Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

HỘI THẢO GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (239.55 KB, 27 trang )

Sở giáo dục và đào tạo Hải Dương
Phòng Giáo Dục và đào tạo Bình Giang
------------***----------------

Û

HỘI THẢO
GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
---------***-----------

HÈ 2010


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Về mặt lý luận
Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là phát huy vai trò của
giáo viên chủ nhiệm (GVCN), tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, bên cạnh
đó là sự giáo dục toàn diện cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng,
Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đã
xác định: “ Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển tồn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành
nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm
công dân… ( Điều 23-Luật giáo dục).
Về mặt thực tiễn
Hội nhập kinh tế ngồi mặt tích cực nó cịn làm phát sinh những vấn đề mà
chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh tế quốc tế
đưa vào nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, reo rắc lối sống tự do tư
sản, làm xói mịn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện nay


một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu
cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin
trong cuộc sống, ý chí kém phát triển, khơng có tính tự chủ dễ bị lơi cuốn vào
những việc xấu. Vì vậy vai trò của giáo viên chủ nhiệm là rất quan trọng.
Trong nhà trường phổ thơng nói chung và trường THCS nói riêng, số học sinh
vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết thành băng nhóm
bạo hành trong trường học đáng được báo động. Một số GVCN, giáo viên chưa thật
sự là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học,
xem nhẹ môn GDCD, thờ ơ không chú ý đến việc giáo dục tình cảm đạo đức cho
học sinh.
2


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

Về cá nhân
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, để góp phần vào công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, và qua thực tiễn công tác chủ nhiệm lớp
và giảng dạy học sinh ở trường THCS, tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề
ra biện pháp về công tác giáo giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là một nhiệm
vụ hết sức quan trọng của người GVCN. Đó là lý do tại sao tôi chọn đề tài này.

3


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

B. PHẦN NỘI DUNG

Hội thảo GVCN lớp ở trường phổ thông

Phần 1.
Thực trạng công tác GVCN lớp ở trường phổ thông
Không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học và thực hiện mục tiêu giáo dục
là đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ,
hình thành nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập của dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; đáp ứng được với thời
kỳ hiện đại hóa, cơng nghiệp hóa.
Trong những năm qua, cơng tác chủ nhiệm lớp đã phát huy được những mặt
thuận lợi, vượt qua rất nhiều khó khăn để góp phần quan trọng trong những bước
phát triển của Nhà trường. Những yếu tố thuận lợi, khó khăn đó có ảnh hưởng rất
lớn đến chất lượng công tác chủ nhiệm của Nhà trường.
+ Về thuận lợi:
- Sự quan tâm của lãnh đạo Nhà trường đối với công tác quản lý lớp. Đảng
uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường thường xuyên tạo điều kiện, quan tâm đến các giáo
viên chủ nhiệm cả về tinh thần, vật chất. Lãnh đạo Nhà trường đã tin tưởng, mạnh
dạn giao cho một một số giáo viên trẻ tham gia chủ nhiệm lớp. Đa số giáo viên rất
giàu nhiệt huyết hăng say công tác, tận tâm với công việc được giao thể hiện mình
là những người có kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm.
- Công tác chủ nhiệm luôn nhận được sự phối hợp hoạt động, hỗ trợ của các
tổ, bộ phận, các ban ngành đoàn thể trong Nhà trường. Trong điều kiện cơ sở vật
chất của Nhà trường còn nhiều khó khăn như hiện nay, việc quản lý lớp chỉ có thể
đạt kết quả tốt nếu có được sự cộng tác, giúp đỡ của tập thể.
+ Về khó khăn:
- Trong những khó khăn chung của Nhà trường, cơ sở vật chất phục vụ cho
cơng tác chủ nhiệm cịn nhiều khó khăn. Vì vậy, việc quản lý lớp vẫn chủ yếu
mang tính thủ cơng, chưa được tin học hố, các thơng tin quản lý vì vậy thường

4



Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

chậm, không được cập nhật kịp thời để làm cơ sở đề xuất những giải pháp khắc
phục một cách nhanh chóng, hiệu quả.
- Do phần lớn số lượng học sinh nằm ở các thôn mà xã lại rộng nên khó có
thể nắm chắc các thông tin cơ bản về HS như: Họ và tên của HS, bố mẹ HS, địa chỉ
của bố mẹ HS, nơi thường trú, cư trú của bố mẹ HS, nơi ngoại trú hoặc nội trú của
HS, số điện thoại liên hệ (nếu có)
- Thời khóa biểu vì nhiều lí do chưa bố trí định kỳ (có thể mỗi tháng 01 lần
vào cuối tháng) để GVCN tổ chức sinh hoạt lớp mà chỉ thông qua Ban cán sự lớp
làm báo cáo nên khó có thể tư vấn cho học sinh về mục tiêu, nội dung, chương
trình đào tạo của ngành và chuyên ngành, kế hoạch học tập, tiến trình học tập theo
logic môn học của ngành, định hướng nghề nghiệp... ; về các quy chế, quy định
hiện hành, các chính sách chế độ có liên quan đến học sinh ; về rèn luyện nhân
cách, các vấn đề xã hội.
Khó nắm sát được tình hình phấn đấu, rèn luyện, diễn biến tư tưởng của học
sinh trong lớp để biểu dương kịp thời và có giải pháp thích hợp để giúp đỡ và xử lý
các hiện tượng chưa tốt.
Thậm chí ngay trong Ban cán sự lớp học cũng có một số cá nhân khơng hồn
thành nhiệm vụ, vơ tổ chức kỷ luật, vi phạm quy chế, vi phạm luật pháp…
- Cuộc mưu sinh của các vị phụ huynh học sinh trong cơ chế thị trường diễn
ra gay gắt hơn, quyết liệt hơn. Vì vậy, thời gian chăm sóc, giáo dục con em có phần
lơi lỏng. Một bộ phận phụ huynh học sinh có tâm lí “khốn trắng” việc giáo dục
con em mình cho nhà trường. Đồng thời, một bộ phận phụ huynh học sinh cũng
chưa làm gương tốt cho con em.
Đó là mơ hình GVCN trong thời gian này.
Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm
 Tầm quan trọng của công tác giáo viên chủ nhiệm đối với công tác giáo
dục đạo đức trong nhà trường:

