Tải bản đầy đủ (.doc) (96 trang)

Một vài nét nghiên cứu về nhận thức của sinh viên đối với hiện tượng đồng tính luyến ái

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (502.67 KB, 96 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Con ngời là một thực thể tự nhiên và xã hội hoàn thiện và phức tạp nhất.
Trong khi tìm đờng lên các vì sao, loài ngời đồng thời quay trở lại tìm hiểu chính
mình. Và công việc này cũng không kém phần khó khăn so với các nghiên cứu
khoa học về vũ trụ, kỹ thuật và tự nhiên. Tiến bộ khoa học gần đây nhất - việc giải
mã và công bố bản đồ gen đã mở ra cánh cửa cho việc đem lại những hiểu biết
mới về con ngời, đặc biệt là đóng góp cho việc chữa trị những căn bệnh nan y. Tuy
nhiên, với t cách vừa là nhà nghiên cứu vừa là đối tợng nghiên cứu, con ngời đôi
khi không thể tìm ra câu trả lời cho những câu đố về bản thân mình.
Hiện tợng đồng tính luyến ái cũng là một trong những vấn đề mà loài ngời
hiện nay còn đang trên đờng tìm hiểu về bản chất cũng nh nguyên nhân và giải
pháp cho nó. Xét về mặt y học, các nhà khoa học cho rằng đây có thể đợc coi là
nh một loại bệnh tâm thần. Họ xếp đồng tính luyến ái vào nhóm bệnh về lệch lạc
đối tợng. Nhng nguyên nhân dẫn đến nó không đơn thuần chỉ nằm ở khía cạnh
bệnh lý mà còn ở cả khía cạnh tâm lý. Có thể đó là do cách giáo dục của gia đình
không phù hợp dẫn đến sự phát triển lệch lạc từ khi còn nhỏ hoặc bị ngời đồng
giới lợi dụng. Và theo quan điểm của nhiều ngời, đồng tính luyến ái là một hiện t-
ợng lệch chuẩn. Đây là một lối sống không có lợi cho xã hội cả về mặt đạo đức
cũng nh phát triển. Bởi những gia đình của ngời đồng tính luyến ái (nếu có) sẽ
không thể thực hiện đợc một chức năng quan trọng - duy trì nòi giống để đảm bảo
sự phát triển của xã hội.
Trong những năm gần đây trên thế giới và ở Việt Nam, hiện tợng đồng tính
luyến ái phát triển mạnh mẽ. Đây đó đã xuất hiện những phong trào đòi quyền
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bình đẳng, đòi quyền đợc kết hôn cho những ngời đồng tính luyến ái. Còn ở Việt
Nam, từ sau thời điểm mở cửa giao lu kinh tế, những luồng văn hoá t tởng nớc
ngoài đã xâm nhập và gây ra những ảnh hởng không phải lúc nào cũng tốt cho lối
sống và quan niệm của ngời dân.
Tầng lớp chịu sự ảnh hởng mạnh mẽ nhất của nó chính là thanh niên. Đây là


thế hệ sinh ra sau chiến tranh, lớn lên trong nền kinh tế thị trờng nên quan niệm
và lối sống có phần nào khác với thế hệ cha ông. Thêm nữa, tuổi trẻ thờng cha đủ
năng lực nhận thức, đánh giá nên dễ bị hấp dẫn bởi những điều mới lạ cha rõ tích
cực hay tiêu cực.
Hiện tợng đồng tính luyến ái ở Việt Nam đợc quan niệm nh một lối sống, một
ảnh hởng của nền kinh tế thị trờng khác với những giá trị truyền thống, nền tảng
văn hoá của dân tộc. Trong thời gian gần đây, đã có rất nhiều bài báo viết về hiện
tợng đồng tính luyến ái, chỉ ra những trờng hợp coi đồng tính luyến ái nh một cái
mode để đua theo, hoặc do đối tợng bị cuốn hút bởi những miếng mồi vật chất của
kẻ xấu. Đồng thời đồng tính luyến ái còn phát triển trở thành một tệ nạn xã hội -
đặc biệt là đồng tính luyến ái nam. Chính vì thế d luận xã hội thờng không đồng
tình và coi đây không chỉ là một loại bệnh lý thông thờng mà còn phát triển thành
một lối sống lệch lạc, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Thêm nữa, ngời
đồng tính luyến ái còn là nhóm nguy cơ cao về bệnh HIV do họ thờng xuyên thay
đổi bạn tình, ảnh hởng tới sức khoẻ của cả cộng đồng.
Nhóm sinh viên là nhóm xã hội có trình độ tri thức cao, đồng thời đây cũng là
lớp ngời kế cận của đất nớc. Do vậy đòi hỏi họ phải luôn có những hiểu biết và
cách nhìn đúng đắn với các hiện tợng xã hội xảy ra xung quanh mình. Thêm nữa
họ cũng là một bộ phận của thanh niên, những ngời rất dễ bị ảnh hởng, bị cuốn
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
theo những điều mới lạ. Hiện tợng đồng tính luyến ái có thể xảy ra ở bất kỳ giới
nào, nghề nghiệp nào. Vì thế sinh viên cần có những hiểu biết nhất định về nó để
ngăn chặn cũng nh tránh khỏi sự lôi kéo của những đối tợng xấu. Xuất phát từ
nhận định nh vậy, tôi đã chọn đề tài "Một vài nét nghiên cứu về nhận thức của
sinh viên đối với hiện tợng đồng tính luyến ái" nhằm tìm hiểu phần nào hiểu
biết cũng nh thái độ của họ về hiện tợng này.
Trong phạm vi luận văn, tôi không có điều kiện nghiên cứu toàn bộ sinh
viên trên địa bàn Hà Nội mà chỉ tập trung khảo sát nhóm sinh viên của hai trờng
đại học Khoa học xã hội - nhân văn và đại học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội.

2. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Xã hội học là bộ môn khoa học luôn đi sát với những biến đổi của thực tiễn.
Bất kỳ một hiện tợng xã hội nào mới nảy sinh đều cần đến sự đánh giá tìm hiểu
của xã hội học để từ đó đa ra những hiểu biết cũng nh xu hớng giải quyết. Đồng
tính luyến ái là một hiện tợng không nằm ngoài quy luật đó.
Vốn là một hiện tợng tởng chừng nh cá biệt nảy sinh từ lối sống hay quan
hệ của con ngời nhng đồng tính luyến ái nhanh chóng thu hút đợc sự quan tâm của
xã hội bởi những ảnh hởng của nó đối với nền tảng đạo đức, lối sống cũng nh sự
phát triển của cả cộng đồng. Nguyên nhân dẫn đến hiện tợng này rất phức tạp. Có
trờng hợp là bẩm sinh nh một loại bệnh lý nhng nhiều khi đó là xuất phát từ ảnh h-
ởng của môi trờng sống hoặc do lối sống, nhận thức của cá nhân. Trong khi các
nhà khoa học còn đang tranh cãi về nguyên nhân của hiện tợng này thì nó đã kịp
gây ra những ảnh hởng tới đời sống của toàn xã hội. Nhóm đồng tính luyến ái đợc
coi là nhóm nguy cơ cao về lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, cớp đi sinh
mạng của hàng triệu ngời trên thế giới. Thêm nữa, lối sống bất bình thờng của ng-
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ời đồng tính luyến ái tạo nên những tác động tới nền văn hoá, đạo đức và luật pháp
của mỗi quốc gia.
ở nớc ta, tuy rằng đồng tính luyến ái vẫn chỉ tồn tại ở cá biệt một số nhóm đối
tợng nhng trong thời gian gần đây, nó có xu hớng phát triển mạnh hơn. Nhiều ng-
ời, đặc biệt là tầng lớp thanh niên coi đây nh một thứ mode, một cách ăn chơi sành
điệu. Thêm nữa, tệ nạn mại dâm nam đã từng không ít lần gây đau đầu cho các
nhà quản lý. ở Hà Nội, trong thời gian vừa qua không ít lần báo chí đã phải đề cập
đến những tụ điểm tụ tập của giới đồng tính ngay tại những nơi vui chơi giải trí
công cộng. Không chỉ là một hiện tợng lạ, một loại bệnh lý, đồng tính luyến ái ở
Việt Nam đợc coi nh sự đi xuống về đạo đức, trái với những giá trị văn hoá nớc
nhà. Việc giải quyết nó là một việc rất khó khăn bởi những ngời đồng tính luyến ái
vẫn đợc coi nh những thành viên trong xã hội, sự phát triển của họ gắn liền với sự
phát triển của xã hội. Do vậy việc trớc tiên của quá trình giải quyết hiện tợng này
là tìm hiểu sự nhận thức và hiểu biết cũng nh thái độ của ngời dân. ở đây, đề tài

nghiên cứu tập trung vào nhóm sinh viên. Bởi đây là nhóm tiêu biểu cho thanh
niên, đối tợng dễ bị ảnh hởng bởi các hiện tợng xã hội mới lạ trong đó có đồng
tính luyến ái. Sinh viên là những ngời làm chủ đất nớc tơng lai nên càng cần có sự
hiểu biết để giải quyết, phòng ngừa và ngăn chặn hiện tợng này.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu nhận thức của nhóm sinh viên về bản chất cũng nh những biểu hiện,
nguyên nhân và đối tợng của hiện tợng đồng tính luyến ái. Từ đó làm rõ thái độ
cũng nh hành vi tơng ứng của sinh viên.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.2 Phân tích những yếu tố ảnh hởng đến nhận thức cũng nh thái độ và hành vi
của sinh viên
3.3 Tìm hiểu mức độ phổ biến của hiện tợng này qua sự đánh giá cuả sinh viên.
4. Đối t ợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mẫu
nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu:
Nhận thức của sinh viên đối với hiện tợng đồng tính luyến ái
4.2 Khách thể nghiên cứu:
Sinh viên trờng đại học KHXH-NV và trờng đại học Tự Nhiên thuộc Đại
học Quốc Gia Hà Nội.
4.3 Phạm vi và địa bàn nghiên cứu:
- Địa bàn nghiên cứu
Trờng ĐH KHXH- NV và trờng ĐH Tự nhiên
- Phạm vi nghiên cứu:
Tìm hiểu nhận thức của sinh viên trờng ĐH khxh-nv và trờng đại học Tự
Nhiên về hiện tợng đồng tính luyến ái cũng nh thái độ, hành vi tơng ứng. Đánh giá
sự ảnh hởng của yếu tố giới, nơi c trú hiện nay, thành phần gia đình và nơi sống tr-
ớc khi vào đại học với các yếu tố trên. Đề tài chỉ tập trung vào sự hiểu biết và đánh
giá của sinh viên về hiện tợng này và khía cạnh xã hội mà không đi sâu vào khía
cạnh khoa học.
4.4 Mẫu nghiên cứu:

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mẫu nghiên cứu đợc lựa chọn gồm 200 sinh viên thuộc hai trờng Khoa học
xã hội- nhân văn và Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia. Cơ cấu mẫu nh
sau:
- 50% sinh viên nam và 50% sinh viên nữ.
- 50% sinh viên nông thôn và 50% sinh viên đô thị.
- Tỷ lệ sinh viên có nơi c trú là ký túc xá, nhà trọ và gia đình tồn tại ngẫu
nhiên.
- Tỷ lệ sinh viên thuộc loại hình gia đình công nhân viên chức, buôn bán,
nghề nông và nhóm nghề khác tồn tại ngẫu nhiên.
Cơ cấu mẫu điều tra
Tiêu chí Đặc điểm Số lợng %
Nam 100 50%
Nữ 100 50%
Nơi c trú
Ký túc xá 54 27%
Gia đình 72 36%
Nhà trọ 74 37%
Nơi sống trớc khi vào
Đô thị 100 50%
Nông thôn 100 50%
Công nhân - viên chức 117 58.5%
Buôn bán 20 10%
Nghề nông 41 20.5%
Nghề khác 22 11%
5. Ph ơng pháp nghiên cứu
5.1 Phơng pháp luận:
Trong luận văn, ngời viết sử dụng hệ phơng pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm xem xét vấn đề nghiên cứu dới
góc độ khoa học.

