Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

Giải pháp phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (236.91 KB, 31 trang )

Khoa kinh tế
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI “ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN THƯƠNG MẠI MẶT HÀNG XĂNG DẦU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
SẢN XUẤT DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TỪ LIÊM ”
1.1.Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài
Việt Nam đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nền
kinh tế đang chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nghành nông nghiệp tăng dần
tỷ trọng nghành công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu tổng thu nhập quốc dân. Vì vậy
phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình
công nghiệp hóa hiện đại hóa (CNH-HDH) đất nước vì các lý do sau:
 Thứ nhất, Việt Nam đang trong tiến trình phát triển công nghiệp hóa cần sử
dụng rất nhiều các nguyên nhiên liệu trong đó đặc biệt quan trọng là xăng dầu- nhiên
liêu quan trọng trong quá trình sản xuất. Phát triển thương mại đảm bảo đáp ứng tối đa
nhu cầu tiêu dùng xăng dầu của xã hội
 Thứ hai, đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế việc kinh doanh xăng dầu
còn khá mới lạ cần có các chính sách để khai thác các nguồn lực, tận dụng được lợi thế
so sánh. Việt nam đang hôi nhập vào nền kinh tế thế giới,mức độ cạnh tranh trên thị
trường ngày càng gay gắt. Chính vì vậy chính phủ và các doanh nghiệp cần có các giải
pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh khai thác, phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ,
phát triển lợi thế thương mại từ mặt hàng, tạo ra sự phát triển cho ngành hàng.
Mặt hàng Xăng dầu trên thị trương đang có sự biến động rất lớn cả trên thị trường
trong nước cũng như thế giới. Quan trọng hơn xăng dầu là nguyên nhiên liệu cho một
số ngành công nghiệp vô cùng quan trọng trong sản xuất, chế tạo máy móc và vận tải.
Sự biến động lớn của giá Xăng dầu kéo theo sự biến động của hàng loạt các mặt hàng
liên quan khác gây ra tình trạng mất cân bằng trên thị trường. Thị trường bất ổn, chỉ số
giá tiêu dùng ngày càng cao gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân.
Chính phủ đang tìm cách để kìm hãm sự biến động của thị trường xăng dầu
nhưng vẫn phát triển được nó. Chính vì vậy việc tìm giải pháp phát triển thương mại
mặt hàng xăng dầu trong điều kiện hiện nay là vô cùng quan trọng và cần thiết.
Đối với công ty Cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm, măt hàng
xăng dầu là mặt hàng rất quan trọng, là mặt hàng quyết định đem đến phần lớn doanh


thu cũng như lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên việc phát triển mặt hàng xăng dầu trên
thị trường chưa được chú ý, vấn đề cấp thiết hiện nay đối với công ty là cần có những
Nguyễn Thị Thắm k43F3
1
Khoa kinh tế
giải pháp hiệu quả để phát triển măt hàng xăng dầu trên thị trường, nâng cao hơn nữa
lợi nhuận của công ty. Do đó với cơ hội được thực tập tại công ty cổ phần sản xuất
dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm, em xin lựa chọn nghiên cứu đề tài: “ giải pháp phát
triển thương mại mặt hàng xăng dầu của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất
nhập khẩu Từ Liêm”
1.2. Xác lập việc tuyên bố vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu trước đây
a, Theo tác giả Th.s Trần Thị Huyền Thu trong luận án Thạc sỹ kinh tế (2009)
với tên đề tài “ Một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp xăng dầu Việt Nam đến
2015” đã làm được rõ : thực trạng tình hình phát triển hoạt động của các doanh nghiệp
xăng dầu như tình trạng sản xuất, giá cả, quá trình tổ chức kinh doanh và đưa ra một số
giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh xăng dầu.
b, Theo tác giả Th.s Nguyễn Thị Mỹ Duyên trong luận án thạc sỹ kinh tế với tên
đề tài “ Định hướng chiến lược Marketing của công ty xăng dầu khu vực II đến năm
2020” đã chỉ ra: thực trạng hoạt động marketing của các doanh nghiệp xăng dầu trong
nước và đưa ra những định hướng nhằm phát triển hoạt động marketing cho các doanh
nghiệp.
c, Theo Tác giả Trương Thị Hồng Đại học Kinh tế Quốc Dân trong luận văn tốt
nghiệp (2008) với tên đề tài “ Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động
tiêu thụ sản phẩm của công ty Xăng dầu Hà Sơn Bình” đã chỉ ra: thực trạng hoạt động
quản lý xăng dầu của các doanh nghiệp trong nước nói chung và của Công ty Hà Sơn
Bình nói riêng. Từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý xăng dầu.
d, Theo Tác giả Thủy Ngọc Thu Đại học Kinh tế Quốc Dân trong luận văn tốt
nghiệp (2009) với tên đề tài “ các giải pháp ổn định thị trường xăng dầu trong nước”
đã chỉ ra: sự bất ổn của thị trường xăng dầu,những nguy cơ tiềm ẩn gây bất ổn thị

trường xăng dầu và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm ổn định thị trường xăng dầu trong
nước trước sự biến động của thị trường thế giới.
Trên đây là một số công trình nghiên cứu từ những năm qua,còn rất nhiều đề tài
nghiên cứu liên quan, tuy nhiên thị tựu chung lại các đề tài tập chung giải quyết các
vấn đề :
Về mặt nội dung
Chủ yếu tập chung nghiên cứu thực trạng kinh doanh xăng dầu, đề xuất một số
giải pháp nhằm phát triển xăng dầu trên thị trường. Một số đề tài khác tập trung vào
Nguyễn Thị Thắm k43F3
2
Khoa kinh tế
nghiên cứu phát triển thương mại đó là phát triển thị trường, phát triển hệ thống kênh
phân phối.
Về mặt phương pháp nghiên cứu
Phần lớn đề tài mới chỉ dùng ở phương pháo thống kê,so sánh đối chiếu, mà chưa
thực hiện phương pháp điều tra phỏng vấn trực các doanh nghiệp cũng như cơ quan
nhà nước. Cho nên đề tài còn mang tính lý luận chưa gắn với thực tiễn của nền kinh tế.
Về mặt thời gian
Phần lớn các đề tài đêì là các công trình nghên cứu từ các năn trước ,vì vậy chưa
đáp ứng được sự thay đổi trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay. Với đề tài “ giải pháp
phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ
xuất nhập khẩu Từ Liêm” là một đề tài hoàn toàn mới có tính lý luận và thực tiễn
sâu sắc, có sử dụng các phương pháp phân tích và thu thập số liệu mới nhất, ngoài ra
còn có phương pháp điều tra phỏng vấn đảm bảo tính thuyết phục, tin cậy.
1.2.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.
Những vấn đề cần được nghiên cứu và giải quyết trong đề tài: “Giải pháp phát
triển thương mại mặt hàng mặt hàng xăng dầu của công ty cổ phần sản xuất dịch
vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm ” bao gồm hai vấn đề lớn về mặt lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận: trên cơ sở lý thuyết đã học chuyên ngành kinh tế thương mại đề
tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về cơ sở lý luận, xác lập những nguyên lý , các tiêu

chí và hệ thống các chỉ tiêu về phát triển thương mại mặt hàng, các chính sách sử dụng
trong phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu, vai trò của việc phát triển thương mại
mặt hàng xăng dầu để định hướng cho quá trình đổi mới và hoàn thiện các chính sách
phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu.
Về mặt thực tiễn: trên cơ sở ứng dụng các lý luận trên cùng với việc phân tích dữ
liệu thu thập đươc, em vận dụng phân tích thực trạng phát triển thương mại mặt hàng
xăng dầu của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu từ Liêm. Nghiên
cứu thực trạng công tác và chính sách phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu nhằm
đưa ra giải pháp hoàn thiện các chính sách và thúc đẩy các hoạt động thương mại.
Đề cập đến phát triển thương mại đề tài tập chung vào nâng cao chất lượng phát
triển thương mại sau đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao phát triển thương mại mặt
hàng xăng dầu của công ty.
1.3. Các mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của em khi nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phát triển thương mại mặt
hàng xăng dầu của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm” là
Nguyễn Thị Thắm k43F3
3
Khoa kinh tế
dựa trên cơ sở những luận cứ về mặt lý luận về phát triển thương mại mặt hàng và từ
thực tiễn nghiên cứu thực trạng phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu của công ty
để đưa ra những thành công, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế đó và từ đó đề xuất hai
nhóm giải pháp chính:
 Thứ nhất là nhóm giải pháp về quản lý vĩ mô, cụ thể là các giải pháp cho công
tác quản lý nhà nước về thương mại mặt hàng xăng dầu như: xây dựng các chính sách
thích hợp nhằm khuyến khích thương mại mặt hàng xăng dầu phát triển, thông qua các
chính sách hỗ trợ, chính sách tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thông thoáng
đồng thời đề ra các chủ chương đường lối và hệ thống pháp luật vừa đảm bảo gắn liền
với thực tế vừa phù hợp với các quy tắc quốc tế về phát triển thương mại.
 Thứ hai là nhóm giải pháp đối với hệ thống doanh nghiệp trong đó có doanh
nghiệp cụ thể là Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm. Có chính

