Tải bản đầy đủ (.doc) (71 trang)

Luận văn thạc sỹ: Phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Vinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (589.53 KB, 71 trang )

Ch BBB
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐỀ TÀI:
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI
NHÁNH VINH
Học viên: Bùi Thị Chinh
GV hướng dẫn:PGS_TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Nghệ An-2013
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngày nay, thẻ thanh toán không còn xa lạ đối với mọi người, nếu trước đây nhắc đến
thẻ, chúng ta thường nghĩ tới những cán bộ, công chức, doanh nhân… công cán nước
ngoài, cán bộ ngân hàng hay những người nhiều tiền, thì bây giờ nó đã phổ biến, trở
thành một công cụ thông dụng trong cuộc sống hiện đại của chúng ta. Thứ mốt này không
phải là ảo mà xuất phát từ nhu cầu có thực, họ đã cảm nhận và thấy được sự tiện ích, văn
minh khi dùng thẻ nhựa và đến với nó với mục tiêu rõ ràng. Không chỉ những người có
tiền, có nhu cầu cất giữ hay thường xuyên giao dịch mới cần đến thẻ thanh toán, mà ngay
cả học sinh, sinh viên xa nhà, ngoài tỉnh cũng cần đến thẻ như thẻ ATM dùng để cất và
rút tiền để chi tiêu vì họ nhận ra được sự thuận lợi khi sử dụng loại thẻ này. Từ đây cho
thấy, thẻ thanh toán thực sự đi vào đời sống với thực chất tính hữu ích của nó, gắn liền
vời chiếc ví của từng người chứ không phải là một trào lưu. Với chiếc thẻ nhựa nhỏ nhắn,
xinh xắn nhưng nó đại diện cho một phương tiện thanh toán tiên tiến, tiện dụng thể hiện
sự phát triển của ngành ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán nói riêng cùng sự
áp dụng khoa học công nghệ vào trong ngân hàng. Để bắt kịp xu thế của thị trường, sẵn
sàng hội nhập nền tài chính khu vực và thế giới, Ngân Hàng cổ phần Ngoại thương chi
nhánh Vinh đã, đang và đẩy mạnh phát triển các loại hình dịch vụ, trong đó có dịch vụ
thẻ thanh toán để có thể đáp ứng được nhu cầu và sự cần thiết ngày càng nhiều của thẻ
cũng như định hướng phát triển và mở rộng của ngân hàng. Và đó cũng là lý do để tôi
chọn đề tài: “PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH VINH”


2.Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán cho khách hàng
làm cho quá trình lưu thông hàng hóa được tiến hành một cách có hiệu quả. Nền kinh tế
ngày càng phát triển thì tần suất giao dịch tăng và diễn ra nhanh hơn.Trong điều kiện
đó,các doanh nghiệp không thể tự thanh toán với nhau mà cần có sự tham gia của ngân
hàng và ngân hàng trở thành trung gian thanh toán trong nền kinh tế.
Khi trình độ sản xuất và lưu thông hàng hóa còn ở mức độ thấp,tiền mặt còn được sử
dụng phổ biến và đã thể hiện sự linh hoạt của nó giúp cho quan hệ mua bán được diễn ra
một cách nhanh chóng.Nhưng khi trình độ này đến một mức độ cao, việc thanh toán bằng
tiền mặt đã bộc lộ những thiếu sót như khi trường hợp người mua và người bán cách xa
nhau về vị trí địa lí hay khi món hàng có giá trị lớn cần một lượng lớn tiền mặt thì rất khó
có thể bảo quản, vận chuyển …Chưa kể việc thanh toán bằng tiền mặt sẽ đưa đến những
bất lợi như:
- Chi phí của xã hội để thực hiện các hoạt động thanh toán (như chi phí chính phủ cho
việc in ấn, chi phí kiểm, đếm tiền, bảo quản, chuyên chở của hệ thống ngân hàng,các chủ
thể giao dịch) rất là tốn kém….
- Thực hiện giao dịch với số lượng tiền lớn rất dễ bị các đối tượng phạm pháp lợi dụng
để trốn thuế, gian lận để trì hoãn việc trả nợ đối với ngân hàng và chủ nợ.
- Sử dụng một lượng lớn tiền mặt cũng là cơ hội cho bọn tội phạm lưu hành tiền giả,
rửa tiền đe dọa tới lợi ích của cá nhân, tổ chức và toàn xã hội cũng như tình hình an ninh
quốc gia.
Từ thực tế trên, dịch vụ thẻ thanh toán ra đời đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế
cũng như đem đến một giải pháp thanh toán an toàn, tiện lợi cho tất cả mọi người.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại các NHTM.
Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng Ngoại thương
chi nhánh Vinh (Ngân hàng Ngoại thương Vinh) từ đó chỉ ra những tồn tại và nguyên
nhân tồn tại của dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Vinh.
Đề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại ngân hàng ngân hàng
Ngoại thương Vinh

4. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại
thương Vinh
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài qua các năm từ
năm 2008 đến năm 2012 và đề xuất giải pháp đến năm 2020.
Nội dung: Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động phát triển dịch vụ thẻ của
Ngân hàng Ngoại thương Vinh. Đề xuất và định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ thẻ
thanh toán tại Ngân hàng Ngoại thương Vinh
5. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài sẽ tập trung và khai thác rõ mọi nội dung liên quan đến dịch vụ thẻ thanh toán,
phân tích hiện trạng việc sử dụng hình thức dịch vụ thẻ thanh toán và đề xuất các hướng
giải pháp phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng Ngoại thương Vinh.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp định tính trong thu thập và xử lý thông tin. Các thông tin
được tiến hành tổng hợp, phân tích dựa trên cả hai nguồn số liệu thứ cấp và sơ cấp:
w Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo công khai trên các phương tiện internet,
sách báo, và các tài liệu nội bộ về thanh toán không dùng tiền mặt, kết quả kinh doanh
khi áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt từ Phòng phát hành Thẻ, phòng Kế hoạch tài
chính, các số liệu thống kê cần thiết từ ngân hàng Ngân hàng Ngoại thương Vinh và ngân
hàng nhà nước trên địa bàn thành phố Vinh. Dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp phân tích và
đánh giá khách quan tình hình hoạt động chung của dịch vụ thẻ thanh toán của Ngân
hàng Ngoại thương Vinh
w Nguồn dữ liệu sơ cấp: Tiến hành lấy ý kiến thông qua bảng câu hỏi phiếu điều tra từ
một số đối tượng: khách hàng, nhân viên Ngân hàng Ngoại thương Vinh và lấy ý kiến từ
lãnh đạo Ngân hàng Ngoại thương Vinh và các ngân hàng khác trên địa bàn. Nguồn dữ
liệu sơ cấp sẽ giúp cho việc tạo sự tin tưởng cho các thông tin được đưa ra trong đề tài
cũng như đưa ra các nhận định chung về việc sử dụng dịch vụ thẻ thanh toán của Ngân
hàng Ngoại thương Vinh
CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
THẺ THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan về dịch vụ thẻ thanh toán
1.1.1, Khái niệm
Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng phát
hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc để rút
tiền mặt ở các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong phạm vu số dư của
tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và
chủ thẻ, dùng hình thức trích chuyển vốn trên tài khoản từ tài khoản của người phải trả
sang tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò
trung gian của tổ chức thanh toán.
Cơ sở chấp nhận thẻ (CSCNT) và đơn vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ
thẻ thông qua ngân hàng phát hành thẻ thanh toán. Như vậy sẽ từ có 3 thành viên tham
gia vào một phiên giao dịch thẻ:Chủ thẻ(Khách hàng), CSCNT (nơi cung ứng hàng hóa
dịch vụ), ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán.
1.1.2, Đặc điểm
üTính linh hoạt: Thẻ thanh toán có nhiều dạng, đa dạng, phong phú về hạn mức tín
dụng của thẻ nên thích hợp với hầu hết mọi đối tượng khách hàng, từ những khách hàng
có thu nhập thấp(thẻ thường) cho tới khách hàng có thu nhập cao(thẻ vàng), khách hàng
có nhu cầu rút tiền mặt (thẻ rút tiền mặt) cho tới nhu cầu du lịch giải trí…thẻ thanh toán
cung cấp cho khách hàng độ thỏa dụng tối đa, thỏa mãn nhu cầu của mọi đối tượng khách
hàng.
üTính tiện lợi:Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ thanh toán cung
cấp cho khách hàng sự tiện lợi mà không một phương tiện thanh toán nào có thể mang lại
được. Đặc biệt đối với những người phải đi ra nước ngoài đi công tác hay đi du lịch, thẻ
thanh toán có thể giúp họ thanh toán ở gần như bất cứ nơi nào mà không cần phải mang
theo tiền mặt hay séc du lịch, không phụ thuộc vào khối lượng tiền họ cần thanh toán.
Thẻ thanh toán được coi là phương tiện thanh toán tốt nhất trong số các phương tiện
thanh toán phục vụ tiêu dùng trong xã hội hiện đại và văn minh.
üTính an toàn và nhanh chóng: Không tính đến những vấn nạn ăn cắp và làm giả thẻ
thanh toán trên toàn cầu hiện nay, có thể nói người sử dụng thẻ thanh toán rất yên tâm về
số tiền của mình trước nguy cơ bị mất cắp do móc túi hay trộm cắp. Ngay cả trong trường

hợp thẻ bị lấy cắp, ngân hàng cũng bảo vệ tiền cho chủ thẻ bằng số Pin, ảnh và chữ ký
trên thẻ…nhằm tránh khả năng rút tiền của kẻ ăn trộm.
Hơn thế nữa. Hầu hết các giao dịch thể đều được thực hiện qua mạng kết nối trực
tuyến từ cơ sở chấp nhận thẻ hay điểm rút tiền mặt tới ngân hàng thanh toán, ngân hàng
phát hành và các tổ chức thẻ quốc tế. Do đó việc ghi nợ cho các chủ thể tham gia quy
trình thanh toán được thực hiện một cách tự động, dẫn đến việc quá trình thanh toán diễn
ra rất dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng
1.1.3. Vai trò của thẻ thanh toán
Mặc dù ra đời sau các phương tiện thanh toán khác, nhưng thẻ thanh toán ngày càng
khẳng định vai trò của nó trong thanh toán nhờ vào những vai trò và tính năng ưu việt của
nó so với những phương tiện thanh toán khác
Đối với người sử dụng thẻ thanh toán
Sự linh hoạt và tiện lợi trong thanh toán trong và ngoài nước:
Tiện ích nổi bật cho người sử dụng thẻ thanh toán là sự tiện lợi và tính linh hoạt hơn
hắn các phương tiện thanh toán khác. Chủ thẻ có thể thực sự cảm nhận được điều này khi
đi du lịch hay công tác ở nước ngoài. Thẻ thanh toán như Visa, MasterCard và trong
phạm vi nhỏ hơn là Amex và Diners được chấp nhận trên toàn thế giới. Điều này có
nghĩa là khi dự định đi nước ngoài, thay vì phải chuẩn bị trước một lượng ngoại tệ hay
séc du lịch, chủ thẻ có thể mang theo thẻ thanh toán để thanh toán cho mọi nhu cầu chi
tiêu của mình.
Tiết kiệm thời gian mua, giá trị thanh toán cao hơn
Với séc du lich, chủ thẻ phải dự định trước xem đã tiêu bao nhiêu và phải đến ngân
hàng làm thủ tục để mua séc trước chuyến đi, đồng thời thanh toán tiền trước cho ngân
hàng cũng với một khoản phí dù trên thực tế họ chưa hề sử dụng séc này. Khi trở về, nếu
chưa sử dụng hết số tiền trên séc, hoặc người có sức lại phải mất thời gian và chi phí để
đến ngân hàng làm thủ tục đổi lại từ séc thành tiền hoặc sẽ chấp nhận rủi ro về tỷ giá khi
giữ séc đó lại cho lần sử dụng sau.
Sử dụng thẻ thanh toán đơn giản hơn rất nhiều. Chủ thẻ không cần lên kế hoạch chi
tiêu trước, cũng không cần phải trả tiền trước cho ngân hàng. Sử dụng thẻ thanh toán, chủ
thẻ được phép chi tiêu trước, trả tiền sau. Tài khoản của thẻ chỉ bị ghi nợ khi nào chủ thẻ

