam bắc của cố đô Hoa Lư gồm: Thần Thiên Tôn, Thần Cao
Sơn, Thần Quý Minh và Đức Thánh Nguyễn. Ngoài bốn ngôi đền chính, các vị
thần này được thờ ở rất nhiều ngôi đền xung quanh quần thể di tích Cố đô, có
vai trò bổ sung tạo nên một không gian văn hóa tín ngưỡng đặc trưng của vùng
đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần và được gọi là không gian văn hóa Hoa Lư
tứ trấn. [62]
Trấn Đông Hoa Lư là đền thờ thần Thiên Tôn. Vị thiên thần trấn phía mặt
trời mọc này được thờ ở nhiều nơi, trong đó lớn nhất là động Thiên Tôn. Xưa,
nơi đây là tiền đồn để trình báo khi vào kinh đô Hoa Lư từ phía Đông. Trước lúc
đem quân đi dẹp loạn 12 sứ quân, nhà vua đã sửa lễ vật vào cầu đảo trong động
để mong được thần giúp đỡ. Ngoài động Thiên Tôn ra, còn 7 ngôi đền khác thờ
thần, đó là các ngôi đền ở quanh chân núi Cánh Diều, chùa Phong Phú, các làng
Bích Đào, Đại Phong, Yên Cư, Lực Giá và Phú Gia.
Trấn Tây Hoa Lư là đền thờ thần Cao Sơn. Theo truyền thuyết, thần Cao
Sơn là một vị thần ở Phụng Hóa (Ninh Bình) có công phù trợ quân Lê Tương
Dực diệt được Uy Mục, sau cũng được dân làng Kim Liên rước về thờ ở trấn
phía Nam kinh thành, một trong Thăng Long tứ trấn. Thần đã dạy bảo và giúp
đỡ người dân làm ăn sinh sống đồng thời bảo vệ khỏi các thế lực phá hoại vì vậy
đã được Vua Đinh cho phép dân lập đền thờ để bảo vệ kinh đô từ hướng tây trên
núi Đính. Ngoài ngôi đền này ở vùng núi Tam Điệp Ninh Bình còn khoảng 25
ngôi đền khác thờ thần Cao Sơn.
Trấn Nam Hoa Lư là đền thờ thần Quý Minh. Ngôi đền chính hiện ở xã
Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình. Theo truyền thuyết, thần Quý Minh là người
đánh dẹp các thế lực ở vùng thấp, có thể giúp thần Cao Sơn khi các thế lực bỏ
chay qua đây. Thần cai quản và kết hôn cùng bà quận chúa ở chốn này. Ngoài

ra, vị thổ thần, thủy thần trấn cửa Nam này cũng được thờ ở nhiều đền nằm rải
rác ở vùng sông núi Tràng An như đền Dưỡng Khê, đền Đô, đền Hiềm, các di
tích ở làng Thiện Trạo, xã Ninh Sơn và làng Phúc Trì, thành phố Ninh Bình, đền
Miếu Sơn (Ninh Vân, Hoa Lư) đình Bình Khang (Liên Sơn, Gia Viễn).
Trấn Bắc Hoa Lư là đền thờ Đức Thánh Nguyễn. Ngôi đền này không được
xây dựng từ thời Đinh như 3 đền kia mà sau đó 2 thế kỷ. Đền thờ thánh Nguyễn
Minh Không tên thật là Nguyễn Chí Thành sinh tại xã Đàm Xá, phủ Tràng An,
Ninh Bình. Ông là một thiền sư giỏi về Phật pháp, giỏi cả pháp thuật, có công
chữa bệnh cho vua Lý, là ông tổ của nghề đúc đồng Cũng bởi có nhiều công
lao trong việc chữa bệnh cho vua và nhân dân mà ông cùng với Trần Hưng Đạo
sau này là những nhân vật lịch sử có thật được người Việt tôn sùng là lên bậc
thánh (đức thánh Nguyễn, đức thánh Trần). Bên cạnh đền Thánh Nguyễn - một
công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị lớn của Hoa Lư thì xung quanh đền còn
khá nhiều nơi thờ thiền sư Minh Không như: đền thờ Nguyễn Minh Không ở
chùa Bái Đính; chùa Địch Lộng ở huyện Gia Viễn; khu di tích động Hoa Lư.v.v.
Điểm trùng hợp đặc biệt hết sức lý thú khi nghiên cứu hai tổ hợp không gian văn
hóa của Hoa Lư tứ trấn và Thăng Long tứ trấn, đó chính là ở các đối tượng được
thờ ở những ngôi đền thiêng này. Cả 2 nơi đều thờ 3 thần và 1 thánh. Thần là
tượng trưng cho sức mạnh thiên nhiên, thánh là nhân vật lịch sử có thật với công
lao phi thường được nhân dân phong thánh. Cả 2 nơi đều thờ thần Cao Sơn có
nguồn gốc phát tích ở Phụng Hóa (Nho Quan – Ninh Bình). Thần Thiên Tôn và
Thần Trấn Vũ là những thiên thần xuất xứ xa xưa từ phương Bắc đến, thần Long
Đỗ là thổ thần và thần Quý Minh là sơn thần.
1.2. Quá trình xây dựng và tu tạo Thăng Long tứ trấn
Thăng Long tứ trấn là một trong những nét đẹp, mang đậm dấu ấn văn hóa,
nghệ thuật và đời sống tâm linh của người dân Việt nói chung và người Hà Nội
nói riêng. Từ khi được xây dựng cho đến nay, cùng với thời gian, bốn ngôi
đình/đền của thành Thăng Long đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử và được
tu sửa nhiều lần. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ xin nêu lại một số mốc chính
dựa trên các tài liệu mà chúng tôi có được.

