Tải bản đầy đủ (.pdf) (106 trang)

Tăng thẩm quyền cho kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (929.5 KB, 106 trang )




ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



TRẦN MẠNH ĐÔNG




TĂNG THẨM QUYỀN CHO KIỂM SÁT VIÊN
TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH
SỰ
MỘT YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA TIẾN TRÌNH
CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM




luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc






Hµ néi - 2009






1
MỤC LỤC



Trang

Trang phụ bìa


Lời cam đoan


Mục lục


Danh mục các bảng


MỞ ĐẦU
1

Chương 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN
HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG CẢI CÁCH TƢ PHÁP
7

1.1.
Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong
quá trình tiến hành tố tụng hình sự
7
1.1.1.
Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự
7
1.1.2.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng
hình sự
11
1.2.
Những yêu cầu đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp liên quan đến
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
28
1.2.1.
Những yêu cầu về đổi mới bộ máy tổ chức các cơ quan tư pháp nói
chung và Cơ quan Viện kiểm sát nói riêng liên quan đến Kiểm sát viên
28
1.2.2.
Những yêu cầu về tố chất bên trong Kiểm sát viên đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp hiện nay khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
của mình
33

Chương 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ
TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ
37
2.1.

Khái quát về hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân và tình hình
chung về đội ngũ Kiểm sát viên của Viện kiểm sát ở giai đoạn hiện nay
37
2.2.
Tình hình Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
40


2
tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm
2.2.1.
Những kết quả đạt được trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của Kiểm sát viên
40
2.2.2.
Những tồn tại, thiếu sót trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của Kiểm sát viên
51
2.2.3.
Những nguyên nhân gây nên những tồn tại, thiếu sót trong thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
65

Chương 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUYỀN
HẠN CHO KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN
HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ
80
3.1.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tăng quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm
sát viên trong hoạt động tố tụng hình sự

81
3.2.
Bồi dưỡng, đào tạo, bổ sung những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ liên
quan đến tăng quyền hạn, trách nhiệm cho Kiểm sát viên
86
3.3.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc thực hiện quyền hạn, trách
nhiệm của đội ngũ Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng
88
3.4.
Tăng cường trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện công tác đối với
đội ngũ Kiểm sát viên
89
3.5.
Hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng nói chung và của Viện kiểm sát nói riêng
90

KẾT LUẬN
97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
99




3





DANH MỤC CÁC BẢNG


Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1.
Số lượng án hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân các cấp
trên toàn quốc đã thụ lý và giải quyết
41
2.2
Số lượng án hình sự Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh trên toàn
quốc đã xét xử sơ thẩm
45
2.3
Số lượng các vụ án mà tòa án cấp trên hủy án sơ thẩm
61
















4
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Viện kiểm sát, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, thực hiện
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp và thực
hành quyền công tố.
Tuy nhiên, người thực hiện chức năng của Viện kiểm sát chính là Kiểm
sát viên. Hay nói cách khác, những thành công cũng như những thất bại của Viện
kiểm sát trong thực hiện chức năng của mình đều phụ thuộc vào thái độ, trách
nhiệm, năng lực, trình độ, phẩm chất, đạo đức… của Kiểm sát viên. Chính vì vậy,
Kiểm sát viên giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ quan Viện kiểm sát các cấp.
Nếu so sánh với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và các
văn bản pháp luật có liên quan, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những
quy định về quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát nói chung, Kiểm sát viên
nói riêng đã rõ ràng hơn theo hướng từng bước tăng thẩm quyền cho Kiểm sát
viên trong quá trình tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án hình sự.
Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Kiểm sát viên.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên cho thấy,
những quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự chưa bảo đảm được yêu
cầu để Viện kiểm sát chủ động thực hiện đúng chức năng của mình trong tình
hình án hình sự ngày một tăng lên và tính phức tạp ngày càng cao. Đã xuất
hiện nhiều vướng mắc, bất cập trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự
mà lẽ ra, đã không xảy ra nếu các Kiểm sát viên được trang bị các quyền năng

pháp lý một cách đầy đủ, hoàn thiện hơn. Thấy được tình hình này, trong
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ ra sự cần thiết phải:


5
… Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách
nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo
hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát
viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng
cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật…[11].
Như vậy, vấn đề tăng thẩm quyền cho những người tiến hành tố tụng
nói chung, trong đó có Kiểm sát viên là yêu cầu bức thiết đặt ra đối với những
người tiến hành tố tụng nói chung và Kiểm sát viên nói riêng. Điều này đặt ra
sự cần thiết nghiên cứu để đưa ra những đề xuất hoàn thiện pháp luật tố tụng
hình sự về thẩm quyền của Kiểm sát viên. Đó là lý do tại sao tác giả chọn đề
tài: "Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng
hình sự - một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam"
làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một
cách đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm sát viên trong tố
tụng hình sự để đưa ra đề xuất liên quan đến tính hợp lý trong những quy định
của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên nói
chung và tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Kiểm sát viên nói riêng. Tuy
nhiên, có một số đề tài nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này. Ví dụ, đề tài
khoa học cấp Bộ của TS. Lê Hữu Thể, Viện Nghiên cứu khoa học Kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân tối cao: "Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều
tra các vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính

trị". Đây là một công trình khoa học được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu các
quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 nhằm luận giải cơ sở pháp lý và vai trò của Viện kiểm
sát trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư


6
pháp trong giai đoạn điều tra; đánh giá khái quát thực tiễn hoạt động thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong những năm qua
nhằm phân tích tìm ra những nguyên nhân của các kết quả và những mặt còn
hạn chế. Qua đó tác giả đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và
hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002. Luận văn thạc sĩ luật học của Phương Lan về: "Tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa trong giải quyết các vụ án hình sự của Viện kiểm
sát nhân dân cấp huyện ở Hà Nội", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(2004). Đây được coi là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên về tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở Hà Nội. Nội dung nghiên cứu của luận
văn tập trung vào việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận về pháp chế xã hội chủ nghĩa
nói chung và pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc giải quyết vụ án hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nói riêng; đánh giá thực trạng pháp chế
trong hoạt động giải quyết các vụ án hình sự của các Viện kiểm sát cấp huyện
trên địa bàn thành phố Hà Nội, qua đó đề xuất phương hướng và một số giải
pháp góp phần tăng cường pháp chế trong việc giải quyết vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả, được biết cũng chưa có bài
viết nào đăng trên các tạp chí pháp lý đề cập vấn đề tăng thẩm quyền cho
Kiểm sát viên. Trong một số cuộc hội thảo khoa học do Viện kiểm sát chủ trì
cũng như trong nhiều báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát hàng năm đều ghi

nhận, bên cạnh những thành tích đạt được trong thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp, đội ngũ Kiểm sát viên Viện kiểm sát còn có nhiều
vấn đề. Ví dụ, nhận xét của Viện kiểm sát cho rằng, đội ngũ Kiểm sát viên
hiện nay còn nhiều yếu kém: ý thức trách nhiệm của một bộ phận Kiểm sát
viên chưa cao; năng lực, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, của nhiều Kiểm sát
viên còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay; việc quản lý, chỉ đạo,


7
điều hành kiểm tra của Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới
chưa được quan tâm đúng mức; công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp
với các cơ quan tiến hành tố tụng trong nhiều lĩnh vực còn chưa kịp thời; công
tác phối hợp, chỉ đạo giải quyết án còn yếu. Trong đội ngũ Kiểm sát viên còn
một bộ phận sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp, nên đã
có người vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật đến mức bị truy cứu trách
nhiệm hình sự. Trung bình mỗi năm có khoảng 40 đến 50 trường hợp Kiểm
sát viên vi phạm pháp luật khi thực thi nhiệm vụ đến mức phải xử lý. Nguyên
nhân gây nên tình trạng này có nhiều, nhưng nguyên nhân cơ bản vẫn là quy
định của pháp luật tố tụng hình sự chưa được đầy đủ, rõ ràng, trong khi đó,
không ít Kiểm sát viên không nắm vững quy định của pháp luật nên đã mắc
vào các sai phạm trong thực thi nhiệm vụ của mình. Do vậy, có thể coi đây là
nghiên cứu đầu tiên về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên và
vấn đề tăng thẩm quyền cho họ trong thực thi nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư
pháp và thực hành quyền công tố nhà nước trong tố tụng hình sự, đáp ứng yêu
cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta đến năm 2020.
3. Mục đích, nội dung nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu đề tài này là làm rõ được những bất cập
trong những quy định hiện nay về Kiểm sát viên, trên cơ sở đó đưa ra những
đề xuất về tăng thẩm quyền tố tụng cho Kiểm sát viên khi họ thực thi nhiệm
vụ của tố tụng hình sự đặt ra, liên quan đến Viện kiểm sát để họ có đầy đủ

điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó trong
giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Nội dung nghiên cứu đề cập đến khái niệm, đối tượng, phạm vi quyền
hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự, đi sâu phân tích các
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; thực trạng tình hình thực hiện
quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự; đề xuất giải
pháp hoàn thiện về vấn đề này.


