Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Bí mật đời tư – một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (177.87 KB, 21 trang )

Bài tập học kỳ Luật dân sự Việt Nam 1
A. Lời Nói Đầu.
Trong cuộc sống mỗi cá nhân chúng ta đều có những điều được gọi là “bí
mật” mà bản thân chúng ta không muốn ai biết. Không những thế với thời đại
ngày nay cái điều được gọi là “bí mật” ấy còn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ,
pháp luật nâng nó lên thành một trong những quyền nhân thân của con người gọi
là “quyền bí mật đời tư”. Trong pháp luật Việt Nam quyền bí mật đời tư được
quy định cụ thể tại điều 38 của Bộ luật dân sự 2005. Tuy nhiên, khái niệm “bí mật
đời tư” và “quyền bí mật đời tư” chưa được quy định một cách cụ thể nên có
nhiều cách hiểu khác nhau. Để góp phần đưa ra cách hiểu thống nhất về bí mật
đời tư cũng như xác định hành vi xâm phạm bí mật đời tư trong thực tiễn, trên
quy mô của một bài tập học kì, em xin lựa chọn đề tài: “Bí mật đời tư – một số
vấn đề lý luận và thực tiễn”.
Đây là một đề tài khá thú vị song cũng không hề đơn giản. Với một hiểu biết
còn nhiều hạn chế nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Em
rất mong nhận được sự đánh giá và đóng góp ý kiến của các thầy cô để giúp bài
viết của em được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô!.
Bài tập học kỳ Luật dân sự Việt Nam 1
B. Nội Dung.
I. Bí mật đời tư và quyền bí mật đời tư trong pháp luật.
1. Quyền bí mật đời tư trong pháp luật.
Quyền bí mật đời tư là quyền cơ bản trong hệ thống các quyền nhân thân của cá
nhân. Quyền bí mật đời tư được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật nhiều nước
trên thế giới và được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền
năm 1948. Cụ thể tại Điều 3 quy định “Mọi người đều có quyền sống, tự do và an
toàn cá nhân”. Không những trong tuyên ngôn toàn thế giới mà quyền bí mật đời
tư còn được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và một số
công ước khác của Liên Hợp Quốc. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị 1966: “Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm đòi hỏi đương sự
phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt” (Điều 19).
Ở Việt Nam:


Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định: “nghiêm cấm mọi hình thức truy bức,
nhục hình, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của công dân”.
Điều 73 Hiến pháp 1992 cũng quy định rằng: “Thư tín, điện thoại, điện tín
của công dân được đảm bảo an toàn và bí mật”.
Điều 34 Bộ luật dân sự 1995 chỉ ghi nhận ngắn gọn:
“1. Quyền đối với bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật tôn trọng và bảo
vệ.
2. Việc thu thập thông tin, công bố tư liệu về đời tư của cá nhân phải được
người đó đồng ý hoặc nhân thân của người đó đồng ý; nếu người đó đã chết, mất
năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp thu thập công bố thông tin, tư liệu theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải được thực hiện theo quy
định của pháp luật.
Bài tập học kỳ Luật dân sự Việt Nam 1
3. Không ai được tự tiện bóc mở, thu giữ, tiêu hủy thư tín, điện tín, nghe trộm
điện thoại hoặc có hành vi khác nhằm ngăn chặn cản trở đường liên lạc của người
khác. Chỉ trong những trường hợp được pháp luật quy định và phải có lệnh của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành việc kiểm soát thư tín, điện
thoại, điện tín của cá nhân”.
Như vậy, theo Điều luật này, bí mật đời tư được giới hạn trong phạm vi “thư
tín, điện tín, điện thoại”, “đường liên lạc”. Điều 38 Bộ luật dân sự 2005 quy định
quyền bí mật đời tư trong phạm vi rộng hơn, tức bổ sung thêm “các hình thức
thông tin điện tử khác của cá nhân” bởi trong xã hội ngày nay ngành công nghệ
thông tin quá phát triển thì chỉ cần một thao tác nhỏ là thông tin có thể đến với
hàng triệu người chỉ trong vài giây. Sự vi phạm quyền con người cũng trở nên dễ
dàng hơn, đặc biệt các quyền liên quan đến bí mật đời tư, bí mật thư tín, danh dự,
nhân phẩm, tài sản, quyền tác giả… Thông tin bôi nhọ, thông tin đời tư có thể
“lây lan” khủng khiếp qua mạng. Hơn nữa, lại rất khó khăn phát hiện người vi
phạm pháp luật thông qua mạng toàn cầu. Sự kích động nhằm mục đích xấu
(khủng bố, bạo lực, phân biệt chủng tộc...) trở nên nguy hiểm hơn cho xã hội do có
tính lây lan rất nhanh. Mặc dù công nghệ Internet chắc chắn là đã giảm bớt đi

