Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

SKKN Rèn kỹ năng đọc cho HS lớp 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (322.19 KB, 30 trang )

PHềNG GD- T HUYệN ĐạI Từ
TRNG TIU HC TH TRN QUÂN CHU


SNG KIN KINH NGHIM
MT S BIN PHP LUYN C NG
CHO
HC SINH LP 1 TRONG CC TIT TP
C
HOàNG THị TƯởNG

Quân Chu
Tháng 4 nm 2010.
TÊN ĐỀ TÀI: "MỘT SỐ BIỆN PHÁP LUYỆN ĐỌC ĐÚNG CHO
HỌC SINH LỚP 1 TRONG CÁC TIẾT TẬP ĐỌC"
Mở đầu
  
I-/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ, là sự nhận thức về thế giới cuộc
sống con người và xã hội. Tác phẩm văn học dùng phương tiện ngôn từ để sáng
tạo nên những hình tượng về cuộc sống con người, quê hương, xử sở và đem lại
cho người đọc những rung cảm thực sự trong sáng. Trong nhà trường tiểu học ở Việt
Nam đã coi Tiếng Việt là một môn học trung tâm, làm nền móng các môn học khác.
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng đó là
hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học sinh. Tập đọc là một phân
môn của chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học. Đây là phân môn có vị trí đặc
biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng
đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc tiểu học đầu tiên. Kỹ
năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý
thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu)
và đọc diễn cảm. Khi học sinh đọc tốt, viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các


môn học khác một cách chắc chắn. Từ đó học sinh mới hoàn thành được năng
lực giao tiếp của mình. Những kỹ năng này không phải tự nhiên mà có. Nhà
trường phải từng bước hình thành và trường tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch
đầu tiên. Nên việc dạy học phải có định hướng, có kế hoạch từ lớp 1 đến lớp 5.
Đặc biệt đối với học sinh lớp 1 - Lớp đầu cấp - việc dạy đọc cho các em
thật vô cùng quan trọng bởi các em có đọc tốt được ở lớp 1 thì khi học các lớp
tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao hơn của môn Tiếng Việt.
Việc dạy đọc ở lớp 1 cũng quan trọng bởi từ chỗ các em còn phải đọc đánh vần
từng tiếng đến việc đọc thông thạo được một văn bản là việc tương đối khó với
các em mà mục tiêu của giờ dạy Tiếng Việt là phải hướng đến giáo dục học sinh
yêu tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp
của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung. Thế
- 2 -
nhưng hiện nay, ở trường tiểu học, mặt âm thanh của ngôn ngữ, đặc biệt ngữ
điệu chưa được chú ý đúng mức. Đó là một trong những lý do cho học sinh của
chúng ta đọc và nói chưa tốt. Đó cũng là ý do khiến cho trong nhiều trường hợp,
học sinh không hiểu đúng văn bản được đọc.
Cũng như nhiều giáo viên lớp 1 khác, tôi suy nghĩ rất nhiều về cách dạy
tập đọc ở lớp 1. Đặc biệt là rèn cho học sinh không những chỉ đọc thông được
văn bản mà còn phải đọc đúng văn bản được đọc. Vấn đề đặt ra là làm thế nào
để giúp các em đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng trong từ, trong câu, đọc đúng ngữ
điệu, biết cách ngắt nghỉ hơn trong văn bản thơ, cũng như văn bản văn xuôi.
Những băn khoăn này chính là lý do tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp luyện
đọc đúng cho học sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
II-/ MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Tập đọc là phân môn thực hành vì vậy nhiệm vụ của nó là hình thành kỹ
năng đọc cho học sinh. Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh.
Dạy đọc giáo dục lòng ham đọc sách cho học sinh giúp cho các em thấy được
đây chính là con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ phát
triển. Tập đọc góp phần làm giàu vốn kiến thức ngôn ngữ, bồi dưỡng cho học

