Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt khách quan của tội phạm theo luật hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.77 MB, 113 trang )


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT





LÊ THU TRANG





DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM TỘI
TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM





LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC








HÀ NỘI - 2012



2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT




LÊ THU TRANG





DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM TỘI
TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC




Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Tiến Việt




HÀ NỘI - 2012


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT





LÊ THU TRANG





DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM TỘI
TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM






LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC







HÀ NỘI - 2012



2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT




LÊ THU TRANG





DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM TỘI
TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Tiến Việt




HÀ NỘI - 2012



1
MỤC LỤC



Trang

TRANG PHỤ BÌA


Lời cam đoàn



MỤC LỤC


Danh mục các bảng


MỞ ĐẦU
1

Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM
TỘI TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
8
1.1.
KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU TRONG MẶT KHÁCH
QUAN CỦA TỘI PHẠM
8
1.1.1.
Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu mặt khách quan
của tội phạm
8
1.1.2.
Các dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm
10
1.2.
Khái niệm, các đặc điểm của dấu hiệu hậu quả phạm tội trong
mặt khách quan của tội phạm và ý nghĩa của dấu hiệu này
19

1.2.1.
Khái niệm hậu quả phạm tội
19
1.2.2.
Các đặc điểm của dấu hiệu hậu quả phạm tội
21
1.2.3.
ý nghĩa của dấu hiệu hậu quả phạm tội
28
1.3.
Mối quan hệ giữa dấu hiệu hậu quả phạm tội với các dấu
hiệu khác trong mặt khách quan của tội phạm
31
1.3.1.
Mối quan hệ giữa dấu hiệu hậu quả phạm tội với dấu hiệu
hành vi phạm tội
31
1.3.2.
Mối quan hệ giữa dấu hiệu hậu quả phạm tội với các dấu hiệu
32


2
không bắt buộc khác trong mặt khách quan của tội phạm

Chương 2: Sự thể hiện dấu hiệu hậu quả phạm tội trong Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 hiện hành và thực tiễn áp dụng
33
2.1.
SỰ THỂ HIỆN DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM TỘI THEO

BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 HIỆN
HÀNH
33
2.1.1.
Sự thể hiện dấu hiệu hậu quả phạm tội với tƣ cách là dấu hiệu
định tội theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành
33
2.1.2.
Sự thể hiện dấu hiệu hậu quả với tƣ cách là dấu hiệu định
khung theo Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành
39
2.2.
Thực tiễn áp dụng dấu hiệu hậu quả phạm tội, một số tồn tại
và những nguyên nhân cơ bản
47
2.2.1.
Thực tiễn áp dụng dấu hiệu hậu quả phạm tội
47
2.2.1.1.
Tình hình giải quyết các loại án có dấu hiệu hậu quả phạm
tội là dấu hiệu bắt buộc trong phạm vi toàn quốc giai đoạn
2001-2010
47
2.2.1.2.
Thực tiễn áp dụng dấu hiệu hậu quả phạm tội qua một số
bản án
51
2.2.2.
Một số tồn tại và những nguyên nhân cơ bản
67

2.2.2.1.
Một số tồn tại
67
2.2.2.2.
Những nguyên nhân cơ bản
69

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định của bộ luật hình sự việt nam năm
1999 hiện hành liên quan đến dấu hiệu hậu quả phạm tội
72
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 hiện hành liên quan đến dấu hiệu
hậu quả phạm tội
72
3.1.1.
Về phƣơng diện thực tiễn
72


3
3.1.2.
Về phƣơng diện lập pháp
73
3.1.3.
Về phƣơng diện lý luận
74
3.2.
Nội dung hoàn thiện một số quy định của Bộ luật hình sự

Việt Nam năm 1999 hiện hành về dấu hiệu hậu quả phạm
tội
74
3.2.1.
Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 hiện hành về dấu hiệu hậu quả phạm tội liên quan đến
việc định tội danh
74
3.2.2.
Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 hiện hành về dấu hiệu hậu quả phạm tội liên quan đến
việc định khung hình phạt
79
3.2.3.
Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 hiện hành liên quan đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự
84
3.3.
Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về
dấu hiệu hậu quả phạm tội theo Bộ luật hình sự Việt Nam
năm 1999 hiện hành
85
3.3.1.
Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn và ý thức pháp luật
của những ngƣời có thẩm quyền đặc biệt là đội ngũ thẩm
phán và hội thẩm
85
3.3.2.
Tiếp tục ban hành các văn bản hƣớng dẫn áp dụng thống

nhất pháp luật
87
3.3.3.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân
88
3.3.4.
Tăng cƣờng vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hiện
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp
91

kết luận
94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96


4



DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Số liệu thống kê số tội phạm có dấu hiệu hậu quả phạm
tội là dấu hiệu bắt buộc theo Bộ luật hình sự Việt Nam

năm 1999 hiện hành
34
2.2
Số liệu thống kê dấu hiệu hậu quả phạm tội với tƣ cách
là dấu hiệu định khung trong Bộ luật hình sự năm 1999
hiện hành
39
2.3
Thống kê số liệu các loại án có dấu hiệu hậu quả phạm
tội là dấu hiệu bắt buộc phải giải quyết tƣơng quan với
tổng số vụ án phải quyết trong toàn quốc giai đoạn 2001 -
2010
48



