Tải bản đầy đủ (.pdf) (82 trang)

Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.07 MB, 82 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



TÔN THIỆN PHƯƠNG




“VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ”


CHUYÊN NGÀNH: TƯ PHÁP HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 505.14


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC





Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Ngọc Chí



HÀ NỘI - 2002


TÓM TẮT
Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của
Viện Kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự. Nguyên nhân những hạn chế, vướng
mắc trong quá trình thực hiện chức năng của Viện Kiểm sát. Đề xuất những giải
pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò Viện Kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động tố tụng hình sự gồm nhiều giai đoạn và do những cơ quan
khác nhau tiến hành, trong đó xét xử vụ án hình sự là một trong những giai
đoạn quan trọng. Khoa học luật Tố tụng hình sự xem giai đoạn xét xử là trung
tâm của hoạt động tố tụng hình sự. Vì vậy xác định được vai trò các chủ thể
của hoạt động xét xử, trong đó có Viện kiểm sát mang ý nghĩa không những
trong xét xử mà còn cho cả những giai đoạn khác của hoạt động tố tụng hình
sự.
Với chức năng Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp
thì vai trò của VKS trong hoạt động TTHS nói chung, xét xử vụ án hình sự nói
riêng là đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất,
đồng thời thực hành quyền công tố là cơ sở cho hoạt động xét xử của Toà án.
Trong những năm qua với chức năng được giao hoạt động của VKS ngày
càng có hiệu quả, khẳng định được vai trò bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình
sự. Thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp trong xét xử án hình sự được nâng lên về mặt chất lượng, đã có tác động
tích cực đến việc chấp hành pháp luật của Toà án, góp phần vào việc xét xử
đúng pháp luật, kịp thời phát hiện và yêu cầu Toà án khắc phục nhiều vi phạm
trong quá trình xét xử. Kháng nghị nhiều bản án, quyết định có vi phạm pháp
luật, hạn chế được tình trạng oan sai, không để lọt tội phạm.
Tuy nhiên, thời gian qua việc xét xử của Toà án vẫn còn để lọt kẻ phạm
tội, làm oan người vô tội, xử phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, không tương xứng
với tính chất, mức độ nguy hiểm do người có hành vi phạm tội gây ra. Những
tồn tại này xuất phát từ chức năng được giao thì trách nhiệm trước tiên thuộc về

cơ quan VKS. Chính vì lẽ đó ngày 02/ 01/ 2002 Bộ chính trị đã ban hành Nghị
quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian tới nêu " Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu
cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan
người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút
lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp".
Trên bình diên lý luận, vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự xuất
hiện một số vấn đề về mặt lý thuyết chưa được nhận thức thống nhất giữa các
cán bộ nghiên cứu và hoạt động thực tiễn nên việc làm sáng tỏ vấn đề này
không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà cả thực tiễn áp dụng pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu:
Ở nước ta có một số công trình nghiên cứu về vai trò của VKS trong xét
xử vụ án hình sự. Những nghiên cứu này đã đề cập đến các khía cạnh của chức
năng VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và giai đoạn xét
xử nói riêng. Tuy nhiên, những nghiên cứu này còn dừng ở mức độ sơ lược và

2
chưa có tính hệ thống về vai trò của VKS. Có thể chỉ ra những nghiên cứu sau:
Luận văn Thạc sĩ Luật: " Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền công tố
của VKSND trong tố tụng hình sự" của tác giả Nguyễn Xuân Thanh; "Nhiệm
vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự" của
tác giả Nguyễn Văn Oanh hay Luận văn Thạc sĩ Luật : "Các chức năng tố tụng
cơ bản trong TTHS " của tác giả Lê Tiến Châu. Nổi bật là đề tài khoa học cấp
bộ của VKSNDTC “ Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt
động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”
Những Luận văn, đề tài trên nghiên cứu vai trò của VKS ở thủ tục xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự hoặc là nghiên cứu thông qua một chức năng thực
hành quyền công tố, chưa nghiên cứu vai trò của VKS trong cả xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm hình sự.
Xuất phát từ những nội dung trên, việc lựa chọn của chúng tôi đề tài với

tên gọi: “ Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự ” làm luận văn
thạc sỹ luật học là một hướng nghiên cứu cần thiết, góp phần giải quyết một số
vấn đề pháp lý, nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng của Viện kiểm sát
trong xét xử vụ án hình sự, bảo đảm pháp chế trong xét xử hình sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
Mục đích của việc nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu chức năng để làm rõ vai trò của Viện kiểm sát
trong xét xử vụ án hình sự về cả phương diện lý luận và thực tiễn, từ đó mục
đích là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ án hình sự, đồng thời xác định
thực trạng thực hiện chức năng, tìm nguyên nhân, đề ra giải pháp nâng cao vai
trò Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Từ mục đích nêu trên đặt ra nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là:
Một số quan điểm hiện nay về vai trò của VKS, thông qua đó xây dựng
quan điểm khoa học về vai trò VKS trong xét xử vụ án hình sự.
Làm rõ các hình thức và biện pháp thực hiện chức năng của VKS trong
xét xử vụ án hình sự.
Thực trạng thực hiện chức năng của VKS trong xét xử vụ án hình sự.
Nguyên nhân thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai
trò Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài như trên, các phương pháp
nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là: Phương pháp duy vật biên
chứng; Phương pháp luật học- lịch sử; Phương pháp luật học- so sánh; Phương
pháp tổng hơp, phân tích và Phương pháp thống kê hình sự.

3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của

VKS trong xét xử vụ án hình sự, qua đó giúp cho việc nhận thức đúng đắn,
thống nhất về vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự, cụ thể:
- Góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả.
- Các kiến nghị của tác giả liên quan đến các quy định của BLTTHS, trên
cơ sở đó làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện các quy định trên.
- Thông qua việc nghiên cứu, tác giả chỉ ra những hạn chế vướng mắc
trong quá trình thực hiện chức năng của VKS, từ đó đề xuất những giải pháp cụ
thể để khắc phục những hạn chế, thực hiện đầy đủ chức năng, khẳng định tốt
vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự.
Ngoài ra với nội dung công trình nghiên cứu này chúng tôi hy vọng rằng
luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho các Sinh viên khoa luật Đại học Quốc
gia Hà nội và những ai quan tâm đến vai trò VKS trong xét xử vụ án hình sự.
6. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ
lục. Nội dung của luận văn được trình bày trong hai chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về vai trò củaVKS
trong xét xử vụ án hình sự.

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò
của VKS trong xét xử vụ án hình sự.



CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ
CỦA VKS TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Xét xử vụ án hình sự:
1.1.1. Khái niệm:

Trong hệ thống tư pháp hình sự, dân sự, hành chính v.v. của hệ thống
pháp luật bất kỳ nước nào, thì tư pháp hình sự cũng đóng một vai trò to lớn.
Đối với tư pháp hình sự, hoạt động xét xử là giai đoạn trung tâm quyết định.