Giáo viên chủ nhiệm là lực lượng chính trong công tác giáo dục đạo đức cho
học sinh là người quản lý mọi hoạt động của lớp học, là người triển khai mọi hoạt
động của trường của nhà trường đến từng lớp, từng học sinh. Do đó trong đầu năm
học gần đây Ban giám hiệu trường đã định hướng phân công những giáo viên làm
công tác chủ nhiệm theo những tiêu chí sau:
5


Hội thảo GVCN ở trường phổ thơng

- Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng và trình độ giác ngộ cách mạng
cao.
- Có uy tín- đạo đức tốt.
- Giáo viên giỏi, vững tay nghề.
- Có tầm hiểu biết rộng.
- Có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề.
- Thương yêu và tơn trọng học sinh.
- Có năng lực tổ chức.
 Những hoạt động của giáo viên chủ nhiệm trong năm học:
- Thực hiện các loại sổ theo quy định của ngành: sổ liên lạc, sổ chủ nhiệm sổ
theo dõi đạo đức học sinh …
- Tổ chức sinh hoạt lớp cuối tuần, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, xây
dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch thi đua…
- Kết hợp chặt chẽ với Cha mẹ học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên
bộ mơn, đồn TNCS HCM, đội TNTP HCM và các ban ngành đoàn thể địa phương
trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Nhận xét, đánh giá, xếp loại Hạnh kiểm và Học lực cho học sinh, đề nghị
khen thưởng và kỷ luật học sinh.
 Ưu điểm :
- Trong những năm học gần đây giáo viên chủ nhiệm thực hiện đầy đủ các

loại sổ sách, có lên kế hoạch hoạt động cụ thể hàng tuần, tháng, năm .
- Kết hợp được nhiều hoạt động, đồn thể trong cơng tác giáo dục đạo đức
học sinh.
- Khơng có học sinh vi phạm đạo đức nghiêm trọng phải nhờ cơ quan chức
năng xử lý.
 Tồn tại:
- Còn một vài giáo viên chủ nhiệm chưa có tâm huyết với công tác này, tác
dụng giáo dục chưa cao, trong lớp vẫn còn học sinh chưa tiến bộ trong rèn luyện
đạo đức.
6


Hội thảo GVCN ở trường phổ thơng

- Có một số học sinh rất ngoan, lễ phép với thầy cô, học giỏi nhưng lại vi
phạm vì tham gia vận chuyển thuốc lá lậu qua biên giới.
- Thiếu sự quan hệ thường xuyên với Cha mẹ học sinh.
 Nguyên nhân:
- Một số học sinh có đạo đức yếu kém nhà ở gần trường và bố mẹ lại đi làm
xa, ít khi về nhà nên giáo viên chủ nhiệm không thể gặp được gia đình thường
xun để phối hợp giáo dục.
- Cơng tác chủ nhiệm là một cơng tác khó khăn, địi hỏi giáo viên phải đầu tư
nhiều cho công tác này, nhưng thực tế giáo viên chủ nhiệm còn phải lo cho cơng
tác chun mơn.

Phần 2.
Vị trí, vai trị và tầm quan trọng của công tác GVCN lớp trong hoạt động giáo
dục học sinh ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
Gần đây, trên các phương tiện thơng tin báo chí, truyền hình đã lên tiếng khá
nhiều về hiện tượng học sinh cá biệt (HSCB), học sinh (HS) bỏ học tụ tập băng

nhóm, gây gổ đánh nhau, có vụ dẫn đến tử vong. Vấn đề này đã trở thành một mối
quan ngại của dư luận, nhất là đối với gia đình và nhà trường.
Giáo dục là một khoa học và là một nghệ thuật. Trong đó việc giáo dục, quản
lý HSCB và ngăn chặn nguy cơ bỏ học của HS là một vấn đề khá nan giải, phức tạp
và hết sức nhạy cảm. Công việc này đã và đang trở thành một thách thức lớn khơng
chỉ riêng ngành giáo dục. Vì vậy GVCN có một vị trí và vai trị và tầm quan trọng
rất lớn trong vấn đề này:
a. Những biểu hiện chung nhất ở HSCB, HS bỏ học và những tác hại ...
Những trẻ loại này có thói quen lười biếng, quay cóp trong học tập, lừa dối
cha mẹ, thầy cô, dọa nạt bạn bè, hay trốn học và lảng tránh các hoạt động tập thể
như: lao động, sinh hoạt Đồn – Hội – Đội, sinh hoạt ngoại khóa, ... khơng để cho
các em quay cóp hoặc báo cho thầy cơ thì các em sẽ dọa đánh, khơng trực tiếp đánh
thì nhờ người khác đánh. Các em này tiêu xài các khoản phí của bố mẹ đưa nộp cho
nhà trường, giả mạo chữ ký của bố mẹ và sổ liên lạc, giấy xin phép, ...
7


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

Những học sinh cá biệt có tính giảm sút phổ biến trong tất cả các lĩnh vực,
trừ những lĩnh vực gắn liền với những nhu cầu trái với xã hội, trái với đạo đức. Một
học sinh hay ngủ gật, lười chép bài, học bài nhưng lại tỏ ra rất khéo léo, nhanh trí
trong việc giở những trị tinh nghịch với thầy cơ, bè bạn. Những hs này hay xem
thường, trêu ngươi, khiêu khích trước các thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè để nhằm
thỏa mãn những nhu cầu tinh nghịch được xếp sẵn trong đầu óc. Chúng thường
đánh mất lịng tự trọng, xấu hổ và trở nên chai lì khác thường. Tùy theo đối tượng
tiếp xúc mà chúng có những thái độ, phản ứng một cách gay gắt, thô bạo.
Những HSCB thường hay vi phạm nội quy, kỷ luật nhưng chúng không dễ
dàng nhận ngay mà phải nhiều lần vặn hỏi với đầy đủ những lí lẽ chứng cứ thì
chúng mới chấp nhận. Chúng cho việc nói dối, giả tạo là chuyện bình thường. Ở

