Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại phường Dịch Vọng Hậu - Cầu Giấy - Hà Nội và xã Tân Lập - đan phượng, hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 93 trang )






ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o





NGUYỄN NGỌC THỤY






BẤT BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG TIẾP CẬN CÁC
DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại phường Dịch Vọng Hậu - Cầu Giấy
- Hà Nội và xã Tân Lập - Đan Phượng - Hà Nội)


Chuyên ngành : Xã hội học
Mã số : 60. 31.30


LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC






Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS PHẠM VĂN QUYẾT




Hà Nội / 2010
2



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


BBĐ Bất bình đẳn
BBĐXH Bất bình đẳng xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BV Bệnh viện
DVYT Dịch vụ y tế
CSSK Chăm sóc sức khỏe
KCB Khám chữa bệnh
N Tần suất
PTCS Phổ thông cơ sở
PTTH Phổ thông trung học
TT - GDSK Truyền thông - Giáo dục sức khỏe
TTYT Trung tâm y tế
TYT Trạm y tế

TW Trung ương
% Phần trăm










3


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HỘP
Bảng, biểu, hộp
Trang
Bảng 2.1. Những nhóm bệnh thường gặp
42
Bảng 2.2. Tỉ lệ hộ gia đình có tủ thuốc dự phòng
47
Bảng 3.1. Tương quan giữa mức sống và mức chi phí cho cơ sở y tế
công trong 12 tháng qua
54
Bảng 3.2. Tương quan giữa mức sống và hình thức điều trị
55
Bảng 3.3. Tương quan giữa trình độ học vấn với việc lựa chọn dịch vụ y
tế
63

Bảng 3.4. Tương quan giữa nghề nghiệp với việc lựa chọn dịch vụ y tế
65
Bảng 3.5. Tương quan giữa khu vực với sự lựa chọn cơ sở cung cấp dịch
vụ y tế
67
Bảng 3.6. Bảng tương quan giữa tiếp cận nguồn thông tin với lựa chọn
dịch vụ y tế
74
Biểu 2.1. Tình hình tiếp cận các dịch vụ y tế tại nhà
49
Biểu 2.2. Tình hình tiếp cận các dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế
51
Biểu 2.3. Tỉ lệ người dân hài lòng với chất lượng dịch vụ y tế
53
Biểu 3.1. Tương quan giữa mức sống và tỉ lệ người dân chi trả cho dịch
vụ y tế chất lượng cao
58
Biểu 3.3. Tương quan giữa tuyến cơ sở cung cấp dịch vụ y tế và khu vực
sinh sống
69
Biểu 3.4. Nguồn tiếp cận thông tin về y tế
72
Hộp 1. Câu chuyện về tầm quan trọng của việc đánh giá đúng
tình trạng bệnh tật
64
Hộp 2. Câu chuyện khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế
69

4



PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu của mỗi cá nhân và có tác động vô cùng
sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - chính trị của mỗi quốc gia. Người dân có sức
khoẻ sẽ làm tăng khả năng tạo ra nguồn của cải cho quốc gia và ngược lại. Thế
nhưng, một tỉ lệ lớn dân số trên thế giới vẫn đang phải sống trong tình trạng thiếu
thốn về lương thực, thực phẩm, nguồn nước sạch và các điều kiện vệ sinh không
được bảo đảm. Điều này đã tác động tiêu cực đến sức khỏe của một bộ phận không
nhỏ người dân. Bên cạnh đó, sự phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội khác nhau
vẫn đang tồn tại, dẫn đến sự không ngang bằng nhau về chất lượng cuộc sống nói
chung và tiếp cận các dịch vụ CSSK nói riêng.
Sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Việt Nam chuyển từ
nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lí
của Nhà nước. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá - xã hội
cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong thời gian qua đã và đang làm thay
đổi một cách rõ rệt cuộc sống của mỗi gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với sự
phát triển kinh tế là sự gia tăng khoảng cách thu nhập giữa các nhóm dân cư.
Khoảng cách thu nhập này đã tạo nên sự phân hóa xã hội hết sức sâu sắc giữa các
nhóm xã hội dẫn tới sự khác nhau về cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội trong đó có
sự tiếp cận các DVYT và CSSK giữa các giai cấp xã hội, giữa đàn ông và phụ nữ,
giữa người trẻ và người già, người giàu và người nghèo, giữa người sống ở thành thị
và người sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi… vẫn còn tồn tại.
Sức khỏe là một vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, và trên hết là quyền cơ bản của
con người. Sự bất bình đẳng, sự nghèo đói, nạn bóc lột, bạo lực và bất công là nguyên
nhân chính gây ra bệnh tật chết chóc cho người nghèo. Sức khỏe cho mọi người tức là
phải xem xét xem mọi người dân đã có sự công bằng trong CSSK hay chưa?
Hệ thống y tế nước ta đã và đang được quan tâm đầu tư nhưng chưa thực sự
toàn diện và công bằng. Các tuyến BV tuyến trên thường nhận được nhiều sự quan
tâm đầu tư hơn là các BV tuyến dưới và các TYT xã, phường, thôn bản; cơ sở y tế

thành thị được quan tâm hơn ở nông thôn; các cơ sở y tế hướng tới những người có
5


khả năng chi trả hơn là những người trông chờ vào sự miễn giảm chi phí… là những
thực tế đã và đang tồn tại, góp phần tạo nên sự BBĐ ngày càng sâu sắc trong việc
tiếp cận các DVYT của người dân.
Tình trạng sức khỏe và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội trong đó có tiếp
cận các DVYT của người dân chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố quyết định sức khỏe và
điều kiện xã hội nơi người ta sống và làm việc, còn gọi là các yếu tố quyết định xã
hội. Các yếu tố quyết định xã hội này có thể là nguyên nhân gây nên sự BBĐ trong
tiếp cận các dịch vụ xã hội và DVYT của người dân.
Do đó, thực hiện đề tài: Bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ y tế
của người dân Hà Nội hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại phường Dịch Vọng
Hậu - Cầu Giấy - Hà Nội và xã Tân Lập - Đan Phượng - Hà Nội) là một việc làm
cần thiết. Những nhận xét trên cơ sở đánh giá những nguyên nhân chính gây nên sự
BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân hiện nay và các khuyến nghị rút
ra từ kết quả nghiên cứu sẽ có ích cho việc giảm bớt sự BBĐXH của người dân
trong tiếp cận các DVYT.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Mô tả và phân tích sự khác biệt trong tiếp cận các DVYT của người dân hiện nay
- Chỉ ra yếu tố cơ bản dẫn tới sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của
người dân hiện nay
- Đề xuất khuyến nghị nhằm làm giảm bớt sự BBĐXH trong tiếp cận các
DVYT của người dân, góp phần cải thiện chất lượng dân số
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát thực địa và phân tích những tài liệu có liên quan đến đề tài về sự
BBĐ trong tiếp cận các DVYT của người dân
- Xử lí, phân tích các số liệu, thông tin thu thập được để tìm hiểu nguyên

nhân dẫn tới sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân
- Đề xuất một số khuyến nghị để nhằm làm giảm bớt sự BBĐXH trong tiếp
cận các DVYT của người dân
6