1.2.1. Đền Trấn Vũ (Quán Thánh)
Ngôi đền thờ thần bảo hộ phương Bắc của kinh thành này có bản ghi là
được lập từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (1010), lại có thuyết khác
cho rằng được xây dựng vào năm 1102 trong hoàng thành, thờ "Huyền Thiên
Trấn Vũ chân quán" hoặc Huyền Thiên Chân Vũ Đại đế" hoặc nữa "Trấn Thiên
Chân Vũ Đại đế", trước nằm ở phía Nam sông Tô Lịch. Năm 1474, do mở rộng
hoàng thành (nội kinh) đền được di ra ngoài và xây ở bờ nam Tây Hồ, tức địa
điểm hiện nay [20, tr. 59 - 60]
Trong tấm biển ghi lại về lịch sử đền Quán Thánh (hiện nay vẫn đang treo
tại đền), quá trình xây dựng và tu sửa đền được chép như sau: “Đền được dựng
vào năm 1010 dưới triều Lý Thái Tổ sau khi dời đô về Thăng Long để trấn
phương Bắc. Đền này được liệt vào Thăng Long tứ trấn (4 vị thần trấn thành
Thăng Long: thần Huyền Thiên trấn phương Bắc, thần Bạch Mã trấn phương
Đông, thần Linh Lang trấn phía Tây (tức là đền Voi Phục), thần Cao Vương trấn
phía Nam (tức là đình Kim Liên). Trải qua thời Trần có sửa chữa nhiều lần.
Năm Vĩnh Trị thứ 2 dưới triều Lê Hy Tôn (1677), Trịnh Tạc sai thị thần là
Nguyễn Đình Luân trông coi việc tu sửa đền: bỏ tượng gỗ, đúc tượng đồng và 1
quả chuông (nay hãy còn). Năm Lê Cảnh Hưng đời thứ 29 (1768) Trịnh Sâm ra
lệnh cho chữa đền. Những tấm bia định khắc về việc trùng tu thì khi Minh Mệnh
ra Bắc, thấy bia của Trịnh Sâm cho là kẻ thoán nghịch nên ghét, sai bỏ đi nên
bia bỏ đấy mà không được trông coi. Năm Thiên trị thứ nhất (1841) được vua
ban tấm biển đồng chữ bạc để ở giữa nhà Đại Bái và 13 đồng kim tiền hạng
trung (do các hoàng tử cung tiến).
Năm 1856 thời Tự Đức, bố chính sơn tây Phạm Xuân Quế, bố chính Hà
Nội Tôn Thất Giáo và huyện doãn hai huyện Thọ Vĩnh Phan Duy Khiêm đứng
lên quyên tiền trùng tu sửa chữa lại nhà chính diện; đình thiêu hương, nhà đại
bái, gác chuông, xây thêm hai tòa tả hữu hành lang và đắp lại bốn pho tượng Đại
nguyên súy và một pho tượng đương niên hành khiển (vị thần coi việc năm ấy,
những pho tượng này nay không còn). Những đồng tiền ban vào thời Thiệu Trị
đem đúc lại thành chuỗi vòng vàng đeo ở tay thần tượng (nay không còn). Về