quyền lực nhà nước nhưng đồng thời, nó cũng củng cố quyền lực cho những ai
không nằm trong danh sách “bạn bè của xã hội dân sự” (các phong trào cực
đoan). Còn nội dung khác vẫn giữ nguyên theo tinh thần của bộ luật dân sự 1995.
Điều 38 Bộ luật dân sự 2005 quy định cụ thể như sau:
“1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được
người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân
sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên
hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông
tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Bài tập học kỳ Luật dân sự Việt Nam 1
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá
nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác
của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
2. Khái niệm bí mật đời tư.
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào giải thích khái niệm “bí mật đời tư”
rõ ràng. Liệu những thông tin được lấy phiên tòa công khai có được coi là xâm
phạm bí mật đời tư?. Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa rõ ràng về phạm vi của
khái niệm “bí mật đời tư”. Đây chính là một trong những hạn chế lớn nhất của
pháp luật về vấn đề này.
BLDS năm 2005 cũng không đưa ra khái niệm “bí mật đời tư” mà chỉ ghi
nhận quyền bí mật đời tư. Đây chính là một trong những khó khăn khi các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh
chấp liên quan đến “bí mật đời tư”. Vậy, bí mật đời tư là gì ?. Có rất nhiều quan
điểm khác nhau khi đề cập đến khái niệm bí mật đời tư. Trước khi đưa ra quan
điểm trong việc xác định thế nào là bí mật đời tư, xin trích dẫn một số quan điểm
xung quanh vấn đề này.
Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt thì bí mật được giải thích là “giữ kín, không

để lộ ra, không công khai”.
Một cách giải thích khác thì cho rằng: Bí mật “là thông tin cần che giấu, chỉ
để một số nhất định những người có liên quan được biết. Những thông tin được
xác định là bí mật chỉ mang ý nghĩa tương đối. Dưới góc độ này hay đối với một
bên thì nó có thể cần phải che đậy, giữ kín, nhưng dưới góc độ khác, đối với bên
khác nó có thể không cần che giấu. Tính bí mật có được do những gì chứa đựng
trong thông tin đó có liên quan đến một điều gì đó mà nếu để người không có
nhiệm vụ biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu.
Bài tập học kỳ Luật dân sự Việt Nam 1
Bí mật thông thường được chia làm ba cấp độ, từ thấp đến cao là: Mật; Tối
mật; Tuyệt mật.”
Như vậy, theo sự giải thích này thì bí mật được xác định bởi các yếu tố sau:
Bí mật là những “thông tin”;
Những “thông tin” này được che giấu bằng những biện pháp, cách thức khác
nhau;
Những “thông tin” được coi là bí mật này nếu để người không có nhiệm vụ
biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu thông tin.
Tuy nhiên, quan điểm này cũng cho rằng những “thông tin” được coi là bí mật
cũng chỉ mang tính tương đối. Mặt khác, ngoài những thông tin liên quan đến cá
nhân, theo BLDS 2005 thì còn có những tư liệu. Nếu đặt trong mối liên hệ đối
với quyền bí mật đời tư, thì thông tin có thể được hiểu bao hàm cả yếu tố tư liệu.
Luật sư Hồ Hữu Tỷ ( đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng: “bí mật
đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ
bản. Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con
cái, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho
người khác biết. Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc
những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng
công bố ra ngoài cho bất kỳ ai.“Bí mật đời tư”có thể hiểu là “chuyện trong nhà”
của cá nhân nào đó. Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình
trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín, v.v…”

