Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong luật hình sự Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 92 trang )


Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật




Ngô Thị Huyền Phương





Tội hủy hoại tài sản
hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
trong luật hình sự việt nam




Luận văn thạc sĩ luật học






Hà nội - 2009









Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật



Ngô Thị Huyền Phương





Tội hủy hoại tài sản
hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
trong luật hình sự việt nam

Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40


Luận văn thạc sĩ luật học



Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Mạnh Hùng



Hà nội - 2009



MỤC LỤC



Trang

Trang phụ bìa


Lời cam đoan


Mục lục


Danh mục các bảng


Danh mục các biểu đồ


MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN

HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN
5
1.1.
Lịch sử phát triển của tội danh
5
1.2.
Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm
11
1.2.1.
Khách thể của tội phạm
12
1.2.2.
Các dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm
13
1.2.3.
Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm.
19
1.2.4.
Các dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm
21
1.3.
Hình phạt và các biện pháp tư pháp được áp dụng đối với
người phạm tội hủy hoại hoặc làm cố ý làm hư hỏng tài sản
22
1.3.1.
Hình phạt chính
23
1.3.2.
Các hình phạt bổ sung
31

1.3.3.
Các biện pháp tư pháp áp dụng cho Điều 143 - Tội hủy hoại
tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
34
1.4.
Phân biệt tội hủy hoại hoặc làm cố ý làm hư hỏng tài sản với
một số tội danh khác được quy định trong Bộ luật Hình sự 1999
35
1.4.1.
Tội hủy hoại hoặc làm cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143 Bộ
luật Hình sự) với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài
sản quy định tại (Điều 145 Bộ luật Hình sự)
35
1.4.2.
Tội hủy hoại hoặc làm cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143 Bộ
luật Hình sự) với Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 188
Bộ luật Hình sự)
36
1.4.3.
Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143
Bộ luật Hình sự) và Tội hủy hoại rừng (Điều 189 Bộ luật
Hình sự)
37
1.4.4.
Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143
Bộ luật Hình sự) và Tội phá hủy công trình, phương tiện
quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231 Bộ luật Hình sự).
39
1.4.5.
Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143

Bộ luật Hình sự) và Tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương
tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334 Bộ luật Hình sự)
42
1.4.6.
Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143
Bộ luật Hình sự trong mối quan hệ với một số tội danh
thường gặp
44
1.5.
Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong Bộ
luật Hình sự của một số quốc gia
46

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN HOẶC
CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
50
2.1.
Thực tiễn áp dụng Điều 143 - Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý
làm hư hỏng tài sản trong thời gian vừa qua.
50
2.2
Thực tiễn áp dụng hình phạt của tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý
làm hư hỏng tài sản của Tòa án trong 5 năm qua (2004-2008)
59
2.3.
Những khó khăn vướng mắc khi giải quyết những vụ án hủy
hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 Bộ
luật Hình sự
61
2.4.

Một số kiến nghị xung quanh các quy định liên quan đến
Điều 143 Bộ luật Hình sự
70

KẾT LUẬN
81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
83

Danh mục các bảng

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Một số tội danh đã xét xử trong giai đoạn 2004-2008
51
2.2
Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong
các giai đoạn điều tra - truy tố - xét xử từ 2004-2008
51
2.3
Tổng số án hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
đã xét xử từ 2004-2008
52
2.4
Các tội xâm phạm sở hữu không có mục đích tư lợi
53

2.5
Số vụ án hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
xét xử ở một số địa phương từ 2004-2008
55
2.6
Hình phạt áp dụng cho Điều 143 Bộ luật Hình sự
60
2.7
Án xét xử sở thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
62



Danh mục các biểu đồ

Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Tổng số án hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
đã xét xử từ 2004-2008
53
2.2
Các tội xâm phạm sở hữu không có mục đích tư lợi
53
2.3
Số vụ án hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
xảy ra ở một số địa phương từ 2004-2008
55



1
MỞ ĐẤU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để
đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần tích cực bảo vệ độc lập
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, tổ chức; góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây
cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và
công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, việc nghiên cứu về lý luận cũng như
thực tiễn xét xử các tội danh cụ thể được quy định trong Phần Các tội phạm
của Bộ luật Hình sự là rất cần thiết.
Ngành luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu thông qua việc quy định
những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu bị coi là tội
phạm và quy định các mức hình phạt tương ứng. Bộ luật Hình sự quy định
các tội xâm phạm quyền sở hữu tại Chương XIV từ Điều 133 đến Điều 145.
Tùy theo tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội và giá trị tài sản xâm
phạm mà mỗi hành vi có hình phạt tương ứng. Căn cứ vào tính chất của mục
đích phạm tội, có thể chia 13 tội danh thuộc Chương sở hữu thành hai nhóm là
nhóm các tội xâm phạm sở hữu có mục đích tư lợi, tức là nhằm thu về những lợi
ích vật chất cho cá nhân hay nhóm cá nhân (từ Điều 133 đến Điều 142) và
nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu không có mục đích tư lợi (gồm 3 điều: Điều
143 tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; Điều 144 Tội thiếu
trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và Điều 145
Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản) [30, tr. 365]. Tội hủy hoại tài
sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự


2
1999, thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu không có mục đích tư lợi. Theo thống
kê báo cáo hàng năm do Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp thì tỷ lệ án
hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản chiếm tỷ trọng lớn trong số
nhóm tội xâm phạm sở hữu không có mục đích tư lợi và hiện nay diễn ra theo
xu hướng ngày càng gia tăng (theo số liệu thống kê án xét xử tội hủy hoại tài
sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2004
cả nước xét xử 649 vụ/ 1.016 bị cáo; năm 2008 xét xử 1.138 vụ/ 2.003 bị cáo,
tỷ lệ án từ năm 2004 đến năm 2008 tăng 175,3%).
Việc nghiên cứu tổng thể và toàn diện về tội hủy hoại tài sản hoặc cố
ý làm hư hỏng tài sản tại Điều 143 Bộ luật Hình sự 1999, đánh giá việc áp
dụng tội danh này trong thực tiễn để đưa ra những kiến giải nhằm hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả áp dụng điều luật này trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa
lý luận - thực tiễn. Đây là lý do tôi quyết định chọn đề tài "Tội hủy hoại tài
sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong luật hình sự Việt Nam" làm luận
văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả nhận thấy các công trình,
bài viết nghiên cứu về tội Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
quy định tại Điều 143 Bộ luật Hỡnh sự 1999 không nhiều, các bài viết trên
các diễn đàn trao đổi chủ yếu tập trung vào tranh luận việc định tội danh liên
quan đến hành vi hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, trong khi đó
về mặt lý luận và thực tiễn tội phạm này cũng có nhiều nội dung cần tiếp tục
nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên
cứu của luận án
- Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý
luận những nội dung cơ bản của Điều 143 Bộ luật Hỡnh sự 1999 theo luật


3
hình sự Việt Nam và việc áp dụng điều luật này trong thực tiễn, từ đó thấy
được những tồn tại trong thực tiễn khi định tội danh cho người phạm tội để đề
xuất những giải pháp nhằm khắc phục.
- Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn đặt cho mình các
nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích nội dung được ghi
nhận tại Điều 143 Bộ luật Hình sự 1999, qua đó lµm s¸ng tá b¶n
chÊt vµ nh÷ng dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá Điều 143 Bộ luật Hỡnh sự
1999 trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trờn cả nước, đồng thời phân
tích những tồn tại xung quanh việc ỏp dụng quy định này trong thực tiễn
nhằm kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng Điều 143 Bộ
luật Hình sự, theo số liệu từ năm 2004 đến năm 2008.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh
phòng và chống tội phạm, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa
học pháp lý: luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự, những luận điểm
khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết
đăng trên tạp chí khoa học
LuËn văn sử sụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về
mặt khoa học từng vấn đề tương ứng trong quy định của Bộ luật Hình sự nói
chung và những quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự nói riêng. Phương
pháp nghiên cứu được sử dụng là các phương pháp: so sánh, phân tích -
tổng hợp, thống kê; v.v Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các
văn bản pháp luật, những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo

4

cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tài liệu về cỏc vụ án hình sự trong
thực tiễn xét xử, cũng như những thông tin trên mạng internet để phân tích,
tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương
ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản
Chương 2: Thực tiễn áp dụng Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản và mét sè kiến nghị.