4
Theo các nhà nghiên cứu, các giáo trình và sách chuyên khảo thì xét xử
được hiểu:
"Xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước do Toà án thực
hiện, nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng
đắn của hành vi pháp luật hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và
mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau". [ 42,57 ]
Yếu tố “nhân danh Nhà nước” có nghĩa rằng đây không phải là hoạt
động của cá nhân, công dân, cũng không phải là hoạt động xã hội hay nghiệp
đoàn. Và do đó, phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước được đảm bảo thi
hành bởi sự cưỡng chế hợp pháp của nhà nước.
Xem xét đánh giá và phán quyết là những yếu tố đặc trưng của hoạt
động xét xử và do đó có thể goị hoạt động tư pháp là hoạt động xét xử chứ
không phải là sự phán quyết của một cấp quản lý này với cấp quản lý khác, cấp
trên đối với cấp dưới.
“ Các bên có lợi ích khác nhau” : Có nghĩa là trong tranh chấp hay xung
đột đang được xem xét và phán quyết phải có từ hai chủ thể trở lên có vị trí độc
lập đối với nhau về lợi ích, chứ không thể là sự dàn xếp cho những người khác
nhau về địa vị, nhưng không có gì tranh chấp với nhau. Do đó, có thể gọi sự
tranh chấp của các chủ thể khác nhau về lợi ích này là sự tranh tụng (còn được
gọi là tố tụng).
Bất kỳ một hoạt động nào có hàm chứa những nội dung trên thì đều có
thể được coi là hoạt động xét xử, dù nó thuộc lĩnh vực nào, hình sự, dân sự
hoặc kinh tế. Phân theo nội dung xét xử có: Xét xử tội phạm hình sự, xét xử
tranh chấp dân sự, xét xử kiếu kiện hành chính và xét xử tranh chấp lao động,
kinh tế.

Đối với xét xử vụ án hình sự chúng tôi cho rằng là Hoạt động nhân
danh quyền lực nhà nước do Toà án thực hiện, nhằm xem xét, đánh giá và ra
phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi tội phạm bị luật hình
sự cấm, không một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các Toà án và
kết quả xét xử phải được công bố bằng bản án hoặc quyết định .
Trong xét xử các vụ án hình sự, phân theo cấp độ xét xử có: Xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
Vai trò của xét xử vụ án hình sự trong TTHS:
Quá trình giải quyết vụ án hình sự thường được bắt đầu từ khi cơ quan
có thẩm quyền nhận được tin báo về tội phạm đến khi bản án kết tội hoặc quyết
định của Toà án có hiệu lực được mang ra thi hành. Quá trình này được chia
thành các giai đoạn khác nhau phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ
quan tiến hành tố tụng và được diễn ra liên tục, kế tiếp nhau, các giai đoạn đó
gồm: Khởi tố vụ án hình sự; Điều tra vụ án hình sự ; Truy tố và Xét xử vụ án
hình sự.

5
Mỗi giai đoạn của hoạt động TTHS có nhiệm vụ và định hướng khác
nhau nhưng hướng đến mục đích giải quyết vụ án khách quan, toàn diện đúng
quy định pháp luật và do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện. Giải quyết
nhiệm vụ của các giai đoạn tố tụng thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến
hành tố tụng (cơ quan điều tra, VKS, Toà án) và người tiến hành tố tụng (Điều
tra viên, KSV, Thẩm phán, HTND, Thư ký phiên toà). Người tham gia tố tụng,
cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội là chủ thể góp phần vào giải quyết
vụ án hình sự.
Trong hoạt động TTHS thì xét xử được coi là giai đoạn trung tâm, bởi
lẽ:
Thứ nhất, các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra
nhằm mục đích chứng minh tội phạm và hành vi của người phạm tội phục vụ
cho việc xét xử. Thông qua hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, Toà án kiểm tra

tính xác thực của chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được, để từ đó đưa ra
những phán quyết về tội phạm và người phạm tội. Tại phiên toà, chứng cứ
được đưa ra xem xét đánh giá một cách chính thức và chỉ những chứng cứ nào
được đưa ra xem xét tại phiên toà mới được dùng làm căn cứ chứng minh tội
phạm và là cơ sở để HĐXX đưa ra các quyết định của mình. Vì vậy, hoạt động
đánh giá chứng cứ, nhân danh Nhà nước ra bản án của HĐXX được xem là
hoạt động điều tra chính thức tại phiên toà.
Thứ hai, quyết định truy tố của VKS chỉ là cơ sở để Toà án quyết định
đưa vụ án ra xét xử, còn việc phán quyết về sự việc phạm tội, hành vi của Bị
cáo thuộc chức năng của Toà án “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình
phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật”. (Điều 10
BLTTHS). Vì vậy, có thể nói hoạt động truy tố của VKS hướng tới việc tạo căn
cứ cho hoạt động xét xử.
Thứ ba, bản án và các quyết định của Toà án là căn cứ pháp lý để tiến
hành hoạt động thi hành án, biến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng phát huy tác dụng trên thực
tế.
Bên cạnh đó, vai trò trung tâm của hoạt động xét xử còn được biểu
hiện:Thông qua xét xử hình sự có thể phát hiện các cơ quan tiến hành tố tụng
có thực hiện tốt chức năng của mình hay không, nhiệm vụ của luật hình sự
được thực hiện như thế nào, quyền và lời ích của người phạm tội và của những
người khác có được bảo vệ một cách công bằng, đúng pháp luật hay
không v.v. những vấn đề này phụ thuộc vào kết quả của việc xét xử. Kết quả
đó được thể hiện bằng bản án-Văn bản tố tụng quan trọng nhất có tính chất kết
luận về vụ án: Đó là có hay không có hành vi phạm tội, ai là người thực hiện
hành vi phạm tội, lỗi, tính chất lỗi, mức độ thiệt hại, quyết định hình phạt, các
biện pháp tư pháp. Các giai đoạn tố tụng trước đó của cơ quan điều tra, VKS
bằng hoạt động của mình đã thu thập, đánh giá chứng cứ và các tình tiết của vụ
án là để phục vụ cho việc xét xử tại phiên toà được nhanh chóng và khách


6
quan, phiên toà với sự tham gia, theo dõi của đông đảo quần chúng vẫn được
coi là một cuộc điều tra công khai nhằm kiểm tra và đánh giá lại toàn bộ tính
hợp pháp và tính có căn cứ của bản Cáo trạng. Toàn bộ những yếu tố đó làm
cho hoạt động xét xử của Toà án có một giá trị không có gì có thể thay thế
được.
Vì vậy, xét xử hình sự có vai trò rất quan trọng trong TTHS. Xét xử
thông qua Toà án vừa là công cụ bảo vệ pháp chế XHCN, vừa là công cụ bảo
vệ quyền con người.
Để xác định phạm vi thực hiện vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình
sự chúng tôi đề cập đến thời điểm bắt đầu và kết thúc của hoạt động xét xử các
vụ án hình sự.
Vấn đề này, cho đến nay đối với nước ta ít được quan tâm nghiên cứu để
đi đến thống nhất. Còn đối với các nước trên thế giới thì có những quan niệm
như sau:
Các nước theo truyền thống pháp luật án lệ (Anh, Mỹ) do quan niệm
rằng TTHS bắt đầu từ thời điểm xét xử. [ 33, 13 ]. Vì vậy ở các nước này chức
năng xét xử xuất hiện đồng thời với thời điểm bắt đầu của TTHS và kết thúc
khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Đối với các nước theo hệ thống Luật lục địa, cho rằng chức năng xét xử
của Toà án bắt đầu từ khi nhận hồ sơ và quyết định truy tố của VKS (Viện công
tố) [ 35, 14 ] chuyển sang và kết thúc khi thi hành án xong. Qua nghiên cứu
pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật, chúng tôi cho rằng:
Hoạt động xét xử bắt đầu từ thời điểm Toà án có thẩm quyền nhận hồ sơ
và bản Cáo trạng do VKS chuyển đến, kết thúc khi bản án hoặc quyết định của
toà án có hiệu lực pháp luật. Bởi lẽ, nếu cho rằng chức năng xét xử bắt đầu từ
thời điểm Toà án mở phiên toà là quá hẹp, không có cơ sở và không giải thích
được những hành vi tố tụng của Toà án (Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà) kể từ
khi nhận được hồ sơ và quyết định truy tố từ VKS như: Các quyết định trong
quá trình chuẩn bị xét xử; Nhận, giải quyết các đơn thư khiếu nại, triệu tập