những HSCB uy tín của cha mẹ, thầy cơ bị thay thế bằng uy tín của những kẻ cầm
đầu, những kẻ côn đồ, hung hãn, liều lĩnh, những “đại ca”, ... chính điều này các
em HSCB dễ dàng rơi vào những cạm bẫy, sai khiến, xúi giục của các “đàn anh”.
Và con đường dẫn đến bỏ học, tụ tập băng nhóm, cờ bạc, trấn lột, trộm cắp, tổ chức
gây gổ đánh nhau, vi phạm pháp luật dẫn đến tù tội là điều không tránh khỏi. Thực
tế các trường đã phát hiện và xử lý những vụ trấn lột, trộm cắp, gây gổ đánh
nhau của hs, phần lớn là do sự sai bảo, xúi giục của những kẻ cầm đầu mà chúng
thường tôn là “đàn anh”.
Một điều dễ nhận thấy ở những HSCB, học sinh bỏ học là cách nói năng, đi
đứng, ăn mặc, hành động rất khác thường, luôn tạo sự chú ý đối với người khác.
Có thể nói, nhưng tác hại do các em HSCB, những học sinh bỏ học gây ra là khơng
nhỏ và thậm chí là khá nghiêm trọng. Nó làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục
chung, phong trào thi đua của nhà trường, trật tự trị an xã hội, hạnh phúc gia đình
và nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai, cuộc sống của các em
sau này.
b. Những nguyên nhân và một vài biện pháp đề xuất nhằm khắc phục hiện tượng
HSCB và nguy cơ bỏ học của học sinh:
Các em ở lứa tuổi này vốn có tính hiếu động, thích khám phá, dễ bị kích
động, lơi kéo, thích được tự khẳng định. Một số em do bị ảnh hưởng bởi các phim
ảnh bạo lực, thích được làm “người hùng”, do vậy gia đình thường xuyên tăng
cường giáo dục, định hướng những hành vi chuẩn mực trong quan hệ cư xử, trong
nhận thức cho các em nhưng khơng q máy móc, áp đặt, thô bạo. Nhiều năm làm
8


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

công tác chủ nhiệm, giảng dạy đã cho chúng tôi thấy rằng đối tượng HSCB, hs bỏ
học, ngun nhân chủ yếu có tính quyết định là do gia đình. Nếu gia đình nào tạo ra
một bầu khơng khí phi đạo đức, thiếu lành mạnh như cha mẹ li hôn, vợ chồng mâu

thuẫn nhau, gia đình có người nghiện ngập ma túy, rượu chè, cờ bạc, ...thường đối
xử thơ bạo đối với các em thì tỉ lệ hs vi phạm nội quy, vi phạm đạo đức là rất cao.
Một số gia đình phụ huynh chỉ biết nng chiều, thỏa mãn những tính hiếu kỳ,
những ước muốn kỳ quặc của trẻ. Điều này dễ dàng làm nảy sinh ở trẻ tính cách e
ngại lao động, ngại tự phục vụ, gặp những khó khăn, trở ngại đơn giản là chúng
than vãn, thối thác. Có thể điều này sẽ làm cho trẻ trở thành những kẻ phung phí
tiêu xài quá mức, hoặc trở thành một con người sống ích kỷ đến lạnh lùng.
Hãy tập cho các em có tính tự lập ngay từ nhỏ và biết chịu đựng, biết khắc
phục những khó khăn thiếu thốn trong cuộc sống đời thường. Phải để cho các em
thấy được sự lao động, vất vả khó nhọc khi làm ra đồng tiền và sử dụng đồng tiền
như thế nào cho có hiệu quả.
Một nguyên nhân cơ bản là gia đình thiếu quan tâm, kiểm tra, đôn đốc, nhắc
nhở, động viên các em trong học tập, vui chơi. Có gia đình phó thác hẳn việc giáo
dục con cái cho thầy cô giáo, cho nhà trường. Có gia đình thiếu biện pháp giáo dục,
thiếu kết hợp với nhà trường, với các lực lượng giáo dục khác. Khơng ít gia đình
chỉ biết làm ăn, đầu tư kinh tế, xem nhẹ việc giáo dục con cái. Nếu có nắm thơng
tin về con cái thì cũng chung chung, một chiều rất phiến diện. Thực tế cho thấy,
nếu nơi nào có sự phối kết hợp chặt chẽ, thường xuyên có hiệu quả giữa ba lực
lượng giáo dục là gia đình – nhà trường – xã hội thì hiện tượng HSCB, việc bỏ học
của hs sẽ giảm đi rất nhiều.
Về phía nhà trường, một lực lượng giáo dục rất quan trọng góp phần hình
thành nhân cách của hs thì việc phối hợp chặt chẽ với hai lực lượng giáo dục gia
đình và xã hội chưa cao, chưa tạo được sự đồng bộ, đồng thuận trong việc giáo dục
các em, cịn coi nhẹ kỷ cương – tình thương – trách nhiệm.
Người giáo viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm phải nắm thơng tin một cách
đầy đủ, chính xác, kịp thời về học sinh của mình đặc biệt là những HSCB để đề ra
những biện pháp giáo dục thích hợp. Có quá ít thời gian tiếp cận với học sinh của
lớp mình cũng là một hạn chế trong việc giáo dục học sinh cá biệt, ngăn chặn học
sinh bỏ học. Thực tế trong nhà trường phổ thông hiện nay việc giáo dục HSCB chủ
yếu là do giáo viên chủ nhiệm phụ trách. Có giáo viên tiếp xúc với lớp chủ nhiệm

9


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

khoảng 7 tiết/tuần nhưng cũng có giáo viên chỉ có tiếp xúc với lớp không quá 3
tiết/tuần. Trong khi công việc của giáo viên chủ nhiệm đâu chỉ có giáo dục HSCB.
Thực tế hiện nay các hoạt động, phong trào trong nhà trường (trừ hoạt động
giảng dạy) nhìn chung cịn nghèo nàn, chưa phong phú, mang tính hình thức. Các
phong trào chưa lơi cuốn, hấp dẫn, chưa huy động đông đảo lực lượng học sinh
tham gia. Chính vì vậy nhà trường cần thường xun tổ chức các hoạt động giáo
dục khác bên cạnh hoạt động dạy và học như: đố vui để học, hái hoa kiến thức, các
hoạt động văn thể, cắm trại, ngoại khóa chun đề, tham quan dã ngoại, ... chính
các hoạt động này có tác dụng bổ trợ rất lớn đến hoạt động dạy và học, góp phần
thu hút học sinh la cà các hàng quán, các nơi giải trí bi-a, điện tử, ... thực tế những
nơi này đang tiềm ẩn khá nhiều tiêu cực ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt
của các em. Điều này đã được các phương tiện thơng tin, báo chí, truyền hình đưa
tin khơng ít.
Tránh đối xử thơ bạo, trách móc các em, hãy tơn trọng nhân cách các em.
Cha mẹ, anh chị em, thầy cô, bè bạn hãy gần gũi, cảm thông, độ lượng, chia sẻ, tạo
điều kiện và cơ hội để các em sửa chữa những lỗi lầm, khuyết điểm hoặc phát huy
những tài năng, sáng tạo (nếu có). Chúng ta hãy giúp các em lấy lại lòng tin, lòng
tự trọng. Đừng bao giờ để các em đánh mất niềm tin ở chính bản thân mình. Bởi vì
đánh mất niềm tin ở chính bản thân mình thì các em sẽ mất tất cả. Hãy đến với các
em bằng tình thương, sự đồng cảm hơn là một người giáo dục.
Thực tế cho thấy, nếu các em chủ động tìm đến các hoạt động của nhà trường
với thầy cơ giáo thì hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn việc thầy cơ giáo chủ động tìm
đến các em.
Góp phần giáo dục HSCB và làm giảm nguy cơ học sinh bỏ học là một cơng
việc khó khăn, phức tạp, hết sức nhạy cảm, đòi hỏi sự kiên trì, lịng nhiệt tình, một