sinh lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các cách tư duy có hình ảnh.
Đặc điểm của dạy tập đọc lớp 1 chính là ở chỗ :đây là bước chuyển tiếp
từ dạy “học vần” sang dạy “tập đọc” (ở lớp 2). Giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả
phương pháp học vần, cả phương pháp tập đọc. Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là
củng cố hệ thống âm vần đã đọc (nhất là các vần khó) đọc đúng tiếng, liền tiếng
trong từ, trong câu, đoạn, bài. Bước đầu biết cách ngắt hơi ở các dấu câu, biết
lên giọng và hạ giọng. Để làm tốt được những nhiệm vụ nêu trên, đề tài của tôi
mục đích đưa ra một số biện pháp để giúp học sinh đọc thông được văn bản và
đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói riêng nhằm nâng cao chất
lượng của 1 giờ dạy tập đọc ở lớp 1.
III-/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng dạy đọc của lớp 1 ở trường tiểu học
hiện nay nói chung và HS ở trường Tiểu học Thị trấn qu©n chu nói riêng.
IV-/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau :
- Phương pháp thu nhận tài liệu;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế;
- Dạy thực nghiệm;
- Trao đổi, toạ đàm với đồng nghiệp.
- 3 -

Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
I-/ VỊ TRÍ, NHIỆM VỤ CỦA DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC
1. Vị trí của dạy đọc ở tiểu học
a. Khái niệm đọc:
Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện
bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết

sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng),
là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không
có âm thanh (ứng với đọc thầm).
Đọc không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm 2 phần chữ viết và phát
âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng như
các ký hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông
hiểu những gì được đọc. Trên thực tế, nhiều khi người ta đã không hiểu khái
niệm “đọc” một cách đầy đủ. Nhiều chỗ người ta chỉ nói đến đọc như nói đến
việc sử dụng bộ mã chữ âm còn việc chuyển từ âm sang nghĩa đã không được
chú ý đúng mức.
b. Ý nghĩa của việc đọc
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, tư
tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn
đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp
thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có
hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc, con người
đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây anh ta biết tìm hiểu, đánh giá
cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy. Biết đọc con
người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp
được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng tình cảm của
người khác, đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ
được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ
tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động sức mạnh sáng tạo cũng như được
bồi dưỡng tâm hồn không biết đọc con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ
sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được một nhân cách
- 4 -
toàn diện. Đặc biệt trong thời đại bủng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan
trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học, học
nữa học mãi, đọc để tự học, học cả đời. Vì những lý lẽ trên dạy đọc có ý nghĩa
to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi

học. Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc giúp trẻ em
chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ
để học tập các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Nó tạo
điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là một
khả năng không thể thiếu được của con người văn minh.
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ
cũng như tư duy của người đọc, việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi
dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một
cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh. Như vậy đọc có một ý nghĩa to lớn
còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
2. Nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học
Những điều vừa nêu trên khẳng định sự cần thiết của việc hình thành và
phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh. Tập
đọc với tư cách là một phân môn của Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng
yêu cầu này – hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.
Phân môn học vần cũng thực hiện nhiệm vụ dạy đọc nhưng mới dạy đọc
ở mức độ sơ bộ nhằm giúp học sinh sử dụng bộ mã chữ âm. Việc thông hiểu văn
bản chỉ đặt ra ở mức độ thấp và chưa có hình thức chuyển thẳng từ chữ sang
nghĩa (đọc thầm). Như vậy, tập đọc với tư cách là một phân môn tiếng Việt tiếp
tục những thành tựu dạy học mà học cần đạt được, nâng lên một mức đầy đủ
hoàn chỉnh hơn.
Tập đọc là một phân môn thực hành nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ
năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc
lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình
đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này được hình thành
trong 2 hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng
thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác
động tích cực đến những kỹ năng khác. Ví dụ, đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh
cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngược lại, nếu không hiểu

điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm được. Nhiều khi khó
mà nói được rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng mà
- 5 -
hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc được đúng. Vì vậy, trong dạy đọc
không thể xem nhẹ yếu tố nào.
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành
thói quen làm việc với văn bản, với sách cho học sinh. Nói cách khác thông qua
việc dạy đọc phải giúp học sinh thích đọc và thấy được rằng khả năng đọc là có lợi
ích cho các em trong cả cuộc đời, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những
con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.
Ngoài ra việc đọc còn có những nhiệm vụ khác đó là làm giàu kiến thức
về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn hoá cho học sinh, phát triển ngôn ngữ và
tư duy, giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ cho các em.
II-/ NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC
1. Cơ sở tâm lý, sinh lý của việc dạy đọc
Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình đọc,
nắm bản chất của kỹ năng đọc. Đặc điểm tâm lý sinh lý của học sinh khi đọc hay
cơ chế của đọc là cơ sở của việc dạy học.
Như trên đã nói, đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc
tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào các hoạt động của cơ quan thị giác.
Chúng ta đi vào phân tích đặc điểm của quá trình này.
- Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với
nhau, là việc sử dụng bộ mã gồm hai phương diện. Một mặt đó là quá trình vận
động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành nhưng
dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Thứ hai đó là sự vận động của tư tưởng,
tình cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý
tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung
những gì được đọc.
- Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt hoạt động của các
cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc. Càng