8
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đi sâu nghiên cứu về quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm của
Kiểm sát viên thuộc cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình tiến hành
tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ở các giai
đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Qua đó phân tích, đánh giá, liên hệ
với thực tiễn, đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm luận chứng cho việc cần tăng
cường và hoàn thiện các quyền năng và trách nhiệm pháp lý của Kiểm sát
viên tại các giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản nêu trên nhằm hoàn thiện quyền
năng pháp lý cho Kiểm sát viên khi tiến hành tố tụng hình sự.
Luận văn không đề cập tới vấn đề:
- Hệ thống Viện kiểm sát quân sự;
- Các chức danh Viện trưởng, Phó Viện trưởng cơ quan Viện kiểm sát
nhân dân trong và ngoài quá trình tiến hành tố tụng
- Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án, thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử
phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước ta về tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp, về mối quan hệ giữa

các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự, về yêu cầu đấu
tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền,
về cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
về yêu cầu đặt ra của quá trình cải cách tư pháp…
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên
cứu cụ thể khác như: thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, phương pháp lịch


9
sử, phương pháp khảo sát thực tiễn, tham khảo ý kiến của các cán bộ tiến
hành tố tụng ở các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là các Kiểm sát viên
trong ngành Kiểm sát nhân dân đã có bề dày thực tiễn trong tiến hành tố tụng
hình sự.
6. Những đóng góp của luận văn
Có thể coi những nội dung sau đây được đề cập trong luận văn là
những đóng góp cho khoa học luật tố tụng hình sự hiện nay:
- Phân tích một cách có căn cứ khoa học về chức năng, nhiệm vụ
quyền hạn của Kiểm sát viên được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và
các văn bản pháp luật có liên quan cũng như thực tế áp dụng pháp luật hiện
nay; những bất cập trong các quy định này, gây nên những trở ngại cho Kiểm
sát viên khi thực hiện nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự;
- Những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, góp
phần vào việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân trong thời gian tới theo tinh thần cải cách tư pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm
sát viên trong tố tụng hình sự và những yêu cầu đặt ra trong cải cách tư pháp.
Chương 2: Tình hình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm

của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự.
Chương 3: Những kiến nghị, giải pháp tăng cường quyền hạn cho
Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự.


10
Chương 1
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG CẢI CÁCH TƢ PHÁP

1.1. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1. Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự
Trong khoa học pháp lý nói chung, vị trí, vai trò của một chủ thể quan
hệ pháp luật (cơ quan, tổ chức, cá nhân…) được hiểu là tổng hợp các quy định
của pháp luật làm cơ sở cho sự tồn tại, tổ chức, hoạt động cũng như thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của chủ thể đó; làm căn cứ để phân biệt, tạo nên sự độc
lập của chủ thể đó so với các chủ thể khác.
Về nguyên tắc cũng như theo lôgích của vấn đề thì vị trí, vai trò của
Kiểm sát viên phải thống nhất, không thể tách rời vị trí, vai trò của hệ thống
cơ quan Viện kiểm sát nhân dân nói chung. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự
cũng vậy, quá trình hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình,
Viện kiểm sát nhân dân không thể triển khai tác nghiệp tập thể mà phải thông
qua những cá nhân đại diện thường xuyên. Những mà cá nhân này chính là
những Kiểm sát viên được phân công thực hiện nhiệm vụ trong từng giai
đoạn, từng công việc cụ thể thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát.
Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
đã được sửa đổi, bổ sung và theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2002 thì Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc tập trung

thống nhất theo ngành dọc, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có vị trí độc lập
về tổ chức và hoạt động trong của bộ máy nhà nước để thực hiện chức năng
thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt
động tư pháp nói chung.


11
Trong tố tụng hình sự ở nước ta, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân
dân nói chung và của Kiểm sát viên nói riêng được ghi nhận, thể hiện trong
các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành. Trước hết, theo quy định
của Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Viện kiểm sát là một trong
những cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và Kiểm sát viên là một trong những
người tiến hành tố tụng. Đồng thời theo quy định tại Điều 23 Bộ luật tố tụng
hình sự thì:
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình
sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án. Viện
kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có
trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ
việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này. Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều
phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội
phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [30].
Như vậy, để Viện kiểm sát thực hiện được chức năng nhiệm vụ nêu
trên, Kiểm sát viên chính là người đại diện cho Viện kiểm sát để thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng
đối với vụ án hình sự cụ thể mà Kiểm sát viên được phân công. Kiểm sát viên

phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về
những hành vi và quyết định của mình. Để hiểu rõ hơn vị trí, vai trò của Kiểm
sát viên cần thiết phải thống nhất quan điểm về quyền công tố, thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định phạm vi quyền
công tố và thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan


12
trọng. Giải quyết được rõ ràng, rành mạch vấn đề trên giúp cho việc nhận
thức đầy đủ, chính xác vị trí, vai trò của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong
tố tụng hình sự. Các tài liệu pháp lý ở nước ta hiện nay chỉ đề cập đến vấn đề
quyền công tố và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Khái niệm
thực hành quyền công tố cũng như nội dung, phạm vi, mối quan hệ giữa thực
hành quyền công tố với thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động tư pháp còn ít được đề cập. Một số chuyên đề gần đây ở Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và một số Viện kiểm sát nhân dân địa phương khi
đề cập đến hoạt động thực hành quyền công tố cũng mới chỉ đưa ra được một
số biện pháp pháp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình
sự như: kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát thi hành án.
Những vấn đề liên quan đến quyền công tố, thực hành quyền công tố,
chúng tôi đồng ý với những quan điểm đưa ra của TS. Lê Hữu Thể và TS. Trần
Văn Độ. Theo tác giả Lê Hữu Thể:
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này
thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện
(ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát). Để phát hiện tội phạm và truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều
này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách
nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định

tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can
ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [32].
Và theo TS. Trần Văn Độ khi đưa ra quan điểm về thực hành quyền
công tố của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân thì cho rằng: "Thực hành
quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa
người phạm tội ra xét xử trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó" [12].