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
5.2 Phơng pháp cụ thể:
5.2.1 Phơng pháp trng cầu ý kiến bằng bảng hỏi:
Chúng tôi đã phát 200 bảng hỏi chia đều cho hai nhóm sinh viên thuộc ĐH Khoa
học xã hội - nhân văn và ĐH Tự nhiên. Bảng hỏi đợc xây dựng gồm 14 câu hỏi
đóng và 1 câu hỏi mở nhằm tìm hiểu về :
- Đặc điểm cá nhân của sinh viên nh giới tính, nơi c trú hiện nay, nơi sống
trớc khi vào đại học và nghề nghiệp của bố mẹ.
- Nhận thức của họ về hiện tợng đồng tính luyến ái.
- Mức độ phổ biến về hiện tợng này qua sự đánh giá của sinh viên.
- Thái độ của sinh viên đối với hiện tợng đồng tính luyến ái và ngời đồng
tính luyến ái.
5.2.2 Phơng pháp phỏng vấn sâu
Phơng pháp trng cầu ý kiến bằng bảng hỏi nêu trên có thể đem lại những
thông tin định lợng có tính khái quát. Để tìm hiểu thêm những thông tin định tính
chi tiết và sâu sắc hơn, tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 10 sinh viên của hai trờng
nhằm hiểu rõ hơn bản chất của vấn đề và phát hiện những khía cạnh mới mẻ và
sâu sắc về vấn đề nghiên cứu.
5.2.3 Phơng pháp phân tích tài liệu:
Luận văn có sử dụng một số tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm
thu đợc những thông tin có tính khách quan và khoa học.
6. Giả thuyết nghiên cứu:
6.1 Đồng tính luyến ái là một hiện tợng rất phức tạp của xã hội hiện nay và đã
đợc đa số sinh viên biết đến.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
6.2 Sinh viên có những hiểu biết tơng đối về nguyên nhân, bản chất, biểu hiện
cũng nh đối tợng của hiện tợng này. Từ nhận thức, họ có thái độ và quan điểm
đánh giá tơng ứng.
6.3 Nhận thức cũng nh thái độ, hành vi của nhóm sinh viên đối với hiện tợng
này chịu sự chi phối của yếu tố kinh tế-văn hoá- xã hội, giới, nơi c trú hiện nay,

thành phần gia đình, nơi sống trớc khi vào đại học.
7. Khung lý thuyết:
Nội dung chính
Chơng 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Điều kiện kinh tế-văn hoá-xã
hội
Nhận thức của sinh viên về hiện
tợng đồng tính luyến ái:
- Nguyên nhân
- Biểu hiện
- Đối tợng
- Bản chất
Hành viThái độ
Đặc điểm cá nhân của sinh viên
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cơ sở lý luận
1. Tổng quan về hiện t ợng đồng tính luyến ái trên thế giới và ở Việt Nam
và xu h ớng giải quyết
Hiện tợng đồng tính luyến ái đã xuất hiện từ lâu trên thế giới cùng với sự
phát triển của con ngời. Nh ở ấn Độ, vào độ tuổi vị thành niên, những chàng trai
phải trở thành một giới thứ ba tức là yêu và sống chung với một ngời cùng giới
nh một dạng hôn nhân thử nghiệm. Sau giai đoạn đó họ lại yêu và lấy một ngời
phụ nữ nh bình thờng. Hoặc ở Châu Phi, có trờng hợp một ngời nam hay một ngời
nữ có thể yêu một ngời cùng giới với mình trong một thời gian. Điều này là do yếu
tố văn hóa của bộ tộc chi phối. Tuy nhiên hiện tợng chỉ dừng lại ở mức tồn tại
trong một thời điểm hay một nền văn hoá riêng biệt chứ không mang tính công
khai hay chính thức. Đồng tính luyến ái dù ở bất kỳ châu lục nào hay nền văn hóa
nào cũng đều bị coi là một hiện tợng bất bình thờng.
ở châu Âu và Hoa Kỳ, những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX là thời kỳ
của những phong trào" giải phóng" của ngời đồng tính luyến ái, đấu tranh đòi

quyền bình đẳng trong xã hội cũng nh vợt qua những sự chỉ trích của cộng đồng.
Đây cũng là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất của phong trào nữ quyền. Và dờng
nh cũng đã có một sự thay đổi trong mức độ cởi mở khi bàn luận về đồng tính
luyến ái cũng nh sự đồng cảm đã tăng lên với những ngời thuộc giới thứ ba này.
Tuy nhiên, liệu đồng tính luyến ái có thể đi vào cuộc sống nh một hiện tợng bình
thờng đợc không và cộng đồng có chấp nhận sự bình đẳng của họ không khi gia
đình vẫn thực sự là nền tảng của xã hội. Trên thực tế, ngời đồng tính luyến ái vấp
phải rất nhiều khó khăn khi công khai giới tính của mình nh bị khinh rẻ, bị đối xử
bất bình đẳng và thậm chí bị đánh đập hay bị giết hại.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phong trào đòi quyền bình đẳng của ngời đồng tính luyến ái
(Nguồn: Sociology of marriage and the family. Scott Coltrane/ Randall Collins)
Theo một số nghiên cứu thì ngời đồng tính luyến ái chiếm khoảng từ 1 đến
12 % dân số thế giới. ở Hoa Kỳ con số này là trên 1% dân số. ở Trung Quốc có
khoảng từ 36 đến 48 triệu ngời đồng tính luyến ái. Còn ở Việt Nam cha có con số
thống kê chính xác nhng theo các nhà khoa học thì tỷ lệ ngời đồng tính luyến ái
chiếm khoảng 1 % dân số. Xét theo số lợng thì con số trên không lớn nhng những
vấn đề xung quanh nhóm đối tợng này đã làm đau đầu những nhà quản lý văn hóa
và xã hội. Bởi đồng tính luyến ái không chỉ là một căn bệnh mà nhiều khi là một
lối sống thiếu lành mạnh gây hại cho văn hoá và là một nguy cơ chủ yếu dẫn tới sự
gia tăng của bệnh HIV/ AIDS. ở Việt Nam, tệ nạn mại dâm đồng giới và đặc biệt
là mại dâm nam đã manh nha phát triển. Một số báo chí trong thời gian gần đây đã
thờng xuyên đề cập đến hiện tợng này nh báo An ninh thế giới( số 281- ngày
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
30/5/2002) đa tin về một địa điểm tụ tập của giới đồng tính ngay giữa thành phố
Hồ Chí Minh - rạp chiếu phim Đồng Khởi- quận 1. Loại tệ nạn xã hội này không
những gây hại cho sự phát triển lành mạnh về mặt thể chất của xã hội mà sự tồn tại
của nó còn ảnh hởng đến thuần phong mỹ tục, lối sống của cộng đồng. Đặc biệt là
một số sinh viên nam đã chấp nhận việc này để kiếm tiền nh trên báo chí đã đăng
tải. Chính vì vậy các quốc gia trên thế giới và cả Việt Nam đã và đang tìm hiểu và

