Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Tiểu luận môn triết học Ý nghĩa câu châm ngôn Dụng nhân như dụng mộc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (170.4 KB, 15 trang )

Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
1. Ý nghĩa câu châm ngôn “Dụng nhân như dụng mộc” 3
KẾT LUẬN 14
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Từ Cổ chí Kim, chuyện "Dụng nhân" đã được viết, được bàn trên nhiều lĩnh
vực hoạt động có liên quan đến việc lựa chọn, điều khiển, chỉ huy con người.
Trên thế giới, nhiều nước đã có khoa Dụng Nhân Học và đã đưa vào nội dung
giảng dạy trong một số trường đại học đặc biệt. Ở nước ta tuy chưa có điều kiện
nghiên cứu sâu và hình thành một bộ môn rõ rệt nhưng thực tế đã được ứng dụng
trên nhiều lĩnh vực trong xã hội. Câu "Dụng nhân như dụng mộc" là lời nói của
Đức Khổng Tử mà từ xưa đến nay đã trở thành câu nói quen thuộc trong dân
gian.
Nói: “Dụng nhân như dụng mộc” là cách mà người Việt dùng để nhắc nhở và
để răn dạy con cháu, muốn có được một thước gỗ đẹp, bền chắc và phù hợp với
người sử dụng, tính chất công việc sử dụng cần phải biết kết hợp nhiều yếu tố như
đôi mắt bàn tay, khối óc và giác quan thứ sáu để đánh giá và nhận xét một cách
toàn diện và cụ thể. Có bắt tay thử làm mộc mới hiểu câu này ý nghĩa sâu sắc thế
1
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
nào. Đương nhiên, trong xã hội ta, chẳng nhiều người từng thử làm mộc, dù chỉ là
làm chơi. Thế nên nhân tài trôi dạt, người hiền đức như lá mùa thu Con người
cũng vậy, có rất nhiều người nhiều tính cách nhiều lối sống, hoàn cảnh sống và
khả năng khác nhau, không ai sinh ra để được gọi là kẻ vô dụng cả, chỉ có những
người không biết "dụng" họ vào từng thời điểm, từng vị trí và phân công công
việc cụ thể phù hợp với sở trường sở đoản của người ta mà thôi. Loại gỗ nào đáng
làm cột, làm kèo, làm xà thì phải dùng loại gỗ đó. Loại gỗ nào tạp thì chỉ đáng để
làm rui mè, thưng vách. Không thể tùy tiện mang loại gỗ làm cột, làm xà để đi


thưng vách và tất nhiên cũng không thể dùng loại gỗ tạp để làm cột, làm xà…
Dùng gỗ mà sai thì vừa phí phạm, không khéo lại sập cả nhà chứ chẳng đùa. Con
người nếu không muốn đánh mất giá trị thực tế của một đội quân, một tổ chức,
một tập thể hay cũng có thể là một nhóm người nào đó thì điều đầu tiên người chỉ
huy cần phải có đôi mắt nhìn người thật tinh tế, nắm bắt khả năng của từng người,
từ tính cách, thể trạng và năng lực để bố trí sao cho phù hợp, hoạt động ăn khớp
có hiệu quả, đảm bảo về tính chuẩn xác, nhanh gọn hợp lí và hiệu quả cao nhất,
phải có tài chỉ huy, tài giao tiếp - ăn nói, tài quan sát và xử lí mọi vấn đề diễn ra
hoặc có thể diễn ra một cách ổn thỏa mà vẫn đảm bảo guồng quay không bị gián
đoạn dù trong sản suất kinh doanh thời bình hay chỉ huy một đội quân trong các
trận đánh.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Mục đích
Từ việc giải thích câu châm ngôn “Dụng nhân như dụng mộc” dưới góc độ
triết học, đề tài sẽ chỉ ra một số đóng góp hữu ích của quan niệm đó từ xưa cho
đến nay.
Nhiệm vụ
- Làm rõ cách dùng người của người xưa
- Sử dụng nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay
- Giá trị của câu nói “Dụng nhân như dụng mộc” Phân tích những ý nghĩa
chủ yếu và đưa ra một số nhận xét và đánh giá về quan niệm đó.
2
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận
Tiểu luận được thực hiện trên nền tảng lý luận và phân tích các quan điểm
về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về lịch sử triết
học nói chung, triết học nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp,

