Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng kể chuyện cho học sinh lớp 2 trong phân môn tiếng việt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (132.6 KB, 11 trang )

ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH
LỚP 2 TRONG PHÂN MÔN TIÊNG VIỆT.
I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN.
Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho hệ thống giáo dục phổ thơng.
Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển nhân tài. Đào tạo những
con người có kiến thức văn hố, khoa học tự chủ, sáng tạo, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành
mạnh, phát triển giáo dục là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Mỗi mơn học ở Tiểu học có vị trí và vai trị quan trọng trong việc hình
thành nhân cách học sinh.
Môn Tiếng Việt được lồng ghép các phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập
làm văn và Kể chuyện. Kể chuyện ở Tiểu học ngồi mục đích giải trí, kích thích hứng thú học
tập, bồi dưỡng tâm hồn, trau dồi vốn sống còn nhằm phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh.
Đồng thời mở rộng tích cực hoá vốn từ ngữ , phát triển tư duy, nâng cao hiểu biết về đời sống
góp phần hình thành nhân cách con người mới.
Nhưng làm thế nào để dạy tốt tiết kể chuyện? Làm thế nào để gây hướng thú đối với các
em? Làm thế nào để rèn luyện kỹ năng kể chuyện cho học sinh Tiểu học nói chung, học sinh
lớp 2 nói riêng? Đó là một vấn đề quan trọng được các nhà giáo dục quan tâm. Là một giáo
viên trực tiếp giảng dạy lớp 2 bản thân tôi rất trăn trở cho chất lượng dạy tiết kể chuyện, với
mục đích rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh không chỉ đọc thuộc, nhớ nội dung câu chuyện
mà còn phải biết nhập vai để thể hiện được giọng kể, nét mặt, điệu bộ, cử chỉ, phù hợp với mỗi
nhân vật trong từng đoạn chuyện, trong từng câu chuyện kể. Vậy người giáo viên cần phải có


phương pháp dạy học thế nào để hướng dẫn học sinh làm được điều này. Đó chính là lý do tôi
chọn đề tài này.
1 . THỰC TRẠNG.
1.1. Đối với giáo viên.
Thông qua việc dự giờ- thăm lớp, qua trao đổi với các bạn đồng nghiệp tôi nhận thấy
rằng đa số giáo viên dạy phân mơn kể chuyện cịn có những tồn tại sau:
- Chưa chuẩn bị các đồ dùng dạy học thường xuyên để minh hoạ cho câu chuyện thêm
sinh động.


- Giáo viên cần phải gọi các em học sinh hay rụt rè, ngại nói và diễ n đạt kém lên kể
thường xuyên.
- Chưa có tranh phóng to minh họa các bài kể chuyện giáo viên sử dụng tranh thì cũng
chỉ dùng tranh phô tô ở trong sách giáo khoa cho nên khơng có tính khoa học và thẩm mỹ.
1.2. Đối với học sinh.
- Như chúng ta đã biết, các câu chuyện kể trong tiết kể chuyện lớp 2 là những câu
chuyện trong bài tập đọc đầu tuần chứ không phải là những câu chuyện mới lạ được biên soạn
thành sách truyện đọc riêng như trước. Chính điều này đã giúp học sinh có nhiều thuận lợi
trong việc nhớ và thuộc nội dung câu chuyện nhưng lại hạn chế về sự hứng thú, sự hào hứng
chờ đợi và kể chuyện bởi những câu chuyện kể này đã biết.
- Bên cạnh đó, hầu hết học sinh là con em nơng thơn nên vốn từ giao tiếp còn hạn chế,
chưa mạnh dạn, chưa biết dùng lời lẽ của mình thể hiện giọng của nhân vật trong mỗi câu
chuyện chưa phù hợp, chưa sáng tạo giọng kể, gần như các em học thuộc lòng bài tập đọc ( 2
tiết) ở thứ 2.