13
Theo Điều 137 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi thì kiểm sát các hoạt
động tư pháp là một chức năng của Viện kiểm sát. Chức năng này là một
dạng giám sát nhà nước về tư pháp. Đây là hoạt động mang tính quyền lực
Nhà nước. Khác với hoạt động giám sát khác của Nhà nước, kiểm sát các hoạt
động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư
pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp và đương nhiên,
giám sát các hoạt động tư pháp hình sự là một phần công việc thực hiện chức
năng kiểm sát của Viện kiểm sát. Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự,
mục đích của kiểm sát là nhằm bảo đảm cho pháp luật được áp dụng nghiêm
chỉnh và thống nhất ở các quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Trong các giai
đoạn tố tụng đã nêu, Viện kiểm sát áp dụng những biện pháp do Bộ luật tố
tụng hình sự quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan tư
pháp hoặc cán bộ tư pháp nào. Đối tượng của kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong các hoạt động tư pháp ở các giai đoạn tố tụng từ điều tra đến xét xử
là hành vi xử sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra, của cơ quan Tòa án cùng cấp với Hội
đồng xét xử tương ứng với nó, của những cá nhân tiến hành tố tụng như Điều
tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân, Thư ký Tòa án, của những cá nhân
và tổ chức khác khi tham gia tố tụng hình sự. Cụ thể hơn, đối tượng kiểm sát
các hoạt động tư pháp hình sự của Viện kiểm sát chủ yếu tập trung vào hoạt

động áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thẩm
quyền thực hiện một số hoạt động tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự.
Theo các quy chế hiện hành do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban
hành về công tác kiểm sát điều tra, xét xử đang được áp dụng cho toàn ngành
kiểm sát, cũng như theo kết quả các công trình nghiên cứu về khoa học công
tác kiểm sát thì phạm vi của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt
động tư pháp hình sự bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi tố (một số
trường hợp có thể được tiến hành trước khi khởi tố như việc áp dụng biện
pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ v.v…) và kết thúc khi
người phạm tội đã thi hành xong bản án.


14
Như vậy, để quyền công tố và thực hành quyền công tố có hiệu quả cũng
như kiểm sát hoạt động tư pháp một cách hữu hiệu, ngăn chặn và khắc phục kịp
thời những sai sót trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát là chủ thể
duy nhất. Những kết quả đã đạt được trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói
chung, giải quyết vụ án hình sự nói riêng (như thực hiện quyền kiểm sát việc
khởi tố vụ án, phê chuẩn việc khởi tố bị can, đảm bảo tính căn cứ và hợp pháp
của các quyết định khởi tố, truy tố; từ chối không phê chuẩn các quyết định khởi
tố bị can, hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án và quyết định không khởi tố vụ án
không có căn cứ, từ chối phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai
đoạn điều tra; đưa ra các kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm v.v… đã
thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong hoạt động tố tụng hình sự, xóa được
mặc cảm của xã hội cho rằng, việc làm của Viện kiểm sát là hợp thức hóa các
hoạt động điều tra, xét xử v.v…), cũng như những sai lầm mắc phải của Viện
kiểm sát (như một số Kiểm sát viên chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án liên quan
đến khởi tố vụ án và phê chuẩn quyết định khởi tố bị can nên không phát hiện
được hồ sơ còn thiếu những chứng cứ quan trọng hoặc có vi phạm thủ tục tố

tụng; năng lực chuyên môn của không ít Kiểm sát viên còn yếu, rất lúng túng khi
áp dụng pháp luật vào từng vụ án cụ thể; chất lượng các văn bản pháp lý chưa
cao, như việc buộc tội bị can trong Bản cáo trạng còn chưa chặt chẽ, thiếu tính
thuyết phục, có trường hợp viện dẫn điều khoản áp dụng chưa chính xác v.v…)
đều bắt nguồn từ những việc làm của Kiểm sát viên. Từ điều này cho thấy,
Kiểm sát viên giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong tố tụng hình sự.
1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
trong tố tụng hình sự
Theo quy định của Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì Kiểm
sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ và
quyền hạn: kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập


15
hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra; đề ra yêu cầu điều tra; triệu tập và hỏi cung
bị can, triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam; tham gia phiên tòa; đọc cáo trạng, quyết
định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra chứng cứ
và thực hiện việc luận tội; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh
luận với những người tham gia tố tụng tại phiên tòa; kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án, của những người tham gia tố tụng
và kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án; kiểm sát việc thi hành bản án,
quyết định của tòa án; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm
quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát.
Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi và quyết định của mình.
Nghiên cứu toàn bộ Bộ luật tố tụng hình sự cho thấy, đây là điều luật
duy nhất quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Kiểm sát viên. Tuy

nhiên, trong Bộ luật tố tụng hình sự (các điều 112, 113) cũng như trong Luật
tổ chức Viện kiểm sát (các điều 17, 18, 19), mặc dù không nêu rõ về quyền,
nghĩa vụ, trách nhiệm của Kiểm sát viên, nhưng những quy định về Viện
kiểm sát cũng có nghĩa nêu về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Kiểm sát
viên vì đại diện cho Viện kiểm sát chính là Kiểm sát viên. Ví dụ, Điều 112 Bộ
luật tố tụng hình sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra: khi thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau
đây: khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố
hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định
của Bộ luật này; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành
điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra
theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi
Điều tra viên theo quy định của Bộ luật này; nếu hành vi của Điều tra viên có


16
dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc
hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác;
quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan
điều tra theo quy định của Bộ luật này. Trong trường hợp không phê chuẩn thì
trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do; hủy bỏ các quyết định
không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều
tra truy nã bị can; quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm
đình chỉ vụ án. Hoặc Điều 113 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
sát khi kiểm sát điều tra: khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện kiểm
sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát
các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp
về thẩm quyền điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp

luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần
thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan
điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến
hành điều tra; kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp
phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Như vậy, các Điều 112, 113 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định
nhiệm vụ, quyền hạn chung của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân với tư cách
là một cơ quan tiến hành tố tụng. Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, Viện kiểm sát phải thông qua các Kiểm sát viên với tư cách là người
tiến hành tố tụng trong các giai đoạn tố tụng hình sự. Đến lượt mình, các
Kiểm sát viên lại được trang bị các quyền hạn và giao nhiệm vụ cụ thể theo
quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự. Như vậy, mối quan hệ giữa vấn
đề nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan Viện kiểm sát và vấn đề
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên là mối quan hệ giữa cái
chung và cái riêng đồng thời có sự liên quan chi phối chặt chẽ, tác động qua
lại lẫn nhau trong quá trình vận hành tố tụng.


17
Theo như cách hiểu thông thường về các khái niệm "nhiệm vụ",
"quyền hạn" thì nhiệm vụ là một hay nhiều công việc mà người thực hiện nó
phải tiến hành do có sự giao phó của tổ chức hoặc cá nhân khác và tùy theo
mức độ hoàn thành nó để lấy căn cứ xác định hoàn thành hay không hoàn
thành nhiệm vụ. Còn "quyền hạn" là khả năng và phạm vi của một chủ thể
được thực hiện hay không thực hiện một hay nhiều hành vi hoặc công việc cụ
thể nào đó trong khi thực hiện nhiệm vụ. Như vậy, giữa hai phạm trù nêu trên
có sự khác biệt rõ ràng. Tuy nhiên, trong hệ thống văn bản pháp luật nói
chung và trong Bộ luật tố tụng hình sự nói riêng, sự phân biệt giữa nhiệm vụ
và quyền hạn của các chủ thể nói chung và của Kiểm sát viên nói riêng chỉ có
ý nghĩa tương đối. Trong Bộ luật tố tụng hình sự, quyền hạn đi đôi với nhiệm

vụ và gắn liền với trách nhiệm chỉ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được
giao, Kiểm sát viên mới được sử dụng quyền hạn do luật định và ngược lại
chỉ được sử dụng quyền hạn mà luật cho phép đối với những nhiệm vụ được
giao hoặc nhiệm vụ được luật quy định. Chính vì vậy, khoản 1 Điều 37 Bộ
luật tố tụng hình sự không quy định tách bạch vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn
của Kiểm sát viên mà quy định chung các hoạt động tác nghiệp thuộc về các
lĩnh vực trên. Trong quá trình này Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm theo
quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự như đã nêu ở trên.
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể của Kiểm sát viên tập trung vào:
Thứ nhất, kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và
việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra.
Kiểm sát việc khởi tố bao gồm kiểm sát việc khởi tố hoặc không khởi
tố vụ án hình sự và kiểm sát khởi tố bị can. Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình
sự là hoạt động kiểm tra, xem xét tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết
định khởi tố. Khi được phân công kiểm sát việc khởi tố, Kiểm sát viên phải
kiểm tra quyết định khởi tố vụ án hình sự và toàn bộ những chứng cứ, tài liệu
làm căn cứ để cơ quan điều tra hoặc các cơ quan được giao tiến hành một số
hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Việc khởi tố vụ án hình