sách và chiến lược nâng cao hiệu quả khai thác lợi thế, nguồn hàng, phát triển hệ thống
phân phối đồng thời nâng cao giá trị gia tăng. Đưa ra các giải pháp nhằm phát triển
hơn nữa hoạt động thương mại mặt hàng xăng dầu của công ty, mở rông quy mô thị
trường, cơ cấu mặt hàng và chất lượng sản lượng sản phẩm nhằm nâng cao sức cạnh
tranh của công ty nói chung hay của sản phẩm trên thị trường nói riêng. Tạo sự phát
triển bền vững cho doanh nghiệp.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung :
Nghiên cứu đề tài dưới góc độ kinh tế thương mại vì vậy nội dung của đề tài tập
trung vào nghiên cứu lựa chọn phát triển lợi thế thương mại mặt hàng, tổ chức và phát
triển nguồn hàng, phát triển hệ thống phân phối và nâng cao giá trị gia tăng từ đó đưa
ra giải pháp về phát triển thương mại mặt hàng trong đó tập trung vào nhóm giải pháp
phát triển thị trường
Về không gian:
Do điều kiện thời gian, năng lưc có hạn vì vậy đề tài tập trung nghiên cứu điển
hình tại công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm, có tham chiếu sang
một số doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng xăng dầu trên thị trường
Về thời gian:
Với đề tài nghiên cứu: “ giải pháp phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu
của công ty cổ phần sản xuất dịch vu xuất nhập khẩu Từ Liêm ” em xin nghiên
Nguyễn Thị Thắm k43F3
4
Khoa kinh tế
cứu trong khoảng thời gian 2007- 2010. Trên cơ sở đó em có đề xuất giải pháp phát
triển thương mại mặt hàng xăng dầu đến năm 2015 .
1.5. Một số khái niệm và phân định nội dung
1.5.1. Một số khái niệm
1.5.1.1. Một số khái niệm
Khái niệm về thương mại:
Thương mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường là lĩnh vực

phân phối và lưu thông hàng hóa.
Bản chất kinh tế chung của thương mại là tổng hợp các hoạt động các quan hệ kinh tế
gắn và phát sinh cùng trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằm sinh lợi [2,tr 3]
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời bao gồm mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lời
khác.
Khái niệm về phát triển thương mại mặt hàng:
Phát triển thương mại mặt hàng là sự lỗ lực cải thiện về quy mô,chất lượng các
hoạt động thượng mại trên thị trường, nhằm tối đa hóa tiêu thụ và hiệu quả của các
hoạt động thương mại cũng như tối đa hóa lợi ích mà khách hàng mong đợi trên thị
trường mục tiêu.
Như vậy phát triển thương mại bao gồm các hoạt động được tổ chức và thực hiện
trong quá trình lưu thông hàng hóa: tổ chức khai thác nguồn hàng, lựa chọn sử dụng và
phát triển các nguồn lực, lợi thế của mặt hàng, xác lập và phát triển hệ thống kênh
phân phối, cải thiện giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng nhằm cải thiện về quy mô và
chất lượng các hoạt động thương mại trên thị trường.[2 tr 30]
Phát triển thương mại mặt hàng là quá trình điều tra, nghiên cứu và xác nhận nhu
cầu của thị trường về sản phẩm. Từ đó có cơ sở để tiếp cận, phát triển, mở rộng thị
trường tiêu thụ cho sản phẩm.
Khái niệm về phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu
Phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu là quá trình điều tra,nghiên cứu và xác
định nhu cầu thị trường về sản phẩm xăng dầu. Từ đó có cơ sở để tiếp cận, phát triển
và mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm.
Phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu thông qua việc huy động và sử dụng
hợp lý các nguồn tài nguyên, nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Tạo nguồn
hàng để đáp ứng các nhu cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nguyễn Thị Thắm k43F3
5
Khoa kinh tế
1.5.2. Phân định nội dung nghiên cứu

1.5.2.1.Vai trò của phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu
a, Trên góc độ doanh nghiệp: phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu giúp
doanh nghiệp mở rộng doạt động kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp nâng cao được
khả năng và tiềm lực của mình, tận dụng được các lợi thế so sánh về nguồn nhân lực,
nguồn vốn và các lợi thế khác để doanh nghiệp có thể cạnh tranh trên thị trường.
Ngoài ra phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu giúp doanh nghiệp có thể hoàn
thiện hơn các chính sách kinh doanh, đưa ra những quyết định đúng đắn trước sự biến
động không ngừng của thị trường trong nước cũng như thế giới. Quan trọng hơn nữa
việc phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu nghĩa là doanh nghiệp có thể tìm ra cách
thức nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất và kinh doanh xăng dầu, từ đó gia
tăng lợi nhuận, củng cố sức mạnh của doanh nghiệp trên thị trường.
b, Trên góc độ kinh tế xã hội: phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu đem lại
cho xã hội nhiều lợi ích. Một là, có thể cung cấp đủ xăng dầu tiêu thụ trên thị trường
phục vụ cho quá trình CNH-HDH đất nước, giải quyết tình trạng khan hiểm xăng dầu
trên thị trường. Hai là, có thể giảm bớt được gánh nặng của chính phủ đối với mặt
hàng xăng dầu, trong tương lai chính phủ sẽ không còn phải bù lỗ cho các hoạt động
kinh doanh xăng dầu của doanh nghiệp. Chính phủ có thể hoàn thiện cơ chế chính sách
đối với mặt hàng xăng dầu, doanh nghiệp có thể xây dựng, cải thiện cơ sở hạ tầng
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước. Ngoài ra phát triển thương mại mặt
hàng xăng dầu sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho mọi người, góp phần vào công cuộc
xóa đói giảm nghèo của chính phủ nhằm cải thiện cuộc sống cho nhân dân, gia tăng
phúc lợi cho xã hội.
1.5.2.2. Nguyên tắc, yêu cầu của phát triển thương mại mặt hàng.
 Về Nguyên tắc của phát triển thương mại mặt hàng
Một là, dựa trên quan hệ cung cầu thị trường, cung cầu là những yếu tố tạo nên
quan hệ thương mại trên thị trường, sự phát triển cân đối giữa cung- cầu quyết định
chất lượng phát triển thương mại và sự gia tăng về lượng cung cầu quyết dịnh đến quy
mô của phát triển thương mại mặt hàng.[5 tr 54].
Hai là, dựa trên năng lực hoạt động, nguồn lực của nhà cung ứng, nghĩa là phát