- Khi kể chuyện trong nhóm, trước lớp, một số em yếu kém cịn ngại ngùng khơng dám
bộc lộ khản năng của mình vì sợ các bạn cười. Vì vây, khi tổ chức kể chuyện để bình chọn
người có giọng kể hay nhất, hấp dẫn nhất,… thì đối với học sinh yếu kém là không dám mà
chỉ là những học sinh khá giỏi trổ tài mà thôi.
Từ cơ sở khoa học và thực tiễn, để khắc phục thực trạng ngay từ đầu năm học tôi đã tập
trung chăm học sinh băng mọi biện pháp kể chuyện trước đông người mạnh dạn tự tin hơn.
Trước hết tôi khảo sát chất lượng lớp 2A do tôi chủ nhiệm.
Sĩ Số
Học sinh kể tốt
Học sinh biết kể.
Học sinh chưa biết kể.
Đầu năm: 26
03
10

13
Từ kết quả trên tơi đã nghiên cứu để tìm ra những giải pháp thích hợp để tiết học hiệu quả,
nhẹ nhàng.
II. PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN.
- Tại lớp 2A
-“Một số kinh nghiệm rèn kỷ năng kể chuyện cho học sinh lớp 2 trong phân môn kể
chuyện”áp dụng trong giờ dạy phân mơn Tiếng Việt triển khai trong trường nói chung khối 2
nói riêng.Và áp dụng được cho tất cả các trường Tiểu học.
III. MÔ TẢ SÁNG KIẾN:
* Một số biện pháp rèn kỹ năng kể chuyện cho học sinh lớp 2
1.Tự nghiên cứu và tìm hiểu tâm lý học sinh.
- Học sinh tiểu học cịn mang tính tư duy cụ thể trực quan, nó được chuyển dần từ cụ thể
trực quan sang trìu tượng, khái quát. Vì thế khi dạy giáo viên cần chú ý đến trực quan.
- Suốt những năm ở tiểu học, nếu các em được nghe và học kể chuyện đầy đủ thì các
em được bồi dưỡng nhận thức, tình cảm, được làm giàu vốn từ ngữ và phát triển tư duy, đặc
biệt là tư duy hình tượng. Ta thấy phân môn kể chuyện trở nên đa dạng và phong phú. Dạy tốt


kể chuyện, rèn kĩ năng kể chuyện tốt ở các em, giáo viên sẽ tạo điều kiện tốt cho sự phát triển
năng khiếu ở học sinh tạo điều kiện ươm mầm cho những nhân tài mai sau.
2. Nghiên cứu đặc trưng bộ môn kể chuyện.
Tiết kể chuyện như tên gọi là đặc trưng kể chứ không phải đọc hay là giảng, là làm bài tập.
Khi dạy người giáo viên phải biết hướng dẫn các em kể lại bằng ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ.
Biết vận dụng vào các tranh vẽ để nhớ lại nội dung từng đoạn của câu chuyện. Do kể chuyện
có tính chất tổng hợp nên tiết kể chuyện yêu cầu các em rèn luyện.
+ Kỹ năng ghi nhớ.+ Kỹ năng kể chuyện và kỹ năng nói trước đơng người.+ Kỹ năng đóng
vai theo nội dung truyện.
Trong các kỹ năng tơi đã nêu thì kỹ năng kể chuyện là một kỹ năng có tính chất tổng hợp
của kỹ năng nói và kỹ năng diễn cảm. Muốn nói, muốn viết, khi nói, khi viết phải diễn tả ý của
mình sao cho trung thành, sáng sủa, chặt chẽ, chính xác và hay.

3. Một số kinh nghiệm cụ thể của giáo viên đứng lớp.
Luyện kỹ năng kể lại câu chuyện diễn cảm là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, nó vừa
hình thành những phẩm chất, nhân cách vừa góp phần phát triển tư duy, ngôn ngữ, đạo đức,
thẩm mỹ cho học sinh.
3.1. Tổ chức cho học sinh khởi động vào đầu tiết học.
Vào bài bằng hình thức khởi động vừa tạo khơng khí dễ chịu giữa cơ và trị, vừa khơi
dậy những kiến thức có sẵn của học sinh có liên quan cần thiết đến câu chuyện sắp kể . Giáo
viên chỉ cần cho học sinh làm khởi động đơn giản như trị chơi " Xem hành động đốn nhân
vật":

Ví dụ: Dạy tiết kể chuyện " Bím tóc đi sam" tuần 8.