5
Chương 1
NHỮNG VẪN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN
HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ
luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý, xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
Các tội xâm phạm sở hữu được quy định trong Bộ luật Hình sự (gồm
13 tội danh) là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật Hình sự quy
định, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc
vô ý, xâm phạm các quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của công dân.
Căn cứ vào tính chất, mục đích phạm tội của các tội xâm phạm sở hữu, chúng
ta có thể chia 13 tội danh thuộc Chương XIV Bộ luật Hình sự 1999 thành hai
nhóm. Đó là nhóm các tội có mục đích tư lợi, tức có mục đích nhằm thu về
những lợi ích vật chất cho cá nhân hay nhóm cá nhân (gồm 10 tội danh đầu
của chương) và nhóm các tội không có mục đích tư lợi (gồm 3 tội danh còn
lại). Trong đó tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản thuộc nhóm

thứ hai, tức tội xâm phạm sở hữu không có mục đích tư lợi.
1.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI DANH
a. Giai đoạn trước khi có Bộ luật Hình sự 1985
Quá trình hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự
Việt Nam về tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản gắn liền với sự
hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn
phát triển của xã hội.
Trong những ngày đầu mới thành lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa vừa phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, vừa từng bước xây dựng

6
xã hội mới. Đặc điểm cơ bản của giai đoạn này là áp dụng pháp luật của đế quốc
và phong kiến theo tinh thần mới với nguyên tắc đảm bảo dân chủ, công bằng.
Bên cạnh đó, Nhà nước ta đã ban hành những văn bản pháp luật mới
quy định những hành vi xâm phạm đến sở hữu của Nhà nước và công dân,
góp phần bảo vệ các quan hệ xã hội tiến bộ trong xã hội mới. Tuy còn sơ khai
nhưng pháp luật hình sự thời kỳ này đã khái quát được những hành vi xâm
phạm sở hữu trong thực tế và quy định thành các tội phạm cụ thể làm cơ sở
cho Tòa án xét xử. Đồng thời các văn bản này còn quy định đường lối xử lý
các tội xâm phạm sở hữu trên nguyên tắc trừng trị kết hợp với khoan dung,
trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo, đã có sự cá thể hóa hình phạt đối với
các hành vi phạm tội.
Trong quá trình thụ lý giải quyết các cơ quan chức năng đã có những
văn bản hướng dẫn giải quyết các trường hợp cụ thể như: Báo cáo tổng kết
công tác của Tòa án nhân dân tối cao năm 1971, 1972; Thông tư 213/NCPL
ngày 5/5/1973 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao -
Bộ Công an.
- Về hình phạt: Tư tưởng chỉ đạo giai đoạn này là chú trọng bảo vệ tài
sản chung (tài sản xã hội chủ nghĩa) hơn tài sản riêng (tài sản tư nhân). Trước
khi có Bộ luật Hình sự năm 1985, các hình phạt không được quy định tập

trung, sắp xếp theo một trật tự nhất định và cũng không có tiêu chí đánh giá,
áp dụng thống nhất.
b. Giai đoạn từ 1985 đến 1999
Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 và có hiệu lực thi hành thống
nhất trong cả nước ngày 1/1/1986 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng về kỹ
thuật lập pháp hình sự nước ta. Trong đó các tội xâm phạm sở hữu được quy
định thành hai chương độc lập:

7
- Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa.
- Chương VI: Các tội xâm phạm sở hữu công dân.
Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định thành hai
điều: Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa quy định
tại Điều 138 thuộc Chương IV và tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng
tài sản của công dân Điều 160 thuộc chương VI Bộ luật Hình sự 1985.
Điều 138. Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa.
1- Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ
nghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 79 và Điều 94, thì bị phạt
tù từ một năm đến bảy năm.
Tội phạm này gồm 3 khung hình phạt
Trường hợp không có tình tiết định khung hình phạt mức phạt tù từ 1
năm đến 5 năm.
Trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng có mức phạt tù từ 5
năm đến 15 năm
Trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm
đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình
Điều 160. Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công
dân: "1- Người nào huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác
thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm".

Tội phạm này gồm 3 khung hình phạt
Trường hợp không có tình tiết định khung hình phạt mức phạt tù từ
6 năm đến 5 năm.
Trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng có mức phạt tù từ
3 năm đến 13 năm

8
Trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm
đến 20 năm.
Căn cứ vào các quy định tại Điều 138 và Điều 160 Bộ luật Hình sự
1985 ta thấy mức hình phạt của hai điều luật áp dụng để bảo vệ hai khách thể
của tội phạm có sự chênh lệch về tính nghiêm khắc của hình phạt, theo đó do
tầm quan trọng của tài sản xã hội chủ nghĩa là tài sản quốc gia nên người
phạm tội sẽ bị trừng trị nghiêm khắc hơn đối với những trường hợp phạm tội
hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân [16, tr. 292].
c. Giai đoạn từ năm 1999 đến nay
Xuất phát từ yêu cầu của xã hội, kinh tế đất nước chuyển sang nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, để đảm bảo và thực
hiện sự bình đẳng của các thành phần kinh tế, chính sách hình sự và pháp luật
hình sự cũng phải thay đổi. Bên cạnh đó, việc phân định hai hình thức sở hữu
để quy định thành hai khách thể bảo vệ độc lập là tài sản thuộc sở hữu xã hội
chủ nghĩa và tài sản thuộc sở hữu công dân theo quy định của Bộ luật Hình sự
1985 dẫn đến những khó khăn trong việc xác định tội danh. Bộ luật Hình sự
1999 được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 có hiệu lực ngày 1/7/2000
đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng và phát triển của
pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.
Là sự đúc kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, thể hiện
đường lối, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ phát
triển mới của đất nước. Bộ luật Hình sự 1999 đã nhập hai Chương IV và

