Tải bản đầy đủ (.pdf) (175 trang)

Cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 175 trang )

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN TH THANH MAI
cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ
giữa nhà nớc và cá nhân ở việt nam hiện nay
LUN N TIN S LUT HC
H NI - 2015
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN TH THANH MAI
cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ
giữa nhà nớc và cá nhân ở việt nam hiện nay
Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s : 62 38 01 01
LUN N TIN S LUT HC
Ng i h ng d n khoa h c: GS. TS. Lấ MINH TM
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Thị Thanh Mai
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chng 1: T󰗕NG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN C󰗩U LIÊN QUAN 󰖿N
C CH󰖿 ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC
VÀ CÁ NHÂN, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 8
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 8
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 18
1.3. Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 25
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI


QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÁ NHÂN 29
2.1. Khái niệm, đặc điểm mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân 29
2.2. Khái niệm, nội dung, đặc điểm của cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan
hệ giữa nhà nước và cá nhân 41
2.3. Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế điều chỉnh pháp
luật mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân 57
2.4. Những yếu tố cơ bản tác động đến cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan
hệ giữa nhà nước và cá nhân 63
Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CỦA CƠ CHẾ
ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÁ
NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 74
3.1. Quá trình phát triển của cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ giữa
nhà nước và cá nhân từ năm 1945 đến nay 74
3.2. Thực trạng cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ giữa nhà nước và
cá nhân ở Việt Nam hiện nay 91
Chương 4: NHỮNG YÊU CẦU, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI QUAN HỆ GIỮA
NHÀ NƯỚC VÀ CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 118
4.1. Những yêu cầu cơ bản hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ
giữa nhà nước và cá nhân 118
4.2. Các quan điểm cơ bản về hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan
hệ giữa nhà nước và cá nhân 124
4.3. Các giải pháp cơ bản hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ
giữa nhà nước và cá nhân hiện nay 129
KẾT LUẬN 155
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐCPL : Điều chỉnh pháp luật
KTTT : Kinh tế thị trường
KTXH : Kinh tế - xã hội
MQH : Mối quan hệ
NNPQ : Nhà nước pháp quyền
Nxb : Nhà xuất bản
QCD : Quyền công dân
QCN : Quyền con người
QLNN : Quyền lực nhà nước
QPPL : Quy phạm pháp luật
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cá nhân và nhà nước là hai chủ thể đặc biệt có mối quan hệ chặt chẽ tương tác
và phụ thuộc lẫn nhau. Trong đó, nhà nước là thiết chế xã hội tổ chức thực hiện
quyền lực công, nhà nước nhân danh xã hội bảo vệ lợi ích chung và các giá trị khách
quan phổ biến của con người. Mối quan hệ (MQH) giữa nhà nước và cá nhân được
thể hiện chủ yếu dưới hình thức quan hệ pháp luật. Vì vậy, nghiên cứu về cơ chế điều
chỉnh pháp luật (ĐCPL) MQH giữa nhà nước và cá nhân là vấn đề có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình hoàn thiện nhà nước và pháp luật nói chung.
Ở Việt Nam, sau gần 30 năm đổi mới, chủ trương xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và mở
rộng hợp tác quốc tế, đã mang lại những thay đổi quan trọng trong nhận thức chung
của xã hội về cá nhân và MQH giữa nhà nước và cá nhân. Những thay đổi này được
thể hiện khá rõ nét trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Vấn đề con người và phát huy nguồn lực con người luôn được coi là trung tâm của
mọi đường lối, chủ trương, chính sách phát triển trong thời kỳ đổi mới. Điều đó mang
lại nhiều thay đổi đáng kể trong các phương tiện pháp luật cơ bản của cơ chế ĐCPL

MQH giữa nhà nước và cá nhân. Trong hệ thống pháp luật, cá nhân được nhìn nhận
như những thực thể độc lập, mang trong mình những giá trị khách quan mà nhà nước
có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm, thể hiện ở các quyền con người (QCN),
quyền công dân (QCD). Ý chí, nguyện vọng, lợi ích của cá nhân ngày càng được tôn
trọng trong quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật. Quan điểm coi
sự kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, xã hội và nhà nước là động lực của sự phát triển xã
hội, trong đó, lợi ích cá nhân là “động lực trực tiếp nhất”, đã được thể hiện trong
nhiều chính sách pháp luật của nhà nước, góp phần khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo
của xã hội, mang lại những thành tựu đáng kể về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá
xã hội, đưa Việt nam trở thành một nước đang phát triển. Nhiều thành tựu về phát
triển con người đã được ghi nhận, Việt Nam là một trong số hơn 40 nước đang phát
triển đạt được những tiến bộ đáng kể về phát triển con người trong những thập kỷ gần
đây. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã tăng 41% trong vòng hai thập kỷ
2
qua [18]. Đồng thời, quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội và nền kinh tế thị trường
cũng mang lại những thay đổi quan trọng cho mỗi cá nhân trong nhận thức về bản
thân mình. Từ đó, cá nhân ngày càng có nhu cầu khẳng định mạnh mẽ hơn các giá trị
riêng khách quan của mình và đòi hỏi xã hội, các chủ thể khác, đặc biệt là nhà nước
phải thừa nhận và tôn trọng.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong điều kiện xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN hiện nay, cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân còn
tồn tại nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của quá trình đổi mới.
Trong nhiều trường hợp, pháp luật còn chưa quan tâm phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện
vọng của nhân dân, nhà nước có biểu hiện giành thuận lợi về cho mình, cá nhân gặp
nhiều bất lợi trong mối quan hệ với nhà nước. Cá nhân và các giá trị khách quan phổ
biến của cá nhân còn chưa thực sự được tôn trọng trong quá trình xây dựng pháp luật.
Việc thực hiện QCN, QCD gặp nhiều trở ngại do tính thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ
và phù hợp của hệ thống pháp luật. Trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, các
thiết chế thực thi pháp luật chưa thực sự dễ tiếp cận, còn nhiều biểu hiện mang tính áp
đặt, chưa thực sự coi trọng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, chưa là chỗ dựa để nhân

dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tình trạng khiếu nại, tố cáo diễn
biến phức tạp, có nơi, có lúc đã trở thành những điểm nóng về xung đột giữa nhà
nước và nhân dân. Nhiều hành vi tham ô, tham nhũng xâm phạm QCN, QCD chưa
được áp dụng chế tài thoả đáng, còn có biểu hiện bao che, xử lý qua loa gây bất bình
trong dư luận, "Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực còn bị
vi phạm Tình trạng quan liêu không thực sự tôn trọng dân chủ và thực hành dân
chủ còn khá nặng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức" [29, tr.128]. Bên
cạnh đó, trong không ít trường hợp, tình trạng đòi tuyệt đối hóa vai trò của cá nhân,
đề cao tự do cá nhân vô chính phủ, coi nhẹ các giá trị xã hội cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến trật tự, kỷ cương xã hội.
Đồng thời, quá trình hội nhập quốc tế hiện nay mang lại nhiều cơ hội cho việc
hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân, nhưng đồng thời, cũng đặt
ra nhiều thách thức của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá pháp lý, đòi hỏi chúng ta
phải nâng cao nhận thức về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân. Hơn nữa,
sau gần 30 năm đổi mới, khi các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội thay đổi,
3
cá nhân đã có những sự trưởng thành nhất định về năng lực làm chủ bản thân và xã
hội. Nhưng nhìn chung, nhận thức về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân
còn nhiều hạn chế, MQH giữa nhà nước và cá nhân chưa được nghiên cứu một cách
cơ bản và toàn diện. Từ đó, các giải pháp giải quyết những vấn đề bất cập liên quan
đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân còn có biểu hiện lúng túng, bị
động, thiếu tính tổng thể, khách quan và khoa học.
Vì vậy, việc nghiên cứu về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân ở
Việt Nam hiện nay là một vấn đề có ý nghĩa cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn. Đó
là lý do tác giả chọn nghiên cứu vấn đề "Cơ chế điề u chỉ nh pháp luậ t mố i quan hệ
giữ a nhà nư ớ c và cá nhân ở Việ t Nam hiệ n nay” làm Luận án Tiến sỹ Luật học
chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mụ c đích củ a luậ n án
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà

nước và cá nhân ở Việt Nam, luận án đề xuất quan điểm và hệ thống các giải pháp
nhằm hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệ m vụ củ a luậ n án
Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ khái niệm MQH giữa nhà nước và cá nhân, trên cơ sở phân tích khái
niệm, tư cách, vai trò của cá nhân và nhà nước, các đặc điểm của MQH giữa nhà
nước và cá nhân.
- Phân tích khái niệm, đặc điểm và nội dung của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà
nước và cá nhân; các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế ĐCPL MQH
giữa nhà nước và cá nhân; các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà
nước và cá nhân.
- Phân tích qúa trình phát triển của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá
nhân ở Việt Nam; đánh giá thành tựu, hạn chế của thực trạng cơ chế ĐCPL MQH
giữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam hiện nay và chỉ ra những nguyên nhân của hạn
chế đó.
- Phân tích các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa
nhà nước và cá nhân; Phân tích các quan điểm và đề xuất, luận chứng cho hệ thống
các giải pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay.
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cơ chế ĐCPL MQH
giữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam và đề xuất quan điểm giải pháp hoàn thiện,
dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật. Để thực hiện
mục đích nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu đối tượng là khái niệm cá nhân,
nhà nước, MQH giữa nhà nước và cá nhân, cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá
nhân, trực tiếp là khái niệm, các đặc điểm, các tiêu chí hoàn thiện, các yếu tố tác động
ảnh hưởng đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân
Luận án nghiên cứu quá trình phát triển của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà
nước và cá nhân từ năm 1945 đến nay và tập trung đánh giá thực trạng cơ chế ĐCPL
MQH giữa nhà nước và cá nhân trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung

năm 2001), làm rõ những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được thực hiện dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta về nhà nước, pháp luật, xã hội, vấn đề con người, QCN, QCD.
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học
Mác - Lênin, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp
phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp
lôgic, phương pháp thống kê - so sánh, Các phương pháp được sử dụng nhằm làm
rõ nội dung cơ bản của luận án, đảm bảo tính khoa học và lôgic giữa các vấn đề của
luận án trong các chương.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp, được tác giả sử dụng trong chương 2,3,4
nhằm phân tích làm rõ các khái niệm cá nhân, MQH giữa nhà nước và cá nhân, cơ
chế DCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân; phân tích thực trạng cơ chế ĐCPL MQH
giữa nhà nước và cá nhân; phân tích các yêu cầu, quan điểm để đưa ra giải pháp về
hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay.
- Phương pháp hệ thống được tác giả sử dụng nhằm làm rõ tính hệ thống của
cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân về lý luận và thực tiễn, MQH giữa nhà
nước và cá nhân, tính thống nhất của cá nhân trong các tư cách khác nhau khi tham
gia vào các quan hệ xã hội.
5
- Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng để thiết
lập MQH xuyên suốt chặt chẽ logic giữa các vấn đề và các chương trong luận án.
Theo đó, trong chương 2, trước khi nghiên cứu cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và
cá nhân, tác giả đã tập trung nghiên cứu làm rõ khái niệm cá nhân và MQH giữa nhà
nước và cá nhân. Đồng thời, nội dung các chương 2, 3, 4 có MQH xuyên suốt. Những
lý giải về mặt lý luận ở chương 2 là cơ sở đánh giá thực trạng quá trình phát triển và
thực trạng cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân, từ đó đưa ra các yêu cầu,
quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân
trong chương 4.