Như vậy, quan điểm này cũng chỉ ra rằng bí mật đời tư là những thông tin gắn
liền với cá nhân, chỉ có thể mình họ hoặc một số người hạn chế biết được. Tuy
nhiên, nếu hiểu như vậy thì cũng chưa bao quát được nội hàm của khái niệm bí
mật đời tư, bởi lẽ nếu hiểu bí mật đời tư là những thông tin “chưa từng công bố
cho bất kỳ ai” thì cũng không đúng. Có trường hợp thông tin này đã được công
Bài tập học kỳ Luật dân sự Việt Nam 1
bố nhưng bản thân người tiếp nhận thông tin phải có nghĩa vụ bảo mật thông tin
thì thông tin đó vẫn được coi là “bí mật đời tư”.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Luật thì:
“…bí mật đời tư của cá nhân được hiểu trên hai phương diện:
1. Bí mật về đời sống tình cảm,tinh thần: Bí mật về đời sống tình cảm của cá
nhân thể hiện tính chất đặc biệt riêng tư của cá nhân đó. Điều luật cấm công khai
cho mọi người biết các mối quan hệ thực tại hoặc mang tính chất hình tượng mà
cá nhân đó vốn có.
2. Bí mật về đời sống nghề nghiệp, vật chất của cá nhân thể hiện là những bí
mật về hoạt động nghề nghiệp; tình trạng vật chất gắn liền với hoạt động đó.”
Nếu theo như Tiến sĩ Nguyễn Văn Luật thì khái niệm bí mật đời tư được bao
quát trên các phương diện: “tình cảm, tinh thần” và “nghề nghiệp, vật chất”. Tuy
nhiên, theo cách diễn giải này thì cũng không có một giới hạn cụ thể cho khái
niệm bí mật đời tư, điều đó có nghĩa là khái niệm bí mật đời tư có thể được khái
quát theo hướng liệt kê mà không được khái quát theo hướng bao quát. Nếu đưa
ra khái niệm bí mật đời tư theo hướng liệt kê thì có những trường hợp việc liệt kê
sẽ không đầy đủ. Mặt khác, khái niệm “bí mật đời tư” chỉ có ý nghĩa tương đối.
Bởi vì, cùng một loại thông tin liên quan đến cá nhân nhưng với người này họ
cho rằng đó là “bí mật đời tư” của họ nhưng với người khác thì lại cho rằng đó
không phải là bí mật đời tư mà ai cũng có thể biết và việc biết những thông tin đó
không có gì là xâm phạm bí mật đời tư. Đối với mỗi người thì việc xác định như
thế nào là “bí mật đời tư” chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố.
Ví dụ, có người từ thuở nhỏ đã bị một cú sốc lớn về tinh thần (từng bị xâm hại
tình dục, người thân bị rơi vào vòng lao lí,…), họ không muốn ai nhắc lại chuyện