5
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống xã hội, "nếu thừa nhận: Tội phạm là một hiện tƣợng
tiêu cực xã hội, thì cuộc đấu tranh chống tội phạm đƣợc coi là một điều tất
yếu khách quan không thể thiếu đƣợc của mọi chế độ xã hội" [28, tr. 5]. Về
vấn đề này, C. Mác đã cho rằng: "Cũng nhƣ pháp luật, tội phạm là hành vi
của cá nhân riêng biệt đấu tranh chống lại quan hệ thống trị chứ không phải
phát sinh từ một ý muốn đơn thuần. Trái lại, điều kiện phát sinh ra tội phạm
cũng giống nhƣ điều kiện phát sinh ra nền thống trị hiện hành" [58, tr. 11]. Do
đó, trong bất kỳ một xã hội nào pháp luật ra đời không chỉ thuần túy là nhu
cầu cai trị của nhà nƣớc, là công cụ bảo vệ giai cấp thống trị mặc dù đó là một
phần chủ yếu. Pháp luật còn đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội,

thiết lập, duy trì kỷ cƣơng cho xã hội ấy.
Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP "Về tăng cường công tác phòng, chống
tội phạm trong tình hình mới" ngày 31/7/1998 của Chính phủ đã nhận định:
Tình hình tội phạm ở nƣớc ta hiện nay vẫn có xu hƣớng
gia tăng và diễn biến phức tạp. Cơ cấu thành phần tội phạm có
những thay đổi, số thanh niên phạm tội chiếm tỷ lệ ngày càng cao.
Đặc biệt là tình trạng phạm tội có tổ chức nhƣ tham nhũng, buôn
lậu, mua bán phụ nữ, xâm hại trẻ em phạm tội có sử dụng bạo lực,
cƣớp của, giết ngƣời, chống ngƣời thi hành công vụ, đâm thuê,
chém mƣớn, bảo kê nhà hàng và các hành vi phạm tội khác có tính
chất côn đồ hung hãn; gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng
gây lo lắng cho toàn xã hội [12].
Nhƣ vậy, yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm đòi hỏi không chỉ
bảo vệ các quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự xác lập và bảo vệ đã bị tội phạm


6
xâm hại, mà cần bảo vệ chúng (quan hệ xã hội đó) trong những trƣờng hợp
chƣa bị xâm hại. Đây còn là yêu cầu có ý nghĩa tiên quyết thể hiện chính sách
hình sự của Nhà nƣớc ta. Chính sách hình sự, đúng nhƣ GS. TSKH. Đào Trí
Úc đã viết, "là một bộ phận của chính sách pháp luật, bởi vì đó là những định
hƣớng, những chủ trƣơng trong việc sử dụng pháp luật hình sự vào lĩnh vực
đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm" [53, tr. 34]. Cho nên,
trƣờng hợp nếu tội phạm đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì cũng cần
có sự nhìn nhận, đánh giá mức độ cho khách quan, chính xác và công bằng,
bảo đảm sự phân hóa trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội. Tuy nhiên,
hiện nay Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành qua những lần sửa
đổi, bổ sung (gần đây nhất là năm 2009) mặc dù đã có những bƣớc phát triển
vƣợt bậc để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, song
vẫn còn tồn tại, hạn chế cần phải hoàn thiện, trong đó có quy định về dấu hiệu

hậu quả phạm tội với tƣ cách là dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung; chƣa
hƣớng dẫn thống nhất về nó trong cấu thành tội phạm vật chất hay với tƣ cách
là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt dẫn tới thực tế còn nhầm lẫn giữa
cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức, ảnh hƣởng tới
việc định tội danh và quyết định hình phạt, qua đó bỏ lọt tội phạm và ảnh
hƣởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Chính vì vậy, trong bối cảnh hiện nay khi quá trình hội nhập diễn ra
mạnh mẽ với xu thế toàn cầu hóa, tình hình xã hội ngày càng diễn biến phức
tạp đặc biệt đòi hỏi gắt gao của công cuộc cải cách tƣ pháp theo tinh thần
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến
năm 2020 với nội dung: "Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến
lĩnh vực tƣ pháp phù hợp với mục tiêu của chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật", xây dựng nhà nƣớc pháp quyền thì việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng để nó trở thành công cụ
đắc lực của nhà nƣớc ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo
vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ, cũng nhƣ quyền làm chủ của nhân dân trở nên