3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm việc trong các cơ quan Nhà nước
- Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm nông nghiệp
- Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm việc tự do
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Đề tài chọn địa bàn khảo sát là phường Dịch Vọng Hậu
– Cầu Giấy – Hà Nội (Đặc trưng đại diện là phường nằm cửa ngõ phía Tây của
thành phố Hà Nội, nơi có nhiều biến động về dân cư, nhà ở và mức sống do quá
trình đô thị hoá) và xã Tân Lập - Đan Phượng - Hà Nội (đặc trưng cho xã ven đô
đang trong quá trình đô thị hoá mạnh mẽ)
Phạm vi thời gian: Từ năm 2009 đến năm 2010
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
BBĐXH trong tiếp cận các DVYT diễn ra như thế nào? Nguyên nhân nào tạo
nên sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân hiện nay?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Hiện nay, trong tiếp cận các DVYT của người dân tồn tại sự khác biệt giữa
các nhóm xã hội
- Các yếu tố cơ bản dẫn tới sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người
dân hiện nay: (1) Yếu tố kinh tế (mức sống); (2) Địa vị xã hội; (3) Khoảng cách địa
lí; (4) Sự tiếp cận nguồn thông tin y tế của người dân.

5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp tiếp cận
Nghiên cứu dựa trên quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê-nin để tìm hiểu,
nhận thức các vấn đề nghiên cứu. Theo quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa
7


Mác - Lênin, mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong một không gian và thời gian
nhất định và phải được xem xét trong mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, trong
sự mâu thuẫn và trong sự vận động và phát triển không ngừng của lịch sử xã hội.
Trên cơ sở phương pháp luận nhận thức duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và
phương pháp xã hội học để tìm luận cứ chứng minh các giả thuyết nghiên cứu của
đề tài luận văn.
5.2. Phương pháp thu thập thông tin cụ thể
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Các tài liệu thu thập được sẽ được tác giả phân thành nhiều mảng để tiện cho việc
tham khảo: về DVYT, về mô hình bệnh tật và hành vi CSSK của người dân nông thôn, về
tình trạng tiếp cận các DVYT của người dân… Phương pháp này sẽ bổ sung cho những
nhận định rút ra từ những thông tin thu thập được từ bảng hỏi và phiếu phỏng vấn sâu.
5.2.2. Phương pháp điều tra chọn mẫu
5.2.2.1. Điều tra bằng bảng hỏi (định lượng)
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở một bảng hỏi đã được chuẩn hóa để
thu thập thông tin, giúp hiểu rõ hơn về tổng thể nghiên cứu. Tuy nhiên phương pháp này
cũng có hạn chế là quá trình thu thập thông tin tại địa bàn rất khó để thay đổi nội dung câu
hỏi, thu thập thêm những thông tin đã được xác định trước, những phát hiện, những nội
dung mới hoặc những vấn đề thắc mắc về nội dung sẽ không được giải quyết (đây cũng là
hạn chế của phương pháp nghiên cứu định lượng).
Áp dụng phương pháp này, tác giả tập trung vào việc thu thập thông tin chung về

tình trạng bệnh tật, hành vi CSSK, một số yếu tố tác động đến hành vi CSSK… Với
phương pháp này, tác giả có thể nắm được thông tin về tiếp cận các dịch vụ CSSK của
người dân và các hộ gia đình trên diện rộng.
Để tiến hành nghiên cứu, tác giả đã khảo sát 300 phiếu dành cho đại diện các hộ gia
đình trong mẫu nghiên cứu: ở Phường Dịch Vọng Hậu 150 phiếu và xã Tân lập 150 phiếu.
8



5.2.2.2. Phỏng vấn sâu (định tính)
Phỏng vấn sâu là phương pháp quan trọng hỗ trợ cho phương pháp định
lượng, bởi lẽ trong quá trình thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu, nhiều thông
tin, nội dung cụ thể của đề tài cần thu thập chưa được đề cập.
Phỏng vấn sâu chủ yếu sử dụng những câu hỏi mở. Trong quá trình phỏng
vấn sâu, điều tra viên sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề hay những phát hiện mới
liên quan đến đề tài mà phương pháp định lượng chưa đề cập. Các thông tin thu
thập được từ phương pháp này sẽ giúp tác giả có những hiểu biết sâu hơn về tình
hình sức khỏe cũng như thực trạng tiếp cận DVYT của người dân trên địa bàn khảo
sát. Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 20 trường hợp.
5.2.3. Phương pháp xử lí thông tin
Những bảng hỏi định lượng được xử lí trên máy tính nhờ phần mềm thống kê
SPSS 17.0 để tìm ra tần suất cũng như tương quan nhằm so sánh và đánh giá vấn đề
trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Những ca phỏng vấn sâu được tác giả phân chia thông tin theo nhóm các chủ
đề cụ thể phục vụ mục tiêu nghiên cứu.
5.3. Khái quát cơ cấu mẫu đã khảo sát
5.3.1. Hộ gia đình
Hộ gia đình
N
%

% thực tế
% cộng dồn
Thành thị
150
50.0
50.0
50.0
Nông thôn
150
50.0
50.0
100.0
Tổng
300
100.0
100.0

5.3.2. Giới tính người trả lời
Giới tính
N
%
% thực tế
% cộng dồn
Nam
152
50.7
50.7
50.7
Nữ
148

49.3
49.3
100.0
Tổng
300
100.0
100.0

9



5.3.3. Trình độ học vấn người trả lời
Trình độ học vấn
N
%
% thực tế
% cộng dồn
Tiểu học
8
2.7
2.7
2.7
Phổ thông cơ sở
28
9.3
9.3
12.0
Phổ thông trung học
74

