Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

tạm giữ trong tố tụng hình sự và một số đề xuất hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (162.96 KB, 15 trang )

A. Lời Mở Đầu
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp
dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố
(trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành
vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp
luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
hình sự. Việc sử dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình tố tụng hình sự là
điều cần thiết,trong những biện pháp ngăn chặn đó thì tạm giữ trong tố tụng hình sự
Việt Nam là một trong những biện pháp ngăn chăn quan trọng và hữu hiệu.
Vậy biện pháp tạm giữ được quy định như thế nào trong luật tố tụng hình sự
và việc áp dụng biện pháp đó như thế nào trong thực tế đang là vấn đề cần được
quan tâm của xã hội. Do đó, bài viết dưới đây em xin được tìm hiểu về vấn đề :
tạm giữ trong tố tụng hình sự và một số đề xuất hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu
quả áp dụng.
B. Nội Dung
I. Những quy định về biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong tố tụng
hình sự.
1. Khái niệm tạm giữ.
Căn cứ những quy định tại Điều 86 BLTTHS và xuất phát từ thực tiễn áp
dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, có thể đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn chặn
tạm giữ như sau: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, do cơ
quan và người có thẩm quyền theo pháp luật áp dụng đối với những người bị bắt
trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy
nã, người phạm tội tự thú, đầu thú nhằm ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện cho việc
xử lý tội phạm được chính xác cao kịp thời.Qua đó tạo điều kiện đảm bảo cho cơ
quan điều tra có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu.Trên cơ sở đó
ra các quyết định tố tụng như khởi tố bị can,tạm giam áp dụng các biện pháp ngăn
chặn khác hoắc trả tự do cho họ.
1
Mục đích tạm giữ đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội
quả tang, phạm tội tự thú, đầu thú là để ngăn chặn hành vi pham tội, hành vi trốn


tránh pháp luật, cản trở hoạt động điều tra của người phạm tội, tạo điều kiện cho
Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ tài liệu, bước đầu xác định tính chất hành vi
của người tạm giữ. Áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ đối với người bị bắt theo
lệnh truy nã để có thời gian cho cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị
bắt.
2. Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ.
Theo khoản 1 Điều 86 BLTTHS năm 2003 quy định: “tạm giữ có thể được áp
dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang,người
phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã”. Như vậy theo
quy định của pháp luật thì đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ bao gồm:
- Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp thường phải bị tạm giữ vì trong hầu hết
các trường hợp thì quyết định bắt khẩn cấp cơ quan điều tra xác định cần phải ngăn
chặn việc người đó trốn thoát hoặc cản trở điều tra.
- Người phạm tội tự thú là người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị phát
hiện, nay ra trình báo với cơ quan có thẩm quyền về việc phạm tội của mình. Đây
là người đã thực hiện tội phạm nhưng chưa bị cơ quan có thẩm quyền xác định đó
là ai mặc dù vụ án đã bị phát hiện,như các trường hợp cơ quan bảo vệ pháp luật biết
vụ án xảy ra (đã hoặc chưa khởi tố vụ án) nhưng chưa biết ai là người thực hiện
hành vi phạm tội hoặc vụ án chưa phát hiện được do xảy ra trong rừng sâu.
- Người phạm tội đầu thú: là người đã thực hiện tội phạm và đã bị phát hiện; người
đã bi tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt trốn khỏi nơi giam giữ,
người có nghĩa vụ phải chấp hành án phạt tù nhưng đã trốn thoát nơi cư trú nay ra
đầu thú. Đặc điểm chung của người đầu thú là cơ quan bảo vệ pháp luật đã biết
nhân than của họ và họ phạm tội gì? Trốn từ lúc nào? Thực chất của việc đầu thú là
đầu hàng cơ quan pháp luật, biết được rằng mình không thế thoát được nên đã trình
diện và khai báo với cơ quan nhà nước về việc phạm tội của mình để mong được
hưởng sự khoan hồng, làm nhẹ tội.
2
- Đối với người bị bắt theo lệnh truy nã, ngay sau khi lấy lời khai,cơ quan điều tra
nhận người bị bắt phải thông báo cho cơ quan đã ra lệnh truy nã để cơ quan này