7
vô cùng cấp thiết. Do đó, học viên đã chọn đề tài: "Dấu hiệu hậu quả phạm
tội trong mặt khách quan của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam" làm
luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, việc nghiên cứu về tội phạm và cấu thành tội phạm nói
chung đã đƣợc quan tâm dƣới những góc độ và bình diện khác nhau. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu độc lập, riêng rẽ, và có hệ thống dấu hiệu "hậu quả
phạm tội" trong mặt khách quan của tội phạm mới chỉ đƣợc đề cập gián tiếp
thông hay việc phân tích chung về tội phạm, trong các sách chuyên khảo hay
các Giáo trình hoặc các bài viết cụ thể theo ba nhóm nhƣ sau:
* Nhóm thứ nhất, bao gồm giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có

các công trình sau: 1) GS. TSKH. Lê Văn Cảm, Mục IV, phần II, Chương thứ
tư - Tội phạm, Trong sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản
trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005;
2) PGS.TS. Kiều Đình Thụ, Chương IX, Mặt khách quan của tội phạm, Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007
(Tập thể tác giả do GS. TSKH. Lê Văn Cảm chủ biên); 3) GS. TS. Nguyễn
Ngọc Hòa, Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 1991; 4) GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, 2008; 5) PGS.TS. Kiều Đình Thụ, Tìm
hiểu về luật hình sự Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1996; Nxb
Đồng Nai, 1998; 6) TS. Trịnh Tiến Việt, Bình luận khoa học - thực tiễn về một
số vấn đề của luật hình sự, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội, 2004; 7) Viện luật học,
Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986; 9) Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Tập 1,
Phần các tội phạm - Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Nxb Hà Nội, 1987;
v.v


8
* Nhóm thứ hai, bao gồm các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ sau: 1) Lê
Đăng Doanh, Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc
sĩ luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 1999; 2) Nguyễn Thị Ngọc
Linh, Hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc
mặt khách quan của tội phạm, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2010.
* Nhóm thứ ba, còn có nhiều bài báo khoa học được công bố liên
quan đến dấu hiệu hậu quả phạm tội như: 1) GS. TSKH. Lê Cảm, Những vấn
đề lý luận về bốn yếu tố cấu thành tội phạm (Trên cơ sở Bộ luật hình sự năm
1999), Tạp chí Tòa án nhân dân số 7(4)/2005; 2) GS. TSKH. Lê Cảm, Lý luận
về cấu thành tội phạm trong luật hình sự, Tạp chí Luật học, số 2/2004; 3) TS.

Trịnh Tiến Việt, Bàn về mối quan hệ giữa cấu thành tội phạm và tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tạp chí Khoa học (Chuyên san kinh tế - Luật)
của Đại học Quốc gia Hà Nội, số 3/2003; 4) TS. Trịnh Tiến Việt và Phan Thị
Thủy, Bàn về mối quan hệ giữa cấu thành tội phạm và tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự, Tạp chí Khoa học (Chuyên san kinh tế - Luật) của Đại
học Quốc gia Hà Nội, số 2/2003; 5) Nguyễn Phúc Lƣu, Hậu quả của tội phạm
và vấn đề định khung hình phạt trong Bộ luật hình sự 1999, Tạp chí Nhà nƣớc
và Pháp luật, số 2/2007; 6) Vũ Ngọc Tiếu, Lỗi cố ý gián tiếp trong mối quan
hệ nhân quả, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/1994; v.v
Tuy nhiên, qua nghiên cứu nội dung các công trình trên cho thấy các
công trình nghiên cứu sâu về cấu thành tội phạm nói chung mà những vấn đề về
dấu hiệu hậu quả phạm tội chỉ chỉ chiếm một phần nhỏ, hoặc đƣợc đề cập gián
tiếp qua nội dung các yếu tố cấu thành tội phạm thực sự đi sâu nghiên cứu về nó.
Nói một cách khác, đến nay chƣa có một công trình khoa học nào nghiên cứu
độc lập, riêng rẽ và có hệ thống ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học về vấn đề này.
Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật cũng nhƣ việc đƣa ra những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự có ý
nghĩa rất lớn trên các bình diện lý luận, thực tiễn áp dụng, chính trị - xã hội.


9
Vì những lý do trên, việc lựa chọn và triển khai đề tài "Dấu hiệu hậu quả phạm
tội trong mặt khách quan của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam" là cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề pháp lý cơ
bản về dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt khách quan của tội phạm nhƣ:
Khái niệm, đặc điểm, phân loại, ý nghĩa, mối quan hệ của nó với các dấu hiệu
cấu thành mặt khách quan khác, sự thể hiện dấu hiệu hậu quả phạm tội trong
Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành, thực tiễn áp dụng dấu hiệu này trong

thực tế đồng thời cũng đi sâu tìm hiểu các vƣớng mắc còn tồn tại trong lý luận
cũng nhƣ trong thực tiễn áp dụng để đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoàn
thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về dấu hiệu hậu quả phạm tội
trong mặt khách quan của tội phạm trong các tội phạm cụ thể và nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về vấn đề này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu ở trên, luận văn có các nhiệm vụ
chính sau đây:
1) Làm rõ khái niệm và các dấu hiệu trong mặt khách quan của tội
phạm; phân tích khái niệm, các đặc điểm của dấu hiệu hậu quả phạm tội trong
mặt khách quan của tội phạm, mối quan hệ giữa dấu hiệu hậu quả phạm tội
với các dấu hiệu khác trong mặt khách quan của tội phạm;
2) Phân tích sự thể hiện dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt khách
quan của tội phạm theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành;
3) Phân tích và đánh giá các ví dụ, bản án điển hình về việc áp dụng
dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt khách quan của tội phạm trong thực tiễn
xét xử ở nƣớc ta thời gian vừa qua;
4) Nghiên cứu việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999 hiện hành về dấu hiệu hậu quả phạm tội