triển thương mại mặt hàng cần dựa vào: quy mô vốn, nhân lực, trình độ công nghệ,
chu kỳ sản phẩm. Các yếu tố đó ảnh hưởng tới nguồn hàng trong nước, ảnh hưởng tới
Nguyễn Thị Thắm k43F3
6
Khoa kinh tế
quy mô, cơ cấu và thời gian cung ứng trên thị trường. Ngoài ra năng lực cạnh tranh, uy
tín của nhà cung ứng cũng ảnh hưởng tới chất lượng phát triển thương mại mặt hàng.
Ba là, dựa trên lợi ích của nhà cung ứng; lợi ích của nhà cung ứng ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động cung ứng hàng hóa trên thị trường. Hoạt động cung ứng hàng hóa
diễn ra càng liên tục thông thoáng thì nhà cung ứng càng có lợi và ngược lại khi nhà
cung ứng được thỏa mãn về mặt lợi ích thì chất lượng cung ứng càng tốt hơn.
Bốn là, dựa trên lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế xã hội. Phát triển thương mại
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bao gồm các yếu tố thuộc về tự nhiên ( thời tiết,khí
hậu, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý) các yếu tố khác như cơ sở hạ tầng, trình độ
lao động, tiến bộ công nghệ. Do vậy phát triển thương mại cần phải khai thác triệt để
lợi thế so sánh cũng như hiệu quả kinh tế xã hội mang lại.
Năm là, dựa trên đường lối phát triển thương mại của Đảng và Nhà nước. Thông
qua các công cụ như: kế hoạch hóa, pháp luật, hệ thống chính sách, công cụ kinh tế.
Chính phủ sẽ định hướng cho sự phát triển của ngành hàng trong nền kinh tế. Có như
vậy việc phát triển thương mại mới không trái với các quy định của chính phủ và
không bị lạc hướng.
 Yêu cầu đối với phát triển thương mại mặt hàng
Một là, phát triển thương mại mặt hàng phải bám sát thị trường, phù hợp với sự
vận động của quy luật thị trường. Cần phải linh hoạt theo sự vận động của thị trường.
Có nghĩa là khi thị trường thay đổi thì các chính sách phát triển thương mại của doanh
nghiệp cũng cần phải có sự điều chỉnh cho thích hợp.
Hai là, phát triển thương mại mặt hàng cần phải tạo ra môi trường cạnh tranh
bình đẳng, minh bạch. Các doanh nghiệp tư do phát huy khả năng và tiềm lực của
mình trên cơ sở pháp luật cho phép, tránh vì lợi ích của mình mà có những hành vi
trái pháp luật ảnh hưởng tới các doanh nghiệp kinh doanh khác trên thị trường.

Ba là, phát triển thương mại mặt hàng cần giúp cho các doanh nghiệp phát huy
được lợi thế so sánh như về vốn, nhân lực, năng lực cạnh tranh…, áp dụng được các
thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại trong nước và thế giới. Nếu phát triển thương mại
mặt hàng vượt quá khả năng đáp ứng của nguồn lực hoặc không tận dụng được hết
Nguyễn Thị Thắm k43F3
7
Khoa kinh tế
nguồn lực thì sẽ không đem lại hiệu quả, ngược lại nếu phát triển thương mại phù hợp
với kar năng của doanh nghiệp và tận dụng được hết nguồn lực sẽ làm giảm lãng phí
nguồn lực và đem lại hiệu quả rất lớn.
Bốn là, phát triển thương mại mặt hàng cần hài hòa ba lợi ích nhà nước ổn định
nguồn thu- người tiêu dùng được mua với mức giá hợp lý- doanh nghiệp có tích lũy
đầu tư cho phát triển. Phát triển thương mại ngoài việc đem lại lợi ích cho doanh
nghiệp. doanh nghiệp có thêm lợi nhuận, người tiêu dùng mua được những hàng hóa
như ý mà còn phải giúp cho nhà nước ổn định được nguồn thu có như vậy phát triển
thương mại mặt hàng mới bền vững.
Năm phát triển thương mại phải đảm bảo tính bền vững, có tác động nâng cao
hiệu quả kinh doanh, nâng cao uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp, của sản phẩm
mà doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường. Giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp
thâm nhập sâu rông, đảm bảo tính ổn định và kinh doanh lâu dài của mặt hàng trên thị
trường. Ngoài ra phát triển thương mại mặt hàng cần phải là quá trình phát triển bền
vững, không làm cạn kiệt, ảnh hưởng tới các yếu tố khác như: tài nguyên thiên nhiên,
môi trường và xã hội.
1.5.2.3. Nội dung của phát triển thương mại mặt hàng
Một là, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng của hoạt động thương mại.
+ Quy mô thể hiện ở sản lượng, doanh thu trên thị trường tiêu thụ, phần trăm
tăng trưởng khối lượng tiêu thụ. Để phát triển thương mại doanh nghiệp cần mở rộng
về quy mô, nghĩa là gia tăng sản lượng, doanh thu,tốc độ tăng trưởng.
+ Chất lượng được thể hiện thông tốc độ phát triển hay tính bền vững trong phát
triển thương mại, sự chuyển dịch về cơ cấu sản phẩm, cơ cấu thị trường, phương thức

bán hàng, cơ cấu về thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp tham gia vào hoạt
động thương mại trên thị trường.
Hai là, tổ chức và thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa
Tổ chức và khai thác nguồn hàng bao gồm lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn và sử
dụng nguồn lực, lợi thế của mặt hàng, Từ đó đưa hàng hóa vào lưu thông trên thị
trường. Đây là khâu vô cùng quan trọng ảnh hưởng lớn tới nguồn hàng cung ứng trên
thị trường. Tổ chức khai thác nguồn hàng tốt sẽ đảm bảo lượng hàng cung ứng còn nếu
rút ngắn được thời gian lưu thông sẽ tiết kiệm được chi phí đồng thời đưa hàng hóa
đến thị trường nhanh hơn.
Nguyễn Thị Thắm k43F3
8
Khoa kinh tế
Ba là, Xác lập hệ thống kênh phân phối
Hệ thống kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và các cá nhân độc lập
phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho
người sử dụng hoặc người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy nếu hệ thống kênh phân phối
hiệu quả sẽ rút ngắn được gian lưu thông của hàng hóa trên thị trường, kích thích tiêu
dùng, nâng cao chất lượng sản phẩm. Doanh nghiệp muốn phát triển hoạt động thương
mại thì cần phải xây dựng được hệ thống kênh phân phối tốt, hoat động hiệu quả để
thúc đẩy hàng hóa lưu thông trên thị trường.
Bốn là, cải thiện giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị cung ứng
Cải thiện giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị cung ứng nghĩa là làm tăng thêm giá
trị của sản phẩm. Để nâng cao giá trị gia tăng các doanh nghiệp phải tổ chức tốt khâu
phân phối. Nâng cao tính chuyên môn hóa trong lưu thông, giảm thiếu chi phí không
cần thiết.
Nguyễn Thị Thắm k43F3
9
Khoa kinh tế
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI MẶT HÀNG XĂNG DẦU CỦA

CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TỪ LIÊM
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Đây là phương pháp rất phổ biến trong nghiên cứu khoa học. Các dữ liệu sẽ
được thu thập từ các nguồn khác nhau: trong các phương tiện truyền thông, báo đài,
internet và các dữ liệu quan trọng từ các công ty sản suất và kinh doanh xăng dầu. Các
dữ liệu sau khi thu thập được sẽ được sắp xếp theo những tiêu chí khác nhau để tiện
cho việc tìm kiếm và sử dụng sau này.
2.1.2. Phương phân tích dữ liệu
Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được phân tích một cách chi tiết từ tổng quan tới cụ
thể để tránh sai sót. Đây là phương pháp đòi hỏi nhiều thời gian và trí tuệ. Sử dụng
phương pháp này nhằm phân tích và đánh giá thực trạng phát triển thương mại mặt
hàng xăng dầu trên thị trường nói chung và của riêng công ty cổ phần và sản xuất dịch
vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm nói riêng.
2.1.3. Phương pháp điều tra chọn mẫu và phỏng vấn
Đề tài tiến hành điều tra chọn mẫu và phỏng vấn đối với một số doanh nghiệp
kinh doanh xăng dầu, cơ quan quản lý nhà nước về thương mại và các tổ chức cá nhân
tiêu thụ xăng dầu trên thị trường nhằm có đánh giá tổng quan về thực trạng phát triển
thương mại mặt hàng xăng dầu trên thị trường nói chung từ đó để đưa ra các giải pháp
phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu đối với công ty cổ phần sản xuất dịch vụ
xuất nhập khẩu Từ Liêm.
2.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến
phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ
xuất nhập khẩu Từ Liêm.
2.2.1. Đánh giá tổng quan thực trạng thị trường kinh doanh xăng dầu
a, Giai đoạn 2005-2008
Từ đầu những năm 2005, biến động giá xăng dầu thế giới đã có những thay đổi
căn bản; mặt bằng giá mới hình thành và liên tiếp bị phá vỡ để xác lập mặt bằng mới
trong các năm tiếp theo. Do tiếp tục chính sách bù giá cho người tiêu dùng thông qua
doanh nghiệp nhập khẩu nội địa ở mức thấp nên số tiền ngân sách bù giá ngày càng