Chương VI của Bộ luật Hình sự 1985 vào thành một chương (Chương XIV
Các tội xâm phạm sở hữu) với 13 tội danh.
Tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 143
Bộ luật Hình sự 1999 là tội được nhập từ tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng

9
tài sản của công dân quy định tại Điều 160 và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự 1985.
Điều 143. Téi hñy ho¹i hoÆc cè ý lµm h- háng tµi
s¶n
1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác
gây thiệt hại từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc
dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử
phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá
án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc
phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
c) Gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Để che giấu tội phạm khác;
đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;
e) Tái phạm nguy hiểm;
g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến
dưới hai trăm triệu đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
bảy năm đến mười lăm năm:
a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới
năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

10
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một
trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ một năm đến năm năm.
So với tội phạm này quy định ở Điều 138 và Điều 163 Bộ luật Hình sự
1985 thì Điều 143 Bộ luật Hình sự 1999 có nhiều điểm mới. Nếu trước đây
nhà làm luật không quy định định lượng đối với giá trị tài sản bị xâm hại. Bộ
luật Hình sự năm 1999 đã định lượng tài sản trong phần lớn các tội xâm phạm
sở hữu. Việc định lượng vừa phục vụ cho định tội, vừa phục vụ cho việc định
khung hình phạt. Do vậy, ranh giới giữa tội phạm và không phải tội phạm,
giữa cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng được phân biệt một cách rành
mạch, rõ ràng ngay trong Bộ luật Hình sự [5, tr. 292].
Trước sự biến động không ngừng của xã hội, việc sửa đổi, bổ sung các
quy định của Bộ luật Hình sự 1999 trở thành một yêu cầu thiết yếu. Bộ luật
Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung bằng Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Hình sự 1999. Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6
năm 2009, chính thức có hiệu lực kể từ 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2010.
Theo đó, kể từ khi Nghị quyết 33 của Quốc hội có hiệu lực người thực hiện
hành vi hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản chỉ bị coi là tội phạm
nếu giá trị tài sản bị xâm hại có giá trị từ 2.000.000 đồng (Điều 143 Bộ luật
Hình sự 1999 quy định chỉ coi là tội phạm khi tài sản bị hủy hoại hoặc làm hư
hỏng có giá trị từ 500.000đ trở lên). Theo tinh thần đó nếu tài sản dưới
2.000.000đ thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị


11
xử phạt hành chính về hành vi hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản,
hoặc đã bị kết án về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, chưa được
xóa án tích mà còn vi phạm, mới bị coi là tội phạm.
Tóm lại, để truy tố một người vì Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng
tài sản theo Điều 143 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi 2009, ngoài các yếu tố về
mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể thì nhà làm luật cũng có
những quy định cụ thể các điều kiện bắt buộc khác là:
- Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác
gây thiệt hại từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
- Hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng:
+ Gây hậu quả nghiêm trọng;
+ Hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này;
+ Hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Điều này khác với các tội danh khác như Cướp tài sản (Điều 133);
Cướp giật tài sản (Điều 136) cùng chương các tội xâm phạm sở hữu, do tính
chất nguy hiểm của hành vi khác nhau nên ở các tội danh trên chỉ cần có dấu
hiệu cướp tài sản hoặc cướp giật tài sản không cần biết giá trị tài sản bị xâm
hại là bao nhiêu, đối tượng phạm tội chỉ cần thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội cũng đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Ngoài các tình tiết định tội, nhà làm luật còn quy định thêm các tình
tiết là yếu tố định khung hình phạt. Hình phạt bổ sung cũng được quy định
ngay trong cùng điều luật.
1.2. CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI PHẠM
Về bản chất chính trị xã hội, bản chất pháp lý tội phạm là hiện tượng
được đặc trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi và tính trái pháp