người đến phiên toà. v.v . Còn ở thời điểm kết thúc, quan điểm thứ hai cho rằng
kết thúc khi thi hành án xong là quá rộng và như vậy vô hình dung cho rằng
trong thi hành án chức năng xét xử vẫn tồn tại là không có cơ sở.
Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thức rằng mặc dù chức năng xét xử kết
thúc khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, nhưng nếu bản án
và quyết định đó bị những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm thì chức năng
xét xử lại xuất hiện và tồn tại cho đến khi toà án ra quyết định cuối cùng (quyết
định huỷ án để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án, không kể bản án và
quyết định của Toà án đã thi hành xong hay chưa.
1.1.2. Các thủ tục xét xử vụ án hình sự:

7
a. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự:
Xuất phát từ những nguyên tắc của Hiến pháp về bảo vệ quyền lợi Nhà
nước, xã hội, quyền chính đáng và lợi ích hợp pháp của công dân, luật tố tụng
hình sự quy định các thủ tục xét xử vụ án hình sự đảm bảo đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật. Vì vậy, việc xét xử vụ án hình sự có thể phải trải qua nhiều
thủ tục khác nhau từ xét xử sơ thẩm (lần đầu tiên đưa vụ án ra xem xét công
khai trước phiên toà), đến xét xử phúc thẩm (xem xét lại bản án, quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật) khi có những điều kiện nhất định. Trường hợp
phát hiện có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ
án hoặc khi phát hiện những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung
của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc
quyết định đó thì bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra xem
xét theo thủ tục Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhằm xác định lại tính có căn cứ
và hợp pháp của bản án hình sự mà Toà án đã tuyên đối với người phạm tội.
Đối với xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu là giai đoạn tiếp theo
của quá trình tố tụng hình sự trong đó, Toà án có thẩm quyền, sau khi nghiên
cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai trước

phiên toà nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải
là người phạm tội để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của
vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố [ 20, 310 ]
Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án hình sự đều phải trải qua các thủ
tục xét xử nói trên. Thông thường, vụ án hình sự được đưa ra xét xử sơ thẩm là
bắt buộc, còn xét xử phúc thẩm, Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm tuỳ thuộc vào
những căn cứ của các kháng cáo, kháng nghị theo thẩm quyền và theo luật định
để xác định, cần thiết hay không cần thiết việc toà án cấp trên mở phiên toà
xem xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án sơ thẩm chưa có hoặc đã có hiệu
lực pháp luật.
Khác với các hình thức xét xử khác, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bắt
buộc đối với bất kỳ vụ án hình sự nào. Để đảm bảo cho việc mở phiên toà công
khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản cáo
trạng của Viện kiểm sát chuyển sang, toà án phải tiến hành ngay công tác
chuẩn bị xét xử, xác định những điều kiện để có thể ra các quyết định có liên
quan đến việc mở phiên toà. Do lần đầu tiếp cận với vụ án hình sự thông qua
hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát chuyển sang, Thẩm phán được phân công chủ
toạ phiên toà phải tiến hành nhiều công việc khác nhau từ xác định thẩm quyền
xét xử, xem xét chứng cứ có trong hồ sơ vụ án v.v. mà công tác chuẩn bị xét
xử phải trải qua một thời gian nhất định. Khi thấy có đủ các điều kiện, phiên
toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được mở công khai nhằm xét vụ án hình sự
theo đúng quy định của pháp luật.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án các cấp :

8
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc phân định thẩm quyền
giữa các cấp Toà án căn cứ vào sự việc phạm tội, đối tượng phạm tội và nơi tội
phạm được thực hiện .
Về thẩm quyền xét xử theo sự việc được xác định theo khoản 1 Điều 145
BLTTHS. Thẩm quyền xét xử theo đối tượng căn cứ Điều 3 Pháp lệnh tổ chức

Toà án quân sự và thẩm quyền xét xử theo Lãnh thổ được xác định theo
khoản 1 Điều 146 BLTTHS trong trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài,
nếu được đưa về xét xử tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì xác
định thẩm quyền theo Khoản 2 Điều 146 BLTTHS .
Đối với những tội phạm xẩy ra trên máy bay, tàu biển của nước ta đang
hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt nam thì xác định thẩm quyền
theo Điều 147 - BLTTHS.
Khác với Toà án nhân dân được bố trí theo cấp hành chính Nhà nước từ
Trung ương đến địa phương, Toà án quân sự được bố trí theo hoạt động của
các đơn vị quân đội . Cho nên thẩm quyền xét xử theo Lãnh thổ của Toà án
quân sự được quy định như sau :
Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự cấp nào xẩy ra trên
địa bàn Toà án quân sự cấp đó thì Toà án quân sự cấp đó xét xử.
Trong trường hợp người phạm tội thuộc đơn vị của quân chủng và tổ chức
tương đương có tổ chức Toà án quân sự , thì vụ án do Toà án quân sự của quân
chủng và tổ chức tương đương xét xử, không phụ thuộc vào nơi thực hiện tội
phạm .
Trong trường hợp không xác định nơi thực hiện tội phạm hoặc trường hợp
có nhiều Toà án quân sự khác nhau có thẩm quyền xét xử do việc trong vụ án
có nhiều người phạm tội thuộc nhiều đơn vị quân đội khác nhau hoặc do việc
người phạm tội thực hiện tội phạm ở nhiều nơi, nếu Viện kiểm sát quân sự truy
tố bị can ra trước Toà án quân sự nào thì Toà án quân sự đó xét xử .
Quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự gồm có: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
và xét xử tại phiên toà. Đối với chuẩn bị xét xử Toà án phải chấp hành thời hạn
chuẩn bị xét xử, trong thời hạn này phải ra một trong những quyết định: Đưa vụ
án ra xét xử; Trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án. Tại
phiên toà HĐXX thay mặt Toà án phải đảm bảo những quy định chung về thủ
tục tố tụng tại phiên toà như: Thành phần tham gia phiên toà, thủ tục bắt đầu
phiên toà, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà.
b. Thủ tục xét xử phúc thẩm:

Luật tố tụng hình sự đã quy định những biện pháp để đảm bảo cho Toà án
xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước, không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội .
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có cả nguyên nhân chủ
quan lẫn khách quan, nên trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không loại trừ

9
những trường hợp bản án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không đáp ứng
được những yêu cầu của pháp luật, như sai lầm trong việc định tội danh, quyết
định hình phạt, giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự
Để khắc phục và sửa chữa những sai lầm có thể có ở thủ tục xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự . Bảo đảm thực hiện tốt mục đích của tố tụng đặt ra như đã
nêu trên. Pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định một trình tự xét xử nhằm
xét lại bản án, quyết định của cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi có
kháng cáo, kháng nghị. Đó là xét xử Phúc thẩm vụ án hình sự :
" Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là việc toà án cấp trên trực tiếp của Toà
án đã xét xử sơ thẩm vụ án, mở phiên toà xem xét lại bản án hoặc quyết định
của cấp sơ thẩm khi bản án hoặc quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật
nhưng đã bị kháng cáo hoặc kháng nghị ”. [ 20, 365 ]
Theo Điều 204 BLTTHS tính chất của xét xử phúc thẩm là việc Toà án
cấp trên trực tiếp xét lại những bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị .
Sau khi Toà án sơ thẩm đã ra bản án và quyết định mà không bị kháng
cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì bản án và quyết định có hiệu lực
pháp luật và được đưa ra thi hành. Vì vậy , chế độ hai cấp xét xử đối với một
vụ án không phải là đương nhiên . Việc xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có
kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp hoặc kháng cáo của
những người có quyền được kháng cáo theo quy định của Điều 205 BLTTHS.
Khi vụ án có kháng cáo, kháng nghị thì việc xét xử theo thủ tục phúc thẩm
là bắt buộc để kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án và quyết