Nguyễn Thị Thắm k43F3
10
Khoa kinh tế
gia tăng, từ 1000 tỷ (năm 2000) lên đến 22 nghìn tỷ đồng năm 2008. Cho đến thời
điểm này, sự đổi mới cơ chế quản lý, chủ yếu là quản lý giá theo Quyết định 187 vẫn
được coi là mạnh mẽ nhất
Tuy nhiên, vì những lý do khách quan, sự đột phá cơ chế điều hành giá trong QĐ
187 chưa được triển khai trên thực tế; cho đến hiện nay, Nhà nước tiếp tục điều hành
và can thiệp trực tiếp vào giá bán xăng dầu, kể cả chiều tăng và giảm. Mặc dù chưa
vận hành điều khoản về giá xong sự ra đời của QĐ 187 năm 2003 và NĐ 55 năm 2007
đã tạo ra một hệ thống phân phối rộng khắp với gần 10.000 cửa hàng xăng dầu trên cả
nước, góp phần ổn định, lành mạnh hóa thị trường trước đây khá lộn xộn khi thiết lập
quan hệ giữa người nhập khẩu và các đại lý, tổng đại lý khi gắn trách nhiệm, quyền lợi
của doanh nghiệp đầu mối với các đại lý, tổng đại lý cũng như giúp cơ quan quản lý
chức năng, người tiêu dùng cùng tham gia vào quá trình giám sát hoạt động của các
đại lý, tổng đại lý trong việc chấp hành quy định kinh doanh xăng dầu.
b, Giai đoạn 2008 đến 2010
Trong khoảng từ cuối năm 2008 trở lại đây, thị trường xăng dầu thường xuyên
bất ổn , mà ngọn nguồn là sự bất ổn về giá. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến nền
kinh tế đang trên đà phát triển của Việt Nam. Bên cạnh đó, cơ chế bù lỗ xăng dầu của
Nhà nước dẫn đến lãng phí ngân sách của quốc gia mà không tạo được tính cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp xăng dầu và phần nào làm giảm ý thức tiết kiệm của doanh
nghiệp và người tiêu dùng.
Việc tiếp tục can thiệp giá và áp dụng một cơ chế điều hành trong điều kiện giá
xăng dầu thế giới biến động rất nhanh chóng theo hai xu hướng ngược nhau đã dẫn
đến một nghịch lý là: trong thời kỳ giá thế giới đã giảm sâu, nhà nước vẫn phải bỏ một
số tiền bù giá tương đương, thậm chí cao hơn so với giai đoạn giá thế giới tăng đỉnh
điểm; phân khúc số tiền bù giá cho từng giai đoạn trong năm 2008 có thể thấy rõ nhận
định này (khoảng 12 ngàn tỷ /11 ngàn tỷ).
Tới nay Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2007/NĐ-CP về việc kinh doanh

xăng dầu (Nghị định 55), theo đó giá xăng dầu sẽ được áp dụng theo cơ chế thị trường,
và quyết định chấm dứt cơ chế bù lỗ kể từ ngày 16/9/2008 (theo Quyết định
79/2008/QĐ-BTC về cơ chế quản lý, điều hành giá xăng dầu). Tuy nhiên, cơ chế thị
trường đối với giá xăng dầu vẫn chưa áp dụng được trên thực tế, để điều chỉnh giá,
Nguyễn Thị Thắm k43F3
11
Khoa kinh tế
doanh nghiệp đều phải trình và chờ quyết định chính thức của cơ quan quản lý. Kết
quả là thị trường xăng dầu vẫn bất ổn, Nhà nước vẫn tiếp tục bù lỗ. Các doanh nghiệp
kinh doanh xăng dầu vẫn thua lỗ.
Tất cả các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu đều phải chấp nhận một thực tế là,
nhập khẩu giá cao và bán giá thấp. Đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào
khâu nhập khẩu. Giá đầu vào là giá thị trường và doanh nghiệp bắt buộc phải theo,
trong khi giá đầu ra không được điều chỉnh tương ứng, nên doanh nghiệp chịu nhiều
áp lực. Nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn giải pháp tình thế đó là đóng của ngừng kinh
doanh, thị trường xăng dầu trong nước ngày càng hỗn loạn xuất hiện tình trạng gom
hàng, đầu cơ của các đại lý kinh doanh, gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng.
Về nguồn hàng xăng dầu cung ứng trên thị trường: 70% nguồn hàng cung ứng
trên thị trường đều phải nhập khẩu từ nước ngoài do vậy khi giá xăng dầu trên thị
trường thế giới ngày càng tăng cao thì thị trường trong nước có nguy cơ bị thiếu hụt
nguồn cung do tiềm lực tài chính có hạn.
Về hệ thống kênh phân phối: trên thị trường kinh doanh xăng dầu hiện nay phổ
biến hai kênh phân phối chủ yếu là kênh bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối
cùng và kênh phân phối qua các đại lý, các cửa hàng. Tuy nhiên trong giai đoạn 2008
trở lại đây thì hệ thống kênh phân phối trên thị trường hoạt động chưa hiệu quả,
nguyên nhân thị trường xăng dầu trong và ngoài nước biến động liên tục, các chính
sách của chính phủ đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu chưa thật rõ ràng. Giá xăng
dầu trên thị trường trong nước quá thấp nên các doanh nghiệp đầu mối đang hạn chế
nguồn cung nhằm giảm thua lỗ, không chú trọng đến việc phát triển và mở rộng hệ
thống kênh phân phối.

2.2.2. Ảnh hưởng của các nhân tố môi trường tới phát triển thương mại mặt hàng
xăng dầu của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm.
a, Môi trường vĩ mô
‍ Môi trường chính trị
Chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi để gia tăng khối lượng sản xuất và tiêu
thụ xăng dầu trên thị trường. Thúc đẩy các chủ thể trong nước cũng như nước ngoài
tham gia vào các hoạt động kinh doanh xăng dầu trên thị trường. hơn nữa môi trường
chính trị ổn định là nhân tố thiết yếu để các công ty nước ngoài đổ vào thị trường Việt
Nguyễn Thị Thắm k43F3
12
Khoa kinh tế
Nam để đầu tư vào mọi nganh kinh tế, tăng khả tiêu thụ tất cả các mặt hàng trong đó
co cả mặt hàng xăng dầu.
Môi trường chính trị được xây dựng trên cơ sở các chính sách của Đảng và nhà
nước. các chính sách của đảng và nhà nước có tính hai mặt:
Mặt tích cực sẽ đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,phát
triển lượng hàng sản xuất cũng như tiêu thụ, đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham
gia vào kinh doanh xăng dầu. Thúc đấy khai thác, tận dụng tối đa mọi nguồn lực của
Xã hội phục vụ cho phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu trên thị trường.
Mặt tiêu cực sẽ ảnh hưởng,kìm hãm tới hoạt động sản xuất và kinh doanh xăng
dầu trên thị trường.
Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh xăng dầu trên thị
trường của công ty, nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động kinh doanh trên thị
trường càng thuận lợi. Xét môi trường kinh tế ta xét trên các khía cạnh: tốc độ tăng
trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đều qua các năm là điều kiện thuận lợi để phát triển
kinh doanh xăng dầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng đồng nghĩa với việc các nguồn
lực được sử dụng phục vụ cho quá trình sản xuất và kinh doanh xăng dầu cũng tăng
lên . Tuy nhiên từ cuối năm 2007 khủng hoảng nền kinh tế thế giới làm tốc độ tăng