trách nhiệm cao, một tình thương chân thành và cần thiết có một sự phối hợp
thường xuyên, chặt chẽ, có hiệu quả từ các lực lượng giáo dục nhất là vai trị của
gia đình.
Phần 3.

10


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

Đề xuất đổi mới nội dung, phương pháp và kĩ năng thực hiện công tác chủ
nhiệm lớp của GV ở trường phổ thông đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng
giáo dục phổ thông trong giao đoạn hiện nay.
a/ Ý nghĩa
GVCN có vai trị rất to lớn trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, vì
GVCN là người quản lý tồn diện học sinh của lớp được phụ trách, là cầu nối giữa
Ban giám hiệu với các tổ chức trong nhà trường, các giáo viên bộ môn với tập thể
lớp, là người cố vấn tổ chức các hoạt động tự quản của lớp, đồng thời là người
đứng ra phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của
trường.
Xuất phát từ thực trạng công tác chủ nhiệm của trường, việc đưa ra các biện
pháp giúp GVCN định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp với tình
hình thực tế của địa phương mang ý nghĩa quan trọng đối với công tác giáo dục đạo
đức học sinh trong giai đoạn hiện nay.
b. Nội dung
*) Tìm hiểu đặc điểm tình hình lớp, tình hình học sinh là góp phần cho cơng tác
chủ nhiệm đạt kết quả cao
Do tính đặc thù của một địa bàn biên giới Cam –Pu-Chia, trường có rất nhiều
học sinh người Việt Nam sống ở Cam –Pu- Chia sang học, đối tượng học sinh của
trường có mối quan hệ gia đình rất đa dạng và phức tạp, việc tìm hiểu điểm tình

hình lớp, tình hình học sinh giúp cho GVCN thuận lợi trong quản lý, giáo dục học
sinh.
Đầu năm học GVCN phải có những thơng tin khái qt về gia đình học sinh
như: nơi ở, hoàn cảnh sống, lối sống, hoàn cảnh kinh tế gia đình, giáo dục của gia
đình, sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, quan hệ của gia đình láng giềng.
Việc tìm hiểu này sẽ giúp GVCN kết hợp tốt với gia đình trong cơng tác giáo dục
đạo đức cho học sinh.
- Đầu năm học GVCN phải nắm được đặc điểm học sinh về: sức khỏe, đạo
đức, năng lực học tập, động cơ học tập, quan hệ của học sinh với cha mẹ, Ông bà,
anh chị em trong gia đình, ở trường với thầy cơ và ngồi xã hội, cộng đồng. Việc
tìm hiểu học sinh về mọi mặt là rất cần thiết nhưng GVCN phải thấy được nguyên
nhân dẫn đến thực trạng đó.
11


Hội thảo GVCN ở trường phổ thơng

- GVCN phải tìm hiểu cơ cấu, lứa tuổi, năng lực học tập, hoạt động, mối
quan hệ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, sự đồn kết của lớp
mình chủ nhiệm.
*)Nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về công tác giáo dục, mục tiêu giáo
dục, mục tiêu cấp học, lớp học kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ,
năm học
- Để vận dụng tốt vào công tác chủ nhiệm của mình, GVCN phải nắm vững
mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học
của học kỳ, năm học.
- Để cho học sinh thực hiện chủ động, sáng tạo nhiệm vụ của lớp trong
phong trào chung, GVCN phải nắm vững kế hoạch, nội dung và cách thực hiện của
trườnmg trong tuần, tháng học kỳ và cả năm học.
- Phải nắm vững tri thức lý luận giáo dục, có nghệ thuật sư phạm, xây dựng

và phối hợp tốt các mối quan hệ trong nhà trường và địa phương.
*) Tìm hiểu tiềm năng của cộng đồng, địa phương, xã hội, theo dõi thời sự
trong nước và quốc tế để vận dụng những hiểu biết đó vào cơng tác chủ nhiệm
- Để liên kết và phối hợp có hiệu quả giữa nhà trường, đại diện là GVCN với
địa phương trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.
- GVCN cần phải nắm được tình hình thời sự, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã
hội để bổ sung kiến thực của mình thêm phong phú.
*) Cộng tác chặt chẽ với CMHS, chủ động phối hợp với giáo viên bộ mơn, đồn
TNCS HCM, đội TNTP HCM, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giáo
dục đạo đức học sinh.
*) Xây dựng những truyền thống tốt đẹp của lớp
- Các hoạt động của lớp sẽ trở thành truyền thống nếu nó được lập đi lập lại
và trở thành thói quen.
- Phải trân trọng truyền thống sẳn có của lớp, tiếp tục xây dựng truyền thống
mới cho lớp trong điền kiện cụ thể.
*) Tích cực tham gia vào cơng tác đánh giá xếp loại hạnh kiểm, xét thi đua,
khen thưởng và kỷ luật học sinh với tư cách là người bảo vệ quyền lợi chính đáng
cho học sinh.
12


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

c/ Cách làm
*) Đối với GVCN
- Nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh : (học bạ, hồn cảnh gia đình….)
- Trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu hướng sở thích
của học sinh.
- Trao đổi với giáo viên bộ mơn, về tình hình của lớp.
- Trao đổi với ban giám hiệu, tổng phụ trách đội, Cha mẹ học sinh để có

thêm những thơng tin về đối tượng mà GVCN cần tìm hiểu.
- Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp
thời cho ban giám hiệu về tình hình đạo đức của học sinh.
- Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin,
thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ.
- Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy
định, xử lý thông tin phản hồi kịp thời, có hiệu quả
- Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với Cha mẹ
học sinh để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả.
- GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trao dồi đạo đức nhà
giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo.