10
5) Luận văn đƣa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành về dấu hiệu hậu
quả phạm tội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu đúng nhƣ tên gọi của nó - Dấu hiệu hậu quả
phạm tội trong mặt khách quan của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những vấn đề xung quanh dấu hiệu hậu quả phạm
tội, và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan tới nó dƣới góc độ khoa học luật
hình sự. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Đồng
thời, đƣa ra những kiến giải nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu hậu
quả phạm tội trong thực tiễn xét xử.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và những chủ trƣơng, đƣờng lối của
Đảng, nhà nƣớc ta về công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả có tiếp thu chọn lọc các công
trình khoa học đã công bố, các đánh giá của cơ quan chuyên môn và các
chuyên gia nghiên cứu về vấn đề có liên quan đến dấu hiệu hậu quả phạm tội.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ sau: Phân
tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phƣơng pháp so sánh, đối chiếu; phân
tích thuần túy các quy định của pháp luật; khảo sát thực tế để phân tích các
vấn đề khoa học trong luận văn.


11
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận, kết quả nghiên cứu luận văn góp phần hoàn thiện lý luận
về dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt khách quan của tội phạm. Cụ thể đã
làm rõ đƣợc các vấn đề chung về dấu hiệu hậu quả phạm tội, phân tích nó
trong tƣơng quan với các dấu hiệu khác trong mặt khách quan của tội phạm,
chỉ ra các mâu thuẫn, bất cập của quy định hiện hành, chỉ ra các sai sót trong
quá trình áp dụng các quy định đó, đồng thời cũng chỉ ra những nguyên nhân
và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
Bộ luật hình sự về vấn đề này.

Về thực tiễn, luận văn đã phân tích và đánh giá các ví dụ, bản án điển
hình về việc áp dụng dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt khách quan của tội
phạm trong thực tiễn xét xử ở nƣớc ta trong thời gian vừa qua; qua đó, luận
văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo, học tập. Đặc biệt, những đề xuất
của luận văn có ý nghĩa góp phần hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự
về vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu ba chƣơng với nội dung sau đây:
Chương 1: Các vấn đề chung về dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt
khách quan của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Sự thể hiện dấu hiệu hậu quả phạm tội trong Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 hiện hành và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành liên
quan tới dấu hiệu hậu quả phạm tội




12
Chương 1
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẤU HIỆU HẬU QUẢ PHẠM TỘI
TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU TRONG MẶT KHÁCH QUAN CỦA
TỘI PHẠM
1.1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu mặt khách quan
của tội phạm

* Khái niệm mặt khách quan của tội phạm
Cố Tổng Bí thƣ Lê Duẩn đã nói:
Con ngƣời vốn là sản phẩm của lịch sử, hành động của họ ít
nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh xã hội khách quan. Trong những
trƣờng hợp phạm pháp, có ngƣời không hiểu mà làm điều sai trái,
có ngƣời phạm tội vì tham lam, vì ghen ghét, có ngƣời vì hoàn cảnh
đau ốm, túng thiếu thúc bách, có ngƣời vì nhẹ dạ mà bị mua chuộc,
phỉnh phờ [14, tr. 58].
Dù bị chi phối bởi yếu tố nào đi nữa, có thể khẳng định tội phạm là một
hiện tƣợng xã hội pháp lý gắn liền với sự ra đời của nhà nƣớc và pháp luật, cũng
nhƣ sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng mà "xét về mặt cấu trúc,
tội phạm đƣợc hợp thành bởi bốn yếu tố là chủ thể, khách thể, mặt khách
quan và mặt chủ quan của tội phạm. Sự thống nhất của bốn yếu tố này là hình
thức cấu trúc, thể hiện nội dung chính trị, xã hội của tội phạm" [20, tr. 111].
Mỗi một yếu tố đó có một vị trí, vai trò khác nhau trong cấu thành các tội
phạm cụ thể. Đề cập đến một cấu thành tội phạm không thể không nói tới mặt
khách quan của tội phạm. Theo đó, khi một ngƣời nào đó thực hiện hành vi