12
luật hình sự. Về cấu trúc pháp lý tội phạm được hợp thành từ bốn yếu tố: chủ

thể, khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan của tội phạm. Tội hủy hoại
hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự 1999 là
một trong các tội thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu.
Theo nghĩa thông thường hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là hành
vi làm cho tài sản bị mất giá trị sử dụng hoặc làm giảm đáng kể giá trị sử dụng
của tài sản. Đây là tội phạm gồm hai hành vi độc lập, hành vi hủy hoại tài sản và
hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Nhưng do có cùng một tính chất là làm mất đi
giá trị hoặc giá trị sử dụng tài sản thuộc sở hữu của người khác, nên nhà làm luật
quy định chung trong cùng một điều luật. Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà
xác định người phạm tội hủy hoại tài sản hay tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
1.2.1. Khách thể của tội phạm
Tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu được thể hiện dưới dạng vật
chất, có giá trị hoặc giá trị sử dụng. Tài sản là thước đo giá trị sức lao động do
con người làm ra. Tài sản không có giá trị hoặc giá trị sử dụng sẽ không phải
là đối tượng tác động của tội phạm sở hữu [6, tr. 116]. Ví dụ: thuốc tân dược
nếu hết hạn sử dụng được mang đi tiêu hủy sẽ không là đối tượng của tội hủy
hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu phải có chủ sở hữu
cụ thể với các quy định có tính pháp lý thể hiện quyền chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản đó. Hành vi phạm tội khi xâm phạm
quyền sở hữu phải tác động tới những tài sản đã được xác lập quyền sở hữu
bằng những quy định pháp lý. Vì vậy, chỉ những tài sản nào có chủ sở hữu cụ
thể mới là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu. Các hành vi xâm
phạm tới tài sản vô chủ sẽ không cấu thành tội phạm hoặc cấu thành tội phạm
khác chứ không cấu thành các tội xâm phạm sở hữu nói chung cũng như tội
hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riêng.

13
Việc xác định tài sản nào là khách thể của tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý
làm hư hỏng tài sản với tài sản là khách thể của tội phạm khác trong nhiều trường

hợp cần có sự hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền. Nếu tài sản bị hủy
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng là tài sản thông thường thì xử lý theo Điều 143,
nhưng nếu tài sản đó là tài sản là khách thể của một tội phạm khác được quy
định trong một điều luật khác thì sẽ được xử lý theo điều luật tương ứng. Ví
dụ, Điều 231 tội phá hủy các công trình, phương tiện quan trọng về an ninh
quốc gia thuộc sở hữu nhà nước, khách thể của tội phạm này cũng là tài sản
nhưng là các loại tài sản có tầm quan trọng đối với an ninh quốc gia.
Khách thể của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản không xâm
phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng
là một điểm khác với một số tội xâm phạm sở hữu khác. Tội phạm được thực
hiện bằng hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản, xâm phạm trực tiếp đến
quyền sở hữu của công dân, tập thể, Nhà nước.
Ví dụ: Tội cướp tài sản quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự, khi
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội người phạm tội phải xâm phạm các
quan hệ nhân thân trước sau đó mới xâm phạm quan hệ sở hữu, vì phải có
hành vi dùng vũ lực uy hiếp mới chiếm đoạt được tài sản. Còn trong quy định
của Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản thì quan hệ sở hữu bị xâm hại
trước, tùy từng trường hợp phạm tội cụ thể quan hệ nhân thân mới xác lập.
Đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội hủy hoại tài sản hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là
tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản mà gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe
của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà xác định người phạm tội đã
gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Nếu hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản mà nhằm mục đích xâm phạm đến
tính mạng người khác thì hành vi đấy trở thành thủ đoạn của hành vi giết người.

14
1.2.2. Các dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm
Do điều luật quy định hai hành vi phạm tội khác nhau, gồm hành vi