Phần 4.
Phương pháp, giải pháp tăng cường năng lực làm công tác chủ nhiệm lớp cho
GV ở trường phổ thông.
a/ Phương pháp
1. Phương pháp thuyết phục
Là những phương pháp tác động vào lý trí tình cảm của học sinh để xây dựng
những niềm tin đạo đức, gồm các nội dung sau:
- Giảng giải về đạo đức: được tiến hành trong giờ dạy môn giáo dục công
dân cũng như trong các giờ học môn khác, giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ…
13


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

- Nêu gương người tốt, việc tốt bằng nhiều hình thức như: nói chuyện, kể
chuyện, đọc sách báo, mời những người có gương phấn đấu tốt đến nói chuyện, nêu
gương tốt của giáo viên và học sinh trong trường.
- Trò chuyện với học sinh hoặc nhóm học sinh để khuyến khích động viên

những hành vi cử chỉ đạo đức tốt của các em, khuyên bảo, uốn nắn những mặt chưa
tốt.
2. Phương pháp rèn luyện
Là những phương pháp tổ chức cho học sinh hoạt động để rèn luyện cho các
em những thói quen đạo đức, thể hiện được nhận thức và tình cảm đạo đức của các
em thành hành động thực tế:
- Rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động cơ bản của nhà
trường: dạy học trên lớp, lao động, hoạt động xã hội đoàn thể và sinh hoạt tập thể.
- Rèn luyện đạo đức thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường là
biện pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ kích thích bên
trong của học sinh, làm cho các em phấn đấu vươn lên trở thành người có đạo đức
tốt, vì vậy nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua và động viên học sinh
tham gia tốt phong trào này.
- Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của học sinh từ hoạt
động có hại sang hoạt động có ích, phương pháp này dựa trên đặc tính ham hoạt
động của trẻ và được dùng để giáo dục học sinh bỏ một thói hư xấu nào đó bằng
cách gây cho học sinh hứng thú với một hoạt mới bổ ích, lơi kéo trẻ ra ngồi những
tác động có hại.
3. Phương pháp thúc đẩy
Là phương pháp dùng những tác động có tính chất “ cưỡng bách đạo đức bên
ngồi ” để điều chỉnh, khuyến khích những “ động cơ kích thích bên trong” của học
sinh nhằm xây dựng đạo đức cho học sinh.
- Những nội quy, quy chế trong nhà trường vừa là những yêu cầu với học
sinh, vừa là những điều lệnh có tính chất mệnh lệnh địi hỏi học sinh tuân theo để
có những hành vi đúng đắn theo yêu cầu của nhà trường.
- Khen thưởng: là tán thành, coi trọng, khích lệ những cố gắng của học sinh
làm cho bản thân học sinh đó vươn lên hơn nữa và động viên khuyến khích các em
khác noi theo.
14



Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

- Xử phạt : là phê phán những khiếm khuyết của học sinh, là tác động có tính
chất cưỡng bách đến danh dự lịng tự trọng của cá nhân học sinh để răn đe những
hành vi thiếu đạo đức và ngăn ngừa sự tái phạm của học sinh đó và những học sinh
khác. Do đó phải thận trọng và đúng mực, khơng được lạm dụng phương pháp này.
Khi xử phạt cần phải làm cho học sinh thấy rõ sai lầm, khuyết điểm, thấy hối hận
và đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ, động viên học sinh sửa chữa khuyết điểm,
cần phải tỏ rõ thái độ nghiêm khắc nhưng khơng có lời nói, cử chỉ thô bạo đánh
đập, xỉ nhục hoặc các nhục hình xúc phạm đến thân thể học sinh.
b/ Giải pháp tăng cường năng lực làm công tác chủ nhiệm lớp cho GV ở
trường phổ thông.
(1)- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua giữa các tập thể và cá nhân nhằm
tạo sự chuyễn biến sâu rộng cả về nhận thức và hành động mới góp phần hạn chế
và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực ở học sinh. Ban nền nếp phải làm tốt công tác
xếp loại và đánh giá thi đua các lớp hành tuần, hàng tháng. Công tác thi đua phải
chính xác, cơng tâm, kích thích được phong trào. Vừa đánh giá, vừa thể nghiệm và
dần hoàn chỉnh các tiêu chí thi đua.
(2)- Đẩy mạnh cơng tác tun truyền về tác hại của các vi phạm, các tệ nạn;
phổ biến tuyên truyền pháp luật (luật giáo dục, luật giao thông đường bộ, ...); tổ
chức học tập, quán triệt cho học sinh về nội quy của nhà trường vào đầu năm học,
vào giờ chào cờ đầu tuần và giờ sinh hoạt lớp.
(3)- Tăng cường vai trị của Đồn trường trong hệ thống tổ chức của mình
để giáo dục đồn viên thanh niên. Đoàn trường phải đẩy mạnh cuộc vận động xây
dựng nếp sống văn hố học đường; cần có kiểm tra tổng kết đánh giá cụ thể.
(4)- Tăng cường công tác kiểm tra của Ban nền nếp để phát hiện vụ việc và
xử lý kịp thời; nếu buông lỏng kiểm tra, khơng cập nhật được tình hình, khơng
đánh giá đúng đối tượng thì vơ tình dung túng cho học sinh vi phạm.
(5)- Tăng cường công tác tự quản của các tập thể lớp, chi đồn thơng qua vai

trị có vấn của giáo viên chủ nhiệm. Nhà trường và giáo viên chủ nhiệm không phải
lúc nào cũng theo sát từng học sinh mà phải thông qua mạng lưới cộng tác viên để
nắm tình hình. Chỉ thơng qua tập thể và giáo dục bằng tập thể, giáo dục bằng dư
luận, giáo dục cảm hố bằng tình bạn sẻ có tác dụng tích cực giúp học sinh điều
chỉnh hành vi của mình.
15