giải quyết vấn đề này. ở Hà Lan và một bang ở Hoa Kỳ đã có đạo luật cho phép
ngời đồng tính luyến ái kết hôn. Hay Trung Quốc năm 1996 đã đồng ý với Tổ
chức y tế thế giới không coi đây là một chứng bệnh, gạch tên nó trong danh sách
các chứng rối loạn tâm thần.
Việt Nam cũng đã có một số biện pháp cụ thể để giải quyết vấn đề này nh kiên
quyết xử lý tệ nạn mại dâm nam hay đa lên phơng tiện thông tin đại chúng coi
đồng tính luyến ái nh một lối sống lệch lạc. Nhìn chung d luận xã hội đều không
đồng tình và muốn ngăn chặn hiện tợng này. Tuy nhiên nếu đây là một lối sống
lệch lạc, bệnh hoạn gây hại cho đạo đức cũng nh sự phát triển của xã hội thì cách
nhìn nhận và xử lý trên là hợp lý. Nhng những trờng hợp ngời đồng tính luyến ái là
bẩm sinh và hoàn toàn muốn có một cuộc sống bình thờng thì cũng đòi hỏi một sự
cảm thông và giúp đỡ chân thành của cộng đồng.
2. Hệ khái niệm công cụ
2.1 Khái niệm sinh viên:
Sinh viên theo từ gốc"student" trong tiếng Latinh là những ngời làm việc, học
tập, tìm hiểu và khai thác tri thức.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Theo nghĩa thông thờng, sinh viên là ngời học tập ở bậc trung cấp, cao đẳng và
đại học.
2.2 Khái niệm giới tính:
Là khái niệm dùng để chỉ những đặc trng sinh học của nam và nữ. Những đặc
trng sinh học dờng nh là bất biến và đó là cơ sở cho những chuẩn mực về vai trò
giới sau này. Sự chuyển đổi giới tính có thể do sinh học, văn hoá, kinh tế..
* Các đặc điểm của giới tính
- Là đặc trng sinh học quy định hoàn toàn bởi gien qua cơ chế di truyền.
- Bẩm sinh.
- Đồng nhất vì đây là sản phẩm của sự tiến hoá sinh học nên không phụ thuộc
vào không gian và thời gian.
2.3 Khái niệm giới:
Giới là khái niệm dùng để chỉ những mối quan hệ xã hội của nam và nữ. Khái

niệm giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi đợc tạo nên
với hai giới tính. Giới là một sản phẩm của xã hội và liên quan đến quá trình xã
hội hoá.
* Các đặc điểm của giới:
- Một phần vẫn bị quy định bởi yếu tố sinh học của giới tính.
- Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà đợc hình thành qua quá trình
học tập, xã hội hoá cá nhân.
- Đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức do sự đa dạng của xã hội,
nền văn hoá.
- Có thể biến đổi.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.4 Khái niệm bản sắc giới
Bản sắc giới liên quan tới sự nhận thức của cá nhân về nam giới hay nữ giới.
Nói cách khác, bản sắc giới là sự cảm nhận của cá nhân về giới của mình trong
nền văn hoá. Bản sắc giới thờng phù hợp với giới tính của cá nhân nhng không
phải trờng hợp nào bản sắc giới cũng đồng nhất với giới tính của cá nhân đó.
2.5 Khái niệm vai trò giới
- Vai trò xã hội là những mong đợi của xã hội đối với một cá nhân nào đó
phù hợp với địa vị của anh ta. Quyền lợi và nghĩa vụ là hai thành tố quan trọng
nhất của vai trò xã hội.
- Vai trò giới: là những mong đợi của xã hội với một chàng trai hay một cô
gái về những mô hình, hành vi ứng xử phù hợp với phụ nữ hay nam giới.
Những vai trò của giới bao gồm:
- Vai trò sản xuất: là những hoạt động do đàn ông hay phụ nữ thực
hiện( theo quan niệm truyền thống chủ yếu là nam giới) nhằm tạo ra của cải vật
chất xã hội, hàng hoá dịch vụ để sử dụng trao đổi.
- Vai trò tái sản xuất: là những hoạt động cần thiết đảm bảo tái sản xuất ra
con ngời - lực lợng sản xuất. Những vai trò tái sản xuất bao gômg: sinh con, nuôi
con, chăm sóc các thành viên trong gia đình đặc biệt là ngời già và trẻ em. Theo
quan niệm truyền thống, vai trò này chủ yếu do phụ nữ đảm nhận.

- Vai trò cộng đồng: là hoạt động diễn ra ở cộng đồng nh làng xã, thôn bản
nhằm duy trì ổn định quan hệ xã hội trong cộng đồng đó. Theo quan niệm truyền
thống, vai trò này phụ nữ ít tham gia.
2.6 Khái niệm đồng tính luyến ái
* Phân biệt một số thuật ngữ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Heterosexual - Dị tính ái( gốc từ Hy Lạp - heteros): dùng để chỉ những
ngời có quan hệ tình dục với ngời khác giới.
- Bisexual - dùng để chỉ những ngời có quan hệ tình dục với cả hai giới
( gốc từ bi - hai).
- Transgenderist- dùng để chỉ những ngời có hành vi khác với giới của
mình. Nh nam giới nhng lại có cách phục trang, ứng xử, phong cách nh nữ giới và
ngợc lại.
- Transsexual - xuyên giới tính: dùng để chỉ những ngời sống hoàn toàn
khác với giới "trời cho" của mình.
- Lỡng giới - dùng để chỉ những ngời bẩm sinh có cả hai cơ quan sinh dục
nam và nữ và mang trong mình những yếu tố gen, hoócmôn của cả hai giới. Đến
một thời điểm nào đó do sự phát triển của cơ thể và đôi khi là do sức ép từ môi tr-
ờng bên ngoài (gia đình, xã hội) bắt buộc họ phải có sự lựa chọn một giới tính và
giới.
Từ điển Bách Khoa Việt Nam tập 1 đã đa ra định nghĩa về đồng tính luyến
ái nh sau:" Là quan hệ luyến ái, tình dục giữa những ngời cùng giới tính, đều có
bộ phận sinh dục phát triển bình thờng. Trên thực tế thờng gặp đồng tính luyến ái
giữa nam với nam, ít gặp ở nữ hơn. Đồng tính luyến ái tồn tại từ lâu ở các nớc ph-
ơng Tây, có nơi chấp nhận nh hợp pháp. Gần đây, đợc d luận xã hội chú ý vì là
một trong những nguyên nhân chủ yếu gây lan tràn AIDS (hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải)".
Homosexual (gốc từ Hy Lạp homos - cùng) là thuật ngữ dùng để chỉ những
ngời đồng tính luyến ái - những ngời chỉ quan hệ tình dục với những ngời cùng
giới với mình. Hiện tợng đồng tính luyến ái hay còn gọi là tình dục đồng giới là sự