ngày những yếu tố này càng gần nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn.
Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp
giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân tích biết người
mới biết đọc và người đọc thành thạo. Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao
nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác, càng biểu cảm bấy nhiêu.
- Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ "đọc" được sử dụng trong nhiều
nghĩa : theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc
(tức là việc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh), theo nghĩa rộng,
- 6 -

đọc được hiểu là kỹ thuật đọc của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài). ý nghĩa
hai mặt của thuật ngữ đọc được ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phương
pháp dạy học. Từ đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai - đọc được xem
như là một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố:
1. Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ
2. Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ
theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc thành từng tiếng tuỳ thuộc vào trình độ
nắm kỹ thuật đọc.
3. Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài) kỹ năng đọc là
một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện lâu dài. chia việc hình thành
kỹ năng này ra làm 3 giai đoạn : phân tích tổng hợp (còn gọi là giai đoạn phát
sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn tự động
hoá. Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng theo
các âm. Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó có sự tiếp
nhận từ bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa. Tiếp
theo sự thông hiểu ý nghĩa của "từ" trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm,
tức là đọc được thực hiện trong sự đoán các nghĩa. Bước sang lớp 2, lớp 3 học
sinh bắt đầu đọc tổng hợp. Trong những năm học cuối cấp, đọc càng ngày càng
tự động hoá, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến chính quá trình đọc
mà chú ý nhiều đến việc chiếm lĩnh văn hoá (bài khoá), nội dung của sự kiện,

cấu trúc chủ đề, các phương tiện biểu đạt của nó. Thời gian gần đây, người ra đã
chú trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kỹ
năng đọc và hình thành kỹ năng làm việc với văn bản. Nghĩa là đòi hỏi giáo viên
tổ chức giờ học đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đồng thời
hướng dẫn đọc có ý thức bài đọc. Việc đọc như thế nhằm vào sự nhận thức. Chỉ
xem là đứa trẻ biêt đọc khi nó đọc mà hiểu trương điều mình đọc. Đọc là hiểu
nghĩa chữ viết. Nếu trẻ không hiểu được những từ ta đưa cho chúng đọc, chúng
sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thành công. Do đó hiểu
những gì được đọc sẽ tạo ra động cơ, hứng thú cho việc đọc.
Để có giờ tập đọc đạt kết quả tốt người giáo viên phải nắm được đặc điểm
tâm sinh lý của học sinh mình nắm được đặc điểm yêu cầu, bản chất kỹ năng cơ
chế mục đích cần đạt được của tiết dạy tập đọc. Trên cơ sở đó sử dụng phương
pháp cho phù hợp.
2. Cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc
Phương pháp dạy tập đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học.
Nó liên quan mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính
âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học), vấn đề nghĩa của từ, của
- 7 -

câu, đoạn, bài (thuộc từ vựng học, ngữ nghĩa học), vấn đề dấu câu, các kiểu
câu… Phương pháp dạy học tập đọc phải dựa trên những kết quả nghiên cứu của
ngôn ngữ học, việt ngữ học về những vấn đề nói trên để xây dựng, xác lập nội
dung và phương pháp dạy học. Bốn phẩm chất của đọc không thể tách rời những
cơ sở ngôn ngữ học. Không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc dạy học
sẽ mang tính tuỳ tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy học.
a. Vấn đề chính âm trong tiếng Việt
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ có giá trị và hiệu quả
về mặt xã hội. Vấn đề chuẩn mực phát âm tiếng Việt đang là vấn đề thời sự, có
nhiều ý kiến khác nhau. Nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau như chuẩn
hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mục đích của việc xây dựng