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

(6)- Đề cao vai trị trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm; bởi vì giáo viên
chủ nhiệm là người thay mặt nhà trường chịu trách nhiệm về toàn bộ các mặt hoạt
động của lớp; chỉ có GVCN là cầu nối tin cậy nhất với nhà trường và phụ huynh.
Vì vậy GVCN vừa đề cao trách nhiệm, vừa có tình thương, bao dung độ lượng và
nghiêm minh, cơng bằng; vừa có tính chủ động sáng tạo để giáo dục học sinh nhất
là đối tượng chậm tiến. GVCN phải có kế hoạch giáo dục học sinh, hàng tuần, hàng
tháng phải có nhận xét, đánh giá xếp loại cụ thể về từng mặt cho từng học sinh, chỉ
cho mỗi HS thấy được từng mặt mạnh mặt yếu và có khen chê kịp thời; khơng nên
có định kiến hẹp hòi với học học sinh; nếu định kiến hẹp hòi dể làm cho các em
mất niềm tin, bi quan, chán nản. Bên cạnh đó giữa GVCN và phụ huynh phải có
mối quan hệ mật thiết, thường xun thơng tin về tình hình học tập rèn luyện của
con em để bàn biện pháp phối hợp giáo dục.
(7)- Tăng cường các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: Văn nghệ, TDTT,
ngoại khoá, các câu lạc bộ đố vui để học, sẽ cuốn hút nhiều học sinh tham gia; bởi
vì lứa tuổi của các em rất hiếu động, thích hoạt động, thích giao tiếp, giao lưu; nếu
chúng ta khơng tổ chức các hoạt động cho học sinh thì các em sẻ tìm đến nơi chốn
khác để vui chơi và dể bị các phần tử xấu lôi kéo vào con đường hư hỏng, phạm
tội. Thông qua các hoạt động này sẻ giúp cho học sinh nâng cao nhận thức, lớn
khôn thêm cả thể xác lẫn tâm hồn để vững tin bước vào đời. Trong hoạt động này
cần lưu ý kết hợp hài hoà giữa: " Học mà chơi, Chơi mà học " theo đúng định

hướng giáo dục.
(8)- Cần tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường- gia đình- xã hội; bởi
vì học sinh thực tế chỉ đựợc giáo dục ở trường nhiều lắm từ 4-5 giờ/ ngày, thời gian
còn lại phần lớn ở gia đình và xã hội. Muốn làm tốt, có hiệu quả phải có sự phối
hợp đồng bộ, thống nhất về phương pháp tác động; thường xuyên cặp nhật thơng
tin nhiều chiều để biết về tình hình học sinh. Mỗi phụ huynh luôn luôn đặt niềm tin
vào con em, nhưng cũng khơng nên đánh giá q cao về tình hình các mặt của học
sinh mà dễ dẫn đến ngộ nhận, chủ quan, thiếu sự phối hợp. Thực tế có phụ huynh
khi được nhà trường mời đến cung cấp thông tin mới biết được con mình khơng
ngoan, học khơng giỏi như lâu nay vẫn tưởng. Phụ huynh phải thống nhất với nhà
trường về các biện pháp giáo dục. Nhà trường và các thầy cô giáo áp dụng các biện
pháp giáo dục với mục tiêu tất cả đều vì sự tiến bộ của con em, vì tình thương và
trách nhiệm.

16


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

Các cơ quan chức năng như Công an thành phố Đông Hà và Công an các
phường trên địa bàn trong những năm vừa qua đã cộng tác phối hợp với nhà trường
làm tốt công tác giáo dục học sinh: điều tra, cung cấp thông tin, thơng báo tình hình
học sinh vi phạm, quản lý giáo dục học sinh cá biệt; nên đã góp phần ngăn chặn và
làm giảm các vụ việc xảy ra ở học sinh. Trong thời gian tới nhà trường mong muốn
các cơ quan chức năng và cộng đồng xã hội tiếp tục quan tâm giúp đỡ nhà trường
nhiều hơn nữa để góp phần làm tốt cơng tác giáo dục đạo đức học sinh.
Các trường học trên địa bàn, nhất là các trường THPT, trung tâm GDTX
thành phố Đơng Hà cần có sự phối hợp chặt chẽ trong việc giáo dục đạo đức học
sinh; bởi vì học sinh có mối quan hệ trên địa bàn, mối quan hệ liên trường và
những mối quan hệ khác nên dễ tụ tập, lôi kéo theo nhóm chính thức và khơng

chính thức để đánh nhau hoặc có những vi phạm khác. Các trường cần phải thơng
tin sớm, kịp thời các vụ việc có liên quan; cùng phối hợp xử lý, không bao che dấu
giếm khuyết điểm học sinh vi phạm.
Ban đại diện Hội cha mẹ học sinh trường và các Chi hội cha mẹ học sinh
lớp, trong những năm qua đã làm tốt công tác phối hợp giáo dục, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Hội cha mẹ học sinh vừa là chủ
thể tiến hành giáo dục con em ở gia đình đồng thời cũng phải chịu một phần trách
nhiệm về q trình giáo dục ở nhà trường. Ơng bà, cha mẹ phải mẫu mực, làm
gương cho con cái noi theo. Phụ huynh phải luôn luôn quan tâm theo dõi thường
xun con em mình, khơng nên phó mặc cho nhà trường. Cần phải phê phán quan
niệm của một số ít phụ huynh khoán trắng việc giáo dục đạo đức học sinh cho nhà
trường. Xã hội hố cơng tác giáo dục khơng thể hiểu phiến diện ở mặt đóng góp
xây dựng cơ sở vật chất, tiền bạc mà phải thực sự tham gia vào quá trình giáo dục
con em, nhất là đối tượng học sinh chậm tiến.
(9)- Việc xử lý kỷ luật học sinh là việc bất đắc dĩ, trong chúng ta khơng ai
muốn; nhưng vì kỷ cương nghiêm minh của nhà trường nên phải thi hành kỷ luật
học sinh; việc thi hành kỷ luật cũng là cần thiết để vừa xử lý học sinh vi phạm, vừa
răn đe nhắc nhở những em khác, vừa phòng ngừa các biểu hịên xấu có thể xảy ra.
Bên cạnh đó cần có sự khen thưởng động viên những tập thể và các nhân tiêu tiểu
về các mặt; đồng thời cũng biểu dương những học sinh vi phạm có tiến bộ và xét
cho ra khỏi danh sách học sinh chậm tiến. Nếu tập thể lớp, chi đồn, thầy cơ giáo
chủ nhiệm và phụ huynh biết động viên khích lệ thì nhiều em chậm tiến sẻ cố gắng
vươn lên. Công tác này ở cấp độ lớp nên làm thường xuyên hàng tuần, hàng tháng.
17


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

Phần 5.
GVCN lớp ở trường phổ thơng với việc triển khai có hiệu quả phong trào thi

đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực"

*) Nội dung chính của quả phong trào thi đua "Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực" theo kế hoạch nhà trường.
I. XÂY DỰNG TRƯỜNG, LỚP XANH – SẠCH – ĐẸP – AN TOÀN