hấp dẫn tình cảm và tình dục giữa những ngời cùng giới - nam với nam, nữ với nữ.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Những ngời đồng tính luyến ái nam trong tiếng Anh đợc gọi là gay. Còn
những ngời đồng tính luyến ái nữ là lesbian.
* Khía cạnh bệnh lý, sinh học:
Về khía cạnh bệnh lý, có rất nhiều giả thuyết đa ra nhng những nhà khoa học dờng
nh đều nhất trí rằng đồng tính luyến ái là bẩm sinh chứ không phải mắc phải. Ng-
ời đồng tính luyến ái chẳng có gì khác so với ngời bình thờng ngoại trừ những lệch
lạc về định hớng tình dục.
Các nhà bệnh lý học tâm thần xếp ngời đồng tính luyến ái vào nhóm lệch lạc đối
tợng trong các bệnh lệch lạc tình dục. Họ đợc coi là "thiểu số tình dục".
Là một loại bệnh tâm thần, đồng tính luyến ái cần hội tụ 3 điều kiện:
- Có tính chất cỡng chế, dù có ý thức hay không, họ cũng không thể cỡng
lại đợc.
- Chủ yếu ở nam giới(nhng hiện nay cũng đã có xuất hiện nhiều ở giới nữ).
- Xuất hiện sau tuổi trởng thành.
* Khía cạnh tâm lý:
Ngoại trừ nhóm ngời đồng tính luyến ái do yếu tố bẩm sinh thì một số lợng không
nhỏ trong nhóm đối tợng này có biểu hiện đồng tính luyến ái do những nguyên
nhân về tâm lý.
- Thứ nhất, đó là do cách giáo dục của gia đình không phù hợp, lệch lạc.
Một gia đình quá hà khắc và gia trởng hay cách sống không lành mạnh có thể dẫn
đến những tổn thơng về tâm lý trong đứa trẻ. Điều này ảnh hởng không nhỏ đến sự
hình thành nhân cách và giới của đứa trẻ khi trởng thành. Và đặc biệt là nội dung,
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cách thức giáo dục giới tính trong gia đình còn cha đợc quan tâm đến một cách
đúng đắn.
- Thứ hai, đó là sự lạm dụng tình dục với trẻ em, đặc biệt là của ngời cùng
giới với chúng. Điều này tạo nên một trạng thái ám ảnh suốt thời thơ ấu. Và khi tr-
ởng thành, nó có thể trở thành một nguyên nhân dẫn đến hiện tợng đồng tính

luyến ái.
* Khía cạnh cá nhân và xã hội:
Theo các nhà nghiên cứu hầu hết các hiện tợng đồng tính luyến ái mà ngời ta ngộ
nhận thờng do yếu tố môi trờng, bản thân chứ ít khi là do bẩm sinh.
- Thứ nhất : do sự tò mò của bản thân. Hiện tợng này phổ biến ở lứa tuổi
thanh niên, khi hiểu biết còn cha đầy đủ nhng lại dễ bị cuốn hút bởi những điều
mới lạ.
- Thứ hai: do sự lôi kéo hoặc đua đòi. D luận xã hội về vấn đề này càng đợc
mở rộng càng làm nảy sinh một số lợng ngời đồng tính luyến ái "dởm", a dua theo
bạn bè. Họ coi đây là một thứ "mode" chứ không phải do bản chất. Và cũng không
ít những trờng hợp những ngời bình thờng tự biến mình thành ngời đồng tính
luyến ái vì lợi ích kinh tế hay những lợi ích khác.
- Thứ ba: do ảnh hởng của luồng văn hoá nớc ngoài. Nớc ta từ khi mở cửa,
giao lu kinh tế đồng thời cũng bắt buộc phải " giao lu" với những luồng văn hóa n-
ớc ngoài mà không ít trong số đó kém lành mạnh, đi ngợc lại với những quan
niệm, thuần phong mỹ tục vốn có. Sự ảnh hởng của văn hoá có thể nhìn nhận rõ
ràng qua cách sống, cách tiêu dùng văn hoá của ngời dân đặc biệt là tầng lớp
thanh niên. Văn hóa nớc ngoài với cái nhìn khá "thoáng" về các vấn đề giới tính
hay tình dục dễ dàng ảnh hởng đến nhóm đối tợng còn cha có nhiều hiểu biết và
năng lực đánh giá này.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Khía cạnh xã hội học:
Với cách tiếp cận xã hội học thì đồng tính luyến ái có thể đợc coi là một hiện tợng
lệch chuẩn. Bởi lối sống của ngời đồng tính luyến ái đi ngợc lại với những quan
niệm đạo đức xã hội cũng nh luật pháp của một số nớc, nghĩa là trái với những
chuẩn mực tồn tại trong xã hội. Durkhiem trong cuốn "Các quy tắc của phơng
pháp nghiên cứu xã hội học" đã đa ra quan điểm: sai lệch là tiền đề của biến đổi
xã hội. Hiện tợng đồng tính luyến ái đã tạo ra những thay đổi trong quan niệm của
một số nớc nh chấp nhận họ nh những ngời bình thờng, một giới tính thứ ba. Hà
Lan và một bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã cho phép ngời đồng tính luyến