thực sự chi tiêu và thanh toán bằng thẻ. Thêm nữa, tỷ giá khi bạn thanh toán bằng thẻ
cũng thường có lợi hơn so với sử dụng tiền mặt hay séc du lịch. Như vậy, không những
giúp người sử dụng thẻ tiết kiệm tiền, thẻ còn giúp họ tiết kiệm thời gian mua hàng cũng như
thời gian chờ làm các thủ tục với séc du lịch hay tiền mặt, hạn chế được rủi ro.
Khoản tín dụng tự động, tức thời
Khả năng mua hàng không bị gò bó là một tiện ích của thẻ thanh toán. Dù việc mua
bán có được dự tính trước hay không thì thẻ thanh toán cũng là một nguồn tín dụng chủ
động giúp cho các chủ thẻ khỏi phải đến ngân hàng xin vay. Thường thì người ta có tâm
lý ngại đến ngân hàng làm thủ tục xin vay, và họ sẽ đánh giá cao thẻ như là một khoản
vay tín dụng ngắn hạn, thủ tục phát hành đơn giản (thậm chí có thẻ phát hành qua đường
bưu điện). Hơn thế nữa, chủ thể chỉ phải thanh toán một phần nhỏ (hiện quy định là 20%)
khi đến hạn thanh toán (thường là một tháng), số còn lại là chủ thẻ có thể trả sau
Bảo vệ người tiêu dùng
Ở các nước phát triển có luật tín dụng tiêu dung (chẳng hạn như Luật tín dụng tiêu
dùng ở Anh ban hành năm 1974) quy định khách hàng được bảo vệ đối với những món
hàng có giá trị từ 100-15.000 bảng Anh thanh toán bằng thẻ tín dụng. Nếu món hàng đó
không đủ tiêu chuẩn chất lượng thì chủ thẻ có thẻ yêu cầu được ngân hàng phát hành thẻ
bảo vệ, thậm chí có thể được bồi thường. Một số ngân hàng phát hành còn có chế độ bảo
hiểm kèm theo: Có hàng hóa thay thế hàng bị mất cắp, hư hỏng hay thất lạc, trả tiền bảo
hiềm tai nạn hoặc tử vong đối với hàng hóa ha dịch vụ thanh toán bằng thẻ thanh toán.
Hơn thế nữa,ngân hàng cũng có chế độ ưu đãi cho chủ thẻ khi sử dụng một số dịch vụ về
sức khỏe (ví dụ như PPP,BUPA ở Anh), câu lạc bộ hoặc có chế độ thưởng điểm sau mỗi
lần sử dụng thẻ và số điểm này có thế cộng dồn lại để đổi lấy một số hàng hóa khác.
Rút tiền mặt
Chủ thẻ có thể rút tiền mặt một cách nhanh chóng ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc
nào tại ngân hàng hay qua các máy rút tiền tự động (ATM) và sử dụng một số dịch vụ
khác do máy ATM cung cấp như: Trả nợ vay, chuyển khoản, xem số dư tài khoản…
Kiểm soát được chi tiêu
Với sao kê hàng tháng do ngân hàng gửi đến chủ thẻ hoàn toàn có thể kiểm soát được
chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính toán được phí và lãi nếu trả cho mỗi khoản

giao dịch.
Giá cho tất cả những lợi ích mà thẻ mang lại là khoản phí thường niên mà chủ thẻ
phải chịu và tỷ lệ lãi nếu khoản chi tiêu không được trả ngân hàng đúng hạn, lãi suất này
có thể cao ngang với lãi suất của một khoản vay thấu chi. Tuy nhiên,với tất cả những lợi
ích mà thẻ mang lại cho chủ thẻ thì khoản phí này không đáng kể, có thể chấp nhận được.
Đối với cơ sở chấp nhận thẻ
Đối với các ngân hàng, giải pháp này giúp tăng doanh số thanh toán, giảm tải cho hệ
thống ATM của từng ngân hàng, mang lại tiện ích cho người sử dụng mà vẫn tiết kiệm
được chi phí đầu tư mở rộng mạng lưới các điểm chấp nhận thẻ. Việc khuyến khích
người tiêu dùng thanh toán tiền qua thẻ ATM khi đi mua sắm thuộc chủ trương khuyến
khích thanh toán, tiêu dùng không dùng tiền mặt, hướng đến tiêu dùng hiện đại.
Đối với CSCNT giúp bán được nhiều hàng hơn, giảm chi phí bán hàng, tăng lợi
nhuận. Thanh toán bằng thẻ cũng góp phần làm cho nơi bán hàng trở nên văn minh, hiện
đại, tạo cảm giác thoải mái cho khách hàng khi đến giao dịch, thu hút được nhiều khách
hàng đến với cửa hàng. Các khoản tiền bán hàng được chuyển trực tiếp vào tài khoản
ngân hàng do đó đảm bảo an toàn và thuận tiện hơn trong quản lý tài chính.
1.2. Phát triển dịch vụ thẻ thanh toán
1.2.1. Khái niệm
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt được cung cấp
bởi ngân hàng hoặc các công ty lớn. Thẻ được dùng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ
mà không dùng tiền mặt. Thẻ cũng được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý
hoặc các máy rút tiền tự động. Số tiền thanh toán hay rút ra phải nằm trong phạm vi số dư
trong tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng ngân hàng cho phép
. 1.2.2. Nội dung của phát triển dịch vụ thẻ thanh toán
1.2.2.1. Phát triển theo chiều rộng
Phát triển theo chiều rộng là việc mở rộng thêm quy mô thị trường, khả năng cung cấp
sản phẩm trên cơ công nghệ kỹ thuật như cũ. Có ba loại hình phát triển rộng:
- Đa dạng hoá đồng tâm: Tức là bổ sung những danh mục sản phẩm của mình những
sản phẩm giống như các mặt hàng hiện có của doanh nghiệp xét theo giác độ kỹ thuật hay
marketing. Thông thường những mặt hàng này sẽ thu hút sự chú ý của những giai tầng

khách hàng mới. Ví dụ như một nhà xuất bản có thể mở thêm ngành xuất bản sách bìa
mềm và tận dụng những ưu thế của mạng lưới phát hành có sẵn của mình để bán những
loại sách đó cho những khách hàng có thu nhập cao.
- Đa dạng hoá ngang: Tức là bổ sung cho chủng loại hàng hoá của mình những mặt
hàng hoàn toàn không có liên quan gì đến những mặt hàng hiện đang sản xuất, nhưng có
thể làm cho khách hàng hiện có quan tâm hơn.
- Đa dạng hoá rộng: Tức là bổ sung cho chủng loại hàng hoá của mình những mặt hàng
không có quan hệ gì với công nghệ mà công ty đang sử dụng với hàng hoá và thị trường
hiện có.
- Đối với nghiệp vụ phát triển thẻ theo chiều rộng. Có thể có những chính sách ưu đãi
đối với khách hàng đến làm thẻ mới như miễn phí, hay quà tặng. Có những hình thức
tuyên truyền về những thuận lợi, những ưu điểm khi thanh toán bằng thẻ.
1.2.2.2. Phát triển theo chiều sâu
Phát triển kinh tế chủ yếu nhờ đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao
trình độ kĩ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lí và có
hiệu quả các nguồn nhân tài, vật lực hiện có. Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố
phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật trên thế giới
ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ mới,
vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang Phát triển
theo chiều sâu. Phát triển theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả
kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và
tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn,
tăng tổng sản phẩm cho xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người. Ở Việt Nam và một
số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan có tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát
triển, nên phát triển kinh tế theo chiều rộng vẫn còn có vai trò quan trọng. Nhưng để mau
chóng khắc phục sự lạc hậu, đuổi kịp trình độ phát triển chung của các nước trên thế giới,
trước hết là các nước trong khu vực, thì phát triển theo chiều sâu phải được coi trọng và
kết hợp chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết và điều kiện có
cho phép.
Trong lĩnh vực phát hành dịch vụ thẻ thanh toán đòi hỏi công nghệ và yếu tố kỹ thuật