1. Xây dựng nhà trường
Giáo dục ý thức : Giữ gìn, tơn tạo cảnh quan môi trường, vệ sinh công cộng
và bảo vệ tài sản của nhà trường. Khơng có hành động vui chơi, sinh họat thiếu an
tịan, có khả năng xảy ra tai nạn;
Chương trình hành động : Tổ chức và thực hiện NGÀY LAO ĐỘNG XANH
mỗi tháng vào ngày thứ 7 hàng tuần. Mỗi tuần có 2 lớp lao động và luân phiên cho
đến hết số lớp trong nhà trường. Đấu tranh phê phán những biểu hiện bạo hành, bạo
lực thiếu an tòan trong sinh hoạt và vui chơi trong nhà trường;
2. Xây dựng lớp học
Giáo dục ý thức : Xem lớp học là ngôi nhà thân yêu Sống và học tập hàng
ngày , học sinh có ý thức giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, không viết vẽ trên bàn, trên
tường. Cần trang hoàng lớp học thân thương, ấm cúng;
Tổ chức thực hiện : Tổ chức trang hoàng lớp học, phân công trực nhật vệ
sinh hàng ngày sạch sẽ. Mua dụng cụ vệ sinh, nước uống. Tổ chức may đồng phục
theo lớp với thời trang trẻ – đẹp, đảm bảo tông màu “Trắng” truyền thống của tuổi
học trò;
Giáo viên chủ nhiệm cần vận động và tổ chức cho lớp đăng ký và thực hiện:
LỚP TỰ QUẢN – PHÒNG HỌC THANH NIÊN.
II. DẠY VÀ HỌC CÓ HIỆU QUẢ

18


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông


Thực hiện cuộc vận động : “Nói khơng với tiêu cực trong thi cử và bệnh
thành tích trong giáo dục” và “ Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học
và sáng tạo”
1. Đối với giáo viên :
a. Công tác giảng dạy :
Nắm vững phương pháp và nghiệp vụ giảng dạy. Hiểu và thực hiện đúng qui
chế thi, kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh;
Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, hướng dẫn học sinh phương pháp
tự học;
Tạo bầu khơng khí thân thiện, thiết kế và hướng dẫn học sinh làm đồ dùng
dạy học,khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo,ý thức vươn lên
của học sinh;
b. Tinh thần tự học và sáng tạo :
Chuyện đề tự học : Mỗi giáo viên trong năm học ít nhất có một chuyên đề
nghiên cứu tự học phục vụ thiết thực cho công tác giảng dạy và quản lý, giáo dục
học sinh báo cáo trước hội đồng sư phạm nhà trường. Chun đề tự học phải thực
tiễn, có tính ứng dụng cao và được thiết lập trong hồ sơ Tích lũy chuyên môn của
giáo viên;
Dự giờ, thao giảng : Mỗi giáo viên dự giờ ít nhất 3 tiết và thao giảng ít nhất
01 tiết trong một học kỳ
Chuyên đề nghiên cứu sáng tạo : Nhà trường khuyến khích giáo viên Lập,
đăng ký và báo cáo chuyên đề nghiên cứu sáng tạo, thiết thực phục vụ cho công tác
dạy và học ở nhà trường;
2. Đối với học sinh :
Xác định động cơ và tinh thần, thái độ học tập. Phát huy tính tích cực và chủ
động trong học tập;
19



Hội thảo GVCN ở trường phổ thơng

Tích cực đổi mới phương pháp học tập. Giáo viên chủ nhiệm tổ chức cho
những học sinh học khá giỏi trao đổi kinh nghiệm học tập với bạn cùng lớp. Đoàn
trường tổ chức diễn đàn báo cáo kinh nghiệm học tập giữa các lớp trong khối, giữa
các khối với nhau;
Tham gia làm đồ dùng dạy học với giáo viên bộ mơn. Khuyến khích học sinh
đề xuất sáng kiến và cùng với các thầy cô giáo thực hiện các giải pháp để việc dạy
và học có hiệu quả ngày càng cao;
3. Đối với cán bộ quản lý và nhân viên phục vụ :
Nêu cao tinh thần, thái độ phục vụ và tạo bầu khơng khí thân thiện trong
quan hệ với học sinh;
Không ngừng học tập nâng cao tính chun nghiệp trong cơng tác phục vụ
giảng dạy và học tập.
Đi đầu gương mẫu trong thực hiện hệ thống quản lý chất lượng đồng bộ của
nhà trường với tính chuyên nghiệp cao nhất.
III. RÈN LUYỆN KỶ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

1. Giáo dục cho học sinh hiểu kỷ năng sống là gì và tại sao phải rèn luyện kỷ
năng sống ?
2. Kỷ năng sống cần phải rèn luyện :
Kỷ năng giao tiếp, ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói
quen và kỹ năng làm việc, sinh họat theo nhóm;
Kỷ năng ứng xử văn hóa, chung sống hịa bình, phịng ngừa bạo lực và các tệ
nạn xã hội;
Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn
giao thơng, đuối nước và các tai nạn thương tích khác;
Lễ giáo theo tập quán, truyền thống người Việt nam;
20



Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

3. Tổ chức thực hiện :
Tổ chức cho học sinh tìm hiểu và trao đổi, thảo luận trong các giờ Hoạt động
ngòai giờ lên lớp;
Giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn học sinh nhận thức các kỷ năng và tổ chức
các hoạt động tập thể để học sinh có điều kiện giao tiếp rèn luyện kỷ năng sống;
Tổ chức những hoạt động tham quan dã ngoại, họat động từ thiện . . .d. Rèn
luyện nề nếp tác phong sinh hoạt học đường.
IV. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TẬP THỂ VUI TƯƠI, LÀNH MẠNH

1. Tổ chức các hoạt động thể thao :
Tổ chức các giải bóng đá, bóng chuyền, cầu lơng;
Tổ chức kéo co, nhảy bao
2. Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ :
a. Hoạt động văn hóa :
Hoạt động CLB Trường thi : Tổ chức sinh hoạt và giao lưu thơ nhạc
Hoạt động Tờ tin Sức trẻ : Giao mỗi lớp đảm nhận một số báo/tuần
Phát thanh đội tuyên truyền măng non : Giao luân phiên mỗi chi đội thực
hiện một tuần/chi đội.
Đoàn Đội trường thành lập Ban biên tập chung để theo dõi, quản lý và hướng
dẫn các Chi đoàn thực hiện Tờ tin Sức trẻ và phát thanh thanh niên, chấm điểm và
biểu dương khen thưởng để động viên thi đua;
b. Hoạt động văn nghệ :
Văn nghệ chào mừng Ngày nhà giáo Việt nam 20.11
Văn nghệ xung kích thời trang học đường;
21



Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

3. Tổ chức các hoạt động chun đề :
Hành trình theo dịng tri thức. Ai là Bác học ?! : Sẽ giao cho các Tổ bộ môn
luân phiên đảm nhận theo chủ đề hàng tháng, có chấm điểm đánh giá thi đua giữa
các Tổ bộ mơn;
Chương trình Eating-Out : Giao cho các lớp ln phiên thực hiện;
V. HỌC SINH THAM GIA TÌM HIỂU, CHĂM SĨC VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH
LỊCH SỬ, VĂN HÓA, CÁCH MẠNG Ở ĐỊA PHƯƠNG.