hủy hoại và hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản, nên mỗi hành vi phạm tội có
hành vi khách quan khác nhau.
- Mặt khách quan của tội hủy hoại tài sản là hành vi làm cho tài sản
mất hẳn giá trị sử dụng, không thể khôi phục lại được hoặc khó có thể khô
phục lại được và như vậy toàn bộ giá trị tài sản không còn. Ví dụ: Đốt cháy
một căn nhà, đập nát một chiếc xe ô tô.
Hành vi có thể được thực hiện dưới dạng hành động (đập, phá, đốt…)
và không hành động (bắt buộc phải bảo dưỡng máy móc theo định kỳ, nhưng
cố tình không làm, dẫn đến máy móc không còn khả năng sử dụng…). Hành
vi hủy hoại tài sản có thể được thực hiện bằng những phương pháp, phương
tiện hoặc công cụ khác nhau, hoặc sử dụng hóa chất để thực hiện hành vi hủy
hoại [30, tr. 397].
Ví dụ: theo Bản án số 04/2009/HSST ngày 27/5/2009 của Tòa án nhân
dân huyện Tân Uyên, Tỉnh Lai Châu về vụ án Hoàng Văn Béo (1958) can tội
hủy hoại tài sản tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Bị cáo Hoàng Văn Bèo
có ruộng ở khu vực đầu nguồn nước tại bản Nà Giàng, Tân uyên, Lai Châu,
trong thời gian làm ruộng và thả cá, ruộng của Bèo thường xuyên bị tháo trộm
nước, nhưng không biết là ai. Do bực tức nên ngày 1/3/2009 bị cáo Bèo lấu
06 gói thuốc trừ nấm bệnh dùng để phun cho cây chè, nhãn hiệu ANTRACOL
mang ra ruộng rồi đổ 5 gói xuống ruộng thả cá nhà mình, còn 1 gói đổ xuống
mương nước tưới tiêu của bản Nà Giàng với mục đích làm chết hết cá của
những hộ dân phía dưới nguồn nước mà bị cáo nghi họ tháo trộm nước ở
ruộng nhà mình, ngay khi đó con gái bị cáo là Hoàng Thị Nguyệt đã phát
hiện, can ngăn bị cáo và chạy đi báo cho người trong bản biết. Hậu quả xảy ra
là ruộng nhà ông Lò Văn Chài đang thả cá ở cùng bản Nà Giàng phía dưới
ruộng nhà Bèo bị chết 8kg cá chép và 330 con cá Vược. Bản Kết luận định

15
giá tài sản số 06 ngày 12/3/2009 kết luận tổng thiệt hại là 888.000đồng; vật
chứng của vụ án được thu giữ, bản thân quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị

cáo Bèo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; gia đình bị
cáo cũng đã bồi thường thiệt hại là 950.000đồng. Tòa án nhân dân huyện Tân
Uyên xử Hoàng Văn Bèo 6 tháng tù giam.
Hậu quả của tội hủy hoại tài sản là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội
phạm, tội phạm chỉ coi hoàn thành khi có hậu quả xảy ra. Để truy cứu trách
nhiệm hình sự phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi hủy hoại
tài sản và hậu quả xảy ra, nghĩa là thiệt hại đó do chính hành vi hủy hoại tài
sản gây ra.
Người có hành vi hủy hoại tài sản chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
khi thiệt hại tài sản bị hủy hoại có giá trị từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ,
nếu dưới 2.000.000đ thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng
(căn cứ xác định hậu quả nghiêm trọng được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch
số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm
2001 về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV "Các tội
xâm phạm sở hữu" của Bộ luật Hình sự năm 1999); đã bị xử lý hành chính về
hành vi này (hành vi hủy hoại tài sản) mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này
chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Theo quy định tại khoản Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành
chính 2002 (sửa đổi bổ sung 2008): "Xử phạt vi phạm hành chính được áp
dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ
chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản
lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải
bị xử phạt hành chính". Trong trường hợp này, người phạm tội đã bị cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại tài
sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản đã thực hiện trước đây, hiện lại tiếp tục thực
hiện hành vi hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản thì dù thiệt hại

16
xảy ra dưới 2.000.000 đồng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về Điều 143
Bộ luật Hình sự.