- Phương pháp lịch sử là phương pháp được tác giả sử dụng để làm rõ quá
trình phát triển của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân từ năm 1945 đến
nay, làm cơ sở để đánh giá đúng thực trạng của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và
cá nhân trong giai đoạn hiện nay.
- Phương pháp thống kê - so sánh, được tác giả sử dụng để làm rõ quá trình
phát triển và thực trạng cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân qua những
số liệu thống kê từ thực tế về các thành tố của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước
và cá nhân.
- Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn là phương pháp được tác giả
sử dụng chủ yếu trong chương 3, 4 nhằm làm rõ thực trạng cơ chế ĐCPL MQH giữa
nhà nước và cá nhân trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lý luận. Đồng thời, kết hợp
các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn để luận giải một cách thuyết phục cho các
giải pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPl MQH giữa nhà nước và cá nhân trong giai đoạn
hiện nay.
5. Những đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên, nghiên cứu có hệ thống và toàn
diện về cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân ở Việt Nam, nên luận án có
những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
- Luận án đã xây dựng khái niệm cá nhân dưới góc độ chuyên ngành Lý luận
và lịch sử Nhà nước và pháp luật: Cá nhân vừa là cá thể người được đặc trưng
bằng những cá tính, phẩm chất, năng lực, nhu cầu, lợi ích riêng, vừa là một thực
6
thể xã hội có sở nguyện độc lập và khả năng tự quyết, thể hiện thành ý chí, nguyện
vọng riêng, đòi hỏi được tôn trọng và phản ánh. Cá nhân tham gia vào MQH với
nhà nước với nhiều tư cách khác nhau: Tư cách cá nhân con người; tư cách công
dân của nhà nước; tư cách thành tố hợp thành nhân dân; tư cách thành viên gia đình,
tôn giáo, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế. Từ đó, Luận án phân tích và xây dựng khái
niệm MQH giữa nhà nước và cá nhân, là mối quan hệ có tính khách quan, có nội
dung phong phú, đa dạng thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ của nhà nước và cá
nhân; MQH giữa nhà nước và cá nhân phản ánh sự tương tác mật thiết và phụ

thuộc lẫn nhau giữa nhà nước và cá nhân, được xác lập chủ yếu dưới hình thức các
quan hệ pháp luật.
Xuất phát từ quan điểm, cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân là một
dạng của cơ chế ĐCPL nói chung, nhưng do những đặc điểm riêng của MQH giữa
nhà nước và cá nhân, Luận án đã xây dựng khái niệm cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà
nước và cá nhân là hệ thống các phương tiện pháp luật có MQH mật thiết với nhau
trong một thể thống nhất, được vận hành theo những nguyên tắc, quá trình được
pháp luật quy định để điều chỉnh MQH giữa nhà nước và cá nhân với sự bảo đảm
của nhà nước nhằm đạt được những mục đích xác định và phân tích làm rõ những
đặc điểm riêng của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân.
. Luận án chỉ ra 4 tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế ĐCPL
MQH giữa nhà nước và cá nhân và 3 yếu tố cơ bản tác động, ảnh hưởng đến cơ chế
ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân.
- Luận án làm rõ quá trình phát triển của cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước
và cá nhân ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay và phân tích thực trạng cơ chế ĐCPL
MQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những
tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân của những kết quả, tồn tại trong cơ chế ĐCPL
MQH giữa nhà nước và cá nhân.
- Luận án phân tích các yêu cầu đặt ra trong bối cảnh hiện nay đối với việc
hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân. Trên cơ sở đó, chỉ ra
những quan điểm và giải pháp cơ bản hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước
và cá nhân.
7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án có đóng góp vào hệ thống kiến
thức lý luận chung về nhà nước và pháp luật.
Luận án sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà nghiên cứu lý luận và
giảng dạy về nhà nước và pháp luật
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa quan trọng trong
quá trình hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân hiện nay.

7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố
và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ
ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ
CÁ NHÂN, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Những vấn đề có liên quan trực tiếp đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và
cá nhân, luôn là đề tài hấp dẫn các nhà nghiên cứu vì nhu cầu khách quan của nhân loại
về tự do và phát triển. Nghiên cứu về các vấn đề trên có quá trình phát triển lâu dài và
liên tục trong lịch sử nhân loại. Ở mỗi thời kỳ các kết quả nghiên cứu đều mang lại
những thành tựu quan trọng cho sự phát triển của cá nhân, nhà nước, đồng thời, phản
ánh trình độ phát triển văn hoá, văn minh của xã hội loài người. Tuy nhiên, đây là
những vấn đề rất rộng và phức tạp vì nhận thức hạn hẹp của con người và sự chi phối
bởi lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội. Ở mỗi quốc gia, khu vực,
tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá
nhân phản ánh những đặc thù riêng, do ảnh hưởng của truyền thống lịch sử văn hoá và
các điều kiện kinh tế, chính trị xã hội khác.
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, tác giả chia các công trình nghiên cứu có
liên quan đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân thành 3 nhóm: Nhóm
công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền (NNPQ), và xã hội công dân; Nhóm
công trình nghiên cứu liên quan đến cá nhân và MQH giữa nhà nước và cá nhân;
Nhóm công trình nghiên cứu về cơ chế ĐCPL.
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền và xã hội
công dân (hay xã hội dân sự)
Nhà nước pháp quyền là một trong những vấn đề rất được các học giả trong
nước quan tâm nghiên cứu suốt quá trình đổi mới. Một mặt, các nghiên cứu tập trung
làm rõ những quan điểm, nhận thức chung về NNPQ, mặt khác, đi sâu vào nghiên cứu

các giá trị đặc trưng của NNPQ và NNPQ XHCN, các yêu cầu đặt ra trong quá trình
xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam. Điển hình là:
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [149] của Đào
Trí Úc, nghiên cứu về lịch sử tư tưởng NNPQ ở phương Đông và phương Tây. Từ đó,
làm rõ cơ sở lý luận về NNPQ XHCN Việt Nam, các vấn đề cần hoàn thiện trong xây
9
dựng NNPQ như dân chủ, nhân quyền, cải cách hành chính, tư pháp và tăng cường
pháp chế XHCN.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân [135] của Trần Hậu Thành, về lịch sử tư tưởng NNPQ trên thế
giới và thực tiễn NNPQ ở một số quốc gia trên thế giới. Từ đó, tác giả luận giải về cơ
sở lý luận và thực tiễn xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam
hiện nay nhằm giữ vững ổn định chính trị, mục tiêu của cách mạng XHCN.
- Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam [150] của Đào Trí Úc, nghiên cứu về quá trình phát triển và hoàn thiện tư
tưởng về NNPQ trên thế giới. Từ đó làm rõ những đặc trưng về NNPQ nói chung cũng
như NNPQ XHCN, đề xuất mô hình xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam.
Bên cạnh đó là các nghiên cứu về các vấn đề cụ thể trong xây dựng NNPQ
XHCN Việt Nam. Trong đó, có nhiều công trình nghiên cứu về yêu cầu đối với các
thiết chế trong bộ máy nhà nước, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước (QLNN) và mô
hình các thiết chế nhà nước trong NNPQ, điển hình là:
- Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền [119] của Bùi Ngọc
Sơn, tác giả phân tích các quan điểm về chủ nghĩa Hiến pháp, các vấn đề lý luận về
Hiến pháp. Từ đó phân tích các tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về tổ chức QLNN,
ban hành hiến pháp và tổ chức các cơ quan nhà nước. Luận giải các vấn đề liên quan
đến bộ máy nhà nước Việt Nam trong NNPQ hiện nay.
- Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong
NNPQ XHCN Việt Nam [45] của Trần Ngọc Đường, Ngô Đức Mạnh, trên cơ sở phân
tích các yêu cầu về chủ quyền tối cao của nhân dân, tính tối cao của pháp luật, các tác
giả đưa ra mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ để