định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đồng thời cũng xem xét lại vụ án về
nội dung
Tính hợp pháp đó là bản án và quyết định đó phải phù hợp với quy định
của BLHS về mặt nội dung trong việc định tội danh và quyết định hình phạt và
về mặt hình thức, phải phù hợp với những quy định của BLTTHS .
Tính có căn cứ của bản án và quyết định là bản án và quyết định sơ thẩm
phù hợp với những sự kiện thực tế, có căn cứ khi kết luận những chứng cứ, tình
tiết của vụ án được xác định một cách chắc chắn tại phiên toà trên cơ sở chứng
cứ đã được thẩm tra, xem xét công khai .
Như vậy, khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp trên trực tiếp vừa làm nhiệm
vụ bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi chính đáng của công dân, vừa thông
qua việc khẳng định hoặc phủ định tính đúng đắn của bản án hoặc quyết định
sơ thẩm để sửa chữa sai lầm nếu có, đồng thời hướng dẫn đường lối xét xử đối
với Toà án cấp dưới.
Khác với bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm sau khi tuyên án
chưa có hiệu lực pháp luật; Bản án , quyết định của Toà án cấp phúc thẩm có
hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.

10
Quyền kháng cáo, kháng nghị :
Kháng cáo, kháng nghị là quyền của những người tham gia tố tụng và
Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật được đề nghị Toà án cấp trên trực
tiếp xét lại bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật .
Chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 205 và
Điều 206 BLTTHS
Đối với Viện kiểm sát, nhằm mục đích bảo vệ, củng cố pháp chế xã hội
chủ nghĩa . Điều 206 BLTTHS quy định Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên
trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án và quyết định chưa có hiệu lực
pháp luật . Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát xuất phát từ chức năng kiểm

sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự .
Việc kháng nghị của Viện kiểm sát khi phát hiện ra những sai sót của bản
án không những là quyền mà còn là nghĩa vụ. Viện kiểm sát có thể kháng nghị
toàn bộ hay một phần bản án hoặc quyết định, đối với tất cả các bị cáo và
những người tham gia tố tụng khác hay chỉ với một số . Viện kiểm sát có thể
kháng nghị theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt, tăng nặng hay giảm
nhẹ mức bồi thường , đề nghị xử bị cáo không có tội hoặc có tội .
Để làm căn cứ cho việc xem xét các nội dung trong kháng nghị tại phiên
toà phúc thẩm, trong kháng nghị của mình, Viện kiểm sát phải nêu rõ lý do,
mục đích của việc kháng nghị .
Thẩm quyền xét xử phúc thẩm :
Theo các quy định của Luật tổ chức TAND năm 1992 sửa đổi thì thẩm
quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự được phân định như sau :
Toà án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm
quyền phúc thẩm những vụ án mà bản án quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật của TAND cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án quân sự cấp
quân khu và tương đương có thẩm quyền phúc thẩm những vụ án mà bản án
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cấp khu vực
bị kháng cáo, kháng nghị, Toà phúc thẩm TATC có thẩm quyền phúc thẩm đối
với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án quân sự Trung
ương có thẩm quyền phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực
pháp luật của Toà án Quân sự cấp quân khu hoặc tương đương bị kháng cáo,
kháng nghị .
Việc xét xử theo thủ tục phúc thẩm phải chấp hành các quy định của
BLTTHS, đó là Điều 241 quy định phạm vi và Điều 215 quy định thời hạn xét
xử phúc thẩm.
Những người tham gia phiên toà phúc thẩm :

11

Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự quy định những người tham gia phiên
toà phúc thẩm như sau :
Kiểm sát viên : Tại phiên tòa phúc thẩm, sự có mặt của kiểm sát viên là
bắt buộc. Nếu kiểm sát viên vắng mặt thì hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà.
Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị được triệu tập và tham gia
phiên toà. Nếu họ vắng mặt mà có lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử vẫn có
thể tiến hành xét xử, nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi
cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt. Trong trường hợp khác thì phải hoãn phiên
toà.
Ngoài những tư cách nói trên, phiên toà phúc thẩm có thể còn có sự tham
gia của những người khác. (Thí dụ: Người làm chứng, giám định viên, người
phiên dịch). Sự tham gia phiên toà phúc thẩm của những người này do Toà án
cấp phúc thẩm quyết định nếu xét thấy sự có mặt của họ là cần thiết .
Các quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm :
Khi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, theo Điều 220 BLTTHS Toà án cấp
phúc thẩm có quyền ra một trong những quyết định sau đây :
Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản án sơ
thẩm
Sửa bản án sơ thẩm .
Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại .
Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
c. Thủ tục Giám đốc thẩm :
Theo Điều 241 BLTTHS thì : " Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc
quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi
phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án ”
Với quy định này đã gây ra nhiều ý kiến khác nhau về bản chất của giám
đốc thẩm [ 27, 36-40 ]. Về mặt lập pháp thì giám đốc thẩm chỉ là xét lại bản án
hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và như vậy đương nhiên không đồng
nghĩa với xử lại hay xét xử lại . Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Giám đốc thẩm

là vừa để xét lại, vừa xử lại bởi lẽ: Theo quy định tại khoản 4 Điều 254 và Điều
257 BLTTHS thì Hội đồng giám đốc thẩm lại có quyền sửa bản án hoặc quyết
định đã có hiệu lực pháp luật và tại Điều 256 BLTTHS cũng cho phép Hội
đồng giám đốc thẩm huỷ bản án hoặc quyết định phúc thẩm, và giữ nguyên bản
án hoặc quyết định sơ thẩm. Việc quy định như vậy, rõ ràng làm cho tính chất
Giám đốc thẩm không còn xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
như Điều 241 BLTTHS . Vì vậy, theo chúng tôi cần sửa Điều 241 BLTTHS để
phù hợp với bản chất của Giám đốc thẩm, cũng như các Điều luật khác của
BLTTHS.