trưởng kinh tế của Việt Nam ở mức 6,22% ảnh hưởng tới việc đầu tư cơ sở hạn tầng
và kinh doanh xăng dầu của nước ta.
Cơ cấu kinh tế: có tác động lớn tới khả năng kinh doanh xăng dầu trên thị
trường của các doanh nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ ảnh hưởng tới mạng lưới
tiêu thụ,hệ thông phân phối xăng dầu trên thị trường, ngoài ra chuyển dịch cơ cấu kinh
tế cũng tác động đến khả năng khai thác nguồn lực,các lợi thế so sánh trong phát triển
thương mại mặt hàng xăng dầu.
Hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng lớn tới phát triển thương mại mặt hàng
xăng dầu. Hội nhập kinh tế quốc tế có thể thu hút nguồn đầu tư nước ngoài vào Viêt
Nam,thúc đẩy phát sản xuất kinh doanh xăng dầu. Đặc biệt khi Việt Nam trở thành
thành viên chính thức của WTO, cơ hội đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
xăng dầu là rất lớn: mở rộng thị trường,nhập khẩu xăng dầu với thuế xuất thấp, được
ưu đãi như các nước thành viên trong WTO. Tuy nhiên hội nhập kinh tế quốc tế cũng
có những mặt hạn chế cụ thể như: 2007-2010 nền kinh tế thế giới xảy ra khủng hoảng,
một loạt các công ty trên khắp thế giới đông loạt phá sản điều này ảnh hưởng rất lớn
Nguyễn Thị Thắm k43F3
13
Khoa kinh tế
đến nền kinh tế trong nước nói chung hay các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nói
riêng trong đó có cả công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm. Thị
trường xăng dầu trên thế giới liên tục biến động kéo theo sự biến động của thị trường
xăng dầu trong nước.
Như vậy có thể nói hội nhập kinh tế càng sâu thị sự phụ thuộc vào thị trường
nước ngoài càng lớn.
Các chính sách của chính phủ
Chính sách của đảng và nhà nước ảnh hưởng lớn tới việc sản xuất và kinh
doanh xăng dầu trên thị trường. Đảng và nhà nước ta đang có chính sách kiểm soát giá
xăng dầu,với công cụ là thuế nhập khẩu và quỹ bình ồn giá xăng dầu. Các chính sách
của nhà nước ảnh hưởng không nhỏ tới các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xăng
dầu trên thị trường. Các chính sách này có thể thúc đẩy hoạc kìm hãm khả năng cung

ứng, nhu cầu xăng dầu trên thị trường, số lượng các doanh nghiệp, các thành phần
kinh tế tham gia vào hoạt động kinh doanh xăng dầu trên thị trường.
Thực tế cho thấy chính phủ đã có nhiều lỗ lực trong việc điều tiết thị trường,
bình ổn giá xăng dầu. Tuy nhiên một số chính sách còn nhiều bất cập, không khách
quan, không phù hợp với cơ chế thị trường. Như việc chính phủ kiểm soát giá và bảo
hộ mặt hàng xăng dầu gây ra rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp.
b, Yếu tố thuộc về thị trường
Các yếu tố thuộc về thị trường bao gồm: quan hệ cung cầu, giá cả, đối thủ cạnh
tranh, biến động tỷ giá hối đoái,…đều ảnh hưởng tới phát triển thương mại mặt hàng
xăng dầu.
Trong quan quan hệ cung cầu thì cầu có vai trò rất quan trọng,cầu lớn thị cung
cũng lớn. Như vậy khả năng cung ứng xăng dầu trên thị trường của các doanh nghiệp
phụ thuộc khá lớn vào cầu trên thị trường. Trong điều kiện bình thường, không tính
đến các yếu tố biến động trên thị trường thì Nhà cung ứng muốn bán được nhiều xăng
dầu hơn nhằm thu được lợi nhuận, chính vì vậy các nhà cung ứng xăng dầu trên thị
trường sẽ tìm cách để bán lượng xăng dầu để đáp ứng các nhu cầu thị trường
Giá cả là nhân tố quan trọng và chủ yếu ảnh hưởng tới khả năng cung ứng xăng
dầu trên thị trường. Giá bán xăng dầu ở mức cao, thì các nhà cung ứng sẽ cung cấp
xăng dầu trong khả năng có thể nhằm thu nhiều lợi nhuận, ngược lại nếu chính phủ chỉ
đạo mức giá xang dầu trên thị trường ở mức thấp thì các doanh nghiệp kinh doanh
Nguyễn Thị Thắm k43F3
14
Khoa kinh tế
xăng dầu sẽ hạn chế lượng bán ra trên thị trường vì càng bán sẽ càng lỗ. Chính phủ đã
ban hành nghị định 55 về kinh doanh xăng dầu, xóa bỏ trợ cấp đối với các doanh
nghiệp kinh doanh xăng dầu trên thị trường đồng thời để mức giá cho thị trường quyết
định nhưng trên thực tế nhà nước vẫn phải bù lỗ cho các doanh nghiệp và chính phủ
vẫn tiếp tục kiểm soát giá xăng dầu trên thị trường.
Đối thủ cạnh tranh cũng ảnh hưởng tới khả năng cung xăng dầu trên thị trường.
Thị trường xăng dầu cạnh tranh càng gay gắt thì càng góp phần vào hoàn thiện hệ

thống kênh phân phối trên thị trường, các doanh nghiệp càng trú trọng tới việc nâng
cao khả năng cạnh tranh của mình thông qua việc hoàn thiện,cải tiến hệ thống kênh
phân phối, sản phẩm và khả năng phục vụ khách hàng. Từ đó chất lượng sản phẩm
ngày càng được nâng cao và ổn định hơn. Trên thị trường xăng dầu của Việt Nam thì
petrolimex chiếm 55-60 % thị phần như vậy petrolimex đang là tập đoàn thống trị việc
cung ứng xăng dầu trên thị trường.
Biến động của tỷ giá cũng ảnh hưởng tới khả năng cung ứng xăng dầu trên thị
trường. Tỷ giá càng biến động thì việc kinh doanh xăng dầu trên thị trường càng bất ổn
bởi thuế nhập khẩu xăng dầu phụ thuộc vào sự biến động của tỷ giá, tỷ giá càng cao thì
nhà nhập khẩu xăng dầu càng tốn nhiều ngoài tệ hơn để mua được một lượng xăng dầu
từ các doanh nghiệp nước ngoài.
c, Môi trường vi mô (yếu tố nội tại trong các doanh nghiệp)
Nhân tố Nguồn lực ảnh hưởng lớn tới khả phát triển thường mại mặt hàng xăng
dầu của công ty,các nguồn lực quan trọng bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực tài
chính có khả năng quyết định chủ yếu đến hoạt động kinh doanh của công ty. Sự thiếu
hụt về nguồn lực sẽ ảnh hưởng tới nguồn hàng cung ứng trên thị trường của các doanh
nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trên thị trường vẫ đang trong
tình trạng thiếu hụt nguồn lực,như vậy sẽ ảnh hưởng lớn khả năng cung ứng xăng dầu
trên thị trường.
Cơ sợ hạ tầng, máy móc trang thiết bị cũng là một trong những nhân tố quan
trọng. Máy móc trang thiết bị chưa hiện đại, nghèo nàn, chưa đáp ứng được nhu cầu
trong quá trình sản xuất. Chính vì vậy mà chúng ta phải xuất dầu thô với giá rẻ và
nhập khẩu dầu đã qua tinh chế với mức giá rất cao. Nhà nước đang xây dựng và đưa
vào hoạt động nhà máy lọc dầu Dung quất xong vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu xăng
dầu trong nước, dự báo Việt Nam vẫn phải nhập xăng dầu với trữ lượng lớn trong
tương lai.
Nguyễn Thị Thắm k43F3
15
Khoa kinh tế
Mạng lưới kênh phân phối ảnh hưởng tới mức độ chuyên môn hóa trong lưu

thông. Mạng lưới phân phối hợp lý làm giảm được các chi phí không cần thiết trong
lưu thông,nâng cao được hiệu quả thương mại. Mạng lưới phân phối thể hiện mức độ
liên kết và hợp tác trong kênh, mức độ liên kết càng chặt chẽ thì khả năng cung ứng
nguồn hàng trên thị trường càng ổn đinh, việc khai thác và sử dụng các nguồn lực cũng
như các lợi thế so sánh càng đạt hiệu quả.
Phương thức bán hàng,phương thức thanh toán và các dịch vụ sau bán: góp
phần quan trọng vào việc tạo ra giá trị gia tăng cho hoạt động thương mại của doanh
nghiệp. Phương thức bán hàng càng hiện đại càng thể hiện tính chuyên môn hóa trong
lưu thông. Ngày nay các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đã rất chú trọng tới
phương thức bán hàng cũng như các dịch vụ bổ trợ khác nhằm thúc đẩy hoạt đông
kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3. Đánh giá thực trạng phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu của công ty cổ
phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm
2.3.1. Khái quát về công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu từ Liêm.
Thành lập 12/10/1999. Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ
Liêm thuộc sở hữu của các cổ đông được thành lập trên cơ sở cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước. Công ty hoạt động theo quy định của luật công ty do quốc hôi quy
đinh.
Lĩnh vực kinh doanh: kinh doanh dịch vụ xuất nhập khẩu, nội thương,nhà
hàng….
Mặt hàng kinh doanh: sắt, thép, xăng dầu, thiết bị, máy móc.
Vốn điều lệ khi thành lập công ty 4251000000 VND. Trong đó vốn nhà nước
828500000 đồng chiếm tỷ lệ 19,5%, vốn của các cổ đông là 3422500000 đồng.
Phạm vi hoạt động: trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Công ty có thể mở chi nhánh
ở nước ngoài theo quy định của pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.3.2. Kết quả phân tích số liệu sơ cấp
Kết quả điều tra phỏng vấn Tổng số phiếu phát ra: 25
Tổng số phiếu thu về: 15
Tổng số hợp lệ: 10
Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu,đặc biệt là cung cấp thêm những minh chứng

về phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu trên thị trường. Em tiến hành lựa chọn 10
Nguyễn Thị Thắm k43F3
16
Khoa kinh tế
doanh nghiệp trong quá trình điều tra, để đảm bảo độ tin cậy cho việc điều tra phỏng
vấn, em lựa chọn các doanh nghiệp điển hình về quy mô, phương thức và loại hình
kinh doanh.
Trong phiếu tập trung vào các nhóm vấn đề sau:
+ Các chỉ tiêu về phát triển thương mại ( tốc độ tiêu thụ sản phẩm, khối lượng
sản phẩm cung ứng.)
+ Nguồn lực đối với phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu trên thị trường
+ Khai thác nguồn lực để phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu trên thị
trường.
+ Thuận lợi và khó khăn doanh nghiệp gặp phải trong quá trình phát triển
thương mại mặt hàng xăng dầu
+ Các chính sách của chính phủ đối với vấn đề phát triển thương mại mặt hàng
xăng dầu.
Kết quả điều tra phỏng vấn về phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu trên thị
trường.
Kết quả điều tra cho thấy,trong 10 doanh nghiệp tham gia điều tra phỏng vấn thì
có 60% là các doanh nghiệp nhỏ, 30% có quy mô vừa và 10% có quy mô lớn.
 Câu hỏi số 1: 100% các doanh nghiệp tham gia điều tra phỏng vấn đều trả
lời rằng trong giai đoạn 2007-2010 ,các công ty của họ không tăng khối lượng cung
ứng thậm chí còn giảm về mặt khối lượng xăng dầu cung cấp trên thị trường do giai
đoạn 2007-2010 thị trường xăng dầu trên thế giới biến động rất mạnh gây bất ổn cho
thị trường xăng dầu trong nước.
 Câu hỏi số 2: Về tốc độ tiêu thụ: qua phiếu điều tra cho thấy 30% số doanh
nghiệp tham gia điều tra phỏng vấn tăng qua các năm, còn lại 70% số doanh nghiệp
cho biết rằng tốc độ tăng trưởng cũng biến động theo thị trường, lúc tăng lúc giảm.
 Câu hỏi số 3: 100% số doanh nghiệp tham gia điều tra phỏng vấn cho biết

hiệu quả kinh doanh không tăng trong giai đoạn 2007-2010 đặc biệt là 2008-2010
nguyên nhân chính là do khủng hoảng kinh tế thế giới và sự biến động mạnh của giá
xăng dầu trên thị trường nước ngoài.
Yếu tố về nguồn lực đối với phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu trên thị trường
 Câu hỏi số 4: 100% các doanh nghiệp cho rằng các nguồn lưc: nguồn tài
nguyên khoáng sản(mỏ dầu), nguồn nhân lực, nguồn vốn, công nghệ đều rất cần thiết
cho quá trình phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu trên thị trường. 80% cho rằng
Nguyễn Thị Thắm k43F3
17
Khoa kinh tế
nguồn lực tài chính là quan trọng nhất bởi nó chi phối mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
 Câu hỏi số 5: Về hình thức huy động vốn: các doanh nghiệp tham gia điều
tra có các hình thức huy động vốn rất khác nhau, tùy thuộc vào từng loại hình doanh
nghiệp để có các hình thức huy động vốn. Tuy nhiên ngân hàng vẫn là một trong
những chủ thể cung cấp vốn cho các doanh nghiệp với mức độ quan trọng khác nhau.
 Câu hỏi số 6: 80% các doanh nghiệp tham gia điều tra phỏng vấn đều
cho rằng nguồn xăng dầu chủ yếu cung cấp trên thị trường đều nhập khẩu từ nước
ngoài. Như vậy thị trường xăng dầu của nước ta phụ thuộc nhiều vào thị trường nước
ngoài
 Câu hỏi số 7: Đối với việc phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu
100% các doanh nghiệp cho rằng: cần khai thác nguồn lao động giá rẻ, tài nguyên
khoáng sản, các ngành công nghiệp phụ trợ, các chính sách của chính phủ. Trong đó
80% các doanh nghiệp cho rằng các chính sách của chính phủ cần phải tạo điều kiện
hơn nữa cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu., 20% còn lại cho rằng chính sách
của chính phủ đã hiệu quả.
 Câu hỏi số 8: Đối với các chính sách của chính phủ 100% các doanh
nghiệp cho rằng chính sách về thuế nhập khẩu và trợ cấp,tỷ giá đều là những chính
sách rất cần thiêt cho các doanh nghiệp, trong đó 60% cho rằng về thuế nhập khẩu là
quan trọng nhất, 40% còn lại cho rằng chính sách điều hành tỷ giá là quan trọng nhất.

 Câu hỏi số 9: Đối với vấn đề trợ cấp giá xăng dầu, 80% các doanh
nghiệp cho rằng chính phủ không cần thiết phải trợ cấp cho các doanh nghiệp mà hãy
để cho doanh nghiệp quyền quyết định giá xăng dầu trên thị trường, 20% các doanh
nghiệp còn lại cho rằng cần thiết phải có sự trợ cấp của chính phủ.
 Câu hỏi số 10: Đối với những khó khăn gặp phải: các doanh nghiệp tham
gia điều tra đều có những khó khăn khác nhau, xong nếu xét trên bình diện chung các
doanh nghiệp đang rất khó khăn về nguồn vốn, hơn nữa các doanh nghiệp đều cho
rằng họ chịu thua lỗ nhiều trong thời gian qua do phải bán xăng dầu với mức giá mà
nhà nước quy định. Tất cả các doanh nghiệp đều rất mong nhà nước có sự thay đổi
trong cơ chế quản lý giá xăng dầu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự do kinh
doanh và có quyền quyết định giá theo mức giá của thị trường.
Nguyễn Thị Thắm k43F3
18
Khoa kinh tế
2.3.3. Kết quả phân tích thứ cấp
a, Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp về thực trạng phát triển thương mại
mặt hàng xăng dầu của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ
Liêm.
Giai đoạn 2007-2009 hiệu quả kinh doanh của công ty tăng qua các năm,chỉ
riêng năm Từ bảng tổng hợp tình hình kinh doanh xăng dầu của công ty cổ phần sản
xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm ta có thể thấy được
Từ năm 2007-2010 tình hình kinh doanh xăng dầu của công ty biến động không đáng
kể.
Nhìn vào bảng 2.1 và bảng 2.2 ta thấy tốc độ tăng trưởng tiêu thụ mặt hàng
xăng dầu của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Tư Liêm từ 2007 đến
2008 tăng nhẹ với mức tăng là 10810 lit tương ứng với 1,08%. Doanh thu tiêu thụ tăng
700 triệu đồng tương ững với 3,9%. Lợi nhuận trước thuế tăng 13,3% . Tuy nhiên sang
2009 tốc độ tăng trưởng tiêu thụ tăng 7%, doanh thu tăng gần 7%, lợi nhuận tăng
17,6% so với năm 2008. Đến năm 2010 tình hình kinh doanh của công ty có đôi chút
khó khăn,khối lượng tiêu thụ giảm 3,2 %, doanh thu giảm 5,2%, lợi nhuận giảm 10%.