13
nguy hiểm cho xã hội cấu thành tội phạm cụ thể thì tất yếu nó phải bao gồm
cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong.
Các dấu hiệu bên ngoài cấu thành mặt khách quan của tội phạm bao
gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả phạm tội; mối quan hệ giữa
hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả phạm tội; cùng với các yếu tố khác
nhƣ: Phƣơng pháp, phƣơng tiện, thủ đoạn và hoàn cảnh phạm tội. Nói một
cách chung nhất thì mặt khách quan của tội phạm chính là sự tổng hòa mặt
bên ngoài bao gồm các dấu hiệu biểu hiện của tội phạm diễn ra trong thế giới
khách quan.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm có thể gây ra những thay đổi nguy hiểm
trong hiện thực khách quan, nếu xác định đúng mặt khách quan của tội phạm
có ý nghĩa trƣớc hết đối việc định tội, nó giúp cho hoạt động áp dụng pháp
luật của các cơ quan nhƣ Toà án, các cơ quan bảo vệ pháp luật khác phân biệt
đúng từng tội phạm cụ thể. Ví dụ: Do thù hằn với B nên A đã chuẩn bị dao và
dùng dao đâm B nhiều nhát cho đến khi B ngừng thở. Nhƣ vậy, hành vi của A
đã trực tiếp xâm phạm tới tính mạng của B, dẫn tới việc B chết. Hành vi của
A và hậu quả là B chết có mối quan hệ nhân quả với nhau.Việc xem xét các
dấu hiệu này có ý nghĩa quan trọng đối với việc định tội.
Bên cạnh đó, trong cấu thành tội phạm tăng nặng của một số tội phạm
cụ thể dấu hiệu hậu quả phạm tội biểu hiện thuộc mặt khách quan của tội
phạm có ý nghĩa là dấu hiệu định khung hình phạt. Ví dụ: Gây tổn hại sức
khỏe cho nạn nhân mà tỷ lệ thƣơng tật từ 31% đến 60% là dấu hiệu định
khung tăng nặng đƣợc quy định tại điểm c khoản 2 Điều 112 Tội hiếp dâm trẻ
em đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999.
Thậm chí, trong các tình tiết tăng nặng, hoặc giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự có những tình tiết thuộc mặt
khách quan của tội phạm có ý nghĩa trong việc xác định mức độ nguy hiểm


14
của hành vi phạm tội và vấn đề trách nhiệm hình sự đối với ngƣời thực hiện
tội phạm. Ví dụ: Hành vi tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục
hậu quả quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, là trƣờng hợp
ngƣời phạm tội gây ra thiệt hại cho khách thể của tội phạm thì hoàn toàn tự
nguyện không có sự ép buộc nào đã thực hiện hành vi sửa chữa, bồi thƣờng
và khắc phục thiệt hại do mình gây ra. Hay theo quy định tại điểm g khoản 1
Điều 46 thì trƣờng hợp phạm tội chƣa gây thiệt hại hay thiệt hại không lớn
cũng là một tình tiết quan trọng để tòa án xem xét khi quyết định hình phạt
đối với ngƣời đã thực hiện hành vi phạm tội.

Cuối cùng, trong một chừng mực nhất định từ các dấu hiệu trong mặt
khách quan của tội phạm, ta có thể xác định đƣợc mặt chủ quan của tội phạm.
Ví dụ: Hành vi của A cầm dao đâm B, B bỏ chạy nhƣng A cố chạy theo và
đâm nhiều nhát vào những chỗ hiểm dẫn tới B chết. Qua việc A dùng hung
khí nguy hiểm và chạy theo truy sát tới cùng, có thể xác định lỗi của A khi
thực hiện hành vi phạm tội của mình là lỗi cố ý.
1.1.2. Các dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm
Nhƣ đã trình bày ở trên, mặt khách quan của tội phạm bao gồm nhiều
dấu hiệu đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả phạm tội, mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả phạm tội, phƣơng
tiện phạm tội, phƣơng pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm, thời gian phạm tội
địa điểm phạm tội, hành động phạm tội, mỗi dấu hiệu có một vị trí, vai trò
khác nhau trong các cấu thành tội phạm. Có dấu hiệu bắt buộc mang tính chất
quyết định không thể thiếu trong bất kỳ tội phạm nào. Bên cạnh đó cũng có
những dấu hiệu khác tuy không đóng vai trò quyết định nhƣng có ý nghĩa nhất
định khi định khung hình phạt. Các dấu hiệu trên có mối quan hệ chặt chẽ, tác
động qua lại lẫn nhau tạo thành mặt khách quan của tội phạm. Trƣớc hết, phải
kể tới dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội với ý nghĩa là một dấu hiệu bắt
buộc cấu thành mặt khách quan của tội phạm.


15
* Hành vi nguy hiểm cho xã hội
Là một dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các cấu thành tội phạm, cho tới
nay vẫn chƣa có một khái niệm, phân loại thống nhất về hành vi nguy hiểm
cho xã hội. Tuy nhiên, có thể hiểu: "Hành vi nguy hiểm cho xã hội là cách xử
sự của con ngƣời thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan dƣới những hình
thức nhất định, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã
hội đƣợc luật hình sự bảo vệ" [38, tr. 167]. Nói đến hành vi, chúng ta có thể
hiểu đó là những biểu hiện thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan dƣới

