Tải bản đầy đủ (.doc) (12 trang)

Diện thừa kế theo pháp luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (70.28 KB, 12 trang )

1. Diện thừa kế theo pháp luật.
Một trong những vấn đề chính yếu của chế định thừa kế theo pháp luật là
việc xác định diện thừa kế ( xác định phạm vi những người được thừa kế
theo pháp luật hưởng di sản của người chết để lại. Về diện và hàng thừa kế
chỉ được đặt trong trình tự thừa kế theo pháp luật. Về diện thừa kế, qua các
chế độ xã hội cùng có một đặc điểm chung là: chủ yếu do quan hệ hôn nhân
và gia đình chi phối; mặt khác nó cũng tuỳ thuộc vào quan hệ sản xuất của
từng giai đoạn phát triển xã hội và còn dựa trên những quy định pháp luật
của mỗi chế độ xã hội nhất định mà phạm vi những người thuộc diện thừa kế
theo pháp luật lại được quy định tại diện rộng hẹp khác nhau.
Ở nước ta, trước năm 1945 dưới chế độ cũ, nhất là dưới chế độ phong
kiến với ý thức bảo vệ chế độ tư hữu tài sản nhằm duy trì sự bóc lột của
mình, giai cấp thống trị xem quyền tư hữu là một quyền thiêng liêng bất khả
xâm phạm. Ngay trong quan hệ gia đình thì quan hệ huyết thống cũng được
coi trọng và đề cao, còn quan hệ hôn nhân thì bị xem nhẹ. Tư tưởng trọng
nam, khinh nữ nặng nề đã có sự ảnh hưởng sâu sắc đến chế định thừa kế.
Thừa kế di sản trong thời kỳ này được xem như một phương tiện để duy trì
và bảo vệ khối tài sản của nội tộc, và do những người trong nội tộc của
người đề lại di sản được ưu tiên thừa hưởng. Địa vị của người vợ trong quan
hệ gia đình luôn bị đẩy xuống bậc thứ yếu so với các con và người chồng
trong những quan hệ xã hội thông thường và trong cả quan hệ thừa kế.
Trong những quy định trong Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ thì
diện thừa kế theo pháp luật được quy định bao gồm: các con đẻ, con nuôi,
các cháu, cha, mẹ, ông, bà nội, các cụ nội, anh, chị, em ruột của người để lại
di sản. Chỉ khi nào không còn thân thuộc bên họ nội của người để lại di sản
thì khi đó di sản thuộc về bên họ ngoại của người để lại di sản và cũng gồm
những người tương ứng như bên họ nội của người đó được hưởng. Theo luật
của chế độ thực dân, phong kiến thì diện thừa kế còn bao gồm con ngoại hôn
của người quá cố được khai nhận hợp lệ và những người còn được sinh ra
khi cha hay mẹ còn độc thân cũng có quyền thừa kế như con ngoại hôn.
Nhưng con không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người mẹ đẻ đã tái