nâng cao chất lượng hoạt động, tính đại diện nhân dân của Quốc hội, tính trách nhiệm
cao của Chính phủ làm cơ sở cho một nhà nước phục vụ nhân dân;
- Kiểm soát quyền lực nhà nước, một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
hiện nay [163] của Trịnh Thị Xuyến. Trên cơ sở phân tích các lý thuyết về tổ chức thực
hiện và kiểm soát QLNN, tác giả nghiên cứu và đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện
QLNN ở Việt Nam hiện nay, làm rõ những hạn chế dẫn đến tình trạng lạm quyền, vi
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tính hiệu quả của QLNN, từ đó, đề xuất
các giải pháp hoàn thiện.
10
- Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi Hiến pháp năm
1992 [48] của Trần Ngọc Đường. Trên cơ sở các nghiên cứu lý luận về tổ chức thực
hiện QLNN nói chung, tác giả phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện nguyên tắc phân
công, phối hợp và lý giải về sự cần thiết phải kiểm soát QLNN và đưa ra giải pháp
hoàn thiện cơ chế kiểm soát QLNN trên cơ sở đặc thù của hệ thống chính trị ở nước ta.
Từ đó đề ra các giải pháp tiếp tục hoàn thiện việc phân công, phối hợp và kiểm soát
QLNN trong mối quan hệ với các chủ thể cấu thành hệ thống chính trị ở nước ta, góp
phần sửa đổi Hiến pháp 1992.
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa [39] của Nguyễn Minh Đoan, tác giả
làm rõ tính hệ thống, tác động của pháp luật và thực trạng hệ thống văn bản QPPL, từ
đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ.
Cùng với các nghiên cứu về NNPQ, vấn đề xã hội dân sự hay xã hội công dân
cũng là một chủ đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Dưới nhiều góc độ khác
nhau, các nghiên cứu đã hướng tới làm rõ các đặc điểm của xã hội dân sự và nhận diện
xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay, từ đó đánh giá về vai trò của xã hội dân sự, mối
quan hệ xã hội dân sự với nhà nước, cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự tồn tại và phát
triển xã hội dân sự ở Việt Nam. Tiêu biểu là các công trình:
- Quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự Việt Nam. Lịch sử và hiện tại [107]
của Lê Văn Quang và Văn Đức Thành. Các tác giả đã bàn về mối quan hệ giữa nhà
nước và xã hội dân sự Việt Nam từ mối quan hệ giữa chức năng xã hội chính trị và

chức năng xã hội dân sự, cho thấy tính khách quan và vai trò của xã hội dân sự;
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và các định chế xã hội ở nước ta hiện
nay [108] của Lê Văn Quang và Văn Đức Thành. Các tác giả làm rõ khái niệm định
chế xã hội và các đặc trưng của NNPQ trong vai trò là một định chế xã hội đặc biệt.
Vai trò của các định chế xã hội trong xây dựng NNPQ. Từ đó phân tích vai trò của
NNPQ với các định chế xã hội và các vấn đề rút ra từ thực tiễn các mối quan hệ. Trên
cơ sở đó các tác giả đưa ra các giải pháp để tiếp tục hoàn thiện NNPQ và các định chế
xã hội ở nước ta hiện nay.
- Vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển và quản lý xã hội [106] của
Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương. Tác giả nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực
tiễn về vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. Phân
11
tích và lý giải một cách có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của các tổ
chức xã hội ở Việt Nam và xu hướng phát triển.
Ngoài ra còn rất nhiều các bài viết nghiên cứu về xã hội dân sự, xã hội công
dân, điển hình như:
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền từ sự hình thành xã hội công dân [12, tr.33-
36] của tác giả Nguyễn Thanh Bình, bàn về khái niệm xã hội công dân và mối quan hệ
giữa xã hội công dân với nhà nước trong trong xây dựng NNPQ ở Việt Nam.
- Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ chức xã hội [75, tr.11-19] của Tương
Lai. Tác giả đưa ra quan điểm về phân biệt xã hội dân sự với xã hội công dân, vai trò
của xã hội dân sự trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo tư tưởng Hồ
Chí Minh;
- Xã hội dân sự, tính đặc thù và vấn đề ở Việt Nam [130, tr.8-13] của Hồ Bá
Thâm, lý giải về sự ra đời của xã hội dân sự nói chung và những đặc thù ở Việt Nam
trong bối cảnh hiện nay
1.1.2. Nhóm các công trình liên quan đến cá nhân và mối quan hệ giữa nhà
nước và cá nhân
Thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, việc đề cao chủ nghĩa tập thể, chống lại
mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đã làm cho các nghiên cứu khách quan về cá