Xóa án tích là trường hợp người phạm tội được công nhận coi như
chưa bị kết án mà trước khi có sự công nhận này người đó đã bị Tòa án kết
tội. Theo quy định của khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự người đã bị kết án
về tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm, thì dù thiệt hại xảy ra dưới 2.000.000 đồng vẫn phải chịu
trách nhiệm hình sự về Điều 143 Bộ luật Hình sự.
Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về cùng hành vi hoặc đã bị
kết án nhưng chưa được xóa án tích về cùng hành vi phạm tội, mà lại tiếp tục
vi phạm, thể hiện nhận thức của người phạm tội đối với hành vi đã gây ra, mà
vẫn tiếp tục thực hiện hành vi thì cần phải xử lý nghiêm khắc hơn những
trường hợp khác.
- Mặt khách quan của tội cố ý làm hư hỏng tài sản:
Tội cố ý làm hư hỏng tài sản có tính chất gần giống với tội hủy hoại
tài sản, hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi cố ý làm giảm đi giá trị sử
dụng của tài sản vì giá trị sử dụng chỉ bị giảm, do đó có thể khôi phục được
(một phần hoặc như cũ).
Ví dụ: Ngày 8/8/2008, nghe tin có người dựng chòi tại phần đất của
mình đang khiếu nại, Trần Thanh Việt, Nguyễn Thị Thắng, Tô Thanh Hương,
Nguyễn Thị Nữa và Dương Thị Tiền đến khu vực kênh Năm Ngàn (huyện
Phước Long, tỉnh Bạc Liêu). Khi đến nơi, thấy căn chòi, Việt và mọi người
xông vào đập. Sau khi phá vỡ lá lợp nửa căn chòi, cả nhóm tháo dỡ một vài
nẹp cây dựng vách, ba cây đòn tay rồi ra ngoài đứng la lối. Sau khi xảy ra
vụ việc, đại diện chính quyền đến lập biên bản. Ngày 1/9/2008, Công an
huyện có quyết định khởi tố vụ án, 5 người về hành vi cố ý làm hư hỏng tài
sản. Tổng giá trị nửa cái chòi là 1.100.000 triệu đồng.

17
Sự khác nhau giữa hai hành vi hủy hoại tài sản và cố ý làm hư hỏng
tài sản là ở mức độ giá trị tài sản bị mất đi, đối với tội hủy hoại tài sản giá trị
sử dụng tài sản bị mất hoàn toàn hoặc khó có thể khôi phục lại như cũ; còn ở

tội cố ý làm hư hỏng tài sản giá trị tài sản bị chỉ bị mất đi ở mức độ nhất định
và còn có khả năng khôi phục lại được. Hậu quả của tội hủy hoại tài sản là tài
sản bị hủy hoại, còn ở tội cố ý làm hư hỏng tài sản là tài sản bị hư hỏng. Các
dấu hiệu của mặt khách quan tội cố ý làm hư hỏng tài sản tương tự mặt khách
quan tội hủy hoại tài sản.
Để truy cứu trách nhiệm hình sự phải xác định mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản và hậu quả xảy ra, nghĩa là thiệt hại đó
do chính hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản gây ra.
Trong chừng mực nhất định thì sự phân biệt rạch ròi hành vi hủy hoại
tài sản với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản không phải trong trường hợp nào
cũng được xác định khác nhau hoàn toàn. Sự khác biệt giữa hủy hoại tài sản
và cố ý làm hư hỏng tài sản chủ yếu căn cứ vào hậu quả của hành vi gây ra
đối với tài sản, nếu tài sản bị hư hỏng hoàn toàn không có khả năng khôi phục
thì coi là hủy hoại tài sản, nếu tài sản không bị mất hẳn giá trị sử dụng và có
khả năng khôi phục lại toàn bộ hoặc một phần giá trị sử dụng thì coi là cố ý
làm hư hỏng tài sản. Hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được
thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào thủ đoạn mà
người phạm tội thực hiện.
Thực tế có nhiều trường hợp không xác định được tội danh khác
nhưng đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
thì cơ quan có chức năng áp dụng Điều 143 Bộ luật Hình sự:
Ví dụ: Sáng 14/3/08, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp
Chàm (Ninh Thuận) xét xử sơ thẩm vụ án "Cố ý làm hư hỏng tài sản" từng
gây xôn xao dư luận ở địa phương. Bị cáo Nguyễn Văn Hùng (còn gọi Hùng

18
Thắng, 55 tuổi, chủ quán Phong Hải ở thôn Cà Đú 2, xã Thành Hải, thành phố
Phan Rang, Tháp Chàm) và người bị hại là ông già xe ôm Nguyễn Văn Sanh.
Theo hồ sơ, ngày 10/5/2007, Mỹ Ngọc (thôn Sơn Hải 1, xã Phước Dinh,
huyện Ninh Phước) được chủ quán Hùng Thắng thuê đứng quầy tại quán