chính âm.
b. Vấn đề ngữ điệu của Tiếng Việt
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên
cao hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói. Ngữ điệu là một trong những thành phần
của ngôn điệu. Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo
thành lời nói.
Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng. Ngữ điệu tiếng Việt, như các ngôn
ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng
(cao độ), sự nhấn giọng (cường độ), sự ngừng giọng (trường độ) và sự chuyển
giọng (phối hợp cả trường độ và cường độ).
Ngữ điệu là một hiện tượng phức tạp có thể tách ra thành các yếu tố cơ
bản có quan hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng) trọng âm, âm
điệu, âm nhịp và âm sắc. Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm chủ
những yếu tố này.
c. Cơ sở lý thuyết cơ bản, phong cách học và văn học của dạy
đọc
Việc dạy đọc không thể dựa trên lý thuyết về văn bản những tiêu chuẩn
để phân tích, đánh giá một văn bản (ở đây muốn nói đến những bài đọc ở tiểu
học) nói chung cũng như lý thuyết để phân tích, đánh giá các tác phẩm văn
chương nói riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc hiểu
cho học sinh phải dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá một văn bản tốt: tính
chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm mỹ, dựa trên những đặc điểm vè các kiểu
ngôn ngữ, các phong cách chức năng, các thể loại văn bản, các đặc điểm về loại
thể của tác phẩm văn chương dùng làm ngữ liệu đọc ở tiểu học. Ví dụ, cách đọc
- 8 -
và khai thác để hiểu nội dung một bài thơ, một đoạn tả cảnh, một câu tục ngữ,
một truyền thuyết, một bài sử, một bài có tính chất khoa học thưởng thức… là

khác nhau. Việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa
trên những hiểu biết về đề tài, chủ đề, kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung

và hình thức, các biện pháp thể hiện trong tác phẩm văn học, nhằm miêu tả, kể
chuyện và biểu hiện các phương tiện và biện pháp tu từ…. Việc luyện đọc cho
học sinh phải dựa trên những hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ văn học, tính hình
tượng, tính tổ chức cao và tính hàm súc, đa nghĩa của nó. Tất cả những vấn đề
trên đều thuộc phạm vi nghiên cứu của lý thuyết văn học. Vì vậy ta dễ dàng
nhận thấy phương pháp dạy tập đọc không thể không dựa trên những thành tựu
nghiên cứu của lý thuyết văn bản nói chung và nghiên cứu văn học nói riêng.
III-/ TỔ CHỨC DẠY ĐỌC THÀNH TIẾNG Ở TIỂU HỌC
1. Chuẩn bị cho việc đọc
Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi ngồi đọc cần
phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30-35
cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Ở lớp, khi được cô
giáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay.
Trước khi nói về việc rèn đọc đúng, cần nói về tiêu chí cường độ và tư
thế khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng. Trong hoạt động giao tiếp, khi
đọc thành tiếng, người đọc một lúc đóng hai vai: một vai - và mặt này thường
được nhấn mạnh - là người tiếp nhận thông tin bằng chữ viết; vai thứ hai là
người trung gian để truyền thông tin đưa văn bản viết đến người nghe. Khi giữ
vai thứ hai này, người đọc đã thực hiện việc tái văn bản. Vì vậy, khi đọc thành
tiếng, người đọc có thể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cho cả hai. Đọc
cùng với phát biểu trong lớp là hai hình thức giao tiếp trước đám đông đầu tiên
của trẻ em nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành
công, tạo cho các em sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng, các em phải tính
đến người nghe. Giáo viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ
cho mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn để cho
tất cả những người này nghe rõ. Nhưng như thế không có nghĩa là đọc quá to
hoặc gào lên. Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ "lí nhí", giáo viên cần tập cho
các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên
nên cho học sinh đứng trên bảng để đối diện với những người nghe. Tư thế đứng
đọc phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng

hai tay.Giáo viên làm mẫu, đây là đối tượng HS vùng nông thôn , GV cần nắm
bắt sự khéo léo , tâm lý của HS, giúp HS mạnh dạn, tự tin trong lúc đọc.
2. Luyện đọc đúng
- 9 -
a. Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác,
không có lỗi. Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc
đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là
không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm việc đọc
đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu).
b. Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị
tiếng Việt.Với HS ở Thị Trấn Cửa Việt cần rèn đọc đúng các yếu tố sau:
- Đọc đúng các phụ âm đầu: Ví dụ: có ý thức phân biệt để không đọc:
“dảy dây”, “khoẻ khắn” mà phải đọc là “nhảy dây” ,“khỏe khoắn”, chú ý phân
biệt giữa âm d và âm nh., âm x và âm s như : “chim sẻ” thành “chim xẻ”.v.v…
- Đọc đúng các âm chính: Ví dụ: có ý thức phân biệt để không đọc “iu
tin, quả lịu” mà phải đọc “ưu tiên, quả lựu”.
- Đọc đúng các âm cuối: Ví dụ: có ý thức không đọc: “luông luông” mà
phải đọc “luôn luôn”.
- Đọc đúng bao gồm cả đọc tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điều câu. Ngữ
điệu là hiện tượng phức tạp, có thể tách ra thành các yếu tố cơ bản có quan hệ
với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng), trọng âm, âm điệu, âm nhịp
và âm sắc. Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy cho học sinh làm chủ những yếu tố này.
Đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói riêng vừa là mục đích của dạy
đọc thành tiếng, vừa là phương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung bài đọc.
Khi dạy đọc đúng giáo viên cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ
pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc không được tách một từ ra
làm hai. Ví dụ không ngắt hơi.
“Con/ cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành/ mềm lộn/ cổ xuống ao”
- Ông già bẻ gãy từng chiếc đũa một / cách dễ dàng. Không tách giới từ