- Giáo viên cho HS 1 làm động tác đang ngồi khóc; HS 2 làm động tác kéo bím tóc của
bạn ; HS 3 làm động tác an ủi HS 1.
- Hoặc khởi động bằng cách thi sắp xếp tranh đúng và nhanh theo trình tự câu chuyện hay
thi tìm những bài thơ, bài hát, bài văn liên quan đến nội dung câu chuyện.
3.2. Luyện kể chuyện phân biệt lời nhân vật trong mỗi truyện thông qua 2 tiết tập đọc
đầu tuần.
Ở bước luyện đọc lại ở tiết 2 tập đọc, đầu tuần giáo viên cần tiến hành luyện cho học sinh
đọc diễn cảm trong bước luyện đọc phân vai. Việc này có vai trị rất quan trọng trong việc
luyện cho học sinh kể phân vai, học sinh biết kể giọng phù hợp với từng nhân vật trong truyện
và giúp học sinh dễ thuộc nội dung câu chuyện, thuộc lời của mỗi nhân vật hơn. Trước hết
giáo viên cho học sinh luyện đọc phân vai theo cá nhân( mỗi em đọc một vai nhân vật) sau đó
đọc phân vai theo nhóm. Cuối cùng cho học sinh thi đọc phân biệt giọng từng nhân vật trong
truyện.
3.3. Luyện kể kết hợp hài hoà giữa ánh mắt với động tác, cử chỉ, điệu bộ.
Ánh mắt của người kể có vai trị rất quan trọng trong kể chuyện, nó là yếu tố cơ bản để
làm cho người kể tạo dựng được câu chuyện có hồn. Nếu biết kết hợp hài hoà giữa ánh mắt
với động tác, điệu bộ, cử chỉ thì câu chuyện kể mới sống động, mới thu hút được người xem.

Muốn làm được điều này đòi hỏi người kể phải nhập vai, phải hồ mình vào câu chuyện. Vì
vậy người kể phải hiểu rõ tâm trạng vui buồn, hay tức giận, của mỗi nhân vật trong từ ng đoạn
chuyện, trong cả câu chuyện. Học sinh cần tìm hiểu về mỗi quan hệ giữa các nhân vật trong
truyện với nhau. Muốn vậy, để thành cơng cho mỗi tiết dạy kể chuyện thì sau 2 tiết học tập


đọc, giáo viên cần dặn dò học sinh về nhà đọc kĩ bài và tìm hiểu tính cách của từng nhân vật
để chuẩn bị cho tiết học kể chuyện.
3.4. Thực hiện sắm vai phải thường xuyên và tổ chức có khoa học.
- Bất cứ lúc nào có người dự giờ hay khơng có người dự giờ, bài học nào phù hợp với
phương pháp đóng vai thì tổ chức cho học sinh sắm vai. Từ đó trở thành thói quen và các em
sẽ quen dần cách đóng vai. Tuy thời gian đầu sẽ khó khăn vì các em cịn nhỏ sau dần các em
sẽ quen và sẽ trở thành nhu cầu học tập.
- Giáo viên khơng cung cấp trước lời nói của nhân vật, để các em tự tìm lấy.
- Giáo viên khơng bày sẵn các tình huống mà để các em dựa vào câu chuyện xử lý các
tình huống đó.
3.5. Thường xuyên tổ chức hoạt động nhóm trong mỗi tiết kể chuyện.
Đây là phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh, học sinh
cùng tranh luận, hợp tác để giải quyết vấn đề. Tổ chức cho học sinh luyện kể theo nhóm là
luyện cho tất cả học sinh đều được kể chỉ trong một thời gian ngắn và tạo cho những học sinh
có tính e ngại khắc phục dần dần, từ chỗ kể cho 3- 4 bạn nghe rồi dần dần sẽ mạnh dạn kể cho
nhiều người nghe.
Giáo viên tiến hành cho học sinh kể theo nhóm trong hoạt động 1( kể từng đoạn câu
chuyện theo tranh), u cầu trưởng nhóm phân cơng mỗi em kể một đoạn chuyện. Nên chia
nhóm nhỏ 4 em là hợp lý nhất.
Nên sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho các đối tượng học sinh xen kẽ nhau:


+ Học sinh khá- giỏi với học sinh trung bình- yếu.+ Học sinh nam với học sinh nữ.+ Học
sinh mạnh dạn tự tin với học sinh nhút nhát, tự ti.+ Học sinh có khả năng diễn đạt tốt, năng

khiếu kể chuyện hay với học sinh có khả năng diễn đạt yếu, khơng có khả năng kể chuyện.
3.6. Luyện cho học sinh kể có sáng tạo.
Đây quả là một yêu cầu tương đối khó đối với học sinh lớp 2, nhưng làm được điều này
thì câu chuyện kể khơng những trở nên sinh động hơn mà còn làm giàu thêm vốn từ cho học
sinh. Đặc biệt đối với những câu chuyện kể có yêu cầu kể phân vai dựng lại câu chuyện thì
điều này lại là yếu tố hết sức quan trọng. Để luyện được cho học sinh biết kể sáng tạo địi hỏi
giáo viên phải có hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt tỉ mỉ, đồng thời trong quá trình học sinh kể
giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi bạn kể phải tìm ra được những chi tiết nào sáng tạo trong
lời kể, trong điệu bộ, trong cử chỉ,... của bạn.
3.7. Chuẩn bị đồ dùng học tập cho tiết kể chuyện.
a)Tranh .
Như chúng ta đã biết, tranh ảnh là đồ dùng trực quan có thể được sử dụng trong bất kì một
mơn học nào. Giáo viên sử dụng tranh vẽ để minh hoạ cho nội dung truyện, làm cho lời kể
mẫu của mình sinh động và hấp dẫn hơn. Cịn hình thức kể chuyện theo tranh của chương trình
mới thì hồn tồn khác hẳn. Vì vậy, giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ tranh vẽ. Vì tranh vẽ thể
hiện nội dung, diễn biến câu chuyện. Học sinh dựa vào tranh vừa là phương tiện trợ giúp trí
nhớ một cách đắc lực, vừa là công cụ làm cho việc thể hiện lại câu chuyện một cách sinh động
và hấp dẫn. Đa số các câu chuyện đều được kể theo tranh, mỗi bức tranh sẽ tương ứng với nội
dung của một đoạn truyện, thường thì mỗi câu chuyện có từ 3 đến 4 đoạn nên có từ 3 đến 4


bức tranh minh hoạ. Nhưng cũng có những truyện có từ 5 đến 6 đoạn nên được minh hoạ bằng
5 đến 6 tranh, ví dụ như truyện Tìm ngọc ( Tiếng việt 2 – trang 140 tập 1)
b) Chuẩn bị một số dụng cụ hoá trang sắm vai đơn giản cho mỗi nhân vật.
Dụng cụ hố trang góp phần quan trọng trong việc gây hứng thú cho học sinh kể và gây
sự chú ý theo dõi của người xem. Chỉ cần thay đổi mội vài kiểu dáng nho nhỏ cũng đã tạo
được niềm hứng khởi cho bạn được đóng vai kể rất lớn.
3.8. Thường xun tạo khơng khí thi đua giữa các cá nhân và giữa các nhóm với
nhau.
Trong quá trình cho học sinh kể thi trong nhóm giáo viên cho điểm từng em. Kết quả của

“ cá nhân” này được cộng lại dùng làm thành tích cho tập thể bằng điểm số thi đua giữa các
nhóm. Như vậy sẽ làm cho các đối tượng phải cố gắng chăm chỉ, đồng thời tạo cho mỗi em
trong nhóm ln phát huy hết khản năng của mình để khơng bị liên quan đến kêt quả xấu của
cả nhóm.
3.9. Khuyến khích, động viên, hướng dẫn học sinh kể chuyện.
Tác phong của giáo viên là yếu tố quan trọng trong việc tiếp xúc, tổ chức học tập và
truyền thụ kiến thức cho học sinh. Giáo viên cần gần gũi, nhẹ nhàng và trực tiếp theo dõi giúp
đỡ các em với thái độ niềm nở, nhất là đối với mơn kể chuyện thì vấn đề này giáo viện lại càng
đặc biệt quan tâm hơn vì trong mỗi tiết kể chuyện thường có khơng ít em có thói quen rụt rè ,
ngại nói sẽ nói nhỏ và nói ấp a ấp úng, diễn đạt kém. Nhưng lúc này nếu giáo viên có nét mặt
nhăn nhó, khó chịu thì lại càng cho các em rụt rè hơn và thậm chí cịn hoảng rợ khơng nhớ đến
nội dung chuyện và lần sau sẽ không dám nữa. Nếu khi kể chuyện nối tiếp đoạn trong nhóm