Nguyên nhân chính là thị trường xăng dầu thế giới,giá tăng cao cộng với sự biến động
của tỷ giá làm cho mức giá thu mua tăng lên đẩy chi phí tăng.
BẢNG 2.2: biến động của sản lượng, doanh thu, chi phí, lợi nhuận qua các
năm.
Chỉ tiêu Đơn vị 2007 2008 2009 2010
Khối lượng Nghìn lít 1000 1010.81 1081.08 1047.37
Doanh thu Trd 18000 18700 20000 19000
Chi phí Trd 16500 17000 18000 17200
Lợi nhuận Trd 1500 1700 2000 1800
(Nguồn: phòng kinh doanh )
Trong giai đoạn 2007-2010 là giai đoạn mà thị trường xăng dầu thế giới bất
ổn,nguồn cung ứng xăng dầu tại một số nước Trung đông và Bắc Phi bị gián đoạn do
nội chiến gây thiếu hụt xăng dầu nghiêm trọng trên thị trường đẩy giá lên rất cao.
Nguồn xăng dầu chính cung cấp tại thị trường trong nước phải nhập từ nước ngoài dẫn
đến thị trường trong nước cũng trở lên bất ổn. Vì vậy khối lượng tiêu thụ xăng dầu
của công ty có xu hướng giảm. Cụ thể như sau năm 2007 khối lượng xăng dầu tiêu thụ
là 1 triệu lít, 2008 là 1.0181 triệu lít, năm 2009 là 1.081 triệu lít, năm 2010 giảm còn
1,047 triệu lít
Nguyễn Thị Thắm k43F3
19
Khoa kinh tế
Trước sự biến động rất lớn của thị trường, nhiều công ty kinh doanh xăng dầu đã
hạn chế lượng xăng dầu bán ra trên thị trường nhằm giảm thua lỗ. Nhưng Công ty cổ
phần dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm vẫn quyết định cung cấp đủ lượng xăng dầu bán
ra theo đã đinh để tạo uy tín trên thị trường và giữ được khách hàng trung thành.
Hiệu quả kinh doanh của công ty
BẢNG 2.3: tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận, chi phí, doanh thu
Tốc độ tăng trưởng 2008 2009 2010
Lợi nhuận 13.3 % 17.6% -10%
Chi phí 3% 5.9% -4.4%

Doanh thu 3.9% 7% -5%
(Nguồn: phòng kinh doanh)
Dựa vào bảng 2.3 ta có thể thấy được hiệu quả kinh doanh của công ty như sau:
Giai đoạn 2007-2008 tốc độ tăng của lợi nhuận nhanh hơn tốc độ tăng của chi
phí. Lợi nhuận tăng 13,3% thì tốc độ tăng của chi phí khoảng 3%,giai đoạn 2008-
2009, tốc độ tăng của lợi nhuận là 17,6% còn tốc độ tăng của chi phí gần 6%. Chỉ
riêng Giai đoạn 2009-2010, tổng chi phí giảm 4,4% nhưng lợi nhuận giảm 10%. Ta có
thể kết luận như sau riêng 2010 hiệu quả kinh doanh của công ty giảm đi đôi chút do
yếu tố khách quan của thị trường.
Đánh giá quy mô hoạt động của công ty
Nguồn nhân lực: Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm là
công ty kinh doanh nhiều lĩnh vực khác nhau, Công ty sở hữu nguồn lao động rất rồi
rào, khoảng trên 150 người,nguồn lao động được sử dụng chính để tập trung cho hoạt
động kinh doanh xăng dầu ngày càng tăng
riêng 2010 lượng lao động có giảm đi không đáng kể do các nguyên nhân chủ quan từ
phía lao động. Nhìn vào số lượng lao động động chúng ta có thể thấy được công ty đã
rất quan tâm đến chất lượng phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu.
Nguồn vốn: vốn điều lệ của công ty liên tục tăng qua các năm, tính đến nay vốn
điều lệ của công ty khoảng 100 tỷ đồng, công ty đang khuyến khích các cổ đông góp
thêm vốn để phát triển kinh doanh.
Cơ sở vật chất: công ty ngày càng chú trọng đầu tư nhiều vào cơ vật như mua
thêm nhiều máy móc trang thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh, xây
dựng thêm nhiều cửa hàng, kho bãi. Thay thế, sửa chữa máy móc không đạt tiêu
chuẩn, thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ.
Nguyễn Thị Thắm k43F3
20
Khoa kinh tế
Cơ cấu nguồn hàng của công ty
Nguồn hàng của công ty rất đa dạng bao gồm: Xăng A 92, Điêzen, Dầu hỏa,
Madut, với số lưởng tương đối lớn. Công ty đang có kế hoạch thu mua và dự trữ nhiều

hơn nhằm đáp ứng các nhu cầu của thị trường. Dựa vào bảng 4 ta có thể thấy lượng
hàng mà công ty dự trữ trong kho cũng tương đối lớn, Xăng A92 là 350 thùng, dầu hỏa
là 300 thùng, điêzn là 250. Lượng hàng này đảm bảo cho nguồn hàng cung ứng ra thị
trường.
BẢNG 2.4: Nguồn hàng dự trữ trong kho của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ
XNK Từ Liêm
Tên hàng Trữ lương ( thùng)
Xăng A 92 350
Điêzen 250
Dầu hỏa 300
Madut 320
(Nguồn: phòng kinh doanh )
Hệ thống kênh phân phối
Công ty hiện đang sử dụng 2 kênh phân phối chủ yếu:
 Kênh phân phối trực tiếp: có nghĩa là xăng dầu sẽ được bán trực tiếp cho
người tiêu dùng cuối cùng mà không qua các trung gian khác như các đại lý, của hàng
chuyên kinh doanh xăng dầu. Khách hàng chính trong kênh phân phối trực tiếp của
công ty bao gồm: các doanh nghiệp sản xuất, vận tải, người tiêu dùng nhỏ lẻ
 Kênh phân phối giản tiếp qua các đại lý, của hàng trung gian. Ngoài việc
bán xăng dầu trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng công ty còn bán xăng dầu cho
các đại lý, cửa hàng kinh doanh xăng dầu khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của mình. Công ty đang rất trú trọng đến việc phát triển cả hai hệ thống
kênh phân phối trên để thu được kết quả cao nhất, rút ngắn thời gian lưu thông và gia
tăng giá trị cho sản phẩm.
Cơ cấu khách hàng của công ty
BẢNG 2.5: Cơ cấu khách hàng của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập
khẩu Từ liêm.
Khách hàng 2007 2008 2009 2010
Nguyễn Thị Thắm k43F3
21

Khoa kinh tế
Doanh nghiệp nhà nước 35 % 30 % 28 % 28 %
Doanh nghiệp tư nhân 30 % 35 % 37 % 38 %
Người tiêu dùng 20 % 23 % 18 % 19 %
Các tổ chức khác 15 % 12 % 17 % 15 %
(Nguồn: phòng kinh doanh )
Nhìn vào bảng 4, ta có nhận xét về cơ cấu khách hàng của công ty như sau:
khách hàng chính và chủ yếu của công ty là các doanh nghiệp nhà nước, các doanh
nghiệp tư nhân và người tiêu dùng thuộc về cá nhân. Tuy nhiên có sự thay đổi trong cơ
cấu khách hàng.
Năm 2007 doanh nghiệp nhà nước chiếm 35%, doanh nghiệp tư nhân chiếm
30% trong tổng cơ cấu khách hàng. Năm 2008 doanh nghiệp nhà nước chiếm
30%,doanh nghiệp tư nhân chiếm 35% trong tổng cơ cấu khách hàng. Năm 2010
doanh nghiệp nhà nước chiếm 28%,doanh nghiệp tư nhân
chiếm 38%. Như vậy đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu khách hàng của công ty.
Cơ cấu khách hàng đang có xu hướng giảm dần tỷ trọng đối với các doanh
nghiệp nhà nước, tăng tỷ trọng đối với các doanh nghiệp tư nhân. Từ kết quả trên
doanh nghiệp cần tập trung và chú trọng vào lượng khách hàng quan trọng này, ngoài
ra công ty cũng cần quan tâm tới người tiêu dùng và các tổ chức khác nữa.
Các chính sách của công ty đang sử dụng
Chính sách tổ chức khai thác nguồn hàng của công ty
Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm tổ chức khai thác
nguồn hàng trên cơ sở nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Doanh nghiệp thu mua nguồn
hàng từ các công ty đầu mối kinh doanh xăng dầu. mục tiêu của công ty luôn luôn đảm
bảo lượng xăng dầu bán ra. Công ty cũng dự trữ một lượng xăng dầu đáng kể trong
kho để đề phòng khi nguồn hàng khan hiếm. Theo thông tin từ phòng kinh doanh cho
biết công ty đang có kế hoạch đầu tư thêm khoảng 10 tỷ đồng để thu mua thêm xăng
dầu và đầu tư cho kho bãi.
Chính sách khai thác nguồn lực và sử dụng các lợi thế của công ty trong phát
triển thương mại mặt hàng xăng dầu trên thị trường.