nhân ít được quan tâm. Sau các hiện tượng “khoán chui” và sự thành công của các
chính sách khoán trong nông nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp, ý thức về cá nhân, tính
khách quan của các lợi ích cá nhân dần được củng cố. Nếu các nghiên cứu về cá nhân,
quyền con người trước kia được coi là sản phẩm của chế độ tư hữu và chủ nghĩa tư bản,
thì trong thời kỳ đổi mới, đã được nhận thức là sản phẩm của lịch sử xã hội loài người.
Vấn đề con người, cá nhân, công dân, quyền con người, chủ quyền nhân dân, chủ nghĩa
lập hiến,… trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các học
thuyết của các nhà khoa học thời kỳ Khai Sáng ngày càng được quan tâm nghiên cứu,
đã mang lại những thay đổi đáng kể về nhận thức lý luận và thực tiễn, các nghiên cứu
về cá nhân đã dần được tiếp cận khách quan hơn trong bối cảnh cụ thể của đất nước.
Dưới góc độ triết học, tiêu biểu là công trình:
- Triết học pháp quyền của Hêghen [18] của Nguyễn Trọng Chuẩn và Đỗ Minh
Hợp. Qua đó, quan điểm của Heghen về các nhu cầu, giá trị cá nhân và sự phát triển
của cá nhân trong MQH với XHDS, nhà nước, đã được đánh giá khách quan hơn, cho
12
thấy những đóng góp của Heghen trong việc nhận thức về cá nhân, đồng thời, những
hạn chế ảnh hưởng đến sự nghiệp giải phóng con người và xã hội loài người.
- Ở cách tiếp cận khác, tác giả Đoàn Đức Hiếu với Sự phát triển của cá nhân
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [62], đã phân tích các đặc
trưng của cá nhân dưới góc độ triết học Mác - Lênin, để làm rõ vai trò chủ thể của cá
nhân đối với mọi quá trình xã hội; Nền KTTT mang lại động lực phát triển mạnh mẽ,
toàn diện cho cá nhân nhưng đồng thời, sự phát triển của nền KTTT cũng có nhiều
tác động tiêu cực, đòi hỏi chúng ta phải có những định hướng giá trị cho sự phát triển
cá nhân.
Bên cạnh đó là những công trình nghiên cứu liên quan đến cá nhân và mối
quan hệ giữa nhà nước và cá nhân, tiếp cận từ vấn đề quyền con người, quyền công
dân. Đây là một lĩnh vực rất được các học giả quan tâm nghiên cứu trong quá trình đổi
mới, có những nghiên cứu về QCN dưới góc độ lý luận chung, lý luận về QCN trong
các giáo trình giảng dạy, các nghiên cứu tiếp cận công ước quốc tế về QCN, nghiên
cứu về lịch sử tư tưởng QCN trên thế giới, vấn đề QCN trong Hiến pháp, pháp luật

Việt Nam, các bảo đảm QCN,… Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là:
- Tập chuyên khảo Quyền con người, quyền công dân [145] của Trung tâm
Nghiên cứu QCN, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, với nhiều bài viết của các
tác giả về các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến QCN, QCD như khái niệm, đặc
trưng của QCN, các nhóm quyền,…
- Xây dựng và hoàn thiện đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người trong
điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay [86] của Nguyễn Văn Mạnh, luận bàn về các khái
niệm quyền con người và các bảo đảm pháp lý thực hiện QCN ở Việt Nam, đồng thời
phân tích các định hướng, giải pháp hoàn thiện;
Cùng với quá trình mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế, các điều kiện, cơ hội
tiếp cận tư tưởng về QCN của các học giả trên thế giới qua các tài liệu, hội thảo, nhận
thức về QCN đã có những bước phát triển mới, đặc biệt là từ sau Văn kiện Đại hội IX
của Đảng. Nhiều nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề lý luận về QCN một cách tương đối
toàn diện, khách quan, đáng kể là các nghiên cứu:
- Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập
hiến Việt Nam [8] của Trần Văn Bách, nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý
luận về QCD ở Việt Nam và sự phát triển của các quy định về QCD qua các hiến pháp
13
Việt Nam. Từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định về
QCD trong hiến pháp.
- Bàn về quyền con người quyền công dân [44] của Trần Ngọc Đường. Tác giả
phân tích làm rõ khái niệm QCN, QCD; từ đó, đưa ra những đánh giá về QCN, QCD
trong Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam, bất cập trong thực tiễn hiện nay. Đồng thời,
làm rõ những đảm bảo pháp lý trong việc thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa
vụ của công dân.
- Tăng cường hoạt động lập pháp bảo đảm quyền con người đáp ứng yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam [74, tr.34-41] của Tường Duy Kiên, tác giả
đã làm rõ tính được bảo đảm bằng pháp luật quốc gia trong thực hiện QCN và cách
thức để tăng cường vai trò của lập pháp quốc gia trong thực hiện QCN ở Việt Nam
hiện nay.

- Những bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện các quyền cơ bản của công dân
trong lĩnh vực tự do cá nhân [66] của tác giả Trần Thanh Hương, nghiên cứu các vấn
đề lý luận về các quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tự do cá nhân và bảo đảm
pháp lý thực hiện. Thực trạng bảo đảm pháp lý thực hiện quyền cơ bản của công dân
trong lĩnh vực tự do cá nhân. Ngoài ra còn một số nghiên cứu về bảo đảm thực hiện
QCN, QCD thông qua hoạt động của các thiết chế nhà nước.
- Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người [73] của Khoa Luật
Trường Đại học quốc gia Hà Nội. Vấn đề QCN đã được tiếp cận một cách có hệ thống
từ sự phát triển tư tưởng về QCN nói chung đến sự phát triển của các nhóm quyền qua
hệ thống các công ước, nghị định thư, từ đó, cung cấp cho người học một cách nhìn
khá toàn diện lí luận và lịch sử pháp luật quốc tế về QCN.
- Quyền con người - Tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học [157] do Võ Khánh
Vinh, công trình đã tập hợp được nhiều nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau
về vấn đề quyền con người nói chung cũng nhưng một số quyền cụ thể của cá nhân,
vấn đề thực hiện quyền con người và phát triển con người hay quan hệ biện chứng giữa
quyền con người, pháp trị dân chủ và độc lập dân tộc,…
Ngoài ra còn có các nghiên cứu liên quan đến cá nhân và mối quan hệ giữa nhà
nước và cá nhân tiếp cận dưới góc độ chủ quyền nhân dân và chủ nghĩa lập hiến. Điển
hình là các nghiên cứu:
14
- Bảo hiếm ở Việt Nam [120] tác giả Bùi Ngọc Sơn, vấn đề bảo hiến ở Việt Nam
đã được tác giả nghiên cứu một cách có hệ thống, từ việc làm rõ cơ chế bảo hiến nói
chung, tác giả phân tích thực trạng bảo hiến ở Việt Nam và sự cần thiết của việc thiết
lập cơ chế bảo hiến trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và đề cao chủ quyền
nhân dân.
- Sự phát triển của chủ nghĩa lập hiến hiện đại ở Việt Nam [151] của Đào Trí
Úc, tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và thành tựu của chủ nghĩa lập hiến ở Việt Nam
với việc bảo đảm chủ quyền nhân dân. Từ đó nhận định về các vấn đề cần tiếp tục hoàn
thiện trong quá trình phát triển của chủ nghĩa lập hiến ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu đề
cao chủ quyền nhân dân.

- Chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam [121, tr.12-24] của tác giả Bùi Ngọc Sơn. Tác
giả đã đề cập đến quan niệm chung về cơ chế bảo hiến nói chung với việc đề cao chủ
quyền nhân dân trong nhà nước pháp quyền. Từ đó, phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn
cho cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay;
- Tài phán hiến pháp - một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và
khả năng áp dụng ở Việt Nam [104] của Nguyễn Như Phát và tập thể các tác giả
(2011), Nxb Khoa học xã hội, các tác giả làm rõ vai trò hiến pháp trong NNPQ, xây
dựng nền dân chủ, xu hướng phát triển của các mô hình tài phán và điều kiện vận
dụng ở Việt Nam.
Hiến pháp với chủ quyền nhân dân [5] của TS Vũ Hồng Anh. Tác giả phân tích
làm rõ sự khác biệt của khái niệm chủ quyền nhân dân và chủ quyền quốc gia. Trên cơ
sở đó, cho rằng trong nhà nước pháp quyền, chủ quyền nhân dân, trước hết được thể
hiện ở vai trò của nhân dân với hiến pháp và ở vai trò của nhân dân với tổ chức QLNN.
Chủ quyền nhân dân xuyên suốt và nhất quán trong Hiến pháp sửa đổi [49] của
Trần Ngọc Đường. Tác giả đã phân tích những quy định về chủ quyền nhân dân được
nhất quán trong các nội dung về vai trò của nhân dân với việc ban hành, sửa đổi Hiến
pháp, về quan hệ nhân dân và QLNN, bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 2013.
Trong quá trình đổi mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp về mối
quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong những phạm vi và mức độ nhất định. Điển
hình là các công trình:
- Hoàn thiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân trong quá trình đổi mới ở
Việt Nam [40] của tác giả Nguyễn Văn Động. Nghiên cứu đã phân tích một cách khá
15
toàn diện bản chất, đặc điểm và những nguyên tắc của mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa
nhà nước và công dân. Từ đó, phân tích quá trình phát triển, thực trạng MQH pháp lý
cơ bản giữa nhà nước và công dân; đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện MQH
pháp lý giữa nhà nước và công dân trong quá trình đổi mới. Tuy nhiên, công trình này
cũng chỉ dừng lại ở MQH giữa nhà nước và công dân.
Ngoài ra, còn một số các công trình đã nghiên cứu về QMH giữa nhà nước và
cá nhân, nhà nước và công dân làm cơ sở cho những nghiên cứu về các vấn đề xã hội,

nhà nước, pháp luật. Điển hình như:
- Quyền lực nhà nước và quyền công dân [91] của Đinh Văn Mậu, ở mức độ
nhất định tác giả đã bước đầu phân tích làm rõ tính khách quan của cá nhân, MQH
giữa nhà nước và cá nhân, từ đó đặt ra những yêu cầu hoàn thiện pháp luật với tính
chất là những bảo đảm thực hiện QCN, QCD trên các lĩnh vực hoạt động của nhà
nước. Tuy nhiên, nghiên cứu về cá nhân và MQH giữa nhà nước và cá nhân, mới
chỉ dừng ở những nhận định ban đầu để phục vụ cho nghiên cứu của mình về
QLNN và QCD.
- Mối quan hệ giữa xã hội, cá nhân - Nhà nước trong Nhà nước pháp quyền và
vai trò của nó trong việc xác định mô hình tổng thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam [156, tr.8-14] của Võ Khánh Vinh. Dưới góc độ tiếp cận pháp lý, tác
giả đã đề cập các khái niệm cá nhân, xã hội, nội dung, các nguyên tắc cơ bản của mối
quan hệ giữa nhà nước và cá nhân. Từ đó, tác giả đưa ra những luận giải về mô hình
xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam hướng tới thực hiện tốt MQH này. Đây là một
trong những công trình đưa ra những nhận thức khác toàn diện về MQH giữa nhà nước
và cá nhân, nhưng trong khuôn khổ của một bài viết, các vấn đề chỉ được nhận thức ở
mức độ khái quát.
- Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước [21] của Nguyễn Đăng Dung, tác giả
phân tích MQH giữa nhà nước và cá nhân, làm rõ tính khách quan của cá nhân, từ đó lý
giải sự cần thiết khách quan của nhà nước đối với sự tồn tại và phát triển của cá nhân
và xã hội, cũng như sự phân định giữa nhà nước, cá nhân và xã hội. Từ đó, tác giả lý
giải về tính chịu trách nhiệm của nhà nước như một tất yếu khách quan, mà nhà nước
không thể chối bỏ. Đó là cơ sở cho thấy sự cần thiết phải thiết lập các cơ chế kiểm soát
QLNN từ xã hội và cá nhân. Đồng thời, phân tích MQH giữa các cơ quan nhà nước
trong tổ chức QLNN, để thiết lập mối quan hệ kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy
16
nhà nước. Tuy nhiên, nghiên cứu về cá nhân và MQH giữa nhà nước và cá nhân của
tác giả mới chỉ dừng ở mức độ làm rõ tính chịu trách nhiệm của nhà nước.
- Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật [129] Lê Minh Tâm và
Nguyễn Minh Đoan. Nhà nước và cá nhân trở thành một nội dung trong lý luận về nhà