18
sự chỉ được coi là có căn cứ khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định
dấu hiệu tội phạm phải dựa trên những cơ sở được quy định tại Điều 100 Bộ
luật tố tụng hình sự.
Việc khởi tố vụ án ngoài tính có căn cứ như đã nêu còn phải đảm bảo
tính hợp pháp, cụ thể là, quyết định khởi tố vụ án phải do cơ quan điều tra và
thủ trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra ban hành hoặc do Viện kiểm sát hay hội đồng xét xử ban hành trong
những trường hợp cụ thể theo quy định của Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với những vụ án về các tội được quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105,

106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131, 171 Bộ luật hình sự, chỉ được khởi tố
khi có yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị
hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại chưa thành niên, người có
nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Ngoài ra, quyết định khởi tố vụ án
hình sự được coi là đảm bảo tính hợp pháp khi tuân thủ về mặt hình thức theo
quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự. Đồng thời qua kiểm
tra xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, Kiểm sát viên xác định
không xuất hiện một trong bảy căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy
định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự.
Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của Kiểm sát viên còn bao hàm cả
việc kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi
tố vụ án hình sự của những người có thẩm quyền khởi tố chỉ được coi là hợp
pháp, có căn cứ khi có một trong bảy căn cứ quy định tại Điều 107 Bộ luật tố
tụng hình sự.
Khi được phân công, trong và sau khi kiểm tra quyết định khởi tố
cũng như những chứng cứ, tài liệu làm căn cứ cho việc khởi tố, Kiểm sát viên
có quyền yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ để làm rõ căn cứ
của việc khởi tố vụ án hình sự, báo cáo và đề xuất Viện trưởng, Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết
định không khởi tố vụ án nếu các quyết định đó không có căn cứ, trái pháp


19
luật. Kiểm sát viên có quyền báo cáo, đề xuất Viện trưởng, Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung
quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu quyết định đó không đúng với hành vi
phạm tội hoặc còn có tội phạm khác. Sau khi đã yêu cầu mà cơ quan điều tra
không thực hiện thì báo cáo để Viện trưởng, Phó Viện trưởng trực tiếp ra
quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự và gửi các
quyết định đó cho cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

Đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử, Kiểm
sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố đó để báo cáo
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát để hoặc là chấp thuận và chuyển
cho cơ quan điều tra tiến hành điều tra, hoặc là không chấp thuận và kháng
nghị lên Tòa án cấp trên.
Đối với hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can theo quy định của Điều 126
Bộ luật tố tụng hình sự. Khởi tố bị can là một sự kiện tố tụng rất quan trọng
và có ý nghĩa bước ngoặt trong việc giải quyết vụ án hình sự. Khởi tố bị can
trực tiếp ảnh hưởng ở các mức độ nhất định tới quyền tự do, sinh mạng chính
trị, uy tín và danh dự của một con người cụ thể. Khởi tố bị can thường đi liền
hoặc ngay trước khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, cấm đi khỏi nơi
cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình
sự đối với người bị khởi tố. Khởi tố bị can đúng, chính xác là tiền đề cho việc
giải quyết vụ án, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Ngược lại
khởi tố bị can không đúng, không chính xác sẽ dẫn đến tình trạng oan hoặc bỏ
lọt tội phạm, đồng thời kéo theo một loạt các hậu quả xấu khác. Với ý nghĩa
quan trọng như vậy nên lần đầu tiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy
định quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát
phê chuẩn mới có hiệu lực và giá trị pháp lý (Bộ luật tố tụng hình sự năm
1988 không có quy định này). Điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy
định như trên cho thấy, việc khởi tố bị can đúng đắn, chính xác hay khởi tố
oan người vô tội không còn là trách nhiệm riêng của cơ quan điều tra. Trọng


20
trách này, theo tinh thần của luật đã được giao cho cơ quan Viện kiểm sát.
Kiểm sát viên được phân công là người có nhiệm vụ giúp Viện kiểm sát hoàn
thành trọng trách này. Khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định
khởi tố bị can, Kiểm sát viên phải kiểm tra xem xét toàn bộ hệ thống chứng
cứ đã có mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Kiểm sát viên phải sử dụng

đồng thời nhiều kiến thức pháp luật hình sự trong quá trình này như, phải
kiểm tra xem các tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập có đáp ứng các
thuộc tính như tính khách quan, tính liên quan, tính hợp pháp. Để được coi là
chứng cứ theo quy định tại Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự hay không? phải
phân tích, tổng hợp và đánh giá chứng cứ để xác định chứng cứ đã đáp ứng
yêu cầu cần và đủ trong việc chứng minh một con người cụ thể đã thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội hay chưa. Đồng thời với quá trình này, Kiểm
sát viên phải xác định được vấn đề năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi của
người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng như hoàn chỉnh các bước
định tội danh. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, kiểm tra cũng như báo cáo của
Kiểm sát viên, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát mới có thể
quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của cơ
quan điều tra, hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của cơ quan
điều tra nếu quyết định đó không có căn cứ, trái pháp luật, hoặc yêu cầu cơ
quan điều tra bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ của việc khởi tố, hoặc yêu cầu cơ
quan điều tra thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can.
Đối với việc kiểm sát các hoạt động điều tra và kiểm sát việc lập hồ sơ
vụ án của cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải đảm bảo các hoạt động điều tra
của cơ quan điều tra được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Các
hoạt động điều tra đó bao gồm khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử
thi, lấy lời khai người làm chứng, triệu tập và lấy lời khai của người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án, hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, khám xét,
thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, trưng cầu giám định v.v… không phải đối