đến nhận người bị bắt.Việc tạm giữ đối với người này chỉ đặt ra khi xét thấy cơ
quann đã ra lệnh truy nã không thể đến ngay để nhận người bị bắt.
*** Chính việc quy định 1 cách cụ thể các trường hợp áp dụng như trên đã tạo
điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định đúng đối tượng cần tiến
hành bắt giữ trên thực tế, tránh nhầm lẫn. Tuy nhiên không phải bất cử người nào
bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quá tang, tự thú, đầu thú hoặc bắt người
theo quyết định truy nã đều bị ra lệnh tạm giữ. Nếu phạm tội ít nghiêm trọng, sự
việc đơn giản không có căn cứ cho rằng người phạm tội bỏ trốn, thông cung cản trở
việc điều tra hoặc tiếp tục việc phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng thì có thể không bị
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ.Trong trường hợp này cơ quan có thẩm
quyền phải nhanh chóng lấy lời khai, xác minh những tình tiết có liên quan đến
hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội để làm căn cứ ra quyết định khởi tố bị
can, áp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự do cho người đó.
Bên cạnh đó, nhà nước cũng đã thể hiện sự quan tâm đến việc tạm giữ người
chưa thành niên phạm tội khi đưa ra quy định chi tiết: “Người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi có thể bị tạm giữ nếu có đủ căn cứ tại điều 86 BLTTHS năm 2003
nhưng chỉ trong truờng hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm
trọng. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giữ nếu có căn cứ tại điều
86 BLTTHS năm 2003 nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý,
phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”. (Điều 303
BLTTHS).
- Khi người bị tạm giữ có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân thích
là người tàn tật, già yếu không có người chăm sóc thì ra cơ quan có thẩm quyền ra
quyết định tạm giữ có trách nhiệm đối với họ. Trong trường hợp người bị tạm giữ
có nhà hoặc tài sản khác không có người trông nom, bảo quản thì cơ quan có thẩm
quyền ra quyết định tạm giữ có nhiệm vụ trông nom, bảo quản. Quy định này thể
hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta và bảo đảm quyền lợi
hợp pháp của người bị tạm giữ.
3
- Trong khi tạm giữ nếu không đủ căn cứ để khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay

cho người bị tạm giữ, đây là quy định mới so với BLTTHS 1988. Đây là một ưu
điểm vì bảo vệ quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân, quy định chặt chẽ
hơn việc tạm giữ người, hạn chế việc phải bồi thường thiệt hại cho người bị bắt
oan.
3.Thẩm quyền ra lệnh tạm giữ.
Theo khoản 2, Điều 86 BLTTHS quy định: “ Những người có quyền ra lệnh bắt
khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này, Chỉ huy trưởng vùng cảnh
sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ”. Như vậy, những người có quyền ra lệnh
bắt khẩn cấp bao gồm:
- Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp (cơ quan điều tra trong
công an nhân dân, cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, cơ quan điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao… )
- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người
chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới.
- Người chỉ huy tàu bay, sân bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay,
bến cảng.
- Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển.
*** Như vậy theo quy định BLTTHS 2003 thì cơ quan điều tra cấp huyện trở lên
có quyền ra quyết định tạm giữ. Thực hiện quyết định này, khi nhận người bị bắt
trong từng trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì UBND phường,
xã, thị trấn phải tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản bắt người đang
bị truy nã và giải quyết ngay tới cơ quan thẩm quyền.
Cũng theo quy định này, những người có quyền ra quyết định tạm giữ không hoàn
toàn là những người đại diện của các cơ quan tiến hành tố tụng mà bao gồm cả
những người của các cơ quan Nhà nước khác hoặc trong lực lượng vũ trang.
4.Thủ tục tạm giữ.
Thủ tục tạm giữ bao gồm: quyết định tạm giữ, các công việc mà người thi hành
quyết định tạm giữ phải thực hiện trước hoặc sau khi tạm giữ người.
4
Thủ tục tạm giữ được quy định tại khoản 3 Điều 86 BLTTHS năm 2003. Việc tạm