24.7
24.7
36.7
Trung cấp
52
17.3
17.3
54.0
Cao đẳng, đại học
110
36.7
36.7
90.7
Trên đại học
28
9.3
9.3
100.0
Tổng
300
100.0
100.0


5.3.4. Nghề nghiệp người trả lời
Nghề nghiệp
N
%
% thực tế
% cộng dồn

Làm ruộng
46
15.3
15.3
15.3
Nghề thủ công
34
11.3
11.3
26.7
Buôn bán, dịch vụ
68
22.7
22.7
49.3
Viên chức Nhà nước
120
40.0
40.0
89.3
Hưu trí
32
10.7
10.7
100.0
Tổng
300
100.0
100.0



5.3.5.Thu nhập bình quân (đơn vị: triệu đồng)
Thu nhập bình quân
N
%
% thực tế
% cộng dồn
Từ 500 - 1000
76
25.3
25.3
25.3
Từ 1001 - 2000
78
26.0
26.0
51.3
Từ 2001 - 3000
86
28.7
28.7
80.0
Trên 3000
60
20.0
20.0
100.0
Tổng
300
100.0

100.0

10


5.3.6. Nhóm tuổi người trả lời
Nhóm tuổi
N
%
% thực tế
% cộng dồn
Dưới 30
86
28.7
28.7
28.7
Từ 31- 40
110
36.7
36.7
65.3
Từ 41- 50
50
16.7
16.7
82.0
Từ 51- 60
26
8.7
8.7

90.7
Trên 60
28
9.3
9.3
100.0
Tổng
300
100.0
100.0


6. Khung lí thuyết
6.1 Các biến số
6.1.1. Biến số độc lập
Kinh tế (mức sống); Địa vị xã hội; Khoảng cách địa lí; Khả năng tiếp cận
nguồn thông tin y tế của người dân
6.1.2. Biến số phụ thuộc
BBĐXH trong tiếp cận các DVYT
6.1.3. Biến số can thiệp
Môi trường kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội
Hệ thống chính sách y tế của Việt Nam

11


6.2. Sơ đồ khung lí thuyết


Môi trường kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội

Hệ thống chính sách y tế







Kinh tế
(Mức sống)

Địa vị xã
hội

Khoảng
cách địa


Tiếp cận
nguồn
thông tin y
tế











Bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ y tế
12


7. Luận cứ chứng minh
7.1. Luận cứ lí thuyết
- Các khái niệm có liên quan đến đề tài luận văn
- Một số quan điểm lí thuyết xã hội học về BBĐXH
7.2. Luận cứ thực tế
- Những thông tin, số liệu liên quan đến đề tài thu thập được từ các công
trình nghiên cứu sẵn có từ trước
- Những thông tin, số liệu thu thập được qua khảo sát thực địa tại địa bàn
nghiên cứu
8. Đóng góp của luận văn
8.1. Về lí luận
Luận văn chúng tôi vận dụng lí thuyết phân tầng xã hội và BBĐXH của Max
Weber để lí giải nguyên nhân dẫn tới BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người
dân. Đây là một trong những nỗ lực gắn kết lí luận với thực tiễn trong nghiên cứu.
Đóng góp về mặt lí thuyết của luận văn là sự vận dụng lí thuyết trong thực tiễn cụ thể
một cách linh hoạt và phù hợp. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng góp phần bổ sung
những ý tưởng mới cho việc nghiên cứu BBĐXH nói chung và BBĐXH trong tiếp
cận các DVYT nói riêng ở nước ta hiện nay.
8.2. Về thực tiễn
Nghiên cứu “Bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ y tế” là nghiên
cứu đầu tiên về chủ đề này ở trên hai địa bàn phường Dịch Vọng Hậu – Cầu Giấy –
Hà Nội và xã Tân Lập – Đan Phượng – Hà Nội. Với đặc thù là một nơi có tốc độ đô
thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng, có thể đại diện cho nhiều nơi khác trong cả
nước, các dữ liệu thu được từ nghiên cứu tại địa bàn nghiên cứu có thể được khái quát

và áp dụng lý giải về vấn đề này ở những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội
tương tự. Do vậy, nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm những bằng chứng khoa học góp
phần giúp nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan hơn về các vấn đề xã hội, đặc
biệt là vấn đề BBĐ trong tiếp cận các DVYT.
13


Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn giúp cho các nhà quản lý và
hoạch định chính sách có một cái nhìn thực tế hơn về BBĐ trong tiếp cận các DVYT
của người dân hiện nay. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để góp phần
làm giảm bớt sự BBĐ trong tiếp cận các DVYT của người dân trên địa bàn khảo sát
cũng như trên các địa bàn tương tự.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài Lời cảm ơn, phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được kết
cấu thành ba phần chính:
PHẦN I. MỞ ĐẦU
Trình bày các nội dung: Tính cấp thiết của đề tài; Sơ lược tình hình
nghiên cứu; Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài; Đối tượng, khách thể,
phạm vi và mẫu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu;
Phương pháp nghiên cứu; Luận cứ chứng minh; và giới thiệu Cấu trúc luận văn.
PHẦN II. NỘI DUNG
Gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận
Chương 2. Thực trạng tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân hiện nay
Chương 3. Nguyên nhân của sự bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các
dịch vụ y tế của người dân hiện nay
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trình bày các kết luận nghiên cứu và đưa ra một số khuyến nghị đối với các
cơ quan quản lí y tế, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư để giảm bớt tình
trạng BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân hiện nay.