phía sau đền dựng ngôi chùa nhỏ gọi là chùa Vũ đương sơn đề câu thơ:
Huyền đế luyện đan nghi thử địa; Tiên ông mạ trử thị hà niên
(Huyền đế luyện đan ngờ chốn ấy; Tiên ông mài sắt nhớ năm nào (nay
không còn)
Đến năm Thành Thái thứ 5 (1893) lại có cuộc trùng tu, các đồ tự khí, câu
đối đều được sửa lại, trang hoàng như ngày nay.”
Trong chuyến đi điền dã ngày 22/8/2011, chúng tôi đã gặp và hỏi chuyện
ông Bùi Hồng Sơn, nhân viên Ban quản lý di tích đền Quán Thánh. Theo ông
Sơn cho biết: “Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã cho lấp hồ, mở rộng phố xá,
đền cũng bị thu hẹp. Năm Bảo Đại thứ 5 (1930) đền được mở rộng như hiện
nay, phần lớn các hạng mục được xây dựng lại. Trong những ngày đầu kháng
chiến chống Pháp, đền cũng bị tàn phá nặng nề. Pho tượng Thần bằng gỗ trầm bị
cháy. Năm 1948 nhân dân trong thôn cùng khách thập phương quyên góp, đền
được xây dựng như hiện nay.”
Nhìn vào tấm ảnh tư liệu trong đền Quán Thánh chụp đền hồi đầu thế kỷ 19
chúng tôi thấy đền trước kia và hiện nay không khác nhau nhiều. Điểm khác biệt
lớn nhất là hồ Tây hiện nay không nằm ngay trước cửa đền (như trong ảnh) mà
được xây kè lùi lại, đẩy ra xa hơn so với cửa đền, lấy khoảng giữa làm đường đi.
Đặc biệt, dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, đền đã được
thành phố tiến hành tu bổ lớn cho xứng với tầm vóc một danh lam thắng cảnh
quốc gia. Theo đó, từ tháng 6-2009 đến tháng 7-2010, quận Ba Đình, thành phố
Hà Nội đã tiến hành tu bổ, tôn tạo di tích với tổng kinh phí đầu tư gần 14 tỷ
đồng. Các hạng mục chính được tôn tạo gồm: hạ giải toàn bộ mái đền chính, lợp
lại bằng ngói mũi hài phục chế, đắp lại các con giống, hoa văn trên mái; thay
mới hệ thống cửa đi, cửa hồi; tu bổ lại mái, đắp chữ, câu đối của nghi môn; cải
tạo lại cảnh quan sân vườn [54]
Trong chuyến điền dã tại đền Quán Thánh ngày 22/8/2011, chúng tôi được
bà Trần Lệ Thúy, nhân viên Ban quản lý Di tích đền Quán Thánh, cho biết:
“Ngôi đền này có từ 1000 năm nay. Trong quá trình làm việc, Ban quản lý Di
tích chúng tôi đã rất coi trọng việc bảo tồn, tu tạo đền nhưng giữ nguyên giá trị

cổ ngày xưa. Đền đã được nhiều lần sửa chữa, nhưng những bức hoành phi câu
đối chạm trổ tinh xảo bằng gỗ và có các bài thơ của các vị vua chúa ngày xưa thì
đều được giữ lại, nếu bức nào bị hỏng nét thì mới sơn son thếp bạc lại thôi. Còn
những giá trị về nghệ thuật đúc đồng của ông cha ta ngày xưa thì vẫn được giữ
nguyên và trưng bày trong đền như hiện nay.”
Nhân dịp này, thành phố cũng đã quyết định gắn biển “Công trình 1000
năm Thăng Long-Hà Nội” cho đền Quán Thánh để tôn vinh biểu tượng của Thủ
đô nghìn năm văn hiến.