những hình thức nhất định có sự kiểm soát của ý thức và sự điều khiển của ý
chí. Hành vi gây nên những thiệt hại cho khách thể của tội phạm. Nói một
cách khác, "Hành vi nguy hiểm cho xã hội chính là cầu nối giữa khách thể và
chủ thể" [20, tr. 63], sẽ không có tội phạm và ngƣời phạm tội nếu nhƣ không
có hành vi nguy hiểm cho xã hội. Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi nguy
hiểm cho xã hội có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, hành vi nguy hiểm cho xã hội với ý nghĩa là dấu hiệu bắt
buộc trong mặt khách quan của tội phạm phải có tính nguy hiểm cho xã hội.
Đây là đặc điểm có tính chất quan trọng và quyết định nhất trong việc phân
biệt một hành vi là vi phạm pháp luật khác với hành vi phạm tội. Về mặt
khách quan, hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra
thiệt hại tới những quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự xác lập và bảo vệ. Những
quan hệ xã hội đó đƣợc quy định trong khoản 1, Điều 8 của Bộ luật hình sự
bao gồm: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và sự toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc,
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn
xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức chính trị, tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, quyền và những lợi ích hợp pháp khác của
công dân, trật tự xã hội chủ nghĩa. Có nghĩa là, nếu không xâm phạm những
quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự bảo vệ thì hành vi đó dù có nguy hiểm cho
xã hội thì cũng không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Điều đó có nghĩa
là quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự xác lập và bảo vệ đóng vai trò quan trọng


16
trong việc quyết định hành vi nào đó là tội phạm hay không phải là tội phạm.
Theo đó, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phụ thuộc
vào tính chất và tầm quan trọng của những quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự
xác lập và bảo vệ cũng nhƣ mức độ thiệt hại do hành vi đó gây ra. Tính chất
quan trọng của quan hệ xã hội phụ thuộc vào ý nghĩa của nó đối với giai cấp
thống trị và ý nghĩa này có thể thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.

Tuy nhiên, nó không phải là yếu tố duy nhất phản ánh tính nguy hiểm cho xã
hội mà nó phải kết hợp với các yếu tố khác trong cấu thành tội phạm nhƣ lỗi,
động cơ phạm tội của ngƣời thực hiện hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã
hội đó.
Thứ hai, hành vi nguy hiểm cho xã hội với ý nghĩa là dấu hiệu bắt
buộc trong mặt khách quan của tội phạm phải là hoạt động có ý thức và ý chí.
Hành vi của con ngƣời là sự thống nhất giữa yếu tố bên ngoài và bên trong.
Điều này có nghĩa, một ngƣời bình thƣờng, khỏe mạnh về mặt tâm lý, có lý
trí, tự do ý chí thì hoàn toàn có thể lựa chọn cho mình một xử sự phù hợp với
lợi ích của mình, của cộng đồng. Nhƣ vậy, đòi hỏi hành vi của con ngƣời phải
có ý thức và ý chí. Về mặt ý thức, ngƣời đó phải nhận thức đƣợc đầy đủ tính
chất nguy hiểm và tính trái pháp luật của hành vi mà mình gây ra cho xã hội.
Về ý chí, hành động của ngƣời đó phải đƣợc cân nhắc, suy nghĩ, có kế hoạch,
biện pháp để thực hiện những mục đích đó. Không thể có hành vi khách quan
của tội phạm mà những biểu hiện ra bên ngoài của nó không đƣợc ý thức của
họ kiểm soát hoặc ý chí của họ điều khiển. Đối với trƣờng hợp ngƣời bị bệnh
tâm thần họ mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình
và do đó họ là ngƣời không có năng lực trách nhiệm hình sự cho nên dù họ có
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhƣ gây thƣơng tích, phá hoại tài sản
của ngƣời khác thì cũng không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách
nhiệm hình sự. Đặc biệt, đối với những ngƣời dƣới 14 tuổi không có khả năng
nhận thức đƣợc đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc không đủ


17
khả năng điều khiển đƣợc ý chí thì theo quy định của pháp luật cũng không bị
coi là tội phạm.
Nhƣ vậy, theo quy định của pháp luật thì chỉ ngƣời nào vào thời điểm thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm,
có khả năng nhận thức đƣợc đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành

vi và khả năng điều khiển đƣợc hành vi đó thì mới phải chịu trách nhiệm hình
sự. Đây chính là đặc điểm không thể thiếu của hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Thứ ba, hành vi nguy hiểm cho xã hội với ý nghĩa là dấu hiệu bắt
buộc trong mặt khách quan của tội phạm phải là hành vi thể hiện dƣới dạng
hành động hoặc không hành động. Hành động phạm tội là hình thức của hành
vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thƣờng của đối tƣợng tác động của
tội phạm gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể làm một
việc bị pháp luật cấm. Ví dụ: Hành động đập, phá, đâm, chém, đầu cơ, cất giữ
trái phép vũ khí… Hành động phạm tội có thể là chỉ là tác động đơn giản xảy
ra một lần trong một thời gian ngắn hoặc có thể là tổng hợp các động tác khác
nhau hoặc có thể lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài. Hành động
phạm tội có thể tác động trực tiếp vào đối tƣợng tác động của tội phạm nhƣ
dùng tay bóp chết đứa trẻ hoặc có thể thông qua công cụ, phƣơng tiện phạm
tội trong trƣờng hợp dùng súng để gây thƣơng tích cho ngƣời khác. Hành
động phạm tội có thể đƣợc thực hiện qua lời nói nhƣ: Xúi giục ngƣời khác
thực hiện hành vi giết ngƣời hoặc việc làm nhƣ: Hành động cƣớp tài sản của
ngƣời khác.
Đối lập với hành động phạm tội, không hành động phạm tội là hình
thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thƣờng của đối
tƣợng tác động của tội phạm gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm thông
qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù
có đủ điều kiện để làm. Ví dụ: Trƣờng hợp A thấy B bị C đâm nhiều nhát