rất cao. Về kỹ thuật có thể cải tiến khả năng về tính bảo mật cho các loại thẻ thanh toán vì
hiện nay đã xuất hiện các loại tội phạm công nghệ cao như trộm tiền trong tài khoản điều
này cũng gây lo ngại cho đối tượng khách hàng sử dụng các loại thẻ. Một vấn đề cần
quan tâm về phát triển theo chiều sâu nữa là làm thế nào để tăng khả năng thanh toán qua
thẻ thay vì tiền mặt. điều này cần thiết có sự hợp tác của khách hàng là những người sử
dụng thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ là địa điểm cung cấp hàng hóa và dịch vụ.
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá phát triển dịch vụ thẻ thanh toán
1.2.3.1. Tiêu chí theo chiều rộng
a, Doanh số thẻ thanh toán
Doanh số thẻ thanh toán là toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ người tiêu dùng đã thanh
toán tại các địa điểm bán hàng qua thẻ thanh toán.
Doanh số thanh toán qua thẻ thanh toán cao có nghĩa là số lượng khách hàng đã dùng
hình thức qua thẻ thanh toán càng nhiều và như vậy mục tiêu phát triển dịch vụ thẻ thanh
toán theo chiều rộng đã được thực hiện một cách có hiệu quả.
b, Doanh số rút tiền mặt tại ATM
Doanh số rút tiền mặt tại ATM là toàn bộ số tiền khách hàng nhận được từ các nguồn
thu nhập, giao dịch chuyển tiền qua thẻ ATM. Hiện nay dịch vụ này khá phát triển đặc
biệt là thanh toán lương qua tài khoản đã được nhiều đơn vị thực hiện, ngoài ra một bộ
phận lớn là học sinh, sinh viên cũng đã sử dụng dịch vụ này.
c, Số lượng thẻ thanh toán được phát hành
Số lượng thẻ thanh toán được phát hành là số lượng thẻ thanh toán mà các ngân hàng,
tổ chức tín dụng đã cung cấp cho đối tượng khách hàng là các nhân hay tổ chức.
d, Số lượng đơn vị, công nhân viên được trả lượng qua thẻ thanh toán
Số lượng đơn vị, công nhân viên được trả lượng qua thẻ là số lượng tổ chức, cá nhân
đăng ký dịch vụ trả lương qua thẻ thanh toán do các tổ chức, tín dụng cung cấp. Việc trả
lương qua thẻ thanh toán có những ưu nhược điểm nhất định, trả lương qua thẻ thanh
toán sẽ làm giảm bớt các thủ tục giấy tờ cho kế toán thanh toán tiền lương còn người có
thu nhập thì thì được tiện lợi khi có được nơi để dữ tiền an toàn. Tuy nhiên không chỉ có
những ưu điểm mà nó vẫn có những hạn chế, nhược điểm. Việc trả lương qua thẻ thanh
toán nhiều khi gây ách tắc cho người có thu nhập khi rút tiền vì thực tế hiện nay số lượng

những địa điểm rút tiền chưa theo kịp với số lượng tổ chức, cá nhân dùng thẻ thanh toán.
e, Doanh thu từ dịch vụ thẻ thanh toán
Doanh thu từ dịch vụ thẻ là toàn bộ số tiền mà tổ chức tín dụng nơi cung cấp dịch vụ
thẻ cho khách hàng thu được từ phí làm thẻ. Doanh thu từ dịch vụ thẻ thanh toán càng lớn
cũng có nghĩa số lượng thẻ thanh toán được phát hành càng nhiều.
1.2.3.2, Tiêu chí theo chiều sâu
a, Tỷ lệ thanh toán bằng thẻ thanh toán/tổng số giao dịch
Tỷ lệ thanh toán bằng thẻ thanh toán/tổng số giao dịch là chỉ tiêu đánh giá xem mức độ
của người tiêu dùng ưa chuộng thanh toán qua thẻ thanh toán. khi thanh toán các hàng
hóa dịch vụ tiêu dùng thì giá trị hàng hóa dịch vụ được thanh toán qua thẻ thanh toán đạt
bao nhiêu phần trăm tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng.
b, Chất lượng dịch vụ thẻ thanh toán cung cấp
Chỉ tiêu chất lượng dịch vụ thẻ thanh toán cung cấp thường được đánh giá thông qua
các cuộc khảo sát đối với khách hàng, là những người đã sử dụng thẻ thanh toán xem
mức độ hài lòng của họ. Đây là chỉ tiêu mang tính định tính và việc đánh giá thường chỉ
mang tính tương đối.
1.2.4. Các nhân tố tác động đến phát triển dịch vụ thẻ thanh toán
1.2.4.1. Môi trường bên ngoài
a, Môi trường kinh tế vĩ mô
Trong kinh tế vĩ mô nền kinh tế đạt được sản lượng tiềm năng khi mọi nguồn lực đã
được sử dụng hết. Lúc đó cầu không làm thay đổi được tổng cung, hay nói cách khác sự
tiêu dùng nhiều hơn các loại hàng hóa dịch vụ sẽ không làm cho tổng cung tăng lên.
Nhưng thực tế nền kinh tế vẫn chưa đạt được sản lượng tiềm năng do rất nhiều nguồn lực
vẫn chưa được sử dụng hay chúng ta vẫn thường nói có cầu thì ắt sẽ có cung. Trong dịch
vụ thẻ thanh toán cũng vậy nhu cầu của người sử dụng dịch vụ chính là nhân tố tác động
trực tiếp đến việc cung cấp dịch vụ phát hành thẻ thanh toán tại các ngân hàng, hay tổ
chức tín dụng hiện nay. Thẻ thanh toán là một loại hàng hóa đặc biệt, vừa mang tính hữu
hình, vừa mang tính vô hình. Tính hữu hình thể hiện ở chỗ, khách hàng đăng ký mở thẻ
sẽ được cấp một chiếc thẻ nhựa nhưng chức năng chính của chiếc thẻ này lại là các dịch
vụ mà nó cung cáp cho chủ thẻ đây chính là giá trị vô hình. Chính vì vậy thẻ thanh toán