1.2.2. Đình Kim Liên
Nằm ở phía Nam kinh thành, ngôi đình Kim Liên đến nay đã có tuổi thọ
gần 1000 năm tuổi. Về tên gọi, trong Lý lịch khu di tích lịch sử - nghệ thuật đình
chùa Kim Liên có viết: “Đình còn được gọi là đền Kim Liên, đền Cao Sơn. Văn
bản cổ nhất trong di tích hiện còn niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1510) ghi tên di
tích là “Cao Sơn đại vương thần từ” (Đền thần Cao Sơn Đại Vương)… Di tích
trước đây thuộc phường Kim Hoa, sau thuộc phường Đông Tác huyện Thọ
Xương, phủ Hoài Đức, sau Cách mạng Tháng Tám thuộc làng Kim Liên, xã
Phương Liệt, quận 7 Hà Nội. Ngày nay, di tích thuộc phường Phương Liên,
quận Đống Đa, thành phố Hà Nội”.
Hiện nay, đối với di tích này, tồn tại hai cách gọi là đình và đền. Trong quá
trình thực hiện luận văn, khi đi điều tra, điền dã, chúng tôi thấy, phần lớn người
dân xung quanh đây thường gọi di tích này là “đình Kim Liên”, một số ít gọi là
“đền Kim Liên”. Còn các tài liệu, sách báo, có nơi gọi là đình (Địa chí tôn giáo
lễ hội Việt Nam của Mai Thanh Hải, Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân của
Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Vinh Phúc…), có nơi gọi là đền (Đền Kim Liên của
Nguyễn Hạnh, Trần Thị Thanh Nguyên, Nguyễn Duy Linh, Lễ hội Thăng Long
và Lễ hội Việt Nam của Lê Trung Vũ, trang web kỷ niệm 1000 năm Thăng Long
– Hà Nội của UBND thành phố Hà Nội và nhiều tờ báo hiện nay), có chỗ vừa
gọi là đình vừa gọi là đền (hồ sơ Lý lịch khu di tích lịch sử - nghệ thuật đình

chùa Kim Liên, 36 đình đền chùa Hà Nội của Quốc Văn,…). Xung quanh vấn đề
định danh cho di tích này, chúng tôi cho rằng, có thể, trước đây, đây là một ngôi
đình thờ thành hoàng làng, kiến trúc ban đầu của nó là một ngôi đình (chúng tôi
xin trình bày chi tiết ở phần Kiến trúc của các di tích và không gian địa lý – tâm
linh của đền Kim Liên trang 28, 29), nhưng trải qua thời gian, do những biến
động lịch sử xã hội, di tích này thờ thêm một số thần ở các nơi khác đưa về đây
như Thủy Tinh đệ tam – Tôn nữ Đông Hồ Trưng Vương (con gái vua Lê), Huệ
Minh Công Chúa, chủ tịch Hồ Chí Minh… nên di tích này được gọi là đền.
Trong luận văn này, để nhất quán với kiến trúc và mục đích thờ tự ban đầu,
chúng tôi gọi là đình Kim Liên.
Về thời gian xây dựng đình, tấm biển treo trước cửa đình ghi lại thời như
sau: “đình Kim Liên là một trong Thăng Long tứ trấn “Trấn Nam phương” đã có
từ thời vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Ngay
từ khi dựng đô, vua Lý Thái Tổ đã tìm thấy niềm tin vào kinh thành bền vững,
thấy các hướng đều có vị phúc thần che chở, bảo vệ. Qua các tư liệu, thư tịch,
văn bia, sắc phong, đều khẳng định, đình Kim Liên là nơi thờ thần Cao Sơn, một
nhân vật quan trọng trong Điện thần Việt cổ”.
Với tuổi thọ lâu đời và giá trị sâu sắc của mình, ngôi đình đã trải qua các
triều đại và được gìn giữ, trùng tu một số lần. Rất tiếc, hiện nay, trong đình
không giữ lại được một tài liệu nào nói về việc tu sửa từ năm 1975 về trước (một
số người dân nơi đây phỏng đoán, có thể các tài liệu này đã bị mất trong thời kỳ
chiến tranh). Theo một số người dân làng Kim Liên mà chúng tôi có dịp được
trò chuyện thì, sau chiến tranh, kiến trúc đình Kim Liên xưa chỉ còn lại một toà
hậu cung, là một dãy nhà dọc ba gian xây gạch trần, mái lợp ngói ta.