21
với bất kỳ vụ án nào cũng phải tiến hành đầy đủ các hoạt động điều tra này
mà tùy từng yêu cầu khách quan của mỗi vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành
các nhóm hoạt động điều tra khác nhau. Ngoài việc bảo đảm các hoạt động

điều tra phải tuân thủ đúng quy định của các điều từ Điều 131 đến Điều 159
Bộ luật tố tụng hình sự, Kiểm sát viên phải đảm bảo kết quả các hoạt động
điều tra đáp ứng yêu cầu của Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự về "những vấn
đề phải chứng minh trong vụ án hình sự".
Ngoài ra trong việc kiểm sát các hoạt động điều tra, Kiểm sát viên còn
có nhiệm vụ kiểm tra xem xét đảm bảo việc tuân thủ các quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự ở các thủ tục khác như: kiểm sát việc thực hiện để đảm bảo thực
hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, kiểm sát việc nhập
hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra; việc ủy thác điều tra (theo Điều
62, 117, 118 Bộ luật tố tụng hình sự); kiểm sát việc chấp hành thời hạn điều
tra, phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại quy định tại Điều 119, 121
Bộ luật tố tụng hình sự; kiểm sát để xác định tư cách tiến hành tố tụng của
Điều tra viên nhằm đảm bảo điều tra viên tiến hành tố tụng trong vụ án không
thuộc các trường hợp phải bị thay đổi quy định tại các Điều 42 và khoản 1
Điều 44 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về kiểm sát việc lập hồ sơ của cơ quan điều tra, Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 chỉ quy định việc lập hồ sơ vụ án hình sự là một nhiệm vụ của
Điều tra viên (điểm a khoản 1 Điều 35) chứ không quy định cụ thể việc lập hồ
sơ như thế nào. Việc lập hồ sơ vụ án hình sự của Điều tra viên được thực hiện
theo hướng dẫn của Bộ công an (Hướng dẫn số 3821/C27.P2 ngày 4/11/1998
của Cục hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát). Đồng thời, tùy từng yêu cầu của mỗi vụ
án, loại án hình sự mà số lượng tài liệu, chứng cứ cần thu thập nhiều hay ít
trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên thông thường, một hồ sơ vụ án hình sự do Điều
tra viên lập để phục vụ công tác truy tố, xét xử có những tài liệu chủ yếu như:
các tài liệu làm căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can; các quyết định (quyết
định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định phân công điều tra viên, quyết


22
định trưng cầu giám định, các quyết định khác…); các loại lệnh (lệnh bắt,

khám xét, lệnh kê biên tài sản, lệnh tạm giam, tạm giữ…); các loại biên bản
(biên bản ghi lời khai người làm chứng, người bị hại, biên bản hỏi cung bị
can, biên bản khám nghiệm hiện trường, tử thi…); các tài liệu về nhân thân
người phạm tội (lý lịch, bản trích lục về tiền án, tiền sự, nhận xét của cơ quan
đoàn thể, chính quyền địa phương); các tài liệu về thu thập, bảo quản vật
chứng; các tài liệu điều tra khác v.v…. Bên cạnh đó yêu cầu về việc thiết lập
hồ sơ vụ án ở các thời điểm trong quá trình điều tra cũng có sự khác nhau.
Vấn đề này đã được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 05/2005 ngày 7 tháng 9
năm 2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng
về quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực
hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Như vậy, Kiểm
sát viên phải kiểm tra, giám sát đảm bảo tính chặt chẽ, đầy đủ, đúng pháp luật
đối với mỗi hồ sơ án hình sự do cơ quan điều tra thiết lập, để phục vụ công
tác giải quyết vụ án ở các trình tự tố tụng tiếp theo. Công tác này có ý nghĩa
rất quan trọng vì hồ sơ vụ án là kết quả của quá trình điều tra. Nếu không có
hồ sơ vụ án thì không thể giải quyết vụ án; hồ sơ vụ án thiết lập không đầy
đủ, thiếu chặt chẽ, vi phạm về nội dung và hình thức thì việc truy tố, xét xử sẽ
gặp rất nhiều khó khăn, dễ dẫn đến tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Thứ hai, đề ra yêu cầu điều tra.
Như đã trình bày ở trên, trong quá trình điều tra vụ án hình sự, Kiểm
sát viên là người thay mặt cho Viện kiểm sát để thực hành quyền công tố,
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra. Vì vậy không thể
có tình trạng việc điều tra như thế nào là do cơ quan điều tra tự quyết định.
Ngược lại, để đảm bảo việc điều tra được tiến hành khách quan, đầy đủ đúng
pháp luật, kết quả điều tra đáp ứng được những yêu cầu theo quy định tại
Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự (những vấn đề phải chứng minh trong vụ án
hình sự), Kiểm sát viên phải thường xuyên bám sát tiến độ, chất lượng điều
tra, kết quả của từng hoạt động điều tra. Từ đó kịp thời đưa ra những yêu cầu