nước và pháp luật được nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn nâng cao nhận
thức khách quan về MQH giữa các chủ thể này phục vụ cho quá trình xây dựng và
hoàn thiện nhà nước và pháp luật trong điều kiện mới. Các tác giả đã đưa ra những cơ
sở lý luận khái quát về cá nhân, mối quan hệ nhà nước và cá nhân, cùng với sự phát
triển mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong lịch sử.
- Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam [46] của Trần Ngọc Đường. Tác giả nghiên cứu về cá nhân, bản chất
MQH giữa nhà nước và cá nhân làm cơ sở cho những nhận thức về vấn đề QCN, QCD
trong NNPQ hiện nay. Từ đó, đưa ra những phương hướng, giải pháp cho qúa trình
hoàn thiện hệ thống pháp luật và nhà nước.
- Đổi mới tư duy pháp lý về kinh tế và quyền con người, quyền công dân trong
xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay [47] của Trần Ngọc Đường. Xuất phát từ yêu
cầu thực hiện Cương lĩnh 2011, tác giả đưa ra yêu cầu đổi mới tư duy về MQH giữa
nhà nước và cá nhân làm cơ sở để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thực hiện
QCN, QCD.
Tóm lại, các vấn đề liên quan đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá
nhân đã được tiếp cận và nghiên cứu một cách khá rộng rãi. Nhiều kết quả của các
công trình về NNPQ, quyền con người, tổ chức QLNN, mối quan hệ giữa nhà nước và
công dân, mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân…đã trở thành những định hướng,
chiến lược quan trọng trong các văn kiện của Đảng cho thời kỳ đổi mới và được ghi
nhận trong Hiến pháp cho quá trình phát triển MQH giữa nhà nước và cá nhân. Sau gần
30 năm đổi mới, các điều kiện tồn tại của cá nhân và nhà nước đều có những thay đổi
đáng kể. Một công trình nghiên cứu mang tính toàn diện về MQH giữa nhà nước và cá
nhân tiếp cận dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật là một bổ khuyết về
lý luận cho việc xác định định hướng xây dựng và hoàn thiện nhà nước, pháp luật ở
Việt Nam hiện nay, đồng thời, là cơ sở để nghiên cứu hoàn thiện cơ chế ĐCPL MQH
giữa nhà nước và cá nhân.
17
1.1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về cơ chế điều chỉnh pháp luật
Cơ chế ĐCPL là một vấn đề rộng và phức tạp, đề cập đến các phương tiện pháp

lý trong mối quan hệ có tính hệ thống. Trên cơ sở kế thừa thành tựu lý luận của các học
giả Xô Viết, nhiều học giả Việt Nam đã phát triển lý luận về cơ chế ĐCPL trong điều
kiện của thời kỳ đổi mới ở nước ta. Từ đó, nhiều công trình, tác phẩm nghiên cứu cơ
chế ĐCPL ở những góc độ khác nhau đã ra đời, bổ sung cho nhận thức lý luận và thực
tiễn về vấn đề này. Tiêu biểu là:
- Những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật [148] của tác giả Đào Trí Úc.
Nghiên cứu chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế ĐCPL, như khái
niệm cơ chế ĐCPL, các giai đoạn của cơ chế ĐCPL, các thành tố của cơ chế ĐCPL.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về cơ chế ĐCPL, còn được đề cập một cách
có hệ thống trong các luận án tiến sỹ, như Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh
pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam [138] của tác giả Lê Xuân Thảo; Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong
lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam [60] của tác giả Hoàng Phước Hiệp
(1997); Hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật đất đai ở Việt Nam [116] Nguyễn Cảnh
Quý (2002). Nhìn chung, các nghiên cứu đều xây dựng cơ chế ĐCPL trên các lĩnh vực
cụ thể của đời sống, xuất phát từ những nghiên cứu lý luận chung về cơ chế ĐCPL, bao
gồm khái niệm, các giai đoạn, các thành tố của cơ chế ĐCPL. Tuy nhiên quan niệm về
các thành tố của cơ chế ĐCPL trong các nghiên cứu không hoàn toàn thống nhất.
- Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế ĐCPL còn được nghiên cứu và không
ngừng hoàn thiện trong các giáo trình lý luận chung về nhà nước pháp luật của các cơ
sở đào tạo luật học, như Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật [72] của
Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Cơ chế điều chỉnh pháp luật Việt Nam [63] của Nguyễn Quốc Hoàn, tác giả
đã kế thừa và phát triển các nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó đưa ra khái niệm
ĐCPL, cơ chế ĐCPL, các giai đoạn của ĐCCPL và các thành tố của cơ chế ĐCPL; các
yếu tố tác động đến cơ chế ĐCPL. Từ đó, tác giả đánh giá về quá trình phát triển của
cơ chế ĐCPL trong lịch sử và thực trạng cơ chế ĐCPL Việt Nam. Trên cơ sở đó đề
xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL hiện nay;
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu toàn diện về từng thành tố của cơ
chế ĐCPL:

18
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn [126] của Lê Minh Tâm, tác giả đã phân tích làm rõ khái niệm, bản chất,
vai trò của pháp luật; các tiêu chí để đánh giá sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật;
phân tích và đánh giá quá trình phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam trong lịch
sử và thực trạng. Từ đó luận giải các yêu cầu, quan điểm, giải pháp phát triển hệ thống
pháp luật Việt Nam hiện nay;
- Quan hệ pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
[77] của Lê Văn Long (2003). Tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề
lý luận về quan hệ pháp luật, thực trạng và các phương hướng, giải pháp cho việc phát
triển các quan hệ pháp luật hiện nay ở Việt Nam.
Qua các nghiên cứu trên, vấn đề cơ chế ĐCPL đã được nghiên cứu một cách
khá toàn diện, từ khái niệm, các giai đoạn, thành tố của cơ chế ĐCPL. Đồng thời, từ
các góc độ khác nhau hoặc từ góc độ chung, các tác giả đã phân tích các yếu tố tác
động đến cơ chế ĐCPL, vấn đề rất có ý nghĩa cho việc đề xuất các phương hướng giải
pháp hoàn thiện cơ chế ĐCPL. Lý luận về cơ chế ĐCPL đã được nhiều tác giả vận
dụng trong nghiên cứu về cơ chế ĐCPL trên một số lĩnh vực. Tuy nhiên, chưa có một
công trình nghiên cứu nào đề cập đến cơ chế ĐCPL MQH giữa nhà nước và cá nhân.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa nhà
nước và cá nhân
Các công trình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến MQH giữa nhà nước và
cá nhân, nhất là về dân chủ và pháp luật xuất từ thời kỳ cổ đại trong tư tưởng của các
học giả phương Tây như Socrate, 469-399 TrCN, Platon, 423-347 TrCN,… Các tư
tưởng này có quá trình phát triển lâu dài và không ngừng hoàn thiện trong lịch sử xã
hội loài người. Qua đó, MQH giữa nhà nước và cá nhân được nghiên cứu và tiếp cận từ
nhiều góc độ, vấn đề khác nhau, như:
1.2.1.1. Các công trình nghiên cứ u liên quan đế n mố i quan hệ giữ a nhà nư ớ c
và cá nhân, tiế p cậ n từ vấ n đề chủ quyề n nhân dân, các giá trị củ a Nhà nư ớ c pháp
quyề n, xã hộ i dân sự và chủ nghĩa hợ p hiế n