Chính sách khai thác nguồn nhân lực: nhằm thu hút được đội ngũ lao động có
trình độ chuyên môn,tay nghề cao công ty đã có rất nhiều chính sách đãi ngộ. Hiện nay
công ty đang có trong tay đội ngũ lao động rồi rào trong đó có khoảng 30 có trình độ
đại hoc trở lên,tốt nghiệp từ các trường kinh tế với các chuyên ngành khác nhau với
Nguyễn Thị Thắm k43F3
22
Khoa kinh tế
nghiệp vụ vũng vàng. Có khả năng phân tích và xử lý rất tôt công việc của công ty.
Ngoài ra công ty đang đào tạo một số nhân viên đi học nước ngoài nhằm nâng cao
trình độ chuyên môn để phục vụ cho công việc sau này.
Do nguồn vốn có hạn lên công ty đang có các chính sách nhằm giảm thiểu chi phí
không cần thiết,tận dụng các hình thức thanh toán trả sau để có thể quay vòng vốn sử
dụng cho các hoạt đông kinh doanh khác. Thêm vào nữa công ty đang khuyến khích
các cổ đông đầu tư thêm vốn để gia tăng hiệu quả cho hoạt động kinh doanh.
Chính sách của công ty trong phát triển hệ thống kênh phân phối.
Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm đóng vai trò là phân
phối các sản phẩm về xăng dầu, công ty tham gia vào hệ thống kênh với vị trí vừa là
nhà bán buôn và vừa là nhà bán lẻ. Hệ thống của hàng của công ty trải rộng khắp các
tỉnh thành trong đó Hà Nội là chủ yếu. Công ty luôn đặt uy tín và chất lượng lên hàng
đầu. Từ 2008 doanh nghiệp đã xây dựng nhiều chiến lược phát triển hệ thống kênh
phân phối xăng dầu. Hiện nay doanh nghiệp đang đầu tư các trang thiết bị hiện đại
phục vụ cho quá trình phân phối sản phẩm tốt hơn. Tiếp tục đầu tư mới, mua lại, nâng
cấp hệ thống cửa hàng bán lẻ để tăng cường hệ thống phân phối, nâng cao năng lực
bán hàng và văn minh thương mại. hiện đại hoá cơ sở vật chất, giảm thiểu các yếu tố
làm bất ổn thị trường và nguy cơ cháy nổ, ô nhiễm môi trường chủ động nâng cao
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và xã hội.
CHƯƠNG 3: CÁC KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI
MẶT HÀNG XĂNG DẦU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU TỪ LIÊM.
3.1. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu thực trạng phát triển thương mại

mặt hàng xăng dầu của công ty cổ phấn sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ
Liêm
Nguyễn Thị Thắm k43F3
23
Khoa kinh tế
3.1.1. Thành công và bài học kinh nghiệm
a, Thành công
Phát triển thương mại mặt hàng xăng dầu góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu
xăng dầu trên thị trường, góp phần vào tăng trường kinh tế của cả nước. Phát triển
thương mại mặt hàng xăng dầu còn giải quyết được những mặt hạn chế còn tồn tại đối
với các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu hay cụ thể hơn là của công ty cổ phần và
sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu Từ Liêm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Mặc dù giai đoạn 2007-2010 thị trường xăng dầu thế giới đầy biến động kéo theo
sự biến động của thị trường trong nước. Nguyên nhân chính là do xung đột tại khu vực
Trung Đông và Bắc phi diễn biến phức tạp làm giảm nguồn cung xăng dầu trên thế
giới, đấy giá xăng dầu lên rất cao. Nhưng cùng với nhà nước và các doanh nghiệp,
công ty đã có sự kết hợp, hỗ trợ để kiềm chế giá xăng dầu không tăng quá cao gây rối
loạn thị trường và ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế.
Đảm bảo đủ nguồn xăng dầu liên tục trong các điều kiện khó khăn, đáp ứng đủ
nhu cầu thị trường nội địa, nhu cầu của các hộ sản xuất trọng yếu trong nước và của
các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa; chấp hành và thực hiện nghiêm túc, có kết quả
các chỉ đạo, giải pháp của Chính phủ.
Sự dịch chuyển cơ cấu tiêu thụ sản phẩm theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của xã hội về chất lượng cũng như số lượng. Doanh nghiệp đã dự trữ đủ lượng
xăng dầu cần thiết đảm bảo cung cấp đầy đủ xăng dầu trên thị trường trước sự thiếu
hụt xăng dầu trên thị trường nước ngoài.
Doanh nghiệp ngày càng trú trọng khai thác tố ưu các nguồn lực, đặc biệt trú
trọng khai thác nguồn nhân lực có trình độ và có chất lượng quản lý phục vụ cho hoạt
động kinh doanh xăng dầu trên thị trường hiệu quả hơn.

Doanh nghiệp ngày càng có nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý các tình huống
bất ổn của thị trường, biết chú trọng tới công tác nghiên cứu và dự báo thị trường. Hội
nhập kinh tế ngày càng sâu thì sự phụ thuộc vào thị trường nước ngoài
càng mật thiết, nên các doanh nghiệp cần có phương án nghiên cứu để phản ứng
mau lẹ trước sự biến động của thị trường.
b, Bài học kinh nghiệm
Nguyễn Thị Thắm k43F3
24
Khoa kinh tế
Doanh nghiệp cần có sự liên kết hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp khác
trong tất cả các khâu từ sản xuất,phân phối tới tiêu thụ. Tức là có sự gắn kết giữa nhà
sản xuất,nhà phân phối và nhà tiêu thụ. Có như vậy mới nâng cao khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp đồng thời góp phần phát triển thương mại một cách bền vững.
Doanh nghiệp cần mở rộng mạng lưới phân phối theo chiều rộng cũng như chiều
sâu. Nhưng cần chú ý tạo mối quan hệ bền vững, uy tín có như vậy mới nâng cao được
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Đa dạng hóa các hình thức phân phối, ứng dụng các tiến bộ công nghệ vào quá
trình phân phối nhằm giảm thiểu các chi phi không cần thiết, nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
Đối với mặt hàng xăng dầu là mặt hàng biến động rất mạnh trên thị trường.
Doanh nghiệp cần phải tính trước những phương án kinh doanh để xử lý linh hoạt khi
thị trường rối loạn. Ngoài ra doanh nghiệp cần bán sát các chính sách mới của nhà
nước để việc kinh doanh diễn ra thuận lợi hơn.
Hiện đại hoá cơ sở vật chất, giảm thiểu các yếu tố làm bất ổn thị trường và nguy
cơ cháy nổ, ô nhiễm môi trường chủ động nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp và xã hội.
Doanh nghiệp cần có các phương án để hoạch toán một cách rõ ràng, cải tổ lại hệ
thống doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh.
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân của sự hạn chế
a, Hạn chế

Nguồn cung ứng: nguồn hàng cung ứng trên thị trường còn hạn chế,có nhiều thời
điểm khi giá xăng dầu tăng cao, xăng dầu dự trữ không đủ cho nhu cầu thị trường. làm
cho việc kinh doanh xăng dầu bị gián đoạn.
Giá xăng dầu trên thị trường hiện nay chưa ổn đinh, nên doanh nghiệp khó khăn
trong việc kinh doanh. Đặc biệt tỷ giá hối đoái đang có xu hướng tăng lên làm cho
mức giá nhập khẩu xăng dầu cung tăng mạnh trong khi giá bán ra trong nước chịu sự
điều tiết của chính phủ. Do vậy Doanh nghiệp rất khó khăn trong việc kinh doanh.
Phương thức bán hàng, phương thức thanh toán của doanh nghiệp vẫn chưa
chuyên môn hóa do doanh nghiệp chưa đầu tư nhiều máy móc trang thiết bị phục vụ
cho hoạt động kinh doanh. Chưa quan tâm tới các dịch vụ sau bán,các hình thức nhằm
hỗ trợ các tổ chức thu mua và người tiêu dùng.
Nguyễn Thị Thắm k43F3
25

×