hệ thống hóa và so sánh
NỘI DUNG
1. Ý nghĩa câu châm ngôn “Dụng nhân như dụng mộc”
Trước hết ta đi vào phân tích về mặt ngữ nghĩa của từng từ trong câu triết lý
một cách cụ thể. Từ “dụng” có nghĩa là “dùng”, từ “nhân” có nghĩa là “Người” và
từ “Mộc” có nghĩa là “cây” hoặc là “gỗ” theo nghĩa Hán Việt. Vậy nói một cách
nôm na “Dụng nhân như dụng mộc” nghĩa là “Cách sử dụng con người ví như là
cách sử dụng cây, gỗ vậy”
Thật vậy, cây hay gỗ là nguồn nguyên liệu cần thiết cho ngành công nghiệp
phát triển, được sử dụng rộng rãi trong việc xây dựng, trang trí nội thất. Nếu sử
dụng cây, gỗ đúng với tính chất thì lợi ích của nó rất lớn. Ví dụ: Một cây gỗ tự
nhiên của nó thì có rất nhiều bộ phận như rễ cây, thân cây, cành cây, lá cây…thì
tùy vào bộ phần mà ta có thể sử dụng phù hợp như thân cây thẳng, ta có thể sử
dụng làm cột chống, đoạn cành cây cong có thể làm cày, đoạn uốn lượn có thể
làm những chi tiết trang trí trong đền, chùa…, lá cây có thể sử dụng làm chất
đốt…Nếu sử dụng không đúng thì sẽ tiêu tốn rất nhiều công sức, có khi không đạt
được mục đích.
Mỗi người chúng ta đều có sở trường và tài năng riêng, do vậy việc sử dụng
con người “Nhân” - cũng rất khó, giống như việc sử dụng cây, gỗ. Nếu sử dụng
không đúng theo tài năng của từng người thì không giải quyết được việc gì cả,
đồng thời không phát huy được tài năng và sở trường của họ.
Bác Hồ cũng đã có ý kiến như sau về việc dùng người: “Chúng ta phải nhớ rằng:
người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp
3
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
người chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to nhỏ,
thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được”.
2. Quan điểm về việc dùng người của người xưa:
Với quá trình phát triển lâu đời và bề dày văn hoá lịch sử hàng nghìn năm,
ở các quốc gia phương Đông đã xuất hiện các nhà tư tưởng lớn mà học thuyết do

họ đề xướng đã trở thành rường cột và khuôn mẫu ứng xử không những cho cả
một quốc gia, một cộng đồng mà còn cho từng cá nhân trong quốc gia, cộng đồng
đó. Trong đó, học thuyết có sức sống lâu nhất, ảnh hưởng lan truyền nhất không
những chỉ ở một quốc gia mà còn ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, không
phải chỉ ở đương thời mà còn mãi cho đến ngày nay, đó là chính là học thuyết
“Đức trị” của Khổng Tử hay còn gọi là “Nhân trị”. Vì vậy có thể nói, “Đức trị”
chính là nền tảng chính mà trên cơ sở của nó, tư tưởng quản trị nhân sự phương
Đông ra đời.
Khổng Tử chủ trương trị người bằng đức là chính, nghĩa là để thu phục và
dẫn dắt người khác, nhà quản trị phải tự mình học tập và tu dưỡng để có được
những đức tính cần thiết, chẳng hạn như: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, … Trong
đó, “đức nhân” được đặt lên hàng đầu và là trung tâm: vì con người và từ con
người. Khổng Tử coi nhân là gốc, lễ là ngọn, nhân là mục tiêu, còn lễ là chính
sách. Để thực thi được đạo lý và mục tiêu, Khổng Tử chủ trương sử dụng phương
thức chính danh. Khổng Tử cho rằng chỉ có một số ít người có năng lực đặc biệt
và có nhân cách đặc biệt mới có thể hiểu và thực hành được công việc quản trị. Vì
vậy, học thuyết của ông đề xướng thường tồn tại dưới dạng các nguyên lý,
nguyên tắc. Ông chủ trương: “đã chỉ cho một góc rồi mà không suy ra ba góc còn
lại thì không dạy nữa”, hoặc là “ôn cũ, biết mới”
Khổng Tử cũng chỉ rõ các nguyên tắc liên quan đến các nội dung và các
công việc cụ thể của công tác quản trị nhân sự như: sử dụng, đánh giá, đãi ngộ,
đào tạo nhân sự Chẳng hạn, về sử dụng nhân sự, Khổng Tử chủ trương “sử dân
dĩ thời’ (sử dụng người đúng lúc); biết đánh giá bản chất của người; “đề bạt người
4
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
chính trực (ngay thẳng) lên trên người cong queo”; khách quan, không thành kiến,
sử dụng tuỳ theo tài năng, đạo đức của từng người; Trong đãi ngộ nhân sự,
nguyên tắc phân phối quân bình, không nên quá chênh lệch trong phân phối:
“không sợ thiếu, chỉ sợ không đều” đã được đề cao; Về đào tạo nhân sự, nhà quản
trị phải chịu khó dạy dỗ, thiếu cái gì dạy cái ấy, nhà quản trị phải là tấm gương để