1. Tổ chức viếng Nghĩa trang liệt sĩ xã Vĩnh Hồng nhân ngày 22.12; Tết cổ
truyền
2. Tổ chức thi tìm hiểu :
Quá trình hình thành và phát triển xã Vĩnh Hồng ;
Phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những di tích
lịch sử văn hóa ở Bình Giang.

*) Vai trị của GVCN lớp ở trường phổ thông với việc triển khai có hiệu
quả phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực".
Để xây dựng trường học thân thiện có hiệu quả trong trường học thì
GVCN lớp ở trường phổ thơng có một vai trị rất quan trọng trong việc tạo ra mối
liên hệ mật thiết giữa các môi trường giáo dục: Nhà trường – phụ huynh – học sinh.
Trong đó:
1/ Học sinh. GVCN cần phải xây dựng và tạo được niềm tin, kích thích sự ham học
hỏi; ln hiểu tâm lí từng đối tượng học sinh, cụ thể:
- Đoàn kết trong học tập, trong các hoạt động nhà trường.
- Biết nhường nhịn nhau, không tranh cãi, không cãi nhau.
- Không phân biệt nam – nữ; giàu – nghèo; khuyết tật hay bình thường.
- Góp ý, giúp đỡ nhau học tập tiến bộ.

- An ủi, khuyên nhủ khi bạn làm sai
22


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

- Chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cùng nhau
- Biết thông cảm và tha lỗi cho bạn khi bạn làm điều sai với mình
- Giúp đỡ nhau vượt khó, quan tâm đến nhau nhiều hơn
- Được quyền bầy tỏ nguyện vọng của mình với thầy cơ, bố mẹ, bạn bè
- Mạnh dạn đóng góp xây dựng mơi trường tốt
- Tham gia nhiệt tình mọi hoạt động do nhà trường tổ chức
- Tích cực phát biểu kh học tập cũng như vui chơi
- Thực hiện tốt các quyền mà trẻ em được thừa hưởng
- Được quan tâm, tôn trọng
- Biết học hỏi thêm kiến thức, bảo vệ những thành tựu do nhân dân xây
dựng nên, biết xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp
- Chăm ngoan, lễ phép với người lớn, quan tâm chia sẻ niềm vui, nỗi buồn
với thầy cô, bạn bè
- Được quyền sống cịn, ni dưỡng và phát triển về thể chất cũng như tinh
thần
- Mong muốn được đối xử bình đẳng, khơng phân biệt đối xử, được bảo vệ
và tham gia các hoạt động phù hợp lứa tuổi.
- Mong muốn sống trong cùng một gia đình hạnh phúc, con cái học giỏi,
ngoan ngỗn
- Thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy, hồn thành nhiệm vụ của người học
sinh, tôn trọng, lễ phép với thầy cơ, hịa nhã với bạn bè, quan tâm và giúp
đỡ cha mẹ.
2/ Phụ huynh.
- Phối hợp với nhà trường để hiểu thêm về hoạt động của trường học thân

thiện.
- Tạo điều kiện cho con mình đi học và cho con cái học tập tốt.
- Góp ý để xây dựng và phát huy môi trường học thân thiện
- Quan tâm và động viên để con em mình biết mơi trường học thân thiện là
gì?
23


Hội thảo GVCN ở trường phổ thông

- Quan tâm và đóng góp những ý kiến mới cho nhà trường để phát triển
mạnh phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”
- Đóng góp cùng nhà trường để xây dựng nhà trường ngày càng tốt hơn
trong khả năng của mình.
- Quan tâm, kết hợp với nhà trường để xây dựng nhà trường ngày càng
hoàn thiện.
- Hỗ trợ nhà trường giúp đỡ học sinh nghèo hiếu học
- Chăm sóc và tạo điều kiện cho trẻ em nghèo đến trường
- Quan tâm đến việc học tập của con, khơng phó mặc hết cho nhà trường.
- Hiểu và nắm vững Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em cũng
như “Môi trường học thân thiện”
- Tạo mọi điều kiện để trẻ em tham gia hoạt động
- Gương mẫu để trẻ em tin tưởng và noi theo.
- Biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của trẻ
- Gần gũi và sẵn sàng giúp đỡ khi trẻ bầy tỏ nguyện vọng
- Kết hợp chặt chẽ với nhà trường và thày, cô để giúp trẻ phát triển tốt nhất.
3/ Nhà trường.
- Có nhiều chương trình, hoạt động giao lưu với các học sinh ở trường
khác, kịp thời khen thưởng đối với các học sinh nghèo.
- Phối hợp với đại phương để phát triển môi trường học thân thiện với

trẻ.
- Nhà trường có nhiều cây xanh để khơng khí trong lành, thống mát.
- Nhà trường kết hợp việc chính khóa với ngoại khóa để giúp trẻ thực
hiện tốt việc học đi đôi với hành và vui để học.
- Tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí như: ca hát, xem xiếc, đi
tham quan, thể dục thể thao, đố vui, trò chơi dân gian…
- Người lớn trong nhà trường là tấm gương cư xử cho học sinh.
- Xây dựng mối quan hệ giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh,
giáo viên với giáo viên yêu thương, đồn kết, bình đẳng.
24


Hội thảo GVCN ở trường phổ thơng

- Trường có cơ sở vật chất tốt và phù hợp với việc học và chơi của học
sinh.
- Nhà trường có đội quản lí giỏi, đội ngũ giáo viên được đào tạo đạt
chuẩn, phương pháp sư phạm tốt, yêu nghề, yêu trẻ, gương mẫu, công bằng.
- Nhà trường và phụ huynh liên kết chặt chẽ về mọi mặt để phối hợp giáo
dục toàn diện.

25


×