18
trong tình trạng nguy kịch nếu không gọi cấp cứu kịp thời có thể sẽ chết mà A
bỏ mặc trong khi A hoàn toàn có thể cứu giúp B.
Hành động phạm tội và không hành động phạm tội đều là những biểu
hiện của con ngƣời ra ngoài thế giới khách quan, đƣợc ý thức kiểm soát, ý chí
điều khiển và đều có khả năng làm biến đổi tình trạng bình thƣờng của đối

tƣợng tác động của tội phạm gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đƣợc luật hình
sự bảo vệ. "Tính gây thiệt hại này của hành động và không hành động phạm
tội là mặt khách quan của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, có ý nghĩa
quyết định tính trái pháp luật hình sự của tội phạm nói chung cũng nhƣ của
hành vi khách quan nói riêng" [22, tr. 105]. Đối với hình thức hành động
phạm tội, tính trái pháp luật của hành vi thể hiện ở chỗ, việc đã làm bị luật
hình sự ngăn cấm không kể chủ thể thực hiện là ai. Đối với hình thức không
hành động phạm tội, tính trái pháp luật hình sự của hành vi thể hiện ở chỗ
việc phải làm mà chủ thể không làm mặc dù có đủ điều kiện để làm là nghĩa
vụ pháp lý của chủ thể. Hay nói cách khác, điều kiện có thể buộc ngƣời nào
đó phải chịu trách nhiệm hình sự về không hành động của mình là: Ngƣời đó
có nghĩa vụ phải hành động và ngƣời đó có đủ điều kiện để thực hiện nghĩa
vụ này. Trong các loại tội phạm có loại chỉ thực hiện đƣợc dƣới hình thức
hành động nhƣ: Tội cƣớp giật tài sản (Điều 136 Bộ luật hình sự), tội phản bội
Tổ quốc (Điều 78 Bộ luật hình sự), tội hiếp dâm đƣợc (Điều 111 Bộ luật hình
sự), có loại tội chỉ thực hiện đƣợc dƣới dạng không hành động nhƣ: Tội
không cứu giúp ngƣời ở tình trạng nguy hiểm tới tính mạng (Điều 102 Bộ luật
hình sự) và tội không tố giác tội phạm (Điều 314 Bộ luật hình sự). Có những
tội vừa có thể thực hiện đƣợc bằng hành động vừa có thể thực hiện đƣợc bằng
không hành động. Ví dụ, tội hủy hoại tài sản (Điều 143 Bộ luật hình sự), tội vi
phạm các quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ (Điều 202
Bộ luật hình sự). Nhƣ vậy, nếu phân biệt đƣợc rõ các cấu thành tội phạm mà


19
trong đó hành vi đƣợc thực hiện bằng hành động hoặc không hành động chính
là một trong những điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đƣợc chính xác.
Thứ tư, hành vi nguy hiểm cho xã hội với ý nghĩa là dấu hiệu bắt buộc
trong mặt khách quan của tội phạm phải là hành vi trái pháp luật hình sự.
Hành vi đã đƣợc thực hiện chỉ coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu hành

vi đó thỏa mãn đầy đủ những đặc điểm của hành vi khách quan của tội phạm
cụ thể đƣợc quy định trong luật hình sự. Do đó, hành vi khách quan của bất
kỳ tội phạm cụ thể nào đều có tính đƣợc quy định trong luật hình sự hay tính
trái pháp luật hình sự. Thừa nhận nguyên tắc quan trọng này trong Bộ luật
hình sự năm 1999 của nƣớc ta đều quy định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự" [33, Điều 8]. Nhƣ vậy, theo
pháp luật nƣớc ta, chỉ có Bộ luật hình sự mới là văn bản pháp luật quy định
hành vi nào đó là tội phạm. Còn các vi phạm pháp luật khác không phải là tội
phạm đƣợc quy định trong các văn bản ngoài pháp luật hình sự. Ví dụ: Vi
phạm dân sự sẽ đƣợc quy định trong Bộ luật dân sự, vi phạm hành chính sẽ
đƣợc quy định trong Bộ luật hành chính. Đây là một đặc điểm quan trọng khi
nói tới hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đó cũng là một nguyên tắc đƣợc nhiều
nƣớc trên thế giới thừa nhận với nội dung: "nulliem crimen sine lege" nghĩa là
không có tội phạm nếu không có luật.
* Phương tiện phạm tội
Phƣơng tiện phạm tội là những vật, dụng cụ đƣợc ngƣời phạm tội sử
dụng để thực hiện tội phạm, phƣơng tiện phạm tội bao gồm cả công cụ phạm
tội. Đây không phải là dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các cấu thành tội phạm.
Trong một số trƣờng hợp nhà làm luật quy định đây là dấu hiệu định tội. Ví
dụ: Tại khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự quy định tội làm môi giới hối lộ
phƣơng tiện phạm tội là những giá trị vật chất nhƣ vàng, kim cƣơng, đá quý là
những dấu hiệu định tội. Trong trƣờng hợp khi tính chất của phƣơng tiện