Danh mục các Tài liệu tham khảo và Phụ lục
14


PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Các khái niệm cơ sở
1.1.1. Khái niệm “bất bình đẳng xã hội”
Tất cả các xã hội (cả quá khứ lẫn hiện tại) đều được đặc trưng bởi các khác
biệt xã hội. Đó là một quá trình trong đó con người tạo nên khoảng cách do ứng xử
khác nhau bởi các địa vị, vai trò và những đặc điểm khác.
Quá trình của sự khác biệt xã hội không đòi hỏi con người đánh giá các vai
trò và các hành động cụ thể tồn tại như là quan trọng hơn những cái khác. Tuy
nhiên, sự khác biệt xã hội chuẩn bị cho BBĐXH, là một điều kiện trong đó con
người có cơ hội không ngang bằng về sử dụng của cải, quyền lực và uy tín.
Điều này đúng với cả những xã hội đơn giản nhất, vì ngay cả trong xã hội ấy
thì vẫn có hiện tượng “người già có quyền uy với người trẻ, cha mẹ có quyền uy với
con cái và nam giới có quyền uy với phụ nữ” (Daniel Rossides, 1976). Sự khác biệt
ấy chính là tiền đề của BBĐXH.
BBĐ không phải là một hiện tượng tồn tại một cách ngẫu nhiên giữa các cá
nhân trong xã hội. Xã hội có BBĐ khi một số nhóm xã hội kiểm soát và khai thác
các nhóm xã hội khác. Những xã hội khác nhau tồn tại những hệ thống BBĐ khác
nhau. Là vấn đề trung tâm của xã hội học, BBĐ có ý nghĩa quyết định đối với sự
phân tầng trong tổ chức xã hội. Bởi vậy, các nhà xã hội học quan tâm tới cách mà
những nhóm xã hội khác nhau có mối quan hệ BBĐ với những nhóm xã hội khác.
Những thành viên của mỗi nhóm xã hội sẽ có những đặc điểm chung và luôn coi vị
trí BBĐ của họ sẽ được truyền lại cho con cái họ.
Nhưng trước khi định nghĩa thế nào là BBĐXH, chúng ta cần hiểu thế nào là
“bình đẳng xã hội”.

Bình đẳng xã hội được thể hiện trên cả hai phương diện, tự nhiên và xã
hội. Trên bình diện tự nhiên, bình đẳng không có nghĩa là mọi người đều có
những năng lực thể chất và tinh thần hoàn toàn giống nhau. Trên bình diện xã
15


hội, bình đẳng bao hàm sự ngang bằng nhau giữa người và người về mặt năng
lực, thể chất, trí tuệ, điều kiện, cơ hội, vị thế, nghề nghiệp trong xã hội và
những lợi ích vật chất, tinh thần mà mỗi người nhận được từ vị thế, vai trò xã
hội của họ [41]. Ngân hàng Thế giới (WB) cũng cho rằng những thành tựu
trong cuộc sống của một người, một cá nhân phải được quyết định chủ yếu bởi
tài năng và công sức của họ chứ không phải là những hoàn cảnh đã định trước
như chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc, chủng tộc, giới tính, hoàn cảnh xã hội,
gia đình hay nơi sinh….
Trong quá trình thực hiện quyền bình đẳng của con người, từ xưa tới nay,
thường xuyên xảy ra sự không ngang bằng nhau giữa nhóm người này với nhóm
người khác, dẫn đến BBĐXH.
Vậy, BBĐXH chính là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội, về lợi ích của
những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội [19; tr224].
Một vài quan điểm về bất bình đẳng xã hội
BBĐXH phải chăng là một hiện tượng xã hội không thể nào tránh khỏi? Vấn
đề này còn có nhiều ý kiến. Có người cho rằng BBĐXH luôn hiện diện bởi sự khác
biệt nhân cách giữa những cá nhân. Nếu có một xã hội mở và nếu con người khác
nhau về mặt tài năng và nhu cầu thì điều đó sẽ hàm ý rằng BBĐXH là không thể
tránh được. Đó là một thực tế của xã hội. “Một số BBĐ đến như là kết quả không
thể né tránh BBĐ về sinh học, của kỹ năng, của thể chất, khả năng tinh thần và
những khía cạnh của nhân cách” (Cauthen, 1987).
Một nhà triết học trước đây cũng đã khẳng định rằng có những khác biệt “tự
nhiên” giữa các cá nhân. Trong thực tế, vẫn còn tồn tại những khác biệt trong kiểu
phân chia giới như là kết quả không thể tránh được của BBĐ. Aristotle đã nói rằng:

“đàn ông bản chất là thống trị, đàn bà là bị trị, và đó là một luật lệ”. Gần đây,
Goldberg (1973) còn nói rằng sự thống trị và sự thành đạt cao của nam giới là khả
năng không thể đảo ngược, bởi có những khác biệt về sinh học giữa nam và nữ.
Một số nhà lí luận khác đã cho rằng BBĐ là không thể tránh được. Nhưng họ
cho rằng nguyên nhân của nó là do xã hội có những nhiệm vụ này cần thiết hơn
16


những nhiệm vụ khác. Mặt khác, khả năng thực hiện những nhiệm vụ này là khác
nhau. Những người này lập luận rằng BBĐXH về lợi ích giữa các cá nhân là cần thiết
để thúc đẩy người giỏi nhất thực hiện những nhiệm vụ khó khăn nhất. Trong điều
kiện như vậy, không thể thủ tiêu BBĐ vì bình đẳng có thể nguy hiểm cho xã hội.
Khác hẳn với quan niệm trên đây, một số người cho rằng BBĐ chủ yếu là do
cấu trúc của hệ thống xã hội gây ra chứ không phải do sự khác biệt về tài năng, đặc
điểm và nhu cầu cá nhân. Theo Rousseau, nguồn gốc của BBĐ liên quan tới sở hữu
tư nhân về của cải. Những đặc điểm về kinh tế - chính trị và thị trường lao động tạo
ra những khác biệt trong thu nhập và của cải. Thực chất sự khác biệt về vị trí các cá
nhân trong cơ cấu xã hội gây ra BBĐ kinh tế.
Nói đến lí luận BBĐXH cần phải nhắc tới hai nhà xã hội học bậc thầy là
Marx và Weber. Học thuyết của Marx chủ yếu dựa trên sự nghiên cứu về các học
thuyết kinh tế mà ông coi là nền tảng của cơ cấu giai cấp. Với Marx, mối quan hệ
giai cấp là chìa khóa của mọi vấn đề trong đời sống xã hội. Những lợi ích kinh tế,
chính trị, ý kiến xã hội đều bắt nguồn từ kết cấu giai cấp.
Khác với Marx, Weber không coi mọi cấu trúc xã hội đều BBĐ như trong
một xã hội có giai cấp. Weber nhấn mạnh tới quyền lực kinh tế có thể là kết quả
nắm giữ quyền lực dựa vào các nền tảng khác. Địa vị xã hội và uy tín xã hội có thể
xuất phát từ quyền lực kinh tế, song đó không phải là tất yếu duy nhất. Ngược lại
địa vị có thể tạo nên cơ sở của quyền lực chính trị.
Ngoài ra, khi nói về BBĐXH thì ta không thể không nhắc đến sự BBĐ về cơ
hội. BBĐ về cơ hội là những hoàn cảnh khác nhau của mỗi người (giới tính, màu