vừa mang tính của sản phẩm hàng hóa vừa mang tính chất của sản phẩm dịch vụ. Việc
đưa các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ thanh toán sẽ được căn cứ trên các
đặc điểm đó của thẻ thanh toán. Các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu dùng thẻ
thanh toán có thể kể đến:
Phí làm thẻ thanh toán: Khi đăng ký mở thẻ thanh toán khách hàng phải chịu mức phí
để làm thẻ thanh toán do ngân hàng ấn định, mức phí này thay đổi tùy thuộc theo từng
giai đoạn, chương trình, chính sách của ngân hàng. Tác động của nhân tố này có thể xem
như giá cả của sản phẩm thẻ thanh toán mà người tiêu dùng phải bỏ ra để mua sản phẩm.
Vì vậy có thể ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ thanh toán của khách hàng.
Sự nhận biết về ngân hàng phát hành thẻ thanh toán: Nhận thức của khách hàng về
sản phẩm cũng như các thông tin của sản phẩm là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết
định lựa chọn sử dụng thẻ thanh toán của người tiêu dùng. Việc nhận biết đầu tiên về
thương hiệu thẻ thanh toán, uy tín của ngân hàng sẽ có một ưu tiên cho ngân hàng đó
trong việc ra quyết định sẽ chọn dùng thẻ thanh toán do ngân hàng nào phát hành của
khách hàng. Nhân tố này được đưa vào mô hình phân tích xem, đối với sản phẩm thẻ
thanh toán thì đó có phải là sản phẩm đầu tiên được nhận biết và có ưu tiên lựa chọn sử
dụng như trên lý thuyết hay không?
Các tiện ích của thẻ thanh toán: Đây chính là giá trị sử dụng của sản phẩm thẻ thanh
toán. Khi lựa chọn sử dụng một loại thẻ sẽ có một sự so sánh, đánh giá về các tiện ích mà
các loại thẻ thanh toán cung cấp, vì vậy nhân tố tiện ích của thẻ thanh toán có ảnh hưởng
đến quyết định lựa chọn sử dụng một loại thẻ thanh toán của khách hàng.
Tính an toàn khi sử dụng thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh
toán, đồng thời là phương tiện cất giữ tiền, tài sản của khách hàng. Vì vậy tính an toàn
càng phải được cân nhắc khi lựa chọn sử dụng thẻ thanh toán của khách hàng
Thu nhập trung bình hàng tháng của khách hàng: Mặc dù thẻ thanh toán được tạo ra
để phục vụ cho mọi đối tượng, nhưng không phải ở mức thu nhập nào cũng có nhu cầu
dùng thẻ thanh toán, cũng như mỗi khách hàng có mức thu nhập khác nhau sẽ có những
nhận thức, đánh giá khác nhau về sản phẩm cũng như ngân hàng phát hành thẻ thanh
toán, nên sẽ có quyết định khác nhau trong việc lựa chọn sử dụng thẻ thanh toán.
Sự phát triển của nền kinh tế cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thẻ thanh

toán. Bởi khi nền kinh tế phát triển, thu nhập, mức sống của người dân cũng được nâng
cao, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, họ mới có nhiều cơ
hội hiểu biết, tiếp xúc và sử dụng các dịch vụ về thẻ thanh toán. Bên cạnh đó, một nền
kinh tế phát triển sẽ thu hút các doanh nghiệp nước ngoài cũng như các tổ chức thẻ thanh
toán quốc tế đầu tư. Họ không chỉ đầu tư bằng tiền mà còn đầu tư công nghệ, nhân lực,
tạo điều kiện cho thị trường thẻ thanh toán của nước đó phát triển nhanh chóng.
b, Môi trường dân cư
Thói quen tiêu dùng của dân cư ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của thẻ. Thị trường thẻ
thanh toán chỉ thực sự phát triển khi người dân nhân thấy tính ưu việt khi tiêu dùng bằng
thẻ thanh toán so với tiêu dùng bằng tiền mặt. Bên cạnh đó trình độ dân trí cũng đóng
một vai trò quan trọng. Thẻ thanh toán là sản phẩm của công nghệ hiện đại, sự phát triển
của thẻ thanh toán phụ thuộc vào mức độ am hiểu của công chúng đối với nó. Chỉ khi
trình độ dân trí cao thì khả năng áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ phục vụ
con người mới có điều kiện phát triển. Trình độ dân trí ở đây là các kiến thức về ngân
hàng, khả năng tiếp cận và sử dụng thẻ thanh toán cũng như việc nhận thức những tiện
ích mà nó mang lại. Thu nhập của người dân cũng có ảnh hưởng đến tiêu dùng của họ.
thu nhập cao dẫn đến việc mua sắm hàng hoá, dịch vụ tăng. Khi đó họ mới có nhu cầu về
về những phương thức thanh toán có tính an toàn cao, nhanh chóng, thuận tiện như thẻ
thanh toán, séc.
c, Môi trường công nghệ
Các ứng dụng của công nghệ thông tin đã tạo ra những tiện ích kỳ diệu của thẻ. Thẻ
thanh toán sẽ chỉ là một tấm nhựa bình thường nếu nó không được gắn với các băng từ
hay các chíp điện tử mang những thông tin cần thiết, và không có khả năng thanh toán tự
động nếu nó không được đưa vào máy đọc tại các CSCNT, máy ATM và hệ thống máy
tính kết nối với các trung tâm phát hành và thanh toán thẻ. Như vậy, môi trường công
nghệ càng phát triển thì thẻ thanh toán càng được gia tăng tiện ích, tăng tính bảo mật, do
đó sẽ thu hút đông đảo người dân tham gia sử dụng dịch vụ thẻ thanh toán.
d, Môi trường pháp lý
Hoạt động phát hành thẻ thanh toán của các ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào môi
trường pháp lý của mỗi quốc gia. Môi trường pháp lý là hàng rào nghiêm ngặt bảo vệ lợi