người dưới học tập: “học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Những nguyên
tắc, chuẩn mực và phương pháp luận về quản trị nhân sự mà những điều tốt đẹp
trong học thuyết của ông đã trở thành nguyên tắc quản trị nhân sự góp phần đem
lại thành công cho các doanh nghiệp ở một số quốc gia phương Đông như Nhật
Bản, Hàn Quốc, Singapore,
5
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
2.1 Cách tuyển dụng nhân tài của người xưa
Nói đến cách tuyển chọn và trọng dụng người tài, dù là cách nay hàng ngàn
năm hay trong thời đại khám phá vũ trụ bây giờ, khoa cử vẫn là phương cách đắc
dụng nhất. Khoa thi đầu tiên ra đời tại nước ta vào năm 1075, dưới triều vua Lý
Nhân Tông. Đề bài do nhà vua đích thân ra, thí sinh làm bài với giấy do triều đình
cung cấp, có lính mài mực hầu. Giám khảo chấm bài thi là những quan đại thần
học cao hiểu rộng trong triều. Sau nghi thức xướng danh tiến sĩ tổ chức tại sân
rồng, cũng với sự chứng kiến của vua và chúa, các tân khoa được ban mũ, áo, đai
dành cho bậc tiến sĩ và được dự yến vua ban ở công đường bộ Lễ. Lệ vinh qui
thời xưa cũng nói lên sự trân trọng của cả xã hội đối với nhân tài: Trạng nguyên
(đệ nhất giáp đệ nhất danh tiến sĩ cập đệ) được cả nước đón rước, trên đường từ
kinh đô về làng, võng quan trạng đi qua tỉnh nào thì quan chức tỉnh đó đón tại địa
đầu tỉnh rồi tiền hô hậu ủng cho đến khi vào tỉnh khác. Đời vua Lê Thánh Tông,
năm 1472, triều đình định lệ tuyển bổ các tiến sĩ, theo đó trạng nguyên được bổ
hàm chánh lục phẩm, bảng nhãn hàm tòng lục phẩm, thám hoa hàm chánh thất
phẩm, đệ nhị giáp hàm tòng thất phẩm, và đệ tam giáp hàm chánh bát phẩm.
Điều đó chứng tỏ rằng dù được trọng thị trong xã hội, người đỗ đạt trong khoa
cử vẫn phải có một thời gian nhất định trong hoạn trường chứng tỏ tài năng và
phẩm hạnh của mình rồi mới thăng bổ vào các địa vị cao. Thực tế lịch sử cũng
cho thấy thời xưa, việc trọng hiền tài không phải là độc quyền của giai cấp thống
trị mà nền giáo dục theo khuôn phép thánh hiền đã hun đúc trong tâm hồn kẻ sĩ
một tinh thần tôn trọng người tài.
2.2 Việc trọng dụng nhân tài của Hồ Chủ tịch:

Ngay từ những ngày hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã có nhận thức sâu
sắc về con người và nhân tố con người. Theo Hồ Chí Minh, khái niệm con người
luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng và cao cả của sự nghiệp
cách mạng mà cả cuộc đời Người hằng theo đuổi. Tư tưởng về con người, về việc
giải phóng và phát triển con người, coi con người là nhân tố quyết định thành
công của cách mạng luôn quán xuyến trong tư duy, đường lối và phương pháp
lãnh đạo cách mạng của Hồ chí Minh. Để khẳng định được vị trí và vai trò then
chốt này thì con người xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải là con
người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của
chủ nghĩa xã hội với đặc trưng cơ bản là phải vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
“Hồng” và “chuyên” là quan điểm nổi bật và có tính bao quát trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về bản chất con người. Hồng là phẩm chất, là đạo đức của người
cách mạng: yêu nước, trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống
có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; chống chủ nghĩa cá nhân
và có tinh thần quốc tế trong sáng. Chuyên là sự thể hiện trí tuệ, là tài năng, là
năng lực của cá nhân con người gắn liền với sự khổ công học tập, rèn luyện để có
tri thức, nâng cao tri thức và dùng chính những tri thức mình có được để phục vụ
lợi ích cho sự phát triển của cộng đồng. Hồng và chuyên, hay cách gọi khác là
6
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
đức và tài trong mỗi con người đều rất cần thiết. Đây là hai mặt cơ bản của con
người mới nói riêng và được xem như nội hàm của khái niệm con người mới xã
hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người nói: Đức là gốc nhưng tài là
quan trọng và luôn dặn mọi người không được xem nhẹ mặt nào: “Có Tài mà
không có Đức là người vô dụng, có Đức mà không có Tài làm việc gì cũng khó”.
Lời nói của Người có ý nghĩa như một thông điệp để mong muốn mỗi con người
hãy lấy cái thiện làm phương châm sống và rèn luyện cho chính mình để phấn
đấu trở thành con người có ích cho cộng đồng.
Chất lượng của nguồn lực con người, là sức mạnh trí tuệ và tay nghề. Muốn
nâng cao chất lượng nguồn lực con người, đặc biệt là nhân lực có chất lượng cao