với danh từ đi sau nó.
Thí dụ không đọc:
“Như con chim chích
Nhảy trên / đường vàng”
Không tách động từ, hệ từ “là” với danh từ đi sau nó.
Thí dụ: không đọc
Cá heo là / tay bơi giỏi nhất của biển
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu
hơn ở dấu chấm, đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng
ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu
- 10 -
cảm. Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ giọng khi đọc bộ
phận giải thích của câu.
Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.
3. Luyện đọc nhanh
a) Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) là nói đến phẩm chất đọc
về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a, ngắc ngứ. Vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau
khi đã đọc đúng.
Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn (nhiệm vụ này phần dạy đọc
của phân môn học vần phải đảm nhận), đọc không ê a, ngắc ngứ, không vừa đọc
vừa đánh vần. Về sau tốc độ đọc phải đi song song với việc tiếp nhận có ý thức
bài đọc. Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ đọc
nhanh nhưng để cho người nghe hiểu kịp được. Vì vậy, đọc nhanh không phải là
đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng
trùng với tốc độ của lời nói. Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn nhiều.
b) Biện pháp luyện đọc nhanh
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu
để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn,
bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc. Ngoài ra, còn có
biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của thầy, của bạn để

điều chỉnh tốc độ. Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng
cho trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định tốc như thế nào còn phụ
thuộc vào độ khó của bài đọc.
IV-/ MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC Ở LỚP 1
- Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có tác dụng hình thành phát triển
ngôn ngữ cho học sinh. Tiếng Việt gồm nhiều phân môn: Tập đọc, từ ngữ, ngữ
pháp, chính tả, tập làm văn. Phân môn tập đọc có vị trí quan trọng. Dạy tốt phân
môn này đáp ứng một trong 4 kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Kỹ năng đọc nhanh,
chính xác, rõ ràng, rành mạch và diễn cảm nhờ đó học sinh có những hiểu biết
văn học ngôn ngữ và ngược lại. Vì vậy đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là
quá trình có liên quan mật thiết với nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh
được những tri thức văn hoá của dân tộc và cũng từ đó giáo dục tình cảm đạo
đức cao đẹp cho học sinh, đồng thời phát huy tính sáng tạo, khả năng tư duy cho
các em.
Đối với học sinh lớp 1, các em bắt đầu chuyển từ giai đoạn học vần sang
tập đọc vì vậy giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả phương pháp học vần, cả phương
pháp tập đọc. Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là củng cố hệ thống âm vần đã học
(nhất là các vần khó), đọc đúng và trơn tiếng, đọc liền từ, đọc cụm từ và câu: tập
- 11 -
ngắt nghỉ (hơi) đúng chỗ trong câu. Hiểu các từ thông thường, hiểu được ý diễn
đạt đã đọc (độ dài câu khoảng 10 tiếng). Bên cạnh nhiệm vụ ôn vần cũ, học vần
mới học sinh còn được phát triển vốn từ, tập nói câu đơn giản.
V-/ VÀI NÉT VỀ PHÂN MÔN TẬP ĐỌC Ở LỚP 1
- Cấu trúc chung: Phân môn tập đọc gồm 42 bài được bắt đầu từ tuần 5 của
học kỳ II (có 14 tuần dạy tập đọc, mỗi tuần có 3 bài, mỗi bài dạy trong 2 tiết).
- Nội dung: Các bài tập đọc xoay quanh 3 chủ đề: Nhà trường, gia đình,
thiên nhiên đất nước.
- Bài tập đọc lớp 1 gồm có các phần:
+ Văn bản đọc
+ Những từ khó cần lưu ý