Đây là những vấn đề nghiên cứu có một quá trình phát triển và hoàn thiện lâu
dài trong lịch sử. Điển hình cho lý thuyết về chủ quyền nhân dân, nguyên tắc phân
quyền là các tác phẩm:
19
- Bàn về khế ước xã hội [68] của Jean - Jacques Rousseau, Hoàng Thanh Đạm
dịch. Theo tác giả, quyền lực của cá nhân là bất khả nhượng, chỉ có thể uỷ quyền hoặc
bị thoán quyền. Nhà nước được thành lập trên cơ sở sự đồng thuận xã hội, mỗi cá nhân
tự nguyện chuyển giao một phần quyền lực của mình cho nhà nước trên cơ sở khế ước
xã hội. Như vậy, chủ quyền nhân dân là tối cao và là sự đóng góp chủ quyền từ mỗi cá
nhân, QLNN là quyền lực uỷ quyền.
- Bàn về tinh thần pháp luật [99] của Montesquieu, Hoàng Thanh Đạm dịch.
Theo tác giả, sau khi được uỷ quyền, QLNN có xu hướng bị lạm dụng, tách rời chủ thể
của nó. Vì vậy, QLNN cần phải được kiểm soát bằng cách dùng quyền lực để chế ước
quyền lực theo nguyên tắc tam quyền phân lập. Tức là QLNN phải được phân chia cho
các cơ quan nhà nước theo chức năng của nó là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp,
các cơ quan nhà nước hoạt động trong cơ chế kiềm chế, đối trọng lẫn nhau, để không
cơ quan nào nắm trọn QLNN và không cơ quan nào nằm ngoài sự kiểm soát từ cơ quan
nhà nước khác.
- Nền dân trị [2] của nhà luật học người Pháp Alexis de Tocquevill, Phạm Toàn
dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính và giới thiệu. Theo quan điểm của tác giả thì việc
kiểm soát QLNN chỉ bằng những thiết chế bên trong là chưa đủ, cần phải thiết lập một
nền dân trị. Ở đó nhân dân vẫn phải duy trì cho mình những quyền lực nhất định và
thiết lập những MQH giữa bộ máy quyền lực với nhân dân. Tư tưởng về một nền dân
trị là cơ sở thúc đẩy việc hoàn thiện các thể chế đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân
với quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, như quyền lập hội, quyền tự
do báo chí,…
Tư tưởng của các học giả thời kỳ cổ và cận đại về chủ quyền nhân dân, các giá
trị nhà nước pháp quyền, tiếp tục được nghiên cứu và phát triển trong các điều kiện xã
hội mới. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, những nghiên cứu này được đặc biệt quan
tâm trong các quốc gia có nền kinh tế chính trị đang trong quá trình chuyển đổi. Tiêu

biểu là các công trình:
- Chế độ dân chủ nhà nước và xã hội [102] của N.M. Voskresenskaia và N.B.
Davletshina, Phạm Nguyên Tường dịch. Tác giả đã đề cập đến các vấn đề quan trọng
của một xã hội dân chủ như, khái niệm dân chủ, xã hội và các giá trị dân chủ, QCN,
bầu cử, Đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội,…
20
- Tương lai của nền dân chủ xã hội (Die Zukunft Sozialen Demokratie) 2005
[140] của Thomas Mayer và Nicole Breyer, Trần Danh Tạo và Ngô Lan Anh dịch.
Theo các tác giả, dân chủ xã hội ra đời và phát triển trên cơ sở sự không hoàn thiện của
dân chủ tự do. Trong nền dân chủ xã hội, các quyền cơ bản về dân sự, chính trị, quyền
xã hội và kinh tế phải được bảo đảm để tạo dựng được những điều kiện sống có nhân
phẩm cho tất cả mọi người. Đó là xã hội, bao gồm một hệ thống các giá trị cơ bản, các
quan điểm, nguyên tắc và giải pháp cải cách kinh tế, xã hội vì mục tiêu phát triển và lý
tưởng tự do, công bằng, bình đẳng và hạnh phúc của con người trong bối cảnh hiện nay
của thế giới.
Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự là những giá trị tư tưởng được hình
thành và không ngừng hoàn thiện trong quá trình phát triển của nhân loại. Đây là
những vấn đề đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới và đã
dành được rất nhiều thành tựu về mặt lý luận và thực tiễn. Trong đó, tư tưởng về
NNPQ đã phát triển không ngừng từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ cận đại, với các học
thuyết về chủ quyền nhân dân, quyền tự nhiên, học thuyết khế ước xã hội, học thuyết
tam quyền phân lập. Tiêu biểu cho các nghiên cứu đó là các tác phẩm:
- Các nguyên lý của triết học pháp quyền [55] của G.W.F Hêghen (1821), do
dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dịch, XHDS được hình thành từ nhu cầu của mỗi cá nhân
để thực hiện lợi ích ích kỷ của bản thân mình và nhằm thoả mãn nhu cầu của riêng
mình. Heghen cho rằng sở hữu tư nhân là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của xã
hội dân sự và tự do cá nhân là không thể thiếu sở hữu tư nhân. Xã hội dân sự mang
trong mình những mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Nhưng nhà nước đã
vượt lên trên tính tự phát của xã hội dân sự, thể hiện là sự thống nhất giữa lợi ích chung
và lợi ích riêng. Tuy nhiên, nhận thức của Hêghen về XHDS và MQH giữa nhà nước

và XHDS bị giới hạn bởi quan niệm duy tâm đã thần bí hoá biện chứng MQH giữa nhà
nước và XHDS.
- Góp phần phê phán triết học pháp quyền [79] của C.Mác. Trong quá trình phê
phán học thuyết của Heghen, C.Mác cho rằng không phải nhà nước sinh ra xã hội, mà
chính gia đình và xã hội dân sự là những tiền đề của nhà nước, chính chúng mới là yếu
tố thực sự tích cực. Cho nên việc nghiên cứu nhà nước phải dựa vào phân tích xã hội
công dân. Đó là kết quả của quá trình tiếp thu có phê phán của C.Mác với tư tưởng về
Triết học pháp quyền của Hêghen, phủ nhận quan điểm có tính tiêu cực đối với công

×