thì phải coi trọng công tác giáo dục, đào tạo về chuyên môn, năng lực đồng thời
phải có chính sách sử dụng người tài một cách hợp lý để có thể khai thác tối đa
nguồn lực dồi dào nhưng chưa được khai thác này. Theo đó, Hồ Chí Minh đưa ra
các Phép dùng người cho các nhà quản trị nhân sự:
“Vô luận việc gì đều do người làm ra” . Điều này có nghĩa là: có cán bộ tốt,
việc gì cũng xong. Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc
kém. Do đó, việc rèn luyện bản thân về chuyên môn và đạo đức là vô cùng cần
thiết.
“Phải khéo dùng người”
Theo Hồ Chí Minh, muốn dùng cán bộ đúng thì người cán bộ lãnh đạo cần
phải: Một là, mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách
chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi. Hai là,
phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa. Ba là,
phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp
cho họ tiến bộ. Bốn là, phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa
cán bộ tốt. Năm là, phải có thái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần
gũi mình.
Khéo dùng cán bộ xuất phát từ việc tập hợp được sức lực và tài năng của mọi
người vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung. Nếu dùng cán bộ mà để họ hoang
mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ức hoặc cộng tác không hợp, chắc chắn không thành
công được. Vì vậy, muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm
việc, vui thú làm việc.
“Phải nuôi dạy cán bộ”
Muốn có cán bộ tốt, thì cơ quan lãnh đạo quản lý phải nuôi dạy cán bộ như
người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Muốn dùng người thì phải
quan tâm săn sóc, giúp đỡ, nghĩa là phải nâng cao người cán bộ cả về đời sống vật
chất và đời sống tinh thần, làm cho người cán bộ ngày càng lớn lên cùng với sự
nghiệp cách mạng. Phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để bất cứ cán bộ nào
cũng đều vững về chính trị, giỏi về chuyên môn.
“Phải đổi mới và đan xen các thế hệ cán bộ”

Mỗi thế hệ cán bộ sinh ra và trưởng thành trong những hoàn cảnh cụ thể khác
nhau, mỗi người đều có những sở trường và sở đoản, cái mạnh và cái yếu nhất
7
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
định, tuyệt nhiên không ai giống ai. Hồ Chí Minh nhắc nhở: phải thấy cái giới hạn
khắc nghiệt của thời gian để tạo nguồn thay thế, bổ sung cho tổ chức những lớp
người mới, đủ sức lực và tài năng đảm đương nhiệm vụ theo những yêu cầu mới.
Theo Người, cần cán bộ già đồng thời rất cần nhiều cán bộ trẻ. Công việc ngày
càng nhiều càng mới, một mặt Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ, mặt khác
đảng viên già phải cố gắng mà học. Việc đổi mới cán bộ phải rất khách quan công
minh, cần lấy việc hoàn thành nhiệm vụ làm căn cứ, phải tổng kết từ phong trào
thực tiễn phát hiện những nhân tố mới, những cán bộ trẻ có đức có tài để trao
nhiệm vụ cho họ. Mặt khác cũng cần tạo điều kiện cho số cán bộ lớn tuổi đã công
tác quá lâu trong các văn phòng có điều kiện thâm nhập thực tế để khỏi lạc hậu
với thực tế. Vấn đề luân chuyển cán bộ hiện nay là một chủ trương đúng phù hợp
với tư tưởng Hồ Chí Minh.
“Đổi mới cách lãnh đạo để dùng người”
Bác dạy phải vì việc mà dùng người. Công việc xây dựng và bảo vệ đất nước
luôn luôn đổi mới phát triển. Do đó phải không ngừng đổi mới cách lãnh đạo để
dùng người. Để lãnh đạo được thì phải học hỏi quần chúng. Điều đó có nghĩa là
người lãnh đạo không nên kiêu ngạo mà nên hiểu thấu, một giây một phút không
thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng, phải biết lắng nghe ý kiến của
những người không quan trọng. Hiểu thấu, biết lắng nghe học hỏi quần chúng,
nâng cao nhân dân, đưa chính trị vào giữa dân gian đã hợp thành một hệ giá trị
của văn hoá chính trị và là vấn đề hàng đầu của đổi mới cách lãnh đạo. Nhân dân
phải là người được tham gia vào quá trình ra quyết định. Theo Hồ Chí Minh,
người ra quyết định thường chỉ phán từ trên xuống, còn người thi hành quyết định
lại chỉ nhìn từ dưới lên. Cả hai đều có hạn chế, vì vậy muốn giải quyết vấn để cho
đúng ắt phải hợp kinh nghiệm cả hai bên lại.
“Gương mẫu”

Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạng đến vai trò của cán bộ cấp trên. Người đã
nhiều lần nhắc nhở đảng viên, cán bộ cấp trên phải làm mực thước cho cán bộ cấp
dưới và người ngoài Đảng. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn''. Nếu cán bộ cấp trên
không gương mẫu thì làm sao có thể bảo ban, hướng dẫn được cấp dưới, làm sao
duy trì được kỷ luật Đảng và trật tự kỷ cương phép nước. Hồ Chí Minh đã kịch
liệt phê phán thói nể nang, bênh che cho nhau. Người đòi hỏi người cán bộ, đảng
viên phải ghi nhớ rằng mình làm cách mạng là để phục vụ nhân dân, phải luôn ghi
tạc trong lòng: lo toan công việc chung trước mọi người, hưởng thụ sau mọi
người. Chỉ có như vậy mới thu phục, cảm hoá giáo dục được cấp dưới và mọi
người.
“Hiểu mình và hiểu người”
Xưa nay các vĩ nhân làm nên sự nghiệp lớn đều có chung một tư tưởng ''biết
mình, biết người''. Biết, chính là bí quyết của sự thành công. Hồ Chí Minh đã chỉ
ra một số căn bệnh cơ bản làm cho người cán bộ không tự biết được mình. Đó là,
cậy thế kiêu ngạo, ưa người phỉnh nịnh mình, tư túi, kinh nghiệm chủ nghĩa, máy
móc, giáo điều. Người cán bộ lãnh đạo quản lý mắc những tật ấy thì không hiểu
8
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
được chính cái mạnh cái yếu của mình, do vậy không thể hiểu được người khác.
Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết
phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem
xét cán bộ càng đúng. Trên cơ sở tự hiểu mình, cần phải có phương pháp xem xét
để hiểu cán bộ một cách thấu đáo, không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc
một việc, mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ.
“Vun trồng lòng tự trọng, tự tin cho cán bộ, giúp họ sửa chữa sai lầm, khuyết
điểm”
Hồ Chí Minh cho rằng ai cũng có lòng tự trọng tự tin, không có lòng tự trọng
tự tin là vô dụng. Vì vậy phải xem xét kỹ trước khi cất nhắc, giúp đỡ vun trồng
khuyên răn khích lệ lòng tự tin tự trọng, kiểm tra uốn nắn thường xuyên không để
tích tiểu thành đại. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay, để vun trồng

các thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những
ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải làm cho họ kiêu căng mà
cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ, để đi
đến chỗ bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu.
Phép dùng người của Hồ Chí Minh đã được thực tiễn lịch sử kiểm nghiệm,
khẳng định. Đó là cơ sở lý luận và phương pháp luận của khoa học tổ chức trong
tình hình hiện nay đối với các doanh nghiệp.
3.Thực tế việc sử dụng nhân lực trong giai đoạn hiện nay:
Hiện nay, chúng ta còn đang yếu và thiếu về nguồn nhân lực chất lượng cao ở
các ngành, các cấp từ cơ sở đến tỉnh, thành phố và bộ, ngành trung ương. Công
tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập. Cơ chế sử dụng, đãi ngộ
còn chưa phù hợp với thay đổi linh hoạt của đời sống xã hội. Chúng ta còn lúng
túng trong quản lý, phối hợp khai thác các công trình nghiên cứu khoa học (có
nhiều công trình khoa học tốn tiền của, trí tuệ nhưng rồi chỉ xếp trong tủ), tận
dụng chất xám của các cán bộ khoa học đầu ngành; chậm có cơ chế thu hút người
có tay nghề cao, giỏi chuyên môn, chuyên gia làm việc và tạo thuận lợi để họ có
cơ hội cống hiến. Thực tế hiện nay nguồn nhân lực đang bị cạnh tranh và lôi kéo,
công chức "nhảy việc" ngày càng nhiều. Đó là sự thật mà những ai có trách nhiệm
trong công tác tổ chức đều phải trăn trở và dành nhiều thời gian để đối phó.
Điều đáng nói là nhiều lãnh đạo các cơ quan có thể biết trước những cuộc ra đi
này, nhưng những gì họ đang làm vẫn chưa thể thuyết phục và ngăn cản được
những công chức muốn bỏ việc.
Có một quan điểm cho rằng lương thấp là nguyên nhân cơ bản khiến công
chức bỏ việc, và đến những nơi có thu nhập cao, hấp dẫn. Tuy nhiên, trong một
cuộc điều tra mới đây khi phỏng vấn những người "nhảy việc", phần đông trong
số họ đã không đồng ý với quan điểm đó. Đành rằng thu nhập vẫn là điều cốt yếu.
9
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
Nếu không trả hơn 10% mức lương bình quân trên thị trường nhân sự thì khó mà
giữ được người giỏi. Nhưng một vấn đề được đặt ra ở đây, nếu dừng lại ở chuyện