ích của các bên tham gia dịch vụ thẻ thanh toán, nhưng cũng là yếu tố ngăn cản sự phát
triển của dịch vụ thẻ thanh toán nếu không có sự thống nhất giữa các văn bản điều chỉnh.
Một hành lang pháp lý thống nhất sẽ tạo cho các ngân hàng sự chủ động khi tham gia vào
thị trường thẻ thanh toán cũng như việc đề ra các chiến lược kinh doanh của mình. Qua
đó củng cố nền tảng vững chắc cho phát triển dịch vụ thẻ thanh toán trong tương lai.
1.2.4.2, Môi trường ngành ngân hàng
a, Đối thủ cạnh tranh
Đây chính là nhân tố thúc đẩy thị trường thẻ thanh toán phát triển vượt bậc. Chính
việc cạnh tranh giữa các ngân hàng nhằm thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị trường buộc
các ngân hàng phải không ngừng nghiên cứu, đổi mới công nghệ, sản phẩm nhằm đưa ra
những sản phẩm thẻ thanh toán chất lượng tốt nhất, đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng.
Qua đó tạo lòng tin, xây dựng một mối quan hệ gắn bó lâu dài giữa ngân hàng và khách
hàng, đó là yếu tố then chốt trong cạnh tranh. Đồng thời công tác chăm sóc khách hàng
cũng được chú trọng. Sự cạnh tranh sẽ tạo nên sự sôi động cho thị trường thẻ thanh toán
b, Khách hàng
Xét trên phương diện của một nhà kinh doanh hay một doanh nghiệp thì khách hàng
là một nhân tố đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự sống - còn, thành - bại của doanh
nghiệp. Không phải tự nhiên mà lại có câu : “ Khách hàng là thượng đế ”. Thật vậy, mọi
cá nhân và doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh đều phải hướng tới
đối tượng khách hàng của mình, phải căn cứ trên cở sở mong muốn và nhu cầu của khách
hàng để lập các kế hoạch sản xuất, kinh doanh phù hợp. Dịch vụ thẻ thanh toán cũng là
một loại hàng hóa thông thường như nhiều loại hàng hóa khác nó cũng phải tuân theo quy
luật cung cầu. Để dịch vụ này có thể phát triển thì nhu cầu của khách hàng là nhân tố then
chốt. Ở Việt Nam, dịch vụ thẻ thanh toán cũng chỉ mới phát triển trong những năm gần
đây, với những ưu điểm mà thẻ thanh toán mang lại có thể trong tương lai thị trường thẻ
thanh toán sẽ là thị trường hấp dẫn để các ngân hàng có thể khai thác.
c, Nhà cung cấp
Nhà cung cấp cũng đóng một vai trò quan trọng trong chuỗi từ sản xuất đến lưu thông
hàng hóa, dịch vụ. Đối với nhiều ngành nghề khác, việc gia nhập hay rút lui khỏi nhà
cung cấp là tương đối dễ dàng. Tuy nhiên trong lĩnh vực tài chính, là một ngành kinh

doanh chứa đựng nhiều rủi ro vì vậy để gia nhập ngành trên phương diện là nhà cung cấp
hay phân phối đều phải có những điều kiện tương đối khắt khe. Vì vậy không nhiều nhà
cung cấp đủ điều kiện để gia nhập thị trường cung cấp các sản phẩm thẻ cho các ngân
hàng. Ở Việt Nam hiện nay có hơn 20 công ty chuyên cung cấp các phôi thẻ cho các ngân
hàng, các công ty này hoạt động dưới sự quản lý giám sát chặt chẽ của ngân hàng nhà
nước. Khi các ngân hàng có nhu cầu dùng các phôi thẻ có thể lập kế hoạch và xin được
được sự đồng ý chấp thuận của Ngân hàng nhà nước trực tiếp quản lý hoạt động kinh
doanh của ngân hàng đó. Sau khi được cấp phép nhu cầu về lượng sản phẩm cần thiết thì
các ngân hàng có thể thông báo mời thầu rộng rãi để tìm ra nhà cung cấp tốt nhất.
d, Sản phẩm thay thế
Thẻ thanh toán với hai chức năng chính là cất giữ, rút tiền và dùng để thanh toán hàng
hóa dịch vụ không dùng tiển mặt thì có thể nói có rất nhiều phương án hay nói cách khác
là nhiều sản phẩm dễ dàng cho các hình thức này. Song song với việc cất giữ tiền trong
thẻ thanh toán thì tiền có thể được giữ mang theo người, hoạc với một số lượng tiền lớn
thì được cất trong các két sắt với hệ thống bảo vệ tương đối an toàn. Với việc tiêu dùng
các loại hàng hóa dịch vụ thì hiện nay việc dùng tiền mặt để thanh toán vẫn rất phổ biến.
Tuy nhiên với những tiện lợi và ưu thế vượt trội của thẻ thanh toán mang lại, trong tương
lai thẻ thanh toán sẽ là sản phẩm thay thế hoàn hảo cho việc cất giữ hay thanh toán vốn
đang rất phố biến như hiện nay.
1.2.4.3. Môi trường bên trong ngân hàng
a, Trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác thẻ
Là một phương tiện thanh toán hiện đại, thẻ thanh toán mang tính tiêu chuẩn hoá cao
độ và có quy trình vận hành thống nhất. Do đó đòi hỏi ngân hàng phải có một đội ngũ
nhân lực có năng lực, trình độ và khả năng tiếp cận, đảm bảo cho quy trình phát hành, sử
dụng và thanh toán thẻ diễn ra một cách thông suốt, an toàn, hiệu quả và phát huy được
những tiện ích vốn có của thẻ thanh toán. Ngân hàng nào thực sự quan tâm, đầu tư thích
đáng cho công tác đào tạo nhân lực, thu hút nhân tài thì ngân hàng đó sẽ chiếm được lợi
thế trong kinh doanh thẻ thanh toán.
b, Năng lực tài chính và tình độ kỹ thuật công nghệ của ngân hàng
Dịch vụ thẻ thanh toán là một dịch vụ ngân hàng hiện đại, nó gắn liền với sự phát

triển của kỹ thuật công nghệ. Mọi khâu trong quy trình kinh doanh thẻ thanh toán đều cần
có những công nghệ hiện đại, từ sản xuất thẻ đến việc lắp đặt những thiết bị hiện đại phục
vụ cho hoạt động thẻ thanh toán như các thiết bị đầu cuối, máy ATM, máy đọc thẻ (POS).
Trong ngành kinh doanh thẻ thanh toán, những ngân hàng nào có được những sản phẩm
thẻ tốt, nhiều tiện ích và an toàn thì mới được khách hàng ưa chuộng và tin tưởng sử
dụng. Và để có được những công nghệ hiện đại , ngân hàng thực sự cần có một nguồn tài
chính lớn. Có làm được như vậy thì mới có thể cạnh tranh được trong môi trường khoa
học công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay.
c, Định hướng phát triển của ngân hàng
Định hướng của ngân hàng cũng là một yếu tố quan trọng trong phát triển dịch vụ
thẻ. Với những hoạt động cơ bản giống nhau nhưng mỗi ngân hàng có một hướng phát
triển khác nhau dựa trên những thế mạnh riêng có của mình. Và bản thân mỗi ngân hàng
trong những thời kỳ khác nhau sẽ có những mục tiêu khác nhau. Hoạt động phát hành và
thanh toán thẻ sẽ được mở rộng khi ngân hàng chú trọng đến dịch vụ thẻ. Ngân hàng phải
xây dựng cho mình một chương trình mang tính chiến lược triển khai trong một thời gian
dài dựa trên cơ sở điều tra, khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu, môi trường cạnh
tranh…và dựa vào nội lực của chính mình.
1.3. Bài học kinh nghiệm phát triển dịch vụ thẻ thanh toán của các ngân hàng thương mại
Ở các nước phát triển, việc sử dụng thẻ thanh toán đã có từ lâu và được mọi người ưa
chuộng vì sự tiện lợi và tính an toàn của nó. Trong khi đó ở nước ta thói quen cất giữ và
chi tiêu để mua sắm, thanh toán các khoản là một thói quen lâu đời không dễ gì thay đổi.
Tuy nhiên, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập thì không thể giữ mãi thói
quen đó. Vấn đề là làm thế nào, quảng bá ra sao, thuyết phục thế nào. Ở nước ta dịch vụ
thẻ thanh toán bắt đầu xuất hiện vào năm 1995 và ngân hàng Á Châu (ACB) đã trở thành
ngân hàng đầu tiên của Việt Nam cung cấp dịch vụ thẻ thanh toán. Với sự ra đời của dịch
vụ thẻ tạo nên sự khác biệt trong hoạt động kinh doanh, tăng thêm tiện ích phục vụ
khách hàng đồng thời cũng tự đổi mới theo hướng hiện đại hóa. Tuy nhiên bao giờ cũng
vậy, từ tư tưởng đến thực tế là một khoảng cách khá xa với bao khó khăn, thử thách phải
vượt qua. Dịch vụ thẻ thanh toán dựa trên nền tảng công nghệ thong tin hiện đại đòi hỏi
tính chính xác rất cao. Ở nước ta thời điểm đó hạ tầng kỹ thuật viễn thông đã được xây