ái đợc kết hôn, nghĩa là đã có sự chấp nhận của luật pháp.
2.7 Khái niệm lệch chuẩn:
* Chuẩn mực là tổng số những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc của
xã hội đợc ghi nhận bằng lời, bằng ký hiệu hay bằng các biểu trng cho hớng cơ
bản đối với các hành vi của thành viên trong xã hội. Những mong đợi, những yêu
cầu, những quy tắc xã hội đó xác định rõ cho mọi ngời những việc nào nên làm và
cần phải xử sự nh thế nào cho đúng trong các tình huống xã hội khác nhau. Chuẩn
mực thực hiện chức năng liên kết điều chỉnh, duy trì quá trình hoạt động của xã
hội nh là hệ thống của các mối quan hệ tác động lẫn nhau của các cá nhân. Phạm
vi của chuẩn mực là rất rộng.
Trong cuốn" Những quy tắc của phơng pháp xã hội học",E .Durkhiem đa ra
quy tắc đòi hỏi nhà nghiên cứu xã hội học phải phân biệt đợc cái chuẩn mực, cái
"bình thờng" với các dị biệt, cái " không bình thờng" vì mục tiêu sâu xa của khoa
học xã hội học là tạo dựng và chỉ ra đợc những gì là mẫu mực, tốt lành cho cuộc
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sống của con ngời. Theo Durkhiem thì những cái bình thờng, cái chuẩn mực là cái
thờng gặp, cái chung, cái trung bình, cái điển hình của xã hội. Những gì lệch
chuẩn là dị biệt, không bình thờng. Với cách nhìn nh vậy đồng tính luyến ái chính
là một hiện tợng lệch chuẩn bởi nó chỉ là một hiện tợng của một nhóm nhỏ trong
xã hội, một lối sống khác thờng.
3. Các h ớng tiếp cận lý thuyết
3.1 Lý thuyết xã hội hoá vai trò giới
R. Stark đa ra luận điểm " Xã hội hoá là quá trình cá nhân học đóng vai trò
xã hội của mình". Do vậy xã hội hoá vai trò giới có thể hiểu là quá trình nam và nữ
học hỏi cách đóng vai trò xã hội phù hợp với giới của mình: phụ nữ hay nam giới.
Theo lý thuyết xã hội hoá vai trò giới, vai giới, tơng quan giới là kết quả của quá
trình xã hội hoá cá nhân. Các cấu trúc hành vi, tình cảm và thái độ đặc thù cho
mỗi giới đã có sẵn trong xã hội trớc khi đứa trẻ chào đời. Và từ khi lọt lòng cho
đến lúc mất đi con ngời không ngừng tiếp thu và làm theo các cấu trúc giới đang
tồn tại một cách khách quan tuỳ theo giới tính của mình. Các giai đoạn của quá

trình xã hội hoá vai trò giới cũng giống quá trình xã hội hóa cá nhân: gia đình, nhà
trờng, trởng thành. Những ngời theo lý thuyết nhấn mạnh đến giai đoạn gia đình vì
bản sắc giới tính định hình từ giai đoạn này. Sức ép giáo dục rất mạnh đối với đứa
trẻ trong việc nhận diện giới tính nh lựa chọn đồ chơi, quần áo, cử chỉ hành vi phù
hợp với một bé trai hay bé gái. Đây cũng là giai đoạn xã hội hoá cá nhân cơ bản
theo quan điểm của T. Parson và Andrieva.
3.2. Lý thuyết t ơng tác biểu tr ng của H.Mead và Blumer
Đây là một lý thuyết rất quan trọng trong hệ lý thuyết về tơng tác xã hội.
Theo hai tác giả này thì hành vi của con ngời là những phản ứng đáp lại hành vi
của ngời khác. Thực chất con ngời tồn tại trong một thế giới mà đối tợng và ý
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghĩa của nó chỉ xuất hiện trong tơng tác giữa các cá nhân. Cá nhân tạo ra các
nhóm xã hội nhờ vào sự liên kết giữa họ về các biểu trng. Và sở dĩ con ngời giao
tiếp đợc với nhau trong một tơng tác xã hội nào đó là vì họ có cùng chung một hệ
thống biểu trng nào đó. Biểu trng có thể tồn tại ở dạng ngôn ngữ viết, nói hoặc cả
những ngôn ngữ không thành lời.
Khi một cá nhân đa ra một thao tác, họ đã có sự cân nhắc về ý nghĩa của
thao tác, đợc gắn vào mục tiêu dới dạng hình tợng trong ý thức của chủ thể. Nếu
trong tơng tác, ý nghĩa của thao tác không đợc đối tác chấp nhận hoặc đánh giá
không tơng ứng về ý nghĩa mà chủ thể đã đặt ra thì lập tức nó sẽ đợc điều chỉnh
phù hợp từ bên trong. Và quá trình đó sẽ lặp đi lặp lại cho đến khi chủ thể nhận
thức cho rằng đã phù hợp với biểu trng của một chủ thể hành động khác thì nó mới
đợc lặp lại. Khi đợc lặp lại, nó đợc nâng cao lên một bớc về ý thức và đợc đối tức
tiếp nhận theo một cách nào đó. Và kết quả là chủ thể lại điều chỉnh nó lần thứ
hai. Cứ nh vậy, giữa các chủ thể sẽ hình thành nên một biểu trng chung, có ý nghĩa
chung tơng đối bền vững. Rõ ràng tồn tại một sự chi phối giữa những biểu trng
chung của nhóm với các biểu trng cá nhân. Cá nhân có thể có những cách đánh
giá, cách ứng xử riêng nhng dờng nh vẫn phải có sự đồng điệu giữa chúng với biểu
trng của nhóm. Bởi đó chính là cơ sở cho sự hoà nhập của cá nhân với nhóm, nhờ
đó cá nhân đợc chấp nhận nh một thành viên và nhóm mới phát triển.