da, nơi sinh, nguồn gốc gia đình, các nhóm giai tầng…) đã tạo nên sự thành đạt
cũng khác nhau về kinh tế, xã hội và chính trị ở họ; hoặc là chúng đã tạo nên sự
hưởng thụ và tiếp cận khác nhau đối với các nguồn lực kinh tế, xã hội, văn hóa và
chính trị ở mỗi người có mỗi hoàn cảnh khác nhau [28; tr4].
Xã hội học muốn phát hiện, khám phá nguồn gốc của BBĐ trong văn hóa và
cơ cấu xã hội của bản thân các xã hội. Mặc dù họ không nhận thấy rằng có những
khác biệt bẩm sinh trong những cá nhân hoặc những khác biệt trong quá trình phát
17


triển cá nhân tạo nên BBĐ, song các nhà xã hội học tin rằng văn hóa và cơ cấu xã
hội là yếu tố chủ yếu của những BBĐXH giữa các cá nhân. Trong khi các nhà xã
hội học đồng ý rằng BBĐ là phổ biến, thì họ lại không thống nhất được như thế nào
là BBĐ và tại sao nó lại tồn tại?
Cơ sở tạo nên bất bình đẳng xã hội
Trong những xã hội khác nhau, BBĐ cũng có những nét khác biệt. Ở xã hội
quy mô lớn và hoàn thiện hơn thì BBĐ gay gắt hơn so với các xã hội giản đơn.
BBĐ thường xuyên tồn tại với những nguyên nhân và kết quả cụ thể liên quan đến
giai cấp xã hội, giới tính, chủng tộc, tôn giáo, lãnh thổ…
Nhưng, cho dù những nguyên nhân dẫn đến BBĐ có đa dạng và khác nhau
giữa các xã hội và nền văn hóa, thì người ta vẫn có thể quy chúng về ba loại cơ bản:
những cơ hội trong cuộc sống, địa vị xã hội, ảnh hưởng chính trị.
Trước hết là sự khác nhau về các cơ hội trong cuộc sống. Trong một xã hội
cụ thể, nhóm người này có thể có những cơ hội thuận lợi về vật chất để có thể cải
thiện chất lượng cuộc sống (của cải, tài sản, thu nhập) hoặc cơ hội thuận lợi để
CSSK hay đảm bảo an ninh xã hội. Cơ hội là những thực tế và những thực tế này
cho thấy những lợi ích vật chất và sự lựa chọn thực tế của một nhóm xã hội, bất kể
những thành viên của nhóm có nhận thức được điều đó hay không. Trong một xã
hội cụ thể, một nhóm người có thể có những cơ hội trong khi các nhóm khác thì
không. Và đó là cơ sở khách quan của BBĐXH.

Ngược lại, với cơ sở khách quan trên đây, những BBĐ về địa vị xã hội là do
các thành viên của các nhóm xã hội tạo nên và thừa nhận chúng.
Cơ sở về địa vị xã hội có thể khác nhau. Yếu tố làm nên địa vị xã hội có thể
khác nhau (của cải, địa vị tôn giáo, địa vị chính trị…). Địa vị này chỉ có thể được
giữ vững bởi những nhóm xã hội nắm giữ địa vị đó và các nhóm xã hội khác thừa
nhận tính ưu việt của những nhóm đó.
BBĐ trong ảnh hưởng chính trị có thể được nhìn nhận như là có được từ
những ưu thế vật chất hoặc địa vị cao. Trên thực tế, bản thân chứa vụ chính trị có
18


thể tạo ra cơ sở để đạt được địa vị và những cơ hội trong cuộc sống, có thể gọi đó là
những BBĐ dựa trên cơ sở chính trị.
Ngoài ra, còn phải kể đến một nguyên nhân vô cùng quan trọng khác là
tình trạng kì thị và định kiến về sự khác biệt giới, đẳng cấp, tôn giáo và màu da
đã làm giảm khả năng thăng tiến của các cá nhân và sự đóng góp cho nền kinh tế
của họ. Sự kì thị và định kiến này đã tạo ra những cơ chế làm tái diễn sự BBĐ
giữa các nhóm người.
Từ đó có thể nhận thấy rằng cấu trúc BBĐ có thể dụa trên một trong ba ưu
thế. Gốc rễ của sự BBĐ có thể nằm trong các mối quan hệ kinh tế, địa vị xã hội hay
trong mối quan hệ thống trị về chính trị.
Các hậu quả của bất bình đẳng xã hội
Nhiều nghiên cứu cho thấy, BBĐXH đã gây ra những hậu quả là sự lãng
phí nguồn lợi vật chất và con người, gây tổn hại cho sự phát triển bền vững và
xóa đói giảm nghèo và làm cho sự gắn kết xã hội yếu đi, thậm chí là ảnh hưởng
không tốt đến sức khỏe của con người. “Không chỉ các kết cục về y tế có mối
tương quan với các phương diện khác của BBĐ, mà chính sự BBĐXH đó cũng
được cho là có hại đến tình trạng sức khỏe của cá nhân” [31; tr49].
Các biện pháp chủ yếu nhằm làm giảm bất bình đẳng xã hội
Bình đẳng xã hội là cái mà toàn nhân loại luôn hướng tới. Muốn đạt được

điều này, loài người cần phải nỗ lực phi thường và bền bỉ. Các biện pháp nhằm làm
giảm BBĐXH:
Đầu tư vào năng lực con người ngay từ lúc mới được sinh ra; Mở rộng khả
năng tiếp cận đến hệ thống tư pháp, đất đai và cơ sở hạ tầng; Mở rộng khả năng tiếp
cận đến các thị trường tài chính, lao động và thực hiện tốt chính sách quản lí nền
kinh tế vĩ mô; Vai trò của chính sách Nhà nước trong giải quyết những BBĐ
vùng miền; Thực hiện dân chủ, sự tham gia và trao quyền cho người dân ở cấp
địa phương; Thúc đẩy sự bình đẳng giới…
19