+ Các câu hỏi (bài tập) để ôn luyện âm, vần
+ Luyện nói: nói về một vấn đề hoặc nhìn tranh để diễn đạt.
VI-/ NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH RÈN ĐỌC
- Quá trình tìm hiểu thực tế, nhìn chung mỗi giờ tập đọc đều có 2 phần
lớn tìm hiểu nội dung bài và luyện đọc, hai phần này có thể tiến hành cùng một
lúc, đan xen vào nhau, cũng có thể tách rời nhau tuỳ từng bài và từng giáo viên.
Song dù dạy theo cách nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ tương hỗ,
khăng khít. Phần tìm hiểu bài giúp học sinh tìm hiểu kỹ nội dung nghệ thuật của
từng bài, từ đó học sinh đọc đúng, diễn cảm tốt. Ngược lại đọc diễn cảm để thể
hiện nội dung bài, thể hiện những hiểu biết của mình xunh quanh bài học.
Như vậy phần luyện đọc có vai trò quan trọng, học sinh đọc tốt sẽ giúp
các em hoàn thành được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của chính bản thân
mình. Đọc tốt giúp các em hiểu biết tiếp thu được văn minh của loài người, bồi
dưỡng tâm hồn tình cảm, phát triển tư duy.
Trong quá trình rèn đọc giáo viên cần rèn luyện một cách linh hoạt các
phương pháp khác nhau để phù hợ với đặc trưng của phân môn và phù hợp với
nội dung của bài dạy. Quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc trước hết giáo viên
phải sử dụng phương pháp làm mẫu. Nghĩa là giáo viên làm mẫu cho học sinh
nghe, yêu cầu giọng đọc của giáo viên phẩi chuẩn, diễn cảm thể hiện đúng nội
dung, ý nghĩa của bài học để học sinh bắt trước đọc theo. Sau đó giáo viên phải
kết hợp phương pháp luyện đọc theo mẫu, luyện đọc đúng, đọc chính xác các
phụ âm đầu, âm chính, âm cuối, dấu thanh. Đọc đúng tiết tấu, ngắt hơi nghỉ hơi
- 12 -
đúng chỗ, đúng ngữ điệu câu. Từ đó hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm để biểu đạt
đúng ý nghĩa và tình cảm mà tác giả mong muốn và gửi gắm trong bài tập đọc.
- Trong quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc, giáo viên cần đổi mới
phương pháp giảng dạy, luôn lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ là người
hướng dẫn tổ chức, học sinh tự tìm hiểu, tự phát hiện và luyện đọc đạt kết quả tốt.
- Ngoài ra để phần rèn đọc đạt kết quả tốt thì cần phải có các yếu tố khác
như cơ sở vật chất đầy đủ, đồ dùng học tập. Bên cạnh đó giáo viên phải luôn

tích cực tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ năng lực. Nếu phối hợp các
yếu tố trên sẽ giúp học sinh đọc đúng, diễn cảm tốt. Từ đó thể hiện được nội
dung của bài học, thấy được cái hay, cái đẹp của cuộc sống qua từng bài học.
- Bên cạnh các yếu tố trên trong giảng dạy phân môn tập đọc giáo viên
còn phải chú ý đến một số nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc thực hành). Chúng ta ai cũng
biết trẻ em không thể lĩnh hội được lời nói nếu chúng không nắm được lời
miệng. Do vậy khi giảng dạy cần phải bảo đảm nguyên tắc này. Điều này được
thể hiện rõ hơn ở phần luyện đọc, ở phần này học sinh được rèn luyện về cách
phát âm, cách nghĩ hơi đúng chỗ, cách đọc đúng ngữ điệu.
+ Để giờ tập đọc đạt kết quả cao thì phải bảo đảm nguyên tắc phát triển tư
duy, phát huy tính tích cực, chủ đạo của học sinh. Do vậy phần luyện đọc giáo
viên cần gọi mở, hướng dẫn học sinh tự phát hiện những chỗ cần ngắt giọng hạ, hạ
giọng ở những câu thơ, những câu văn trong bài từ đó tìm ra cách đọc hay hơn.
Như vậy để học sinh đọc tốt môn tập đọc đặc biệt là vấn đề rèn đọc đúng
cho học sinh lớp 1 chúng ta cần đảm bảo tốt các phương pháp và nguyên tắc
trên.
- 13 -
Chương II
THỰC TRẠNG DẠY HỌC
Qua nhiều năm giảng dạy ở trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt và trao
đổi với đồng nghiệp tôi đã có những nhận xét chung về thực trạng dạy học như
sau:
I-/ TÌNH HÌNH GIẢNG DẠY CỦA GIÁO VIÊN
1. Quan điểm của giáo viên về giờ tập đọc
Nhìn chung giáo viên tiểu học đều rất coi trọng giờ tập đọc. Giáo viên ở
các lớp đầu cấp cho rằng phần luyện đọc từ, đọc câu là quan trọng hơn còn ở các
lớp cuối cấp thì cho rằng phần luyện đọc và phần tìm hiểu bài quan trong như
nhau. Nhưng nhìn chung 70% giáo viên khẳng định việc luyện đọc quan trọng
hơn còn về thời gian phân bố trong giờ luyện đọc thì 80% số giáo viên cho rằng