giá qua đời. Người vợ chính của người quá cố được hưởng toàn bộ di sản
trong trường hợp không còn người thân thuộc bên chồng. Ngược lại, người
vọ thứ không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của chồng, lợi ích của người
vợ thứ chỉ được ở lại nhà chồng, hưởng lương thực và tiền chi dùng cho sinh
hoạt hàng ngày mà thôi. Người chồng thuộc diện thừa kế di sản của người
vợ chính qua đời trước, quyền này của người chồng không được đáp ứng
trong trường hợp người vợ thứ chết trước mà có con. Một người thuộc diện
thừa kế nếu còn sống vào thời điểm mở thừa kế và không bị toà án tước
quyền thừa kế. Những Bộ luật của chế độ cũ quy định về diện thừa kế theo
nguyên tắc ưu tiên bảo vệ quyền thừa kế của những người thuộc họ nội của
người để lại di sản và có sự phân biệt giữa vợ cả và vợ thứ trong việc hưởng
di sản của người chồng chết trước. Quyền lợi của người vợ goá chỉ được bảo
vệ sau các con, cháu, cha, mẹ, ông, bà, các cụ, anh, chị, em, ruột của người
để lại di sản.
Qua sự phân tích trên đây, sơ bộ chúng ta cũng có thể thấy sự mất
bình đẳng, tư tưởng trọng nam khinh nữ trong chế định thừa kế của pháp luật
thời kỳ phong kiến. Tóm lại diện thừa kế theo pháp luật của chế độ cũ chủ
yếu dựa vào quan hệ huyết thống nội tộc, quan hệ huyết thống ngoại tộc chỉ
được xét vào diện thừa kế khi không còn người thừa kế thuộc quan hệ huyết
thống nội tộc.
Ngược lại với bản chất pháp luật của chế độ cũ, pháp luật thừa kế của
nước ta đã xoá bỏ tàn tích của tư tưởng lạc hậu trọng nam khinh nữ và quy
định người vợ goá hoặc người chồng goá thuộc diện thừa kế theo pháp luật
của người chồng hoặc người vợ chết trước. Vào những năm đầu tiên của
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, pháp luật thừa kế của chế độ cũ vẫn được
áp dụng, trừ những điều khoản trái với nền độc lập và dân chủ của nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà. Trong hoàn cảnh đó, diện thừa kế theo pháp luật ở
nước ta vẫn dựa theo những quy định của pháp luật thuộc chế độ cũ để xác
định. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 9 Hiến pháp năm 1946, người “đàn
bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”, trong đó có quyền thừa

kế như những người con khác của người để lại di sản. Điều 9 của Hiến pháp
năm 1946 được xem như một quy định mang tính nguyên tắc chi phối
quyền thừa kế di sản của người chồng goá hoặc người vợ goá trong việc
hưởng di sản của người chồng hoặc người vợ chết trước. Đặc biệt, khi Sắc
lệnh số 97- SL ngày 22-5-1950 được ban hành, diện thừa kế theo pháp luật
được chính thức quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Sắc lệnh gồm:
Con cháu, vợ hay chồng của người để lại di sản.
Như vậy, diện thừa kế theo pháp luật dưới chế độ mới bước đầu đã được
xác định theo quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, gồm những người có
quan hệ gần gũi nhất của người để lại di sản. Nếu trong thời kỳ thực dân,
phong kiến ở nước ta, pháp luật có những quy định ưu tiên bảo vệ quyền
thừa kế của những người có quan hệ huyết tộc nội tộc với người để lạ di sản
thì ở chế độ mới, người vợ hay người chồng của người đó được pháp luật
quy định họ thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau. Theo những quy
định của Sắc lệnh số 97- SL thì quan hệ hôn nhân được khẳng định là căn cứ
xác định người vợ hoặc người chồng của người chết thuộc diện thừa kế theo
pháp luật của người đó.
Quy định tại Điều 10 và điều 11 của sắc lệnh số 97- SL về diện thừa
kế theo pháp luật đã xoá bỏ tận gốc những quy định bất bình đẳng về thừa kế
trong các Bộ luật dân sự của chế độ cũ. Thực chất, sắc lệnh số 97- SL đã cụ
thể hoá Hiến pháp năm 1946 về quyền bình đẳng của vợ chồng trong quan
hệ gia đình. Có thể khẳng định rằng điều 10 và điều 11 của Sắc lệnh số 97-
SL đã đặt nền móng đầu tiên về cơ sở xác định diện thừa kế theo pháp luật
dưới chế độ mới.
Diện thừa kế đước mở rộng một bước khi Bộ tư pháp ban hành Thông
tư số 1742 để hướng dẫn toà án các cấp trong việc giải quyết những tranh
chấp về thừa kế, theo đó những người thuộc diện thừa kế gồm có: Vợ,
chồng, các con đẻ, các con nuôi, các cháu, các chắt, cha, mẹ của người để lại
di sản và những người thừa kế khác. Tuy nhiên, “những người thừa kế khác”
là ai thì trong thông tu 1742 đã không chỉ rõ.