12
Việc xét xử theo thủ tục Giám đốc thẩm một bản án hoặc quyết định của
Toà án chỉ được tiến hành khi có đủ các điều kiện cần thiết sau đây:
Bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật .
Trong quá trình giải quyết vụ án có sự vi phạm pháp luật .
Có kháng nghị của người có thẩm quyền theo các trình tự và thủ tục của
Luật TTHS đối với bản án, quyết định đó.
Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm :
Theo Điều 242 với tên gọi “ Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm " đã cụ thể hoá nội dung về căn cứ kháng nghị nên trong Điều 241
BLTTHS rằng, căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là những vi phạm pháp
luật hình thức và pháp luật về nội dung ở tắt cả các giai đoạn của tố tụng. Các
căn cứ đó là :
1. Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ.
2. Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình
tiết khách quan của vụ án.
3. Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố
hoặc xét xử.
4. Có những sai lầm nghiêm trọng việc áp dụng BLHS.
Những người có quyền kháng nghị và thẩm quyền của họ khi kháng nghị

được quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng hình sự .
Thành phần những người tham gia phiên toà Giám đốc thẩm :
Phiên toà giám đốc thẩm phải có sự tham gia của đại diện của Viện kiểm
sát, đại diện Viện kiểm sát phải là Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện
trưởng uỷ quyền. Đối với những người như người bị kết án, người bào chữa
trong trường hợp cần thiết Toà án phải triệu tập họ . Những người khác có
quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị cũng có thể được Toà án triêụ
tập .
Đối với tất cả các bản án hoặc quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm dù
chúng thuộc thẩm quyền xét xử ở cấp nào thì cũng phải đưa bản án, quyết định
đó ra xét xử trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị .
Việc xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và tính
có căn cứ của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị . Vì vậy , nếu trong bản
kháng nghị chỉ kháng nghị một phần bản án hoặc quyết định của Toà án thì
trong mọi trường hợp, Toà án phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn
chế trong nội dung của phần bị kháng nghị . Điều này áp dụng với cả trường
hợp vụ án có nhiều người bị kết án mà chỉ kháng nghị với một hoặc một số
người bị kết án, có nghĩa là Toà án cũng phải kiểm tra đối với tất cả những
người không bị kháng nghị .

13
Hội đồng giám đốc thẩm khi xét xử có quyền ra những quyết định sau :
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã
có hiệu lực pháp luật .
2. Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.
3. Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc
xét xử lại.
4. Sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật .
Các quyết định của Hội đồng giám đốc có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra
quyết định.

Tóm lại, với tính chất là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật, do có vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý vụ án. Thủ tục Giám
đốc thẩm có một ý nghĩa rất lớn cả về lý luận và thực tiễn đó là: Thủ tục Giám
đốc thẩm tạo ra cơ chế đảm bảo tính đúng đắn, tính hợp lý trong hoạt động xét
xử của Toà án, khắc phục được những sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án
đã thể hiện trong bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Mặt khác, thông qua Giám đốc thẩm Toà án cấp trên nắm bắt được những sai
lầm trong việc áp dụng pháp luật của Toà án cấp dưới . Từ đó, kịp thời hướng
dẫn các Toà án áp dụng đúng pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử và kịp
thời kiến nghị đối với các cơ quan chức năng khắc phục những thiếu sót trong
áp dụng pháp luật và điều quan trọng nhất là góp phần hạn chế tình trạng oan
sai trong xử lý tội phạm.
d. Thủ tục Tái thẩm vụ án hình sự:
Trong luật tố tụng hình sự Việt nam, để khắc phục những sai lầm có thể
có trong quá trình xét xử vụ án hình sự, cùng với các thủ tục khác như thủ tục
xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm còn có thủ tục tái thẩm. Mỗi một thủ tục nêu
trên có tính chất và mục đích khác nhau. Nếu như xét xử phúc thẩm là việc Toà
án cấp trên trực tiếp xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án cấp dưới chưa
có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, hoặc kháng nghị. Xét xử giám đốc
thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Nhưng bị
kháng nghị vì phát hiện có việc vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án thì thủ
tục tái thẩm được hiểu:
" Tái thẩm là việc xét bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật
nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay
đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được
khi ra bản án hoặc quyết định đó ". ( Điều 260 BLTTHS )
Xuất phát từ định nghĩa trên về Tái thẩm có thể hiểu những điều kiện cần
và đủ để xét xử tái thẩm một vụ án hình sự bao gồm :
1. Bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.


14
2. Có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội
dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án đã không biết khi ra bản án hoặc
quyết định đó.
3. Có kháng nghị của cấp có thẩm quyền theo các trình tự và thủ tục do bộ
luật tố tụng hình sự quy định.
Như vậy, chỉ Tái thẩm khi có những tình tiết mới và những tình tiết này
khi Toà án ra bản án hoặc quyết định không biết, nếu những tình tiết đó là
những tình tiết mà trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã biết, nhưng do
đánh giá không đúng nên đã ra bản án sai thì không gọi là tái thẩm. Những tình
tiết mới thường là các tình tiết như : Người làm chứng, người bị hại đã khai báo
gian dối, Người phiên dịch cố tình dịch sai, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xử sai…
( Điều 261 BLTTHS ) . Và những tình tiết mới được phát hiện phải làm thay
đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định của Toà án, thay đổi cơ bản nội
dung là sự thay đổi về chất như : Về tội danh, về người phạm tôi, về việc áp
dụng pháp luật
Về cơ bản những căn cứ kháng nghị theo trình tự tái thẩm nêu trên liên
quan tới hoặc là sai lầm của người tiến hành tố tụng khi kết luận một vấn đề đó
của vụ án hoặc là thiếu sót trong việc kiểm tra , đánh giá chứng cứ trong giai
đoạn điều tra, truy tố cũng như xét xử vụ án .
Điều 263 Bộ luật tố tụng hình sự quy định chỉ những người sau mới có
quyền kháng nghị tái thẩm:
Viện trưởng VKSND Tối cao có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những
bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND hoặc Toà án quân
sự các cấp.
Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự TW có quyền kháng nghị tái thẩm đối
với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự
các cấp.
Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị tái thẩm đối với

những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân
huyện. Viện trưởng VKS quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị Tái thẩm
đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân
sự khu vực.
Lưu ý thẩm quyền kháng nghị chỉ do Viện trưởng quyết định, Viện trưởng
Viện kiểm sát không uỷ quyền cho các Phó Viện trưởng của mình kháng nghị.
Tuy nhiên, việc quy định chủ thể của kháng nghị tái thẩm như trên nhưng
theo Điều 262 BLTTHS quy định thì người bị kết án, hoặc cơ quan Nhà nước,
tổ chức xã hội và mọi công dân có quyền phát hiện những tình tiết mới và
thông báo cho Viện kiểm sát và Toà án biết. Nếu tình tiết mới được thông báo
cho Toà án thì Toà án phải chuyển cho Viện kiểm sát. Viện trưởng Viện kiểm

15
sát có thẩm quyền kháng nghị Tái thẩm phải xác minh những tình tiết đó trước
khi kháng nghị .
Theo điều 266 BLTTHS thì thẩm quyền Tái thẩm cũng được quy định như
đối với thẩm quyền giám đốc thẩm tại Điều 248 BLTTHS.
Khi xét xử tái thẩm, những quy định đối với phiên toà giám đốc thẩm về
những người tham gia phiên toà, thành phần hội đồng giám đốc, thủ tục phiên
toà giám đốc thẩm, thời hạn và phạm vi xét xử giám đốc thẩm cũng được áp
dụng đối với phiên toà tái thẩm.
Hội đồng tái thẩm có quyền ra các quyết định như sau:
1. Bác kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật, nếu tình tiết mới được dùng làm căn cứ để kháng nghị không làm
thay đổi nội dung vụ án.
2. Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại
tuỳ thuộc vào tình tiết mới được phát hiện trong giai đoạn điều tra hoặc xét xử.
Sau khi bản án hoặc quyết định bị huỷ, việc điều tra lại hoặc xét xử lại được
tiến hành theo thủ tục chung.
3. Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị và đình chỉ vụ án khi có một