dựng và vận hành và đó là một điều kiện thuận lợi có điều ở thời điểm đó ACB hay các
NHTM khác chưa được tin học hóa, còn làm việc theo lối thủ công, cho nên muốn triển
khai dịch vụ này nhất thiết phải tin học hóa bộ máy điều hành kèm theo đội ngũ nhân sự
am hiểu về tin học. Quả thật có quá nhiều khó khăn thử thách nhưng ban lãnh đạo ACB
vẫn quyết tâm thực hiện cú đột phá này và dịch vụ thẻ thanh toán ở Việt Nam bắt đầu ra
đời từ đó. Trải qua gần 20 năm phát triển, dịch vụ thẻ thanh toán không ngừng phát triển
và dần được hoàn thiện về chất lượng. Hiện nay tất cả các NHTM ở nước ta đều cung cấp
dịch vụ thẻ thanh toán. Qua tổng kết kinh nghiệm phát triển thẻ thanh toán do hiệp hội
các NHTM đã báo cáo thì bài học kinh nghiệm trong việc phát triển dịch vụ thẻ ở Việt
Nam hiện nay là:
- Sự ra đời và phát triển của thị trường thẻ phải xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của thực
tiễn, đó là nhu cầu của khách hàng, của chủ thẻ, tiện ích và nhu cầu của các cơ sở chấp
nhận thẻ và khả năng đáp ứng của mặt bằng công nghệ ngân hàng.
- Cần thiết phải có một môi trường pháp lý điều chỉnh mọi hành vi của các chủ thể tham
gia thị trường thẻ, trong đó định hướng và hỗ trợ đầu tư của Chính phủ là vô cùng quan
trọng.
- Ngân hàng Trung ương có vai trò chủ đạo trực tiếp và hỗ trợ ngân hàng thương mại
trong việc hình thành và phát triển hình thức thanh toán thẻ; đồng thời ban hành các
chính sách, quy định quản lý có liên quan đến nghiệp vụ thẻ, đặc biệt là quy định về quản
lý ngoại hối, phòng ngừa rủi ro về thẻ, về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tức chủ
thẻ,
- Trình độ dân trí trong việc sử dụng thẻ là lớn. Do vậy ngay từ đầu, các ngân hàng
thương mại cần cùng nhau xác định chiến lược đầu tư nhằm có thể cùng nhau khai thác,
tránh lãng phí, chồng chéo.
- Việc chuyển giao công nghệ thẻ từ các nước tiên tiến vào nước mình sẽ giúp cho tốc độ
phát triển hình thức thanh toán thẻ với tốc độ lớn hơn.
- Cần phải có các giải pháp đồng bộ, từ quảng cáo, tiếp thị, Marketing, đến công nghệ,
tính ổn định, phòng ngừa rủi ro và không ngừng tăng tiện ích trong việc sử dụng thẻ đối
với các chủ thẻ và CSCNT
- Cần có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ngân hàng phát hành, tổ chức phát hành,

với các đại lý phát hành, đại lý thanh toán, cũng như giữa các ngân hàng với nhau.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ
THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG NGÂN HÀNG NGOẠI
THƯƠNG VINH
2.1, Khái quát về Ngân hàng Ngoại thương Vinh
2.1.1, Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
Tên đầy đủ: Ngân hàng Ngoại thương Vinh
Tên tiếng anh: Joint stock commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam –
Vietcombank Vinh Branch
Địa chỉ: Số 21 Quang Trung – Thành phố Vinh – Nghệ An
Ngân hàng Ngoại thương Vinh trước đây là Phòng quản lý ngoại hối được thành lập
từ năm 1963 thuộc Ngân hàng Nhà nước Nghệ an. Ngày 01/7/1989, Tổng giám đốc Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam đã ban hành Quyết định số 15/NH-QĐ thành lập Chi nhánh
Ngân hàng Ngoại thương Vinh. Sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa
thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, Ngày 2 tháng 6 năm 2008
chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP ngoại thương. Qua hơn 20 năm hoạt động đến
nay, Ngân hàng ngoại thương Vinh có vị trí quan trọng trong hệ thống Ngân hàng TMCP
ngoại thương Việt Nam cũng như trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Luôn giữ vững vị thế là
Ngân hàng cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại
quốc tế; trong các hoạt động truyền thống như huy động vốn, tín dụng cũng như mảng
dịch vụ ngân hàng hiện đại như: Kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử. Với thế
mạnh về công nghệ, Ngân hàng ngoại thương Vinh là ngân hàng tiên phong trên địa bàn trong
việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng và không ngừng đưa
ra các sản phẩm dịch vụ điện tử nhằm “đưa ngân hàng đến gần khách hàng” như: Dịch vụ
Internet banking, SMS banking, Phone banking. Tính đến 31/12/2011 Ngân hàng ngoại thương
Vinh đã huy đồng vốn đạt trên 3.427 tỷ đồng, Tổng dư nợ đạt trên 4.115 tỷ đồng. Còn đến thời
điểm 30/09/2012, Ngân hàng ngoại thương Vinh đã huy động vốn trên 3.360 tỷ đồng, tổng dư
nợ đạt trên 2.210 tỷ đồng. Hiện Chi nhánh có 1 trụ sở chính và 4 phòng giao dịch cùng hệ thống
máy ATM gồm 40 chiếc và gần 400 CSCNT được phân bố phù hợp trong toàn địa bàn tỉnh
Nghệ An, trong đó chủ yếu là Thành phố Vinh.