giữ phải có lệnh viết của người có thẩm quyền. Lệnh tạm giữ phải nêu lí do tạm
giữ, thời hạn tạm giữ, ngày tháng hết tạm giữ và giao cho người tạm giữ một bản.
Trong thời hạn 12 giờ kể tư khi ra lệnh tạm giữ, lệnh tạm giữ phải được gửi cho
Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn. Nếu thấy
việc tạm giữ không đúng pháp luật hoặc không cần thiết thì viện kiểm sát ra quyết
định hủy bỏ việc tạm giữ và cơ quan đã ra lệnh tạm giữ phải trả tự do cho người bị
tạm giữ. Còn nếu xét thấy việc tạm giữ có căn cứ hoặc cần thiết thì Viện kiểm sát
ra quyết định phê chuẩn.
Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ trong những trường hợp sau đây:
- Người bị tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, trường
hợp phạm tội qủa tang hoặc đang bị truy nã và không phải là người phạm tội tự thú,
đầu thú.
- Người bị tạm giữ có những vi phạm nhỏ (vi phạm hành chính), tính chất nguy
hiểm cho xã hội không đáng kể, chưa đến lúc phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Người bị tạm giữ là người là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nhưng phạm tội
ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc pham tội rất nghiêm trọng do vô ý;
người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm
trọng do vô ý.
- Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội qủa tang nhưng sự việc phạm tội
nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng và không có
biểu hiện sẽ trốn hoặc cản trở việc điều tra.
- Người bị tạm giữ bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội qủa tang nhưng đã có
đủ tài liệu, chứng cứ kết luận họ không phạm tội.
*** Ngoài ra, người thi hành quyết định tạm giữ có trách nhiệm giải thích quyền
và nghĩa vụ của người bị tạm giữ do BLTTHS năm 2003 quy định tại khoản 2, 3
Điều 48. Đó là,người bị tạm giữ có quyền: được biết lí do mình bị tạm giữ,được
giải thích về quyền và nghĩa vụ;trình bày lời khai; tự bào chữa hoặc nhờ người
5
khác bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định
hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.Người bị tạm

giữ có nghĩa vụ phải thực hiện các quy định về tạm giữ của pháp luật quy định.
5. Thời hạn tạm giữ.
Theo quy định tại Điều 87 BLTTHS năm 2003 :Thời hạn tạm giữ không được quá
ba ngày kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt.
Thời điểm tính thời hạn tạm giữ được tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận người bị
bắt. Thời điểm cơ quan nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp tính từ khi
người bị bắt giải tới trụ sở cơ quan điều tra.Trong trường hợp bắt người qủa tang
hoặc bị truy nã, thời điểm tính thời hạn tạm giữ được tính từ khi công dân hoặc tổ
chức giao người bị bắt cho cơ quan điều tra.
+) Trong trường hợp cần thiết, sự việc xảy ra có nhiều tình tiết phức tạp, việc xác
minh phải thực hiện ở nhiều địa phương khác nhau hoặc cần thời gian để làm rõ
hành vi, làm rõ căn cứ, lí lịch của người bị tạm giữ thì người đã ra lệnh tạm giữ có
thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá ba ngày.
+) Trong trường hợp đặc biệt như đối với vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và một
số vụ án hình sự khác có nhiều người tham gia, sự việc cần xác minh rất phức tạp
mặc dù đã gia hạn lần thứ nhất nhưng vẫn chưa làm rõ sự việc thì người ra lệnh tạm
giữ có thể gia hạn lần thứ hai và cũng không được quá ba ngày.
*** Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn.
Nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải trả tự do cho
người bị tạm giữ sau khi hết hạn tạm giữ trước đó.Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi
nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ viện kiểm
sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Khi hết thời hạn tạm giữ
mà không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Thời hạn tạm giữ được tính trừ vào thời hạn tạm giam.
6

×