Ngoài ra,
chúng tôi cũng thu thập được thêm những mốc thời gian trong quá trình xây
dựng và tu sửa đình từ năm 2000 trở đi. Ông Nguyễn Văn Sĩ, nhân viên Ban
quản lý Di tích đình Kim Liên cho biết: Năm 2000, chào mừng 990 năm Thăng
Long - Hà Nội, đình được phục hồi nhà tiền đình, nhà đại bái, hậu cung đã được

tu bổ theo kết cấu chữ đinh. Nhà đại bái gồm năm gian mới với kiểu dáng kiến
trúc truyền thống. Sau đó, năm 2006, đình tiếp tục được sửa chữa phương đình,
sơn thếp toàn bộ phần khu nhà trong nội tự đại bái và hậu cung được tiến hành
tôn tạo . Tuy nhiên, lần trùng tu lớn nhất và gần đây nhất là dịp Đại lễ 1000 năm
Thăng Long. Với giá trị văn hóa, lịch sử đặc biệt, đình được coi là một “điểm
nhấn” chào đón 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Do đó, tháng 10/2008, đình đã
được khởi công trùng tu, tái tạo trên quy mô lớn với tổng mức đầu tư hơn 36,6 tỉ
đồng do UBND quận Đống Đa làm chủ. (Nhật ký điền dã, ngày 15/8/2011)
Đình được sửa chữa lại tả vu, hữu vu, sân và cổng, sửa chữa lại giếng đình
và phục hồi lại hồ bán nguyệt, toàn bộ nghi môn ngoại và bình phong của di tích
đình Kim Liên cũng bị phá bỏ để xây một cổng tam quan mới gồm 4 trụ và 5 lối
đi cùng việc xây một bình phong mới.
Sau khi được tu sửa, đình đã có một dáng vẻ khang trang, quang đãng và
rộng rãi hơn xưa. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho rằng việc tu sửa đình thái
quá đã làm mất đi “nét đẹp xưa” và việc phá bỏ, làm mới hoàn toàn nhiều hạng
mục di tích, kèm theo “chắp vá, sao chép” những chi tiết không phù hợp là một
việc làm thật đáng tiếc. Nói về việc này, cũng trong chuyến điền dã ngày
15/8/2011, chúng tôi được nghe tâm sự của ông Trần Cường, một người dân của
làng Kim Liên, đã từng công tác tại viện Mỹ thuật Hà Nội: Gia đình ông đã ở
đây gần 5 đời. Trước kia cổng đình Kim Liên có 2 trụ biểu ở giữa và 2 cổng bên
Tả, Hữu, rất phù hợp với vai trò Nghi môn ngoại (bên trong tiếp theo là Nghi
môn nội). Nghi môn (cổng đình) của đình Kim Liên được xây dựng cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20, cột cổng được coi như mạch nguồn của ước vọng nông
nghiệp Đỉnh cột đắp lân, trong thế nhìn xuống như sự kiểm soát tâm hồn kẻ
hành hương. Cây cột như mạch nối nguồn sinh lực thiêng liêng giữa trời và đất,
như một trục vũ trụ Nhưng trong quá trình trùng tu, cổng đình cũ được phá đi
và xây mới theo kiến trúc tam quan Chùa Láng, dạng tứ trụ có mái, bên cạnh đó
vẫn có 2 cổng phụ và tổng thể trở thành Ngũ môn nên đã làm mất đi nét đẹp
riêng từ xa xưa.
Tư liệu do đình Kim Liên cung cấp còn cho biết thêm: Sau thời gian tu sửa

gần 2 năm, đến tháng 8.2010, công trình trùng tu đình Kim Liên đã hoàn thành.
Được biết, trong đó giá trị xây lắp là 12,15 tỉ, chi phí thiết bị 775 triệu, giải
phóng mặt bằng là 20,5 tỉ Ngày 15/9/2010, UBND TP Hà Nội và quận Đống
Đa tổ chức lễ gắn biển công trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long cho công
trình tu bổ đình Kim Liên.

×