thời gian luyện đọc là nhiều hơn còn 20% cho rằng thời gian của 2 phần này như
nhau. Được dự các tiết tập đọc chuyên đề của cụm nói chung và của trường
nói riêng, tôi nhận thấy phần lớn giáo viên đều chú ý sửa lỗi phát âm cho học
sinh, song do thời gian bị hạn chế nên việc sửa lỗi do chỉ được thực hiện lướt
qua khi luyện đọc từ hoặc câu giáo viên thường chỉ cho học sinh luyện những từ
và câu mà sách giáo khoa yêu cầu chứ chưa chọn lọc ra những từ hoặc câu mà
học sinh của mình hay nhầm lẫn.
2. Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong phần rèn đọc
Hiện nay ở tiểu học, về vấn đề rèn đọc cho học sinh, giáo viên sử dụng
phương pháp dạy học cụ thể là: phương pháp làm mẫu, phương pháp luyện đọc
theo mẫu, phương pháp luyện tập củng cố, phương pháp hỏi đáp (đặt câu hỏi để
học sinh tự tìm và phát hiện từ khó, cách ngắt nhịp câu dài…) và phương pháp
đóng vai (đối với văn kể chuyện).
* Thực trạng phần rèn đọc ở lớp 1
Qua giảng dạy , tìm hiểu và dự giờ ở lớp 1 tôi thấy hiện nay nhìn chung
giờ tập đọc được tiến hành theo trình tự sau:
Tiết 1:
1. Kiểm tra bài cũ
Học sinh đọc lại bài của tiết trước và trả lời một số câu hỏi ứng với nội
dung bài học.
2. Bài mới:
- 14 -
a. Giới thiệu bài:
- Giáo viên chép sẵn bài đọc lên bảng lớp
- Giáo viên đọc mẫu, học sinh theo dõi
b. Hướng dẫn học sinh luyện đọc
* Luyện đọc tiếng, từ
Giáo viên kể chân những tiếng từ mà SKG yêu cầu → cá nhân học sinh đọc
* Luyện đọc câu
Giáo viên đưa ra những câu thơ, văn ngắt nhịp, ngắt giọng sẵn và đọc

mẫu sau đó học sinh đọc theo cô. Khi cá nhân học sinh đọc các em khác nghe và
nhận xét bạn.
* Luyện đọc đoạn
Giáo viên nêu bài đọc chia thành……đoạn… sau đó cho học sinh đọc
nối tiếp đoạn cho đến hết bài.
* Luyện đọc cả bài:
Cá nhân học sinh đọc → các em khác nhận xét
3. Ôn vần:
- Dựa vào các câu hỏi và bài tập của SGK.
+ Tìm tiếng có chứa vần cần ôn
+ Nói câu chứa tiếng có vần cần ôn
4. Củng cố: Ghép từ thành câu
Tiết 2
5. Tìm hiểu bài và luyện nói
a. Tìm hiểu bài
- Học sinh đọc trong SGK
+ Cá nhân học sinh đọc từng đoạn và giáo viên nêu câu hỏi ứng với nội
dung của từng đoạn để học sinh trả lời.
+ Giáo viên giảng giải thêm về nội dung, kết hợp giải nghĩa từ.
b. Luyện đọc (mức độ đọc hay)
- Giáo viên nêu cách đọc hay: giọng đọc, nhấn giọng, ngắt giọng
- Giáo viên đọc mẫu lần 2
- 15 -
- Học sinh đọc (cá nhân → đồng thanh)
c. Luyện nói
- Học sinh nhìn vào tranh hoặc ảnh của SGK để luyện nói về những chủ
đề mà bài đọc yêu cầu.
6. Củng cố – dặn dò
Dặn dò học sinh đọc lại bài nhiều lần và chuẩn bị bài sau
Sau một thời gian tiến hành tìm hiểu điều tra thực trạng, tôi rút ra một số