Ý nghĩa của việc nghiên cứu bất bình đẳng xã hội
Việc nghiên cứu BBĐXH sẽ giúp ta thấy được điểm xuất phát của mỗi cá
nhân trong cuộc sống và qua đó đánh giá chính xác sự phấn đấu vươn lên của
mỗi người, từ đó thấy được giá trị đích thực của mỗi cá nhân trong cuộc sống;
đồng thời làm cơ sở cho nhà nước đưa ra chính sách XH đúng đắn, đặc biệt các
chính sách an sinh xã hội.
Trong đề tài này, chúng tôi cho rằng, BBĐXH trong tiếp cận các DVYT có
thể được hiểu là sự phân phối, phân chia những thành tựu y tế đạt được cho các
thành viên trong xã hội là không đều nhau dựa theo những cơ sở xã hội khác nhau.
Những người có cơ sở xã hội khác nhau sẽ nhận được những mức độ thành tựu y
tế cũng khác nhau. BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân còn được gọi
là BBĐ về cơ hội tiếp cận các DVYT, nghĩa là khả năng được chăm sóc y tế
không tùy thuộc vào nhu cầu y tế của người bệnh mà tuỳ thuộc vào tình hình tài
chính, thu nhập, địa vị xã hội, uy tín xã hội, trình độ học vấn và nguồn tiếp cận
thông tin y tế của họ.
1.1.2. Khái niệm phân tầng xã hội
Phân tầng xã hội (social stratification) có nguồn gốc chữ Latin là stratum
(tầng lớp) và phacio (sự phân chia), có nghĩa là phân chia thành tầng lớp. Đây là
một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học. Xã hội học sử dụng thuật ngữ

này để nói tới trạng thái phân chia xã hội thành các tầng lớp. Nhìn chung, khi nói
đến phân tầng xã hội, một số tác giả đề cập đến BBĐXH và coi đó là như là một
yếu tố cơ bản cho việc hình thành nên phân tầng xã hội. Một số tác giả quan tâm
đến sự phân phối không đồng đều các lợi ích giữa các thành viên trong xã hội, coi
đó là nguyên nhân dẫn tới sự BBĐXH.
Đã có rất nhiều người bàn về phân tầng xã hội như Max Weber,
P.A.Sorokhin, Tony Bilton, Talcott Parsons, Neil Smelsser, Robertsons…
Max Weber đã đưa ra nguyên tắc tiếp cận ba chiều đối với vấn đề phân tầng,
ông coi khái niệm phân tầng xã hội bao hàm cả việc phân chia xã hội thành các giai
cấp. Ba chiều hay ba khía cạnh đó là địa vị kinh tế (tài sản), địa vị chính trị (quyền
20


lực), địa vị xã hội (uy tín) cấu thành các tầng của xã hội. Theo Max Weber, tài sản,
quyền lực, uy tín có thể độc lập với nhau, song trong thực tế chúng có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Chúng có thể chuyển hóa cho nhau, củng cố hoặc chi phối lẫn nhau.
Người có tài sản có thể dễ dàng sử dụng để đạt được quyền lực, uy tín; ngược lại
người có quyền lực và uy tín lại có thể sử dụng chính quyền lực và uy tín đó để
nhận được những bổng lộc, quyền lợi kinh tế do xã hội mang lại.
Robertsons thì cho rằng phân tầng xã hội là sự BBĐ mang tính cơ cấu của tất
cả các xã hội loài người; là sự khác nhau về khả năng thăng tiến xã hội bởi địa vị
của họ trong thang bậc xã hội.
Tác giả đồng tình với quan niệm của Trung tâm Xã hội học, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh: “Phân tầng xã hội là sự BBĐ mang tính cơ cấu của mọi
xã hội loài người, trừ những tổ chức xã hội sơ khai (thời kì đầu của xã hội công xã
nguyên thủy). Phân tầng xã hội là sự phân chia, sắp xếp các thành viên trong xã hội
thành các tầng xã hội khác nhau. Đó là sự khác nhau về địa vị kinh tế hay tài sản,
về địa vị chính trị hay quyền lực, địa vị xã hội hay uy tín cũng như khác nhau về
trình độ học vấn, loại nghề nghiệp, phong cách sinh hoạt, cách ăn mặc, kiểu nhà ở,
nơi cư trú, thị hiếu nghệ thuật, trình độ tiêu dùng…” [42; tr78].

1.1.3. Dịch vụ y tế và các khái niệm liên quan
Khái niệm “dịch vụ y tế”
Khái niệm này được hiểu theo nghĩa là một loại hình dịch vụ xã hội nhằm đáp
ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của người dân, dịch vụ này bao gồm hệ thống
các cơ sở phòng và điều trị bệnh tật, cung ứng thuốc men, các nhân viên y dược…
Đây là loại hình dịch vụ mà người sử dụng thường không thể tự mình hoàn
toàn chủ động lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên
cung ứng (các cơ sở y tế). Cụ thể là khi người bệnh có nhu cầu KCB, việc điều trị
theo phác đồ nào, thời gian bao lâu… hoàn toàn do thầy thuốc (bên cung cấp) quyết
định. Mặt khác, DVYT là một loại hình dịch vụ đặc biệt, nó gắn chặt chẽ với sức
khỏe và tính mạng con người nên dẫu không có tiền, người bệnh vẫn phải KCB,
khác hẳn với các loại hình dịch vụ khác, ở đó người sử dụng có nhiều giải pháp lựa
chọn, thậm chí là tạm thời không sử dụng nếu tình hình tài chính hạn hẹp.
21


Khái niệm “tiếp cận các DVYT”
Tiếp cận các DVYT là một trong những quyền cơ bản của công dân. Quyền này
được quy định và thừa nhận rộng rãi trong nhiều văn kiện pháp lí quốc tế về quyền con
người và pháp luật của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Tiếp cận các DVYT chính
là khả năng được biết và thụ hưởng những chăm sóc y tế (khám và điều trị đúng, đủ, kịp
thời) để đảm bảo sức khỏe của mình.
Khái niệm “người dân nông thôn” và “người dân thành thị”
Thực hiện đề tài này, tác giả đã khảo sát ở hai địa bàn, một ở nông thôn và một
ở thành thị. Do đó, cần tìm hiểu khái niệm người dân nông thôn và người dân thành thị.
Người dân nông thôn là những người cư trú thường xuyên ở khu vực nông thôn.
Họ có thể tham gia hoặc không tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Người dân thành thị là những người cư trú thường xuyên tại khu vực thành thị.
1.2. Quan điểm lí thuyết sử dụng trong nghiên cứu
Lí thuyết phân tầng xã hội