những học sinh trung bình khơng nhớ được nội dung thì giáo viên nhẹ nhàng gợi mở cho học
sinh những câu hỏi gợi ý.
IV. KẾT QUẢ, HIỆU QUẢ MANG LẠI.
- Tiết kể chuyện góp phần hình thành nhân cách, đem lại cảm xúc, thẩm mỹ lành mạnh,
đem lại niềm vui cho các em suốt những năm ở trường tiểu học, kể chuyện góp phần làm cho
tâm hồn các em trong sáng.
- Mở rộng và tích cực hố vốn từ ngữ, làm giàu vốn sống và vốn văn học cho các em,
- Phát triển tư duy, nâng cao hiểu biết về đời sống, góp phần hình thành nhân cách con
người, nâng cao trình độ Tiếng Việt ở các em.
-Chất lượng của giờ kể chuyện lớp tôi đã nâng lên rõ rệt.
Kết quả cụ thể: Vừa qua tơi đã có kế hoạch khảo sát lớp tôi kết quả là:
Sĩ số
Đầu năm: 26
GHKI : 26
CHKII : 26
* Bài học kinh nghiệm.


HS kể tốt
03
10
12

HS biết kể
10
10
12

HS kể chưa lưu loát
13
6
2

Cùng với sự đầu tư, học hỏi qua đồng nghiệp có kinh nghiệm, qua các tài liệu hướng
dẫn, qua chỉ đạo của cấp trên, qua quá trình thực hiện, đồng thời với kết quả thu được ở trên
tôi đã tự tin và rút ra bài học cho bản thân.
- Phải thực sự yêu nghề, mến trẻ, có tâm huyết và say mê với nghề nghiệp.
- Cần quan tâm đến mọi đối tượng học sinh, nắm đúng đặc điểm tâm sinh lý của học sinh
để lựa chọn phương pháp, điều chỉnh hình thức dạy cho phù hợp.
- Trong giảng dạy phải nghiên cứu kỹ chương trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo
để phối hợp rèn luyện kỹ năng kể chuyện cho học sinh, đầu tư một cách thích đáng cho bài


dạy. Đồng thời có phương pháp hướng dẫn cho học sinh chủ động lời kể và ngữ điệu sáng tạo
có ý nghĩa với tất cả các môn học.
- Tự học, rèn luyện, mạnh dạn tự tin vận dụng phương pháp tổ chức các hình thức dạy
học cá nhân, nhóm, tập thể nhằm thực hiện nhiệm vụ mở rộng và tích cực hoá vốn từ ngữ, phát

triển tư duy, nâng cao hiểu biết về đời sống, nhân cách con người mới, con người của thời đại
cơng nghiệp hố hiện đại hố.
- Cần biết động viên, khen ngợi những thành công, tiến bộ nhỏ nhất của các em, để các
em thêm tự tin ngày càng tiến bộ hơn, qua đó giúp các em ln có ý thức phấn đấu, tu dưỡng
rèn luyện, vươn lên mọi mặt trở thành chủ nhân tương lai của đất nước.
V. ĐÁNH GIÁ PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA SÁNG KIẾN
Tiết kể chuyện có ý nghĩa góp phần tích lũy vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ,
mở rộng tầm hiểu biết, khêu gợi trí tưởng tưởng cho các em.
Sáng kiến của tơi đã được áp dụng có hiệu quả ở lớp 2A và áp dụng trong toàn trường và
khối 2 trong các trường Tiểu học.
VI . KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT.
* Đối với các cấp chính quyền, ngành địa phương:
- Cần cung cấp một số tranh phong to trong sách giáo khoa để thuận lợi cho việc giảng
dạy môn tiếng việt
Trên đây là “ Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng kể chuyện cho học sinh lớp 2 trong môn
Tiếng Việt”. Tôi mong nhận được sự ủng hộ, góp ý, chỉ bảo của hội đồng khoa học để giúp
việc dạy kể chuyện tốt hơn.
Ý kiến xác nhận

Phong Lạc, ngày 25 tháng 5 năm 2013


của thủ trưởng đơn vị

Người viết

Nguyễn Thị Hường




×