tiền bạc chúng ta sẽ không giữ được người. Vì rằng môi trường làm việc, chế độ
đào tạo, khả năng thăng tiến sẽ được các nhân viên theo dõi trong suốt quá trình
làm việc và cống hiến của mình. Tại sao họ không được đề bạt? Tại sao họ không
được đào tạo? Và những người khác không cống hiến nhiều lại nhận được sự ưu
ái quá lớn như vậy? Có hay không sự bất bình đẳng và môi trường hành xử đầy
cảm tính trong doanh nghiệp? Đó là những câu hỏi đầy sự nghi ngờ và dai dẳng
của bất kỳ một nhân viên nào.
Một chuyên gia quản lý nguồn nhân lực Business Edge (thuộc Công ty tài
chính quốc tế IFC) cho rằng người lãnh đạo muốn giữ nhân viên phải hiểu họ.
Nhiều nhân viên giỏi rời bỏ nơi làm việc không phải vì tiền bạc, có thể do môi
trường làm việc, xung đột nội bộ mà họ cảm thấy mệt mỏi; hoặc do phong cách
lãnh đạo vì họ thấy ở nơi đó không có cơ hội để mình phát triển.
Vấn đề thứ hai là chủ nghĩa bình quân trong chế độ trả lương. Nhà quản lý phải
biết sở trường mỗi nhân viên để phát huy khả năng của họ và đền đáp xứng đáng
công sức họ bỏ ra. Đừng bao giờ dàn đều trong phân phối thu nhập vì các nhân
viên rất khác nhau, thậm chí nhiều người có một đẳng cấp làm việc nổi trội, khác
biệt, một "thương hiệu" mà nhiều nhân viên khác phải mày mò hàng năm trời mới
có được. Bà Lee Bayer, giám đốc điều hành Phòng Thương mại Úc, khẳng định:
"Trí tuệ là tài sản lớn nhất. Nếu không giữ được người tài, cơ quan đó sẽ phải mất
nhiều chi phí để quảng cáo, tuyển dụng, đào tạo lại để tìm người thay thế".
Việc một số cơ quan hoặc doanh nghiệp nhà nước không tuyển được cán bộ
chất lượng cao hoặc bị rút chất xám đã được các chuyên gia kinh tế thế giới dự
báo trước khi Việt Nam thiết lập nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. Với bối
cảnh nước ta hiện nay, có thể nói rằng vấn đề mấu chốt của thị trường nhân sự là
công tác cán bộ và môi trường làm việc. Thu nhập và tiền lương chỉ là yếu tố
quan trọng chứ không quyết định tất cả. Cần phải đổi mới công tác cán bộ nhiều
hơn nữa về quy trình tuyển dụng và tiêu chuẩn đề bạt. Trong công tác tổ chức cần
thật sự minh bạch, công khai và dân chủ. Tính dân chủ trong công tác cán bộ có
nghĩa người đứng đầu cơ quan, doanh nghiệp không độc đoán, cảm tính và chủ
quan.