Phân tầng xã hội - giai cấp
Max Weber nghiên cứu cấu trúc xã hội của chủ nghĩa tư bản sau Marx hơn
nửa thế kỷ. Do đó, Weber đã ghi nhận được những thay đổi quan trọng trong cơ cấu
giai cấp xã hội để phát triển lí thuyết xã hội học về phân tầng xã hội. Theo Weber,
lĩnh vực kinh tế không còn đóng vai trò của một nhân tố quyết định duy nhất đối với
sự phân chia giai cấp và tầng lớp xã hội trong xã hội tư bản hiện đại. Cấu trúc xã hội
nói chung và sự phân tầng xã hội nói riêng đều chịu tác động của hai nhóm yếu tố
cơ bản sau:
+ Các yếu tố kinh tế (vốn, tư liệu sản xuất, thị trường…)

+ Các yếu tố phi kinh tế (vị thế xã hội, năng lực, cơ may, quyền lực…) trong
quá trình hình thành và biến đổi cấu trúc xã hội và sự phân tầng xã hội.
Weber quan niệm giai cấp là một tập hợp người có chung các cơ hội sống
trong điều kiện kinh tế thị trường. Cơ hội sống được hiểu là các cơ may nảy sinh ra
từ việc sản xuất, nắm giữ, sử dụng và mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
Thị trường là lĩnh vực mà ở đó hàng hóa, lao động hàng hóa và dịch vụ được sản
22


xuất ra và đem trao đổi. Thị trường cũng là lĩnh vực thể hiện các lợi ích kinh tế và
thu nhập. Vì vậy, nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và biến
đổi tình huống giai cấp.
Weber phân biệt hai loại tình huống giai cấp chính: một là tình huống của
những người sở hữu tài sản và sử dụng tài sản đó để thu lợi nhuận; hai là tình huống
của những người không có tài sản, phải bán sức lao động, tay nghề, dịch vụ để lấy
tiền công hay tiền lương. Từ đó, Weber xem xã hội cấu thành từ hai nhóm giai cấp
tương ứng với hai tình huống trên, và mỗi giai cấp bao gồm các tầng lớp xã hội
khác nhau. Các cơ may sống bắt nguồn từ vốn, tài sản, sức lao động, kỹ năng, tay
nghề và dịch vụ và nó phụ thuộc vào điều kiện của thị trường. Những thay đổi trong
điều kiện thị trường kéo theo sự thay đổi trong cơ cấu giai cấp.

Thừa nhận yếu tố kinh tế biểu hiện cụ thể qua các cơ hội trao đổi trên thị
trường là yếu tố quyết định số phận con người, Weber cho rằng “tình huống giai
cấp” xét cho cùng về mặt kinh tế là “tình huống thị trường”. Đó là tình huống chủ
yếu bị quy định bởi các thị trường.
Theo ông, có hai hình thức phân tầng xã hội về mặt kinh tế:
+ Sự phân tầng xã hội thành các giai cấp khác nhau về sở hữu tài sản.
+ Sự phân tầng xã hội thành các giai cấp khác nhau về mức thu nhập.
Phân tầng xã hội – vị thế
Theo quan điểm của Weber, trong xã hội có cả những người mà cuộc sống
của họ và nhất là lối sống của họ không hoàn toàn phụ thuộc vào tình huống thị
trường mà phụ thuộc vào uy tín, danh vọng và sự đánh giá của xã hội dành cho họ.
Ông gọi đó là nhóm vị thế.
Weber cho rằng “cả hai loại người có tài sản và không có tài sản đều có thể
cùng một nhóm vị thế”. Nhóm các nhà doanh nghiệp là một nhóm vị thế, nhóm sinh
viên là một nhóm vị thế vì mỗi nhóm này đều có chung một mức trọng vọng vị nể,
danh dự nhất định từ phía xã hội mặc dù trong số họ có người giàu, cũng có người
nghèo. Khác với nhóm giai cấp, các nhóm vị thế thường là các cộng đồng bao gồm
những người trong cùng một “tình huống vị thế” tức là cùng chia sẻ mức độ danh
vọng, mức độ kính trọng từ phía xã hội.
23


Khác với quyết định luận kinh tế, Weber cho rằng tình huống vị thế có thể là
nguyên nhân cũng như có thể là kết quả của tình huống giai cấp. Mối quan hệ này
thể hiện ở chỗ một mặt sự phân tầng vị thế gồm các nhóm vị thế khác nhau, các
cộng đồng có uy tín, danh vọng khác nhau có khả năng tác động tới cấu trúc kinh tế
thông qua các hàng rào hoặc các quy định về tiêu dùng và bằng sự độc quyền về vị
thế mà xét về ý nghĩa kinh tế thì có vẻ phi lí. Mặt khác, sự phân tầng về vị thế tác
động mạnh mẽ tới nền kinh tế thông qua sự chỉ huy của nhóm người thuộc tầng lớp
được trọng vọng và có uy tín cao trong xã hội.

Quyền lực, đảng phái và phân tầng xã hội
Weber đưa ra định nghĩa nổi tiếng về quyền lực, trong đó nhấn mạnh tới bộ
mặt thứ nhất của nó. Quyền lực là khả năng của cá nhân hay nhóm người thực hiện
được ý chí của họ, bất chấp sự chống đối của người khác. Trong khái niệm này,
Weber chỉ ra hai điều kiện cơ bản của quyền lực: thứ nhất, cả hai bên gồm người có
quyền lực, và người bị chi phối bởi quyền lực ấy đều phải tham gia vào hành động
xã hội; thứ hai, người có quyền lực phải là người nắm giữ vị trí nhất định trong
cộng đồng xã hội.
Nhất quán với thuyết hành động xã hội, Weber coi đảng phái là tập hợp một
nhóm người có kiểu hành động đặc trưng bởi mục tiêu chiếm giữ vị trí quyền lực
nhất định và gây ảnh hưởng tới hành động của người khác. Ông chỉ rõ hành động
của các đảng phái hướng vào việc chiếm giữ quyền lực xã hội, tức là, nhằm gây ảnh
hưởng đối với hành động của cộng đồng bất chấp nội dung của nó là gì.
Tương tự như giai cấp và nhóm vị thế, đảng phái cũng xuất hiện và sống
cuộc sống riêng của nó trong tình huống nhất định. Trên cấp độ cấu trúc vi mô,
đảng phái bao gồm những cá nhân có cùng lợi ích kinh tế, tức là cùng một tình
huống giai cấp hoặc gồm các cá nhân thuộc cùng nhóm vị thế. Trên cấp độ cấu trúc
vĩ mô, đảng phái là một tổ chức chặt chẽ luôn đấu tranh vì quyền lực, vì vị trí và vai
trò thống trị. Weber khẳng định: “Đảng phái, bao giờ cũng là những cấu trúc đấu
tranh vì quyền thống trị, thường được tổ chức một cách nghiêm ngặt và “độc đoán”.
24