trong các căn cứ quy định tại điều 89 BLTTHS .
Quyết định của Hội đồng tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra
quyết định.
Những căn cứ để ra một trong các quyết định nêu trên cũng được quy định
giống như ở cấp giám đốc thẩm. Tuy nhiên, khác với Hội đồng giám đốc thẩm,
Hội đồng tái thẩm không được sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp
luật, kể cả trường hợp sửa theo hướng có lợi cho người bị kết án. Mọi trường
hợp khi có căn cứ để sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Hội
đồng tái thẩm phải ra quyết định huỷ án hoặc quyết định để điều tra lại hoặc xét
xử lại từ cấp sơ thẩm. Việc điều tra tra lại hoặc xét xử lại từ cấp sơ thẩm được
tiến hành theo thủ tục chung.
1.2. Vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự:
Viện kiểm sát là một trong bốn cơ quan quan trọng cấu tạo nên bộ máy
nhà nước. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất có quyền lập hiến và lập
pháp , Chính phủ là cơ quan chấp hành của quốc hội, Toà án là cơ quan xét xử,
Quốc hội giao nhiệm vụ Thực hành quyền quyền công tố và Kiểm sát các hoạt
động tư pháp đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội đều được xử lý bằng pháp luật
và đúng pháp luật cho Viện kiểm sát.
Điều 137 Hiến pháp 1992 (Sửa đổi) quy định chức năng của VKSND:
“Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”
Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về chức năng của VKS,
BLTTHS xác định vị trí của VKS là cơ quan tiến hành tố tụng. Điều 23 Bộ

16
Luật TTHS quy định: “ VKS có nhiệm vụ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong TTHS , thực hành quyền công tố đảm bảo cho pháp luật được thi hành
nghiêm chỉnh và thống nhất ”. Trong các hoạt động TTHS , VKS có trách
nhiệm áp dụng những biện pháp do bộ Luật Tố tụng hình sự và bộ Luật hình sự
để loại trừ vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào .
Như vậy, theo Hiến pháp 1992 sửa đổi và Bộ luật tố tụng hình sự, thì xét

xử vụ án hình sự VKS có hai chức năng là: Thực hành quyền công tố và Kiểm
sát hoạt động tư pháp. Để thấy được vai trò của VKS cần phải nghiên cứu, xem
xét dưới góc độ gắn liền với chức năng và quá trình thực hiện chức năng. Vì
vậy nghiên cứu vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự chúng tôi nghiên
cứu chức năng Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp trong
xét xử vụ án hình sự của VKS
1.2.1. Chức năng thực hành quyền công tố
a. Khái niệm quyền công tố:
Nghiên cứu về quyền Công tố của Viện kiểm sát, cả về mặt lý luận lẫn
thực tiễn tư pháp hình sự, cho đến nay xung quanh cách hiểu như thế nào là
quyền công tố, bản chất của nó gì, phạm vi của nó ra sao ? và nội dung của nó
do các yếu tố nào hợp thành,v.v cũng chưa có một quan điểm thống nhất
được thừa nhận chung .
Trong lịch sử lập hiến và lập pháp của nước ta, khi quy định chức năng
nhiệm vụ của VKSND thì xuất hiện khái niệm quyền công tố và thực hành
quyền công tố. Đó là Điều 138, Hiến pháp năm 1980 và Điều 1, Điều 3 Luật tổ
chức VKSND năm 1981. Từ đó đến nay trong nghiên cứu Lý luận cũng như
hoạt động thực tiễn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm này. Và như thế,
mặc nhiên nhận thức khái niệm “ Quyền công tố ” và “ Thực hành quyền công
tố ” ngày càng đi theo nhiều hướng khác nhau.
Trong khoa học Luật TTHS, việc xác định khái niệm quyền công tố và
theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan
trọng . Giải quyết tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí
của Viện kiểm sát trong hệ thống các cơ quan Nhà nước nói chung và trong các
cơ quan tư pháp nói riêng .
Hiện nay trong sách báo pháp lý nước ta, còn có một số quan điểm, tựu
chung lại có quan điểm như sau:
Thứ nhất, đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền
công tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như

dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. (đây là quan điểm đưa vào chương trình
giảng dạy của trường Cao đẳng kiểm sát cho đến trước khi có Luật Tổ chức
VKS năm 2002).

17
Thứ hai, xem quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS dẫn đến việc xem
nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của Viện kiểm
sát nhân danh quyền lực công. {22;31}
Thứ ba, quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền
của Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Toà và thực hiện việc buộc tội tại
phiên toà hình sự sơ thẩm. {31;24}
Xuất phát từ các căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực tiễn
hoạt động của các cơ quan tư pháp, cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt
động công tố ở các nước khác cho thấy các quan điểm trên đã bộc lộ một số
hạn chế: Có thể nói rằng điểm hạn chế chung nhất của hầu hết các công trình
nghiên cứu về quyền công tố là không phân định rõ được khái niệm, bản chất,
nội dung, phạm vi của quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp. Đa số tác giả đều cho rằng hai chức năng của Viện
kiểm sát : Chức năng công tố và kiểm sát tư pháp vừa có tính độc lập tương
đối, vừa liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau; Giữa chúng có
những nội dung xâm nhập, đan xen vào nhau không thể tách rời Tạo nên sự
thống nhất trong chức năng của Viện kiểm sát.
Có nhiều công trình nghiên cứu về khái niệm quyền công tố, cho đến nay
quan điểm có giá trị nhất được thể hiện trong đề tài: “ Những vấn đề lý luận về
quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến
nay”. Theo đó khái niệm Quyền công tố như sau:
“ Quyền công tố là quyền của Nhà nước, truy cứu TNHS đối với người
phạm tội, quyền này được giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ
quan VKS ). Để làm được điều này cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo

đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người
phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố Bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội
trước phiên Toà [31,19]
Từ khái niệm trên, có thể xác định đối tượng, phạm vi, nội dung quyền
công tố như sau :
Đối tượng của quyền công tố là người phạm tội
Quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực hình sự.
Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện
hành vi phạm tội.
Quyền công tố xuất hiện khi tội phạm thực hiện và kết thúc khi bản án có
hiệu lực pháp luật .
b. Thực hành quyền công tố
Trong Khoa học luật TTHS , việc xác định quyền công tố và theo đó là
thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Giải
quyết được rõ ràng, rành mạch những vấn đề trên giúp cho việc xác định chính

18
xác vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan Nhà nước nói
chung và trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng cũng như chức
năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, đặc biệt là trong tố tụng hình sự. Từ đó mới
có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, hợp lý về mô hình tổ chức Viện kiểm
sát. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng
ta đang tích cực triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 và lần
thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về cải cách bộ máy nhà
nước, cải cách cơ quan tư pháp.
Trong các tài liệu pháp lý ở nước ta, chủ yếu người ta chỉ đề cập đến vấn
đề quyền công tố và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Khái niệm
thực hành quyền công tố cũng như nội dung, phạm vi của nó, mối quan hệ giữa
thực hành quyền công tố với thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp
còn ít được đề cập và chưa rõ ràng. Một số chuyên đề gần đây ở Viện kiểm sát