Diện thừa kế theo pháp luật trong các trường hợp cụ thể cũng được
quy định rất rõ ngay trong một số văn bản. Ví dụ: Tại Điều 1 của Nghị định
số 19-CP ngày 29-06-1960 và tại điều 5 Nghị định số 24-CP ngày 13-2-1961
của Hội đồng Chính phủ(về quyền quản lý của Nhà nước đối với nhà, đất
vắng chủ ở miền Bắc). Theo quy định tại các văn bản này thì diện những
người thừa kế theo pháp luật gồm: vợ, chồng, con, bố, mẹ của chủ nhà vắng
mặt có quyền thừa kế đương nhiên.
Thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp về thừa kế tại toà án nhân dân
các cấp đã phát sinh vấn đề liên quan đến việc xác định phạm vi những
người thuộc diện thừa kế theo pháp luật mà các văn bản trước đó quy định
không thể giải quyết thoả đáng những tranh chấp thừa kế phát sinh. Trên cơ
sở của nguyên tắc: “ Nam nữ bình đẳng về quyền thừa kế”, đồng thời với
việc “ củng cố và phát triển tình đoàn kết, thương yêu trong nội bộ gia đình,
tăng cường tinh thần phấn khởi sản xuất của mọi người”, diện thừa kế theo
pháp luật tiếp tục được mở rộng thêm tại Thông tư số 594. Theo thông tư số
594, diện thừa kế theo pháp luật gồm những người sau đây: Vợ goá(vợ cả
goá, vợ lẽ goá); con đẻ và con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ hoặc, bố nuôi, mẹ nuôi:
ông bà nội và ngoại; anh chị em ruột, anh chị em nuôi của người để lại di
sản.
Diện thừa kế theo pháp luật được xác định theo Thông tư số 594 là
phù hợp và được áp dụng ở nước ta trong giai đoạn 1968-1981. Một mặt nó
phản ánh tính chất của quan hệ thừa kế là loại quan hệ tài sản đặc biệt có
mối liên hệ chặt chẽ với nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng nhau
giữa những người thân thuộc trong gia đình Việt Nam, mặt khác, nó phù hợp
với nguyện vọng của công dân muốn tài sản của mình để lại sau khi chết sẽ
cho những người thân gần nhất với mình thừa hưởng và nếu không có những
người này thì Nhà nước hay tập thể mới tiếp nhận di sản của người chết.
Trong giai đoạn này, những người khác như chú, cô, dì, bác, cậu, cháu họ,
anh chị em họ, các cụ nội các cụ ngoại đều không thuộc diện thừa kế theo
pháp luật của người để lại di sản.

Khi thông tư số 81 của Toà án nhân dân tối cao được ban hành hướng
dẫn các toà án giải quyết các tranh chấp về quyền thừa kế thì theo đó về diện
thừa kế cũng được hướng dẫn rõ nét hơn. Theo nội dung của thông tư số 81
con nuôi và bố mẹ nuôi có quyền thừa kế lẫn nhau. Con nuôi ( hợp pháp hay
thực tế) không được thừa kế đối với di sản của bố mẹ đẻ và anh chị em ruột.
Do vậy người đang là con nuôi của người khác không thuộc diện thừa kế
theo pháp luật của bố mẹ đẻ và anh chị em ruột của họ. Người con nuôi chỉ
thuộc diện thừa kế theo pháp luật của bố, mẹ nuôi; con nuôi và con đẻ của
một người nuôi còn thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau.
Theo Thông tư số 81 thì ngoài quan hệ hôn nhân, diện những người
thừa kế theo pháp luật còn bao gồm những người có huyết thống trực hệ và
bàng hệ với người để lại di sản. Những người có quan hệ huyết thống trực hệ
bề trên gồm: cha đẻ, mẹ đẻ, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại của người
để lại di sản. Những người có quan hệ huyết thống trực hệ bề dưới của người

×