đó nữa, họ muốn quên kỷ niệm không tốt đẹp đó. Cái mà họ không muốn ai nhắc
lại hoặc mang ra nói cho người khác biết đó chính là “bí mật đời tư” của họ, nếu
ai tiết lộ những thông tin này của họ thì hành vi đó sẽ bị coi là xâm phạm bí mật
Bài tập học kỳ Luật dân sự Việt Nam 1
đời tư. Nhưng cũng có người chỉ đơn thuần coi việc đó là một tai nạn, đôi khi
chính họ cũng nhắc lại, họ muốn chia sẻ nó để nhận được sự cảm thông từ mọi
người, họ cho rằng khi mình sống chân thành thẳng thắn thì mọi người cũng sẽ
tôn trọng mình không phân biệt hay có những hành động kì thị đối với mình. Họ
không coi nó là “bí mật” thì nếu người khác tiết lộ thông tin gì về việc đó cũng sẽ
không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư.
Thói quen sống, làm việc, phong tục tập quán…cũng là những yếu tố ảnh
hưởng tới quan niệm bí mật đời tư. Mặt khác các qui định của pháp luật có liên
quan cũng cần được chú ý khi chúng ta xem xét đến khái niệm bí mật đời tư.
Chẳng hạn: trong điều kiện hiện nay, việc minh bạch tài sản của cá nhân là một
yếu tố mà chúng ta không thể làm được, mặc dù điều này chúng ta có thể tiến
hành trong một số trường hợp cụ thể (cán bộ lãnh đạo, những người giữ những
trọng trách vị trí nhất định trong xã hội…).
Quyền nhân thân nói chung, quyền bí mật đời tư nói riêng liên quan mật thiết
đến sự tự do của mỗi con người. Con người có sự tự do của mình, sự tự do đó
không chỉ trong suy nghĩ mà còn trong cả các công việc mà họ làm. Tuy nhiên,
nếu như chúng ta hiểu bản chất của con người là tự do, bản chất của pháp luật là
hạn chế thì sự tự do của cá nhân luôn bị giới hạn bởi sự tự do của người khác.
Mỗi người cần tạo ra cho mình một thói quen “ sống và làm việc theo hiến pháp
và pháp luật”. Chúng ta được tự do, đấy là quyền của chúng ta nhưng sự tự do ấy
cần là sự “tự do trong khuôn khổ”. Điều đó có nghĩa rằng để thoả mãn quyền
nhân thân nói chung, quyền bí mật đời tư của cá nhân nói riêng thì quyền này
phải được xem xét trong mối tương quan lợi ích giữa cá nhân với cộng đồng. Sở
dĩ như vậy, vì có rất nhiều tình huống, trường hợp về hành vi thì đó là sự xâm
phạm bí mật đời tư, nhưng đặt trong mối tương quan với lợi ích công cộng thì
hành vi đó lại là hành vi dễ dàng được chấp nhận và dĩ nhiên, điều đó sẽ không bị

coi là trái pháp luật, không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư. Điều này cũng có
Bài tập học kỳ Luật dân sự Việt Nam 1
thể hiểu không chỉ áp dụng đối với trường hợp vì lý do an ninh, quốc phòng…mà
thư tín, điện tín, điện thoại của cá nhân có thể bị xâm phạm mà trong một số
trường hợp còn có thể chịu ảnh hưởng của bởi chính các qui định của pháp luật
có liên quan như qui định về tự do ngôn luận, tự do báo chí…
“Quyền bí mật đời tư” cũng không đồng nhất với khái niệm “Quyền riêng tư”
(The Right to Privacy). Quyền riêng tư cũng liên quan đến cá nhân, tuy nhiên
những vấn đề thuộc về riêng tư xét ở khía cạnh nào đó lại không được coi là bí
mật, mặc dù pháp luật vẫn bảo hộ những quyền này. Bất cứ cá nhân nào cũng có
sự tự do trong suy nghĩ, hành động – đây là sự “riêng tư” của chính họ. Lẽ dĩ
nhiên, nếu là sự tự do trong suy nghĩ thì vấn đề không có gì phức tạp bởi không
ai có thể bắt người khác phải suy nghĩ theo ý muốn của mình. Ngược lại, nếu là
sự tự do trong hành động thì điều đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như luật
pháp, quan hệ với những người xung quanh, sự tác động của phong tục tập quán,
thói quen…Chúng ta có thể thấy, pháp luật nói chung, pháp luật Việt Nam nói
riêng luôn tôn trọng sự riêng tư của cá nhân (quyền bất khả xâm phạm chỗ ở,
quyền lựa chọn công việc cho phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân,
quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng…).
Như vậy, qua những phân tích trên đây, để có thể hiểu được “Quyền bí mật
đời tư” thì phải xây dựng được khái niệm “bí mật đời tư”. Việc xây dựng khái
niệm “bí mật đời tư” phải xác định được hai khái niệm cũng như sự liên kết của
hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và khái niệm “đời tư”.
Khái niệm “bí mật” được hiểu “giữ kín, không để lộ ra, không công khai”.
Như vậy, việc giữ kín, không công khai xét trong nội dung đang nghiên cứu liên
quan đến các thông tin và đó là những thông tin không bộc lộ công khai. Tất
nhiên, những thông tin này chỉ có người nắm giữ bí mật hoặc người liên quan bí
mật này được biết đến. Tính “bí mật” này có thể được xác định theo các tiêu chí
cụ thể như:

×