2.1.2, Cơ cấu tổ chức của và chức năng nhiệm vụ Ngân hàng ngoại thương
Vinh
Cơ cấu tổ chức
2.1.1 Các hoạt động chủ yếu
2.1.3.1 Huy động vốn
Hình 2.1: Bộ máy tổ chức
Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng ngoại thương Vinh
Ngân hàng Ngoại thương Vinh nói riêng và hệ thống NHTM nói chung hiện nay
hoạt động theo 3 chức năng cơ bản:
BAN GIÁM ĐỐC
PHÒNG
THẺ
PHÒNG
KẾ
TOÁN
PHÒNG
KHÁCH
HÀNG
DOANH
NGHIỆP
PHÒNG
KHÁCH
HÀNG

NHÂN
PHÒNG
QUẢN

NỢ
PHÒNG

TTQT

KDDV
PHÒNG
NGÂN
QUỸ
PHÒNG
TỔ
CHỨC
HÀNH
CHÍNH
HỆ THỐNG 4 PHÒNG GIAO DỊCH:
- PHÒNG GIAO DỊCH NGUYỄN SỸ SÁCH
- PHÒNG GIAO DỊCH BẾN THỦY
- PHÒNG GIAO DỊCH CHỢ VINH
- PHÒNG GIAO DỊCH DIỄN CHÂU
KIỂM TRA
NỘI BỘ
- Chức năng trung gian tín dụng: Được xem là chức năng quan trọng nhất của hệ
thống NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu
nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa
đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là
khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất
cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.
- Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các
doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích
tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài
khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy
nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,

khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ
thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải
thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện
các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời
gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông
hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển
kinh tế.
- Chức năng tạo tiền:Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của
ngân NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại
và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình
đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được
thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng
thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy
động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa,
thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn
được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán
dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán
trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. NHTM là một tổ chức
tín dụng mà hoạt động chủ yếu của nó là kinh doanh tiến tệ.
2.1.3. Khái quát tình hình kinh doanh của Ngân hàng cổ phần Ngoại thương Vinh
2.1.3.1, Kết quả kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Vinh giai đoạn 2008-2012
Bảng 1: Kết quả kinh doanh Ngâng hàng ngoại thương Vinh giai đoạn 2008-2012
(ĐVT:Triệu đồng)
Chỉ tiêu
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010

Năm
2011
Năm
2012
1, Tổng thu nhập 312.107 247.843 412.885 430.120 477.361
- Thu lãi cho vay 210.210 135.127 191.745 195.247 201.324
- Thu lãi tiền gửi 71.683 91.262 192.055 198.001 235.145
- Thu phí dịch vụ 28.645 18.130 10.685 15.427 16.871
- Thu khác 1.569 3.324 18.400 21.445 24.021
2, Tổng chi phí 273.575 214.089 282.885 337.395 367.480
- Chi trả lãi tiền gửi 163.864 148.484 209.956 201.364 211.242
- Chi trả lãi tiền vay 25.147 12.533 90.044 64.244 78.247
- Chi phí hoạt động 35.640 32.885 46.064 47.276 49.277
- Chi dự phòng rủi ro 48.924 20.187 -63.179 24.511 28.714
3, Lợi nhuận kinh
doanh
38.532 33.754 130.000 92.725 109.881
(Nguồn: Báo các thực hiện từ 2008 đến 2012 - Ngân hàng ngoại thương Vinh)
Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngoại thương Vinh có sự ổn định qua
các năm trong giai đoạn này. Năm 2009, chi nhánh không có sự tăng trưởng về lợi nhuận,
thậm chí còn có bước sụt giảm. Điều này là do Chi nhánh đã phải trích lập dự phòng rủi
ro lớn, dẫn đến tổng chi phí cho hoạt động kinh doanh tăng cao. Còn tổng thu qua các
năm vẫn đạt sự tăng trưởng cao Ngoại trừ năm 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng
kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt nam cũng gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp trên
địa bàn kinh doanh kém hiệu quả và hậu quả của lạm phát năm 2008 dẫn tới tổng thu
giảm, lợi nhuận giảm. Năm 2010 Ngân hàng ngoại thương Vinh đã đạt tốc độ tăng trưởng
lợi nhuận rất cao ( tăng 385,1% so với năm 2009). Điều này có được là nhờ ngoài việc
kinh doanh hiệu quả, Chi nhánh còn thu hồi được khối lượng lớn nợ xấu và hoàn nhập dự
phòng rủi ro đã trích lập qua các năm. Năm 2011 và năm 2012 lợi nhuận có giảm so với
năm 2010 nhưng vẫn duy trì ở mức khá cao lần lượt là 92725 và 109881 triệu đồng. Có

thể nói, giai đoạn này Ngân hàng ngoại thương Vinh đã đạt kết quả kinh doanh rất tích
cực so với các ngân hàng khác trên địa bàn tỉnh Nghệ An và so với các Chi nhánh khác.
Về cơ cấu thu nhập đóng góp vào kết quả hoạt động kinh doanh: Năm 2008 thu
nhập từ hoạt động tín dụng (chủ yếu là lãi vay) chiếm tỷ trọng chủ yếu (khoảng 69%)
trong khi thu nhập từ các hoạt động khác (thu từ dịch vụ, thu tiền gửi, thu khác) chiếm tỷ
trọng thấp (khoảng 31%). Nhưng trong những năm tiếp theo thu nhập từ hoạt động tín
dụng dần giảm tỷ trọng. Năm 2010, thu nhập từ lãi vay chỉ chiếm đến 40% tổng thu nhập.
Điều này thể hiện Ngân hàng ngoại thương Vinh chú trọng tăng trưởng các mảng kinh
doanh khác hơn so với tăng trưởng hoạt động tín dụng. Thu nhập từ lãi tiền gửi ngày
càng chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng dần do nguồn tiền gửi ngày càng tăng. Năm
2010, thu lãi tiền gửi đã vượt thu lãi tiền vay trong cơ cấu tổng thu nhập. Điều đáng tiếc
là thu nhập từ hoạt động dịch vụ có mức tăng trưởng không tốt. Năm 2009 và 2010 ghi
nhận sự sụt giảm về thu dịch vụ trong cơ cấu tổng thu nhập của Chi nhánh.
2.1.3.2. Huy động vốn
Huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu và xuyên suốt trong những năm gần
đây của Ngân hàng ngoại thương Vinh, đặc biệt là thời gian gần đây. khi diễn biến thị
trường huy động vốn trên địa bàn diễn ra hết sức khắc nghiệt với sự cạnh trang gay gắt
của các ngân hàng trên địa bàn, cùng với đó là sự suy giảm của nền kinh tế.
Bảng2: Doanh số huy động vốn giai đoạn 2007-2012

×