Ngoài sự phân tầng xã hội – giai cấp và phân tầng nhóm vị thế còn có
phân tầng xã hội - đảng phái dựa vào quyền lực. Cấu trúc phân tầng xã hội này
gồm có các đảng phái, những nhóm người khác nhau về vị trí, vai trò trong quan
hệ quyền lực.
Nguyên nhân của phân tầng xã hội
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích, chọn lọc, tiếp thu một cách có phê phán toàn
bộ những quan niệm và các cách kiến giải khác nhau của xã hội học về phân tầng xã

hội nhằm kiến giải câu hỏi: nguyên nhân của phân tầng xã hội là gì?
Sở dĩ có hiện tượng phân tầng xã hội là do hai nguyên nhân cơ bản sau:
- Do sự BBĐ mang tính cơ cấu của tất cả các chế độ xã hội của loài
người(trừ giai đoạn đầu của xã hội công xã nguyên thủy)
- Do sự phân công lao động xã hội
Các hình thức phân tầng xã hội
Phân tầng xã hội là một hiện tượng khách quan, phổ biến và khó có thể tránh
khỏi. Nó tồn tại dưới hai hình thức:
Phân tầng xã hội hợp thức: sự phân tầng xã hội dựa trên sự khác biệt một
cách tự nhiên về năng lực (thể chất, trí tuệ), về điều kiện cơ may cũng như tính cách
và đạo đức của các cá nhân và các nhóm xã hội. Nó làm giảm hố ngăn cách giàu
nghèo và bất công xã hội.
Phân tầng xã hội không hợp thức: không dựa trên sự khác biệt tự nhiên giữa
các cá nhân, cũng không phải dựa trên sự khác nhau về tài đức, về sự cống hiến của
mỗi người cho xã hội mà dựa trên những hành vi bất chính như tham nhũng, lừa
đảo, trộm cắp, làm ăn phi pháp để trở nên giàu có. Do vậy nó làm gia tăng hố ngăn
cách giàu nghèo và bất công xã hội.
Các hệ thống phân tầng xã hội trong lịch sử
Phân tầng xã hội đóng: phân tầng xã hội trong xã hội phong kiến do người
đứng đầu xã hội (nhà vua) quyết định dân cư ở các giai tầng. Đặc trưng là ranh giới
giữa các tầng lớp hết sức rõ rệt, duy trì nghiêm ngặt, địa vị mỗi người được quyết
định khi vừa mới sinh ra bởi nguồn gốc dòng dõi cha mẹ mình, người khác đẳng
cấp không được kết hôn với nhau, do đó làm giảm tính năng động xã hội.
25


Phân tầng xã hội mở: phân tầng xã hội trong xã hội công nghiệp - tạo ra các
điều kiện để các cá nhân tự khẳng định tài năng của mình. Địa vị của con người
trong xã hội phụ thuộc chủ yếu vào địa vị của họ trong kinh tế. Ranh giới giữa các
tầng linh hoạt và mềm dẻo hơn. Phân tầng xã hội này giải phóng sức lao động xã

hội, do vậy làm tăng tính năng động xã hội, tạo ra sự phát triển xã hội mạnh mẽ.
Đặc trưng của phân tầng xã hội
- Phân tầng xã hội là sự phân hóa, sự sắp xếp các cá nhân thành những tầng
lớp, thang bậc khác nhau trong cơ cấu xã hội
- Phân tầng thường được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
nhưng không phải nhất thành bất biến mà luôn có sự thay đổi nhất định (sự di
chuyển từ tầng lớp này sang tầng lớp khác trong cơ cấu xã hội hoặc trong nội
bộ từng tầng riêng biệt)
Sự BBĐ trong việc tiếp cận các cơ hội phát triển là kết quả của sự phân hóa
xã hội, phân tầng xã hội ngày càng sâu sắc trong các tầng lớp dân cư. Khoảng cách
giữa các nhóm xã hội càng lớn thì sự BBĐ càng cao. Trong tiếp cận các DVYT thì
biểu hiện này càng rõ nét. Chẳng hạn những người có năng lực về kinh tế có khả
năng tiếp cận với các DVYT chất lượng cao hơn những người có thu nhập thấp –
những người chỉ trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước và hệ thống an sinh xã hội.
Mối quan hệ giữa bất bình đẳng xã hội và phân tầng xã hội
Gữa phân tầng xã hội và BBĐXH có mối quan hệ nhân – quả. BBĐXH là
nguyên nhân tạo nên sự phân chia xã hội thành các tấng lớp khác nhau. Hay nói
cách khác, phân tầng xã hội là hệ quả của BBĐXH, luôn luôn gắn liền với BBĐXH.
Mối quan hệ đó được thể hiện ở chỗ: BBĐXH diễn ra trong xã hội càng đa dạng,
càng phức tạp thì phân tầng xã hội cũng diễn ra càng đa dạng và phức tạp. Về mặt lí
thuyết, các nhà xã hội học đưa ra mô hình phân tầng xã hội khác nhau tùy thuộc vào
các tiêu chuẩn xác định sự BBĐ mà họ đưa ra (theo chức năng giá trị, theo quyền
lực chính trị và uy tín hoặc giai cấp…).
BBĐXH được hình thành trong đời sống xã hội, mà trước hết là trong lĩnh
vực sản xuất vật chất của xã hội, gắn liền với sự phân công lao động xã hội. Vì vậy,

×