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng 2: Kết quả nghiên cứu, những giải pháp và kiến nghị
Kết quả nghiên cứu:
1.Tổng quan tình hình nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Sự phát triển hay nói chính xác hơn là ngày càng có nhiều ngời đồng tính
luyến ái công khai lối sống khác thờng của mình đã thu hút sự chú ý của d luận xã
hội cũng nh của các nhà nghiên cứu. Bởi việc tìm hiểu bản chất cũng nh nguyên
nhân của hiện tợng này giúp ích rất nhiều cho việc đa ra những giải pháp hạn chế
những ảnh hởng của nó đồng thời giúp cộng đồng có đợc một cách nhìn cảm
thông và chia sẻ hơn với nhóm xã hội bất thờng này.
Trên thế giới, những nghiên cứu chính thức và tập trung về giới đồng tính
luyến ái đợc tiến hành rộng rãi nhằm cung cấp những hiểu biết về mọi mặt cuộc
sống của họ.
- Violence against lesbians and gaymen - David Comstock .
Đây là một nghiên cứu tập trung về những vấn đề mà ngời đồng tính luyến ái gặp
phải trong cuộc sống. Tác giả đa ra những số liệu về tệ nạn sử dụng bạo lực cũng
nh sự phân biệt đối xử đối với ngời đồng tính luyến ái tại Hợp chủng quốc Hoa kỳ
qua nghiên cứu năm 1992.
- Sociology of marriage and the family (gender, love and property) - Scott
Coltrane and Randall Collins - NXB Wadsworth/ Thomson Learning 2001.
Cuốn sách xã hội học về hôn nhân và gia đình này đã đề cập đến rất nhiều vấn đề
về mọi mặt của đời sống hôn nhân cũng nh các vấn đề về giới tính. Trong đó đồng
tính luyến ái cũng đợc đề cập. Chủ yếu nghiên cứu làm sáng tỏ sự xuất hiện và
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phát triển của hiện tợng này trong đời sống cá nhân, cách nhìn nhận của cộng
đồng về nó.
Dù sao với một cái nhìn thoáng hơn, mạnh dạn do đặc thù lối sống và quan niệm
nên những nghiên cứu về đồng tính luyến ái ở phơng Tây xuất hiện đa dạng và sâu
sắc.

Còn ở Việt Nam , cho dù đồng tính luyến ái không còn xa lạ với xã hội nh-
ng việc nghiên cứu nó chính thức và sâu rộng còn rất ít. Đa số báo chí đề cập đến
đồng tính luyến ái nh một hiện tợng mới nổi lên, khác thờng với quan niệm xã hội
hay chỉ tập trung vào một số nhóm xã hội cụ thể mà cha đi sâu cung cấp những
kiến thức cơ bản về hiện tợng này. Điều này gây nhiều khó khăn cho việc nhận
thức về bản chất cũng nh nguyên nhân của hiện tợng.
- Giới tính học trong bối cảnh Việt Nam - BS. Trần Bồng Sơn - NXB Trẻ 2002
Đây là một cuốn sách đi sâu vào những kiến thức khoa học về giới tính. Vấn đề
đồng tính luyến ái cũng là một trong những nội dung nghiên cứu của nó. Qua đó
ngời đọc có thể thu đợc những hiểu biết về nguyên nhân, bản chất của đồng tính
luyến ái cũng nh cách giải quyết đối với hiện tợng này.
- Tạp chí AIDS và cộng đồng - Uỷ ban thờng trực phòng chống AIDS quốc gia
( số 1-12-2000).
Trong tạp chí này, đồng tính luyến ái đợc nhắc đến nh một nguyên nhân dẫn đến
sự gia tăng căn bệnh HIV/AIDS, đặc biệt là với nhóm đồng tính luyến ái nam.
Việc nghiên cứu hiện tợng đồng tính luyến ái dới góc độ khoa học cũng nh
xã hội là rất cần thiết. Bởi nhờ đó, cộng đồng sẽ có những hiểu biết để tìm cách
giải quyết cũng nh xác định một thái độ thích hợp với những ngời thuộc nhóm xã
hội này.
1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trờng Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn và Đại học Tự nhiên đều là
thành viên thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội. Cả hai trờng cùng nằm trên địa bàn
phờng Thợng Đình - Quận Thanh Xuân. Đây là hai trờng thuộc trờng Đại học
Tổng hợp Hà Nội cũ nên vẫn đợc coi nh những cơ sở đào tạo công lập có uy tín
trong hệ thống đào tạo đại học của nớc ta.
Nhóm ngành mà trờng Đại học KHXHNV tập trung đào tạo là khoa học xã
hội. Do vậy tỷ lệ sinh viên nữ trong trờng cao hơn so với sinh viên nam. Có 10
khoa và một bộ môn với hàng nghìn sinh viên theo học mỗi năm.
Trờng Đại học Tự Nhiên gồm 13 khoa với nhiều ngành học khác nhau. Cũng do

đặc thù đào tạo là khoa học tự nhiên nên số sinh viên nam trong trờng chiếm tỷ lệ
cao hơn sinh viên nữ.
Sinh viên của hai trờng có xuất thân từ nhiều địa phơng trong nớc nên nơi c
trú của họ chủ yếu là ký túc xá và nhà trọ tại những khu vực xung quanh trờng nh
Thanh Xuân, Kim Giang, Nhân Chính, Phùng Khoang. Số sinh viên của cả hai tr-
ờng c trú tại ký túc xá Mễ Trì là khoảng 2100 ngời.
Hai trờng đều có tổ chức Đoàn và Hội sinh viên phát triển do vậy sinh viên đều đ-
ợc cung cấp khá đầy đủ thông tin về những hiện tợng xã hội mới.
2. Mức độ biết đến của nhóm sinh viên đối với hiện tợng đồng tính luyến ái và
mức độ phổ biến qua điều tra tần suất gặp :
* Điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam và những ảnh hởng tới cuộc sống cũng
nh nhận thức của sinh viên:
Nền kinh tế thị trờng đã đem lại những biến đổi cho đời sống ngời dân nớc
ta về mọi mặt. Không những đợc đảm bảo về mặt vật chất, các thành viên xã hội
còn có cơ hội phát triển về tri thức cũng nh hởng thụ những giá trị tinh thần. Tuy
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiên sự phát triển nào cũng mang trong mình yếu tố tích cực và tiêu cực. Đời
sống sung túc hơn nhng dờng nh những nền tảng đạo đức, văn hoá xã hội lại dần
mai một. Tệ nạn xã hội ngày càng có xu hớng tăng về số lợng cũng nh độ tinh vi.
Ma tuý, mại dâm..đang làm đau đầu những nhà quản lý, lập pháp và hành pháp.
Sự phức tạp của thực tế khiến cho những thành viên của xã hội Việt Nam
hiện đại đặc biệt là giới thanh niên - sinh viên có lối sống cũng nh cách nhìn nhận,
đánh giá khác với thế hệ cha anh. Sinh viên Việt Nam ngày càng năng động hơn.
Không chỉ học trên giảng đờng, họ dấn mình vào cuộc sống để thu thập tri thức
thực tế. Những quan niệm cũng nh nhận thức của sinh viên với các hiện tợng xã
hội bị chi phối bởi cách nhìn hiện đại, bởi văn hoá nớc ngoài. Sự phát triển của
hiện tợng đồng tính luyến ái cũng là một hệ quả của biến đổi kinh tế - văn hoá - xã
hội. Là nhóm xã hội có trình độ tri thức cao đồng thời trởng thành trong điều kiện
phát triển về kinh tế cũng nh phong phú về văn hoá, sinh viên chắc chắn sẽ có hiểu
biết cũng nh nhìn nhận và đánh giá về đồng tính luyến ái theo cách riêng của