nhân dân Tối cao và một số Viện kiểm sát nhân dân địa phương khi đề cập đến
hoạt động thực hành quyền công tố cũng chỉ mới đưa ra được một số biện pháp
pháp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình sự như : Kiểm
sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát thi hành án .v.v Trong những
tài liệu này, tác giả cũng chỉ nhấn mạnh đến chủ thể thực hành quyền công tố ,
đó là Viện kiểm sát . Cơ sở lý luận mà họ dựa vào là những nguyên lý của V.I.
Lê Nin về pháp chế xã hội chủ nghĩa và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân, về
vai trò và bổn phận của Uỷ viên công tố; Cơ sở pháp lý mà họ đưa ra là các quy
định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân từ năm 1960 đến
nay. Vì lẽ đó, trong nhận thức của không ít người làm công tác nghiên cứu và
thực tiễn trong và ngoài ngành kiểm sát đã nhầm lẫn giữa quyền công tố và
thực hành quyền công tố trên các phương diện như : Đối tượng, nội dung,
phạm vi . Đồng thời, họ luôn gắn quyền công tố chỉ với Viện kiểm sát, coi đó
là quyền của Viện kiểm sát. Vì vậy đã không lý giải được vấn đề là khi một số
cơ quan khác ( Cơ quan điều tra, Toà án) sử dụng một số biện pháp như : Khởi
tố vụ án, khởi tố bị can thì có phải các cơ quan này cũng thực hành quyền
công tố hay không ?
Một bộ phận khác trong giới luật học khi đề cập đến thực hành quyền
công tố lại có hai khuynh hướng. Một là họ gắn việc thực hành quyền công tố
với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của công tố viên trong tố tụng hình sự.
Cơ sở lý luận mà họ dựa vào là việc tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố
ở nước ngoài, cơ sở pháp lý mà họ đưa ra là các quy định pháp luật hiện hành ở
nước ta, nhưng chỉ bó hẹp trong phạm vi truy tố hoặc buộc tội của Viện kiểm
sát trước Toà án (vốn là những nét hoạt động công tố tương đồng ở Việt nam
và một số nước trên thế giới). Một số khác thì lại mở rộng phạm vi quyền công
tố được thực hiện trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự bao gồm cả điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án. Hai là họ chỉ nêu ra một số biện pháp pháp lý như :
Lập cáo trạng và luận tội trước phiên toà sơ thẩm hình sự coi đó là thực hành
quyền công tố, thậm chí có người còn cho rằng thực hành Quyền công tố chỉ là
sự buộc tội trước phiên toà sơ thẩm, chúng tôi quan niệm quyền công tố là

quyền của Nhà nước, gắn liền với bản chất từng kiểu Nhà nước và chỉ có trong

19
lĩnh vực hình sự. Phạm vi của quyền này bắt đầu từ khi có tội phạm xẩy ra và
kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Đối tượng
tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Để bảo đảm thực
hành quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm thì Nhà nước ban
hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc
nội dung quyền công tố. Các quyền năng đó Nhà nước giao cho cơ quan nhà
nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội , thì cơ quan ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm thực
hành quyền công tố.
Ở Việt nam căn cứ vào các quy định của Nhà nước ta từ năm 1960 đến
nay thì Viện kiểm sát nhân dân chính thức là cơ quan được giao chức năng thực
hành quyền công tố và không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành
kiểm sát để sử dụng quyền công tố: bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát
phải trông nom, bảo đảm cho tốt
Thực tiễn hoạt động công tố mấy chục năm qua của Viện kiểm sát các cấp
cho thấy rằng 100% các vụ án hình sự đều do Viện kiểm sát truy tố và thực
hiện sự buộc tội trước phiên toà sơ thẩm, đưa ra lời kết luận của mình tại phiên
toà theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Cùng với những
hoạt động đó, Viện kiểm sát các cấp còn có trách nhiệm xem xét, bảo đảm cho
việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn đúng pháp luật; có
quyền khởi tố, yêu cầu khởi tố, xem xét việc khởi tố của cơ quan điều tra và
Toà án: Viện kiểm sát được áp dụng “ Các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình
sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội ”( Điều 13 BLTTHS
).
Thực hành quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo
quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người

phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Toà án và bảo vệ buộc tội đó .
Nhưng để làm rõ hơn khái niệm thực hành quyền công tố cần xuất phát từ
những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố. Theo đó, Việc sử
dụng những quyền năng này để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với kẻ phạm
tội chính là thực hành quyền công tố.
Từ những nội dung được trình bày trên, chúng tôi thống nhất với quan
điểm được nêu trong đề tài: “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực
tiễn hoạt động công tố ở Việt nam từ năm 1945 đến nay” của VKSND tối cao,
đó là “ Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng
pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử ”.[31,28]
Phạm vi thực hành quyền công tố :
Về mặt nguyên tắc, cứ có tội phạm xẩy ra là đòi hỏi quyền công tố phải
được phát động . Song, để có cơ sở phát động công tố quyền phải có một giai
đoạn chuẩn bị để thu thập tài liệu, tin tức về tội phạm xẩy ra như : Tiếp nhận,

20
xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, tiến hành một số hoạt động điều tra trước
khi khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người biết việc,
lấy lời khai người bị tạm giữ .v.v
Một vấn đề cũng hết sức lưu ý là không phải trong mọi trường hợp quyền
công tố kéo dài đến tận khi bản án có hiệu lực pháp luật mà có có thể bị triệt
tiêu ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự.
Điều đó có nghĩa là không phải mọi vụ án đều được ra xét xử trước toà án. Bởi
vậy, khi quyền công tố bị triệt tiêu thì cũng có nghĩa là không còn việc thực
hành quyền công tố.
Như vậy, quan niệm quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội đã cho phép cắt nghĩa được một cách xâu chuỗi các vấn
đề cơ bản của Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự. Đồng thời đem lại ý nghĩa
đặc biệt quan trọng đối với việc xem xét thực hành quyền công tố ở nhiều góc

độ khác nhau. Chẳng hạn không phải cứ khởi tố là thực hành quyền công tố, và
chỉ có truy tố và buộc tội mới là thực hành quyền công tố.v.v. mà nội dung của
thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội .
Từ những suy nghĩ trên, chúng tôi cho rằng, phạm vi thực hành quyền
công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án của toà án có hiệu
lực pháp luật hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của Luật TTHS.
Nội dung thực hành quyền công tố :
Nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố là việc sử dụng tất cả
những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm
minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người
vô tội. Theo đó nội dung thực hành quyền công tố bao gồm:
Trong giai đoạn điều tra vụ án Viện kiểm sát thực hành quyền công tố
bằng các hình thức sau đây:
Phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như : Bắt khẩn cấp, gia
hạn tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam .
Trực tiếp ra lệnh tạm giam bị can ( các Điều 63, 69, 70 Bộ luật TTHS ).
Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc
huỷ bỏ hoặc thay thế phải do Viện kiểm sát quyết định ( Điều 77 Bộ luật TTHS
).
Bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ buộc tội bị can, làm rõ
những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự ( Điều 47 Bộ luật tố tụng
hình sự ).
Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự VKS thực hành quyền công tố
bằng các hình thức sau đây:
Công bố quyết định truy tố bị can ra Toà án bằng bản Cáo trạng.