23
điều tra cụ thể, thích hợp để cơ quan điều tra và Điều tra viên thực hiện. Thực
tế cho thấy, nếu Kiểm sát viên làm tốt công tác này thì việc giải quyết vụ án ở
các trình tự tố tụng tiếp theo sẽ gặp nhiều thuận lợi. Hạn chế được tình trạng
để việc giải quyết vụ án phải kéo dài, cũng như hạn chế được việc sau khi kết
thúc điều tra, đề nghị truy tố, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho cơ quan
điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung hoặc điều tra lại.
Thứ ba, triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai người
làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Triệu tập và lấy lời khai những người tham gia tố tụng nêu trên là
những hoạt động điều tra thuộc về nhiệm vụ của cơ quan điều tra và Điều tra
viên nhằm thu thập chứng cứ. Đây là những biện pháp điều tra công khai theo
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (các điều 133, 134, 135, 136, 137).
Trong quá trình điều tra một vụ án hình sự, cơ quan điều tra và Điều
tra viên sẽ tiến hành thực hiện các biện pháp điều tra nêu trên kết hợp với các
biện pháp điều tra công khai khác như: khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi, khám xét thu giữ vật chứng, giám định, đối chất, nhận dạng,
thực nghiệm điều tra… để thu thập chứng cứ, phục vụ công tác truy tố, xét
xử. Tuy nhiên, việc lựa chọn áp dụng và tiến hành biện pháp điều tra nào là
do đòi hỏi khách quan của việc giải quyết từng vụ án, từng loại án hình sự, kết
hợp với việc tổ chức chiến thuật điều tra cụ thể đối với từng loại án hình sự.
Như vậy, việc triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai
người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là những công việc thuộc quyền chủ
động mang tính bắt buộc và thuộc nhiệm vụ của cơ quan điều tra và Điều tra
viên. Tuy nhiên, tại điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
cũng đã quy định những biện pháp điều tra trên đây với tư cách thuộc về
nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên. Bên cạnh đó các điều 131, 132, 133,



24
134, 135, 136, 137 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng đề cập tới vấn đề
này, song luật không quy định cụ thể trong trường hợp nào thì Kiểm sát viên
tiến hành thực hiện các biện pháp điều tra nêu trên.
Vấn đề này ở giai đoạn trước đây, các Kiểm sát viên của các đơn vị
Viện kiểm sát trên toàn quốc chỉ dựa vào quy định tại quy chế công tác của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và kinh nghiệm cũng như thực
tiễn giải quyết án hình sự ở từng địa phương để tiến hành. Tuy nhiên, các quy
định tại quy chế công tác của ngành kiểm sát cũng chưa thật rõ ràng, cụ thể.
Vì vậy, nhận thức và thực hiện vấn đề này ở nhiều nơi còn chưa thống nhất.
Trên thực tế đã xảy ra tình trạng, việc triệu tập và lấy lời khai của người làm
chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hỏi cung bị can v.v… do Kiểm sát viên tiến
hành còn có tình trạng trùng lặp với hoạt động của Điều tra viên, hoặc diễn ra
chủ quan, tùy tiện. Khắc phục tình trạng này, Thông tư liên tịch số 05 ngày
7/9/2005 giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng
về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực
hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã chỉ rõ:
- Trong quá trình điều tra, khi có yêu cầu của Cơ quan điều tra hoặc
qua công tác kiểm sát phát hiện thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước
sau không thống nhất, lúc nhận tội, lúc không nhận tội; bị can có khiếu nại về
việc điều tra, có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực của lời khai bị can,
trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng thì Kiểm sát viên có
thể trực tiếp gặp, hỏi cung bị can…;
- Sau khi nhận hồ sơ vụ án, nếu có nghi ngờ về tài liệu, chứng cứ; các
chứng cứ quan trọng của vụ án có mâu thuẫn; trường hợp vụ án đặc biệt
nghiêm trọng có nhiều tình tiết phức tạp khó thống nhất về tính chất vụ án
hoặc để củng cố tài liệu chứng cứ phục vụ cho việc truy tố, thì Kiểm sát viên
có thể trực tiếp hỏi cung bị can;

×