Có 2 vấn đề nổi cộm hiện nay về công tác cán bộ, nhân sự:
1. Cơ chế xin cho. Đây là một cơ chế xuất phát từ thói quen của văn hóa "giới
thiệu người nhà, bạn bè", "đi cửa sau nhà quan năn nỉ" đậm tính thực lợi tiểu
nông, phong kiến. Tất cả sự lạc hậu, trì trệ của công tác nhân lực đều bắt đầu từ
10
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
đây và quá dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, hối lộ. Đa số các công ty nhà nước
là dùng cơ chế xin cho, muốn vào làm thì phải làm đơn xin. Nhiều công ty tư
nhân của người Việt trong và ngoài nước tuy không có cơ chế xin cho, nhưng lại
có một cơ chế tuyển dụng đầy hình thức, rất dễ giới thiệu người quen, người nhà
vào làm, và buổi phỏng vấn tuyển dụng thường chỉ là chiếu lệ cho có, tác dụng
của nó là trao đổi làm rõ thông tin, cà kê mặc cả, làm quen với nhau hơn là có tác
dụng quyết định trong việc chọn người. Tiêu chí chọn người vẫn chủ yếu nằm ở
bằng cấp, tiểu sử công việc, học vị, lý lịch, giới thiệu từ một cá nhân nào đó, chứ
chưa nằm nhiều ở việc phát hiện tài năng, nhìn ra năng lực của đối tượng. Thói
quen này xuất phát từ văn hóa khoa bảng phong kiến và tư tưởng thực dụng tiểu
nông lâu đời. Giới thiệu người quen vào làm khác với tiến cử hiền tài. Tiến cử
hiền tài là ông giới thiệu người tài đức vào giúp cho lợi ích chung. Giới thiệu
người nhà, người quen là ông giới thiệu người có lợi cho ông, vì lợi ích riêng của
ông. Một cái vì lợi ích tập thể (giới thiệu vì đây là một người có tài có đức, sẽ
đóng góp có hiệu quả cho việc chung), một cái vì lợi ích cá nhân (phát triển quan
hệ với người ông giúp, xây dựng ơn nghĩa ân tình với người đó, hoặc để nhận
được những lợi ích từ người ông giới thiệu, trong khi người đó đức tài đều tầm
thường, như vậy là ông vì lợi ích riêng chứ không vì lợi ích chung).
Tiến cử nhân tài thì nên, nhưng giới thiệu người nhà, người quen thì phải bỏ.
Đồng thời nên bỏ cơ chế xin cho và thay vào bằng một cơ chế tuyển dụng khoa
học, văn minh, hiện đại, hợp tình lý, phù hợp với tiêu chí "công bằng", người tài
đức phải được sử dụng xứng tầm với tài đức của họ. Cơ chế xin cho sẽ đưa đến
những trường hợp "ngồi mát ăn bát vàng", không có tiêu chí rõ ràng minh bạch ai
được ai không, người giỏi việc này làm phải việc kia, người tài đức không được

trọng dụng, kẻ bất tài thì lại được giao cho trọng trách…
2. Đa số các công ty nhà nước ở Việt Nam thường ít chủ động trong việc tìm
người tài, mà cứ "nằm chờ sung rụng" chờ người ta tới làm đơn xin việc, chờ trên
quy hoạch cán bộ cử người tới trợ giúp. Kể các các công ty tư nhân nhiều nơi
cũng kém chủ động tìm người mà toàn là ngồi một chỗ chờ người khác tới kiếm
mình, ngồi trong văn phòng máy lạnh đọc những đơn đăng ký xin việc.
*Một số giải pháp về vấn đề sử dụng nhân lực hiện nay
- Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, chúng ta rất cần đội ngũ
những người giỏi về quản lý, có nghề, thạo việc, chuyên sâu. Việc mở trường lớp
dạy học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, chuyên môn, thợ giỏi là việc làm bắt
buộc, thường xuyên và là nhân tố đầu tiên để có lớp thầy giỏi, thợ giỏi. Các nước
11
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
tiên tiến có trình độ khoa học kỹ thuật cao đi trước chúng ta vài chục năm kinh
nghiệm cũng đào tạo theo quy chuẩn trường lớp: Thầy dạy, trò học. Vấn đề là dạy
như thế nào? Học như thế nào? Nhưng ta còn khác họ ở chỗ đó.
Nói về nhân lực, là bàn chuyện đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng con người. Đây là các
khâu khép kín trong quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện, làm việc, cống hiến
của mỗi người lao động trong xã hội. Vì thế mối quan hệ tương tác giữa chủ thể,
khách thể ở mỗi khâu (như nhà trường, ngành giáo dục - đào tạo; cơ quan, đơn vị,
địa phương và người quản lý sử dụng lao động, chủ doanh nghiệp; hệ thống tổ
chức cán bộ, cơ quan chủ quản ) có tác động rất lớn đến khâu đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng lao động.
- Trong hệ thống giáo dục - đào tạo, các cấp học, ngành học phải thực hiện
thật tốt 3 nhiệm vụ: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đây
là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, mang tính chiến lược phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước mà sứ mạng này giao cho toàn hệ thống chính
trị và cả xã hội cùng làm, chứ không thể là công việc riêng của ngành giáo dục -
đào tạo. Vì vậy, giáo dục là sự nghiệp của toàn dân. Cả nước, cả dân tộc chung
tay, chung sức nâng cao dân trí, mở mang trí tuệ qua các hệ thống đào tạo, bồi