Phong Hải. Nhưng ngay sau khi đến quán, Mỹ Ngọc thấy ông chủ Hùng
Thắng và quán Phong Hải có biểu hiện không bình thường nên tìm cách thoát
thân. Mỹ Ngọc được ông già xe ôm Nguyễn Văn Sanh chở đi thì bị Hùng
Thắng dùng xe ô tô truy đuổi, khi ông Sanh bỏ xe mô tô leo lên đống đá bên
đường thì Hùng Thắng cho xe ô tô cán lên xe của ông, gây thiệt hại trên
600.000 đồng. Tại phiên tòa, ông Sanh đề nghị làm rõ hành vi cố ý giết người
của Hùng Thắng. Tuy nhiên do căn cứ buộc tội không đầy đủ nên không thể
truy tố Hùng Thắng tội giết người. Tòa tuyên phạt bị cáo Hùng Thắng 15 tháng
tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng theo khoản 1, điều 143
Bộ luật Hình sự; đồng thời tuyên tịch thu xe ô tô 85Y- 0284 của bị cáo sung
vào công quỹ Nhà nước.
Trường hợp có hành vi hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
mà tài sản đó là đối tượng tác động của các tội khác đã được nêu ở các điều luật
khác trong Bộ luật Hình sự thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo Điều 143 Bộ luật Hình sự 1999 mà tùy từng trường hợp cụ thể,
người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng,
như tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 188); tội hủy hoại rừng (Điều 189);
tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231).
Tóm lại, hậu quả của hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
là giá trị hoặc giá trị sử dụng của tài sản đã bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng do
hành vi hủy hoại hay hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản gây ra. Giá trị hoặc giá
trị sử dụng của tài sản là thiệt hại do hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng
gây ra chứ không phải là giá trị hoặc giá trị sử dụng ban đầu của tài sản khi
chưa bị hủy hoại hoặc làm hư hỏng. Ví dụ: chiếc xe máy có giá trị

19
30.000.000đ bị hư hỏng phải sửa chữa hết 4.000.000đ thì hậu quả do hành vi
cố ý làm hư hỏng tài sản là gây thiệt hại 4.000.000đ chứ không phải là
30.000.000đ.
Tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung 2009 thì

thiệt hại phải từ 2.000.000đ trở lên thì người phạm tội mới bị truy cứu trách
nhiệm hình sự, nếu dưới 2.000.000đ thì phải gây ra hậu quả nghiêm trọng
hoặc người có hành vi phải là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi hủy
hoại hoặc làm cố ý làm hư hỏng tài sản, hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa
được xóa án tích.
Như vậy, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có cấu thành tội
phạm vật chất, tức là phải có hậu quả là thiệt hại về tài sản xảy ra mới cấu
thành tội phạm, vì vậy đối với loại tội phạm này vấn đề các giai đoạn chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt không phải là yếu tố cấu thành tội phạm mà chỉ
là những tình tiết định khung hay tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
1.2.3. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm
Đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, chủ thể của tội
phạm cũng tương tự như đối với tội xâm phạm sở hữu, đó là: những người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ
độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở kết quả các công trình nghiên cứu,
khảo sát về tâm lý cũng như căn cứ vào chính sách hình sự của đất nước đã
quy định tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi có năng lực
trách nhiệm hình sự tại Điều 12, Điều 13 Bộ luật Hình sự.
- Năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã
hội của hành vi và năng lực điều khiển được hành vi theo đòi hỏi tất yếu của
xã hội và khả năng lựa chọn xử sự khác không nguy hiểm cho xã hội. Điều đó
có nghĩa tại thời điểm gây ra hành vi hủy hoại hoặc làm cố ý làm hư hỏng tài

20
sản, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình đang xâm phạm vào
quyền sở hữu của người khác và vẫn có khả năng điều khiển hành vi của mình.
Trường hợp người phạm tội không có năng lực trách nhiệm hình sự theo
Điều 13 Bộ luật Hình sự 1999 sẽ không phải là chủ thể của tội phạm nói chung
cũng như Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riêng. Vì thứ nhất, họ

không nhận thức được hành vi của mình, thứ hai họ không đủ minh mẫn khi điều
khiển hành vi. Ví dụ: người bị mắc bệnh tâm thần phân liệt khi lên cơn bệnh họ
không làm chủ được hành vi cũng như nhận thức được sự vật, hiện tượng xung
quanh, hoạt động của họ trong trường hợp này là do bản năng và hành vi không
được kiểm soát nên dễ dẫn đến việc đập phá đồ đạc, gây thương tích hoặc giết
chết người khác. Với những người này, khi đã có kết luận giám định tâm thần,
đủ căn cứ xác định bệnh lý thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, theo quy định tại Điều 12 Bộ
luật Hình sự 1999 thì:
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về
mọi tội phạm.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [18].
Nếu theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 143 với khung hình
phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm (khoản 1 Điều 143) và từ 2 năm đến 5 năm
(khoản 2 Điều 143) thì người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không
phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này vì hai khoản này chỉ là tội
phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng;
Nhưng người phạm tội từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm này theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 của điều luật vì
hai khoản này là tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

×