21
Quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà.
Thẩm vấn: Kiểm sát viên tham gia thẩm vấn để làm rõ những vấn đề liên

quan đến tội trạng của bị cáo mà Hội đồng xét xử chưa làm rõ hoặc bị cáo
quanh co chối tội .
Luận tội: Kiểm sát viên, trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án đã được thẩm tra tại phiên toà và những chứng cứ qua xét hỏi của Hội đồng
xét xử, đưa ra lời buộc tội của mình đối với bị cáo (bị cáo đã phạm tội, tội danh
và mức án cụ thể ); đưa ra lời phê phán hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra
tác hại về mặt Chính trị- xã hội Đây là sự lên án của Nhà nước đối với người
đã thực hiện tội phạm.
Phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc
thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
1.2.2. Chức năng kiểm sát hoạt động tƣ pháp
a. Khái niệm :
Ngoài vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng nhân danh Nhà nước thực
hành quyền công tố. Viện kiểm sát còn có chức năng kiểm sát hoạt động tư
pháp . Đây là chức năng quan trọng của Viện kiểm sát, bởi lẽ nó có ý nghĩa đến
việc bảo đảm tuân thủ pháp chế trong tố tụng hình sự
Kiểm sát hoạt động tư pháp bắt đầu tiến hành khi các cơ quan tư pháp
thực hiện chức năng theo pháp luật tố tụng hình sự đã quy định để bảo đảm các
hành vi tố tụng của chủ thể hoạt động tố tụng hình sự tuân theo pháp luật. Và
chấm dứt khi kết thúc hoạt động tố tụng hình sự. Mục đích là nhằm bảo đảm
pháp chế XHCN trong TTHS.
Đối với một số nước trên thế giới như ở Cộng hoà Liên bang Nga,
Trung quốc, Viện kiểm sát cũng thực hiện quyền giám sát trong tố tụng hình
sự. Ở Cộng hoà pháp, Viện công tố cũng có chức năng: “ Đại diện cho quyền
lợi của xã hội, của Nhà nước trước Toà án, bảo đảm cho Pháp luật được tuân
thủ, những hành vi phạm tội được xét xử nghiêm minh, việc xét xử được đúng
đắn ”. [8,27]
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì ở nước ta kiểm sát hoạt động
tư pháp chỉ do một chủ thể tiến hành, đó là cơ quan Viện kiểm sát. Hoạt động
này do Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng thực hiện trên cở sở nguyên tắc

tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng
hình sự và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Đối tượng kiểm sát hoạt động tư pháp tập trung chủ yếu vào hoạt động
áp dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng hình sự,
trước hết là cơ quan điều tra và Toà án. Theo quy định của Luật tổ chức
VKSND năm 2002 các hoạt động kiểm sát tư pháp được chia thành những lĩnh
vực khác nhau, gắn liền với từng giai đoạn tố tụng và tên gọi là: Công tác kiểm
sát điều tra; kiểm sát xét xử; kiểm sát giam giữ cải tạo và công tác kiểm sát thi

22
hành án. Mỗi công tác kiểm sát trên đây có đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ,
quyền hạn riêng, nhưng đều có quan hệ mật thiết với nhau, cùng thực hiện chức
năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS. Ví như công tác kiểm sát điều tra
trong hoạt động tố tụng điều tra của cơ quan điều tra và một số cơ quan khác
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng như hoạt dộng
của những cơ quan, tổ chức và người tham gia tố tụng điều tra.
Từ đó theo chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa kiểm sát hoạt động tư
pháp như sau: “ Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực
Nhà nước do Quốc hội giao cho Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm pháp
chế trong tố tụng hình sự ”.
Phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp bắt đầu từ khi vụ án được khởi
tố, kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án.
b. Kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ án hình sự:
Trong xét xử vụ án hình sự Viện kiểm sát kiểm sát tuân theo pháp luật
TTHS trong hoạt động xét xử của Toà án và của những người khác tham gia tố
tụng xét xử . Phạm vi của công tác này bắt đầu từ khi Toà án thụ lý hồ sơ vụ án,
kết thúc khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo,
kháng nghị .
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ án hình sự được thực hiện
thông qua các hình thức và biện pháp:

Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ
án cần thiết; Kiểm sát chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử. (Điều 151 Khoản 2 –
BLTTHS ) để giúp Toà án giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng pháp luật .
Kiểm sát việc ra các quyết định và giao các quyết định đó có đúng quy
định của pháp luật không : Đặc biệt chú ý đến tính có căn cứ và hợp pháp đối
với các quyết định tạm đình chỉ , đình chỉ vụ án; áp dụng biện pháp bắt buộc
chữa bệnh .
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm các bản
án, quyết định củaToà án.
1.2.3. Mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tƣ pháp :
Xuất phát từ mục đích của tố tụng hình sự là mọi tội phạm, người thực
hiện hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật;
Không để lọt và không làm oan người vô tội, bảo đảm mọi hoạt động tố tụng
hình sự phải được thực hiện nghiêm chỉnh theo đúng quy định của pháp luật.
Hoạt động thực hiện chức năng của VKS không ngoài mục đích trên. Từ đó có
thể rút ra đặc trưng của mối quan hệ này trong hoạt động tố tụng nói chung, xét
xử vụ án hình sự nói riêng.
Cả hai chức năng này đều thống nhất với nhau ở mục đích hoạt động,
nên chúng thường xuyên tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, nhằm đáp ứng được

23
yêu cầu của tố tụng hình sự là: Chống lọt người, lọt tội, oan sai và vi phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Và nó đều do một chủ thể tiến hành là
Viện kiểm sát thông qua Kiểm sát viên các cấp dưới sự Lãnh đạo tập trung
thống nhất của Viện trưởng.
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố đều
được bắt đầu từ khi khởi tố vụ án. Song thời điểm kết thúc của từng chức năng
có khác nhau; kiểm sát hoạt động tư pháp kéo dài đến khi bản án hình sự được
thi hành xong; Thực hành quyền công tố chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp

luật, không bị kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp
luật.
Hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt đông tư pháp
trong xét xử có mối quan hệ mật thiết. Kiểm sát hoạt động tư pháp tạo điều
kiện cho hoạt động thực hành quyền công tố được thuận lợi hơn. Hoạt động
thực hành quyền công tố tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác kiểm
sát hoạt động tư pháp.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ
án hình sự không đối lập nhau mà bổ sung cho nhau để hoàn thành nhiệm vụ
chung: Bảo đảm cho việc xét xử tại phiên toà đúng pháp luật và người phạm tội
phải bị xét xử. Giữa hai chức năng trong quá trình tổ chức thực hiện có một số
nội dung xâm nhập, đan xen lẫn nhau không thể tách rời, vừa thuộc chức năng
này, vừa thuộc chức năng kia và ngược lại. Chức năng này là tiền đề cho chức
năng kia và ngược lại
Các hình thức thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong xét xử
vụ án hình sự gồm có: Truy tố bị can ra trước Toà án; Công bố bản Cáo trạng
và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà thông qua Thẩm vấn, luận tội , tranh
luận ; Kết luận ở phiên Toà Phúc thẩm, Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm. Khi
KSV có mặt tại phiên toà sơ thẩm; Phúc thẩm , Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm
cùng đồng thời thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm
sát hoạt động tư pháp.
Thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử đó là giám
sát tuân theo pháp luật TTHS của HĐXX cũng như của những người khác tham
gia tố tụng, như kiểm sát việc chấp hành thủ tục, thời hạn xét xử.
Kết thúc hoạt động xét xử của HĐXX, nếu xét thấy bản án hay quyết
định của Toà án có vi phạm pháp luật thì VKS thực hiện quyền kháng nghị, đó
là hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp. Trên cơ sở kháng nghị của VKS lại
phát sinh một trình tự xét xử mới theo các thủ tục Phúc thẩm, Giám đốc thẩm
hoặc Tái thẩm và tại các phiên toà này KSV đọc kết luận - Đó là thực hành
quyền công tố.

Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử
hình sự là hai chức năng của Viện kiểm sát nhưng chúng có quan hệ gắn bó
với nhau, hỗ trợ cho nhau và cùng mục đích là bảo đảm việc xét xử đúng

×