mình.
2.1 Mức độ biết đến hiện tợng đồng tính luyến ái của sinh viên
Đồng tính luyến ái đã xuất hiện từ rất lâu ở Việt Nam nhng trớc đây do điều
kiện đất nớc trong chiến tranh và d luận xã hội vẫn rất khe khắt với những hiện t-
ợng bất bình thờng nên nó không có cơ hội phát triển. Từ sau khi nớc ta chuyển
sang nền kinh tế thị trờng thì hiện tợng này mới phát triển và đợc biết đến một
cách rộng rãi. Bởi tuy đây chỉ là biểu hiện của một nhóm đối tợng nhỏ nhng ảnh h-
ởng của nó đến đời sống văn hoá xã hội rất rõ ràng. Xét dới góc độ đạo đức, đồng
tính luyến ái bị coi nh một lối sống lệch lạc, trái với các quan niệm truyền thống.
Đồng tính luyến ái có lúc trở thành một dạng tệ nạn xã hội mới đặc biệt là mại
dâm nam. Nhóm đối tợng này có nguy cơ lây truyền HIV/ AIDS rất cao. Do vậy,
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dù chỉ là hiện tợng xuất hiện trong một nhóm dân số nhỏ nhng đồng tính luyến ái
lại tác động tới cuộc sống của cả cộng đồng. Chính vì lý do đó đòi hỏi mọi ngời có
một sự quan tâm tới nó để hiểu rõ bản chất từ đó tìm cách ngăn chặn những tác
động tiêu cực và hạn chế sự phát triển.
Sinh viên là nhóm có trình độ tri thức và năng lực đợc đánh giá là cao trong
xã hội. Họ là một bộ phận tiên tiến của tầng lớp thanh niên, luôn nhạy bén với các
hiện tợng mới nảy sinh cả những hiện tợng tích cực cũng nh tiêu cực nh đồng tính
luyến ái. Thêm nữa, do đặc thù về nơi c trú, thờng là ký túc xá và nhà trọ - nơi tốt
xấu cùng tồn tại nên sinh viên cũng có sự hiểu biết tơng đối về hiện tợng này.
Khi đợc hỏi "Bạn đã bao giờ nghe nói về hiện tợng đồng tính luyến ái ch-
a?", có tới 77.5% sinh viên trả lời đã nghe nhiều lần, 21.5% chỉ nghe một vài lần
và 1% cha bao giờ nghe nói đến. Có thể thấy sự quan tâm của sinh viên đối với
hiện tợng đồng tính luyến ái tồn tại ở mức cao. Điều này cũng chứng tỏ rằng, đồng
tính luyến ái không còn là một hiện tợng cá biệt mà đã đợc tồn tại rộng rãi thu hút
sự quan tâm của d luận xã hội và nhóm sinh viên. Ngời sinh viên hiện đại không
còn chỉ học và nghiên cứu những vấn đề lý thuyết mà họ luôn năng động, đi sát
thực tế, nắm bắt kịp thời mọi sự thay đổi của xã hội.
Bảng 1: Tơng quan giới và nơi sống trớc khi vào đại học của sinh viên với sự quan

tâm của họ tới hiện tợng đồng tính luyến ái (Đơn vị %)
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
STT Mức độ quan tâm Nam giới Nữ giới Đô thị Nông thôn Tổng
1 Nghe nhiều lần 40% 37.5% 40% 37.5% 77.5%
2 Nghe một vài lần 10% 11.5% 9.5% 12% 21.5%
3 Cha bao giờ 0% 1% 0.5% 0.5% 1%
Qua bảng 1 ta thấy số sinh viên nam và số sinh viên đô thị biết đến hiện tợng đồng
tính luyến ái cao hơn nhóm sinh viên nữ và sinh viên nông thôn. Điều này xuất
phát từ những nguyên nhân khách quan. Trớc hết, nam giới luôn nhạy bén hơn,
năng động hơn và thích tìm hiểu những hiện tợng mới lạ đặc biệt là liên quan đến
vấn đề giới tính. Còn nữ giới luôn đợc quan niệm rằng phải dịu dàng, kín đáo,
không nên tự tìm hiểu về vấn đề giới tính. Thêm nữa, nữ giới rất e dè với những
hiện tợng bất bình thờng nh hiện tợng đồng tính luyến ái. Do vậy tỷ lệ nữ sinh viên
chỉ nghe đến hiện tợng này một vài lần cao hơn so với sinh viên nam trong khi
nam sinh viên lại biết đến hiện tợng này nhiều hơn. Số sinh viên cha bao giờ nghe
nói về hiện tợng này chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp và cũng rơi vào nữ giới.
Mỗi sinh viên trớc khi tham gia học đại học tại Hà Nội đều mang trong
mình những đặc điểm riêng về nơi sống. Môi trờng sống của một cá nhân chi phối
rất nhiều đến nhân cách cũng nh sự hiểu biết và quan niệm của anh ta về thế giới
xung quanh. Nếu nơi sống của một sinh viên là đô thị - khu vực có sự phát triển về
kinh tế, văn hoá, xã hội, cá nhân đó sẽ có hiểu biết phong phú và sâu sắc hơn. Ng-
ợc lại, những sinh viên xuất phát từ nông thôn thờng chịu thiệt thòi bởi ít đợc cập
nhật những luồng thông tin mới. Thêm nữa, quan niệm của ngời dân nông thôn và
đô thị cũng có điểm khác biệt do nền văn hoá và lối sống.
Do vậy, số sinh viên nông thôn đã có sự hiểu biết tơng đối nhiều về hiện t-
ợng đồng tính luyến ái thấp hơn sinh viên đô thị và tỷ lệ sinh viên đô thị chỉ mới

×