20
phạm tội có định hƣớng rõ rệt tới mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội nhà làm luật quy định phƣơng tiện phạm tội là dấu hiệu của cấu
thành tội phạm tăng nặng. Ví dụ: "Dùng vũ khí, phƣơng tiện, hoặc thủ đoạn
nguy hiểm khác" đƣợc dùng là dấu hiệu định khung của tội bắt cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự hay

"Dùng chất nổ, chất cháy, hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác" là dấu hiệu định
khung tăng nặng của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hƣ hỏng tài sản tại điểm b
khoản 2 Điều 143 Bộ luật hình sự. Trong trƣờng hợp này, phƣơng tiện phạm
tội có ý nghĩa định khung hình phạt.
* Phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm
Phƣơng pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm là cách thức để thực hiện
hành vi phạm tội. Đây cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc của mọi cấu
thành tội phạm. Trong một số tội phạm phƣơng pháp và thủ đoạn phạm tội là
dấu hiệu định tội. Ví dụ: "Ngƣời nào dùng mọi thủ đoạn" khiến ngƣời lệ
thuộc mình, hoặc ngƣời đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cƣỡng
giao cấu là dấu hiệu định tội trong tội cƣỡng dâm tại khoản 1 Điều 113 Bộ
luật hình sự hay thủ đoạn "lừa gạt, mua chuộc, cƣỡng ép hoặc dùng thủ đoạn
khác" cản trở việc thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân là dấu hiệu
định tội xâm phạm quyền bầu cử, ứng cử của công dân đƣợc quy định tại
Điều 126 Bộ luật hình sự. Trong trƣờng hợp khác, phƣơng pháp và thủ đoạn
đƣợc quy định là dấu hiệu của cấu thành tội phạm tăng nặng trong một số tội
phạm nhƣ: "Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm" quy định tại điểm d khoản
2 Điều 138 Bộ luật hình sự là dấu hiệu định khung tăng nặng của tội trộm cắp
tài sản hay "dùng thủ đoạn xảo quyệt" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 140
Bộ luật hình sự sản là dấu hiệu định khung tăng nặng của tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong những trƣờng hợp luật pháp không quy định
phƣơng pháp, thủ đoạn phạm tội là dấu hiệu định tội, hoặc định khung tăng


21
nặng thì thủ đoạn, phƣơng tiện phạm tội có ý nghĩa là căn cứ đánh giá mức độ
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và là căn cứ cụ thể để quyết định hình
phạt.
* Thời gian phạm tội
Thời gian phạm tội là dấu hiệu không bắt buộc trong tất cả các cấu

thành tội phạm, nó không thể đƣợc hiểu một cách đơn giản là thời gian nhất
định của một ngày, tháng hay năm mà phải đƣợc hiểu là một thời kỳ nhất định
phản ánh bằng các sự kiện chính trị, xã hội. Trong một số trƣờng hợp thời
gian phạm tội đƣợc quy định là dấu hiệu định tội: Ví dụ hành vi không chấp
hành nghiêm chỉnh những quy định đảm bảo an toàn "Trong chiến đấu hoặc
trong huấn luyện" là dấu hiệu định tội theo quy định tại khoản 1 Điều 332 Bộ
luật hình sự là cấu thành tội phạm của tội vi phạm các quy định về bảo đảm
an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện. Trong một số trƣờng hợp thời
gian phạm tội đƣợc quy định là dấu hiệu định khung tăng nặng ví dụ: Phạm
tội trong chiến đấu đƣợc quy định tại Điều 330 tội vi phạm quy định về trực
chiến, trực chỉ huy, trực ban và khoản 2 Điều 331 tội vi phạm các quy định về
bảo vệ; định khung hình phạt đặc biệt tăng nặng của cấu thành tội phạm đặc
biệt tăng nặng - Khoản 3 Điều 318 Bộ luật hình sự tội cản trở đồng đội thực
hiện nghĩa vụ, làm việc.
* Địa điểm phạm tội
Địa điểm phạm tội là một dấu hiệu không bắt buộc trong tất cả các cấu
thành tội phạm của Bộ luật hình sự có thể đƣợc hiểu là một điểm hoặc lãnh
thổ nhất định mà có sự kiện phạm tội tƣơng ứng xảy ra (Tội phạm bắt đầu
đƣợc thực hiện, tội phạm kết thúc về mặt pháp lý và hậu quả phạm tội xảy ra).
Trong luật hình sự, địa điểm phạm tội có thể là dấu hiệu định tội trong một số
tội phạm nhất định. Ví dụ: Trong khoản 1 Điều 83 Bộ luật hình sự quy định
về tội hoạt động phỉ nhƣ sau: "Ngƣời nào nhằm chống chính quyền nhân dân

×