dưỡng, xây dựng xã hội học tập.
- Đào tạo gắn với bồi dưỡng; đào tạo rồi phải có chương trình đào tạo bổ sung,
đào tạo lại để luôn làm mới kiến thức cho nhân lực. Học tập cũng vậy. Học
trường lớp, học xã hội, học gắn với hành, học trong quá trình lao động sản xuất,
chiến đấu và phục vụ chiến đấu để không ngừng làm mới cho kiến thức cá nhân.
Đâu phải ai cũng có điều kiện được học tập chính quy từ ghế nhà trường; các loại
hình đào tạo, bồi dưỡng rất phong phú là cơ hội, là môi trường rộng mở để học
tập, trau dồi kiến thức nghề nghiệp; học thầy, học bạn rất quan trọng, kể cả tự học.
- Xã hội hóa học tập, xây dựng xã hội học tập chính là tạo môi trường, là mảnh
đất màu mỡ để phát triển sự nghiệp giáo dục toàn dân. Vì thế, chúng ta rất cần
phải xác định thật chuẩn phương hướng, nhiệm vụ, quy mô đào tạo các loại hình
lao động để cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo tiền đề phát
triển kinh tế tri thức phục vụ sự nghiệp cách mạng thời kỳ mới.
- Việc sử dụng lao động cũng là vấn đề bức xúc xã hội. Lớp trẻ không khỏi
toan tính học gì? Học ngành nghề gì? Nhưng khó khăn vất vả bội phần là học
xong sẽ được làm gì? Làm ở đâu? Cũng không thể trách cứ thanh niên thời nay là
thực dụng, bởi "cơm áo không đùa với khách thơ", "Có thực mới vực được đạo".
Mỗi người phải biết tự nuôi sống mình và gia đình thì mới tồn tại và phục vụ xã
hội! Câu nói "Dụng nhân như dụng mộc" chính là ở chỗ này. Chất lượng nguồn
12
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
nhân lực có được khai thức đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng để "gỗ nào vào
việc ấy", mọi người mới phát huy hết sở trường, sở đoản phục vụ xã hội.
13
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
KẾT LUẬN
Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ta, trải qua bao nhiêu thăng trầm,
trước mọi cuộc xâm lăng với những tên đế quốc sừng sỏ nhất vẫn trường tồn và
phát triển cho đến ngày nay là do nhiều yếu tố, trong đó không thể không đề cập
đến chính sách sử dụng và trọng dụng nhân tài của người xưa.

Ngày nay trong xu thế hội nhập và phân công lao động ngày càng sâu sắc và toàn
diện giữa nước ta với phần còn lại của thế giới, trong môi trường cạnh tranh ngày
càng gay gắt, thì việc sử dụng và trọng dụng nhân tài không hề giảm đi ý nghĩa
của nó mà ngược lại, nó mang tầm vóc mới là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh,
đưa nước ta đuổi kịp các nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực và thế giới.
Để sớm đưa nước ta thoát khỏi các nước kém phát triển và trở thành một nước
phát triển như đã đề cập ở trên, sánh vai với các cường quốc năm châu, như mong
muốn của các bậc tiền bối, việc sử dụng và trọng dụng nhân tài ngày nay trở
thành một yêu cầu bức xúc, toàn diện, cách mạng và triệt để.
" Dụng nhân như dụng mộc" với hàm ý không có người nào là vô dụng, chỉ cần
xử dụng đúng người đúng việc thì sẽ phát huy hiệu quả con người đó. Câu châm
ngôn trên từ ngày xưa cho tới nay vẫn còn giữ nguyên giá trị và là bài học sâu sắc
mà cha ông đã để lại.
14
Nguyễn Thị Bích Hạnh Tiểu luận triết học
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại Việt sử ký toàn thư
(Tập III - NXB Khoa học Xã hội - Hà Nội 1972 - trang 72-73)
1. Website: http:// giaoduc.net
2. Hanoimoi.com
3. Bachkhoatrithuc.vn
5. “Giáo trình triết học” – NXB chính trị hành chính
15

×