kết luận sau:
* Giờ tập đọc có vị trí quan trọng ở tiểu học.
* Giáo viên nhận thức được ý nghĩa của việc tập đọc và nhiệm vụ chính
của dạy đọc.
* Trong giờ tập đọc giáo viên còn làm mẫu nhiều mà chưa để các em tự
phát hiện ra cách đọc.
* Trong giờ tập đọc nhất là khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú ý
đến học sinh yếu vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian, làm
giảm tiến độ của tiết dạy.
3. Đối với học sinh
Qua nhiều năm dạy học, tôi nhận thấy ở tiểu học các em thường coi nhẹ
môn tập đọc vì các em cho rằng môn tập đọc là môn dễ không phải suy nghĩ như
môn toán mà chỉ cần đọc trôi chảy, lưu loát là được. Các em cũng chưa để ý đến
việc đọc của mình như thế nào. Một số ít học sinh phát âm sai do thói quen đã
có từ trước hoặc do tiếng địa phương. Khi đọc các em còn hay mắc lỗi ngắt
giọng, các em còn ngắt giọng để lấy hơi một cách tuỳ tiện (còn gọi là ngắt giọng
sinh lý). Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng phần lớn các
em chỉ biết bắt chước cô một cách tự nhiên.
- 16 -
Chương III
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Từ việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của việc dạy đọc là
nhận thấy nếu dạy như đại trà hiện nay thì chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu
dạy đọc ở tiểu học. Do vậy dể khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu
điểm hiện có ở thực tế. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp hướng dẫn
học sinh rèn đọc đúng để nâng cao hiệu quả của giờ tập đọc ở lớp 1 nói riêng và
ở tiểu học nói chung. Đó là:
1. Đọc mẫu:
- Bài đọc mẫu của giáo viên chính là cái đích mẫu hình thành kỹ năng đọc
của giáo viên phải đảm bảo chất lượng đọc chuẩn, đọc đúng rõ ràng, trôi chảy và

diễn cảm. Giáo viên yêu cầu lớp ổn định trật tự tạo cho học sinh tâm lý nghe
đọc, hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh đọc thầm theo. Khi đọc giáo viên
đứng ở vị trí bao quát lớp, không đi lại, cầm sách mở rộng, thỉnh thoảng mắt
phải dừng sách nhìn lên học sinh nhưng không để bài đọc bị gián đoạn.
- Đối với học sinh lớp 1 giai đoạn đầu (khoảng 2 → 3 bài đầu) giáo viên
chép bài đọc lên bảng rồi học sinh theo dõi cô đọc ở trên bảng, nhưng ở giai
đoạn sau giáo viên nêu yêu cầu học sinh theo dõi bài ở sách giáo khoa để tạo
cho các em có thói quen làm việc với sách.
2. Hướng dẫn đọc
Sách giáo khoa tập đọc lớp 1 chủ yếu có 2 dạng bài:
- Dạng thơ, chủ yếu là thể thơ 4 – 5 tiếng
- Dạng văn xuôi
Cụ thể là trong 42 bài đọc thì có:
- 23 bài dạng văn xuôi
- 19 bài dạng thơ
Việc hướng dẫn đọc đúng được thể hiện trong tiết 1
a. Luyện đọc từ ngữ
Đối với lớp 1 dù ở bất kỳ dạng bài nào văn xuôi hay thơ thì trước khi
luyện đọc đúng toàn bài bao giờ học sinh cũng được ôn luyện âm vần. Trong
- 17 -
phần này các em ôn luyện vần trên cơ sở luyện đọc những từ khó, hay nhầm lẫn
thêm những từ ngữ khác mà học sinh trong lớp mình hay nhầm lẫn hoặc phát âm
sai để cho các em luyện đọc. Trong thực tế, hàng ngày lên lớp tôi vẫn thực hiện
điều này.
Thí dụ: Bài “Hoa Ngọc Lan”
Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc các từ sau
“ Hoa lan, lá dày, lấp ló”
Khi dạy, dựa vào tình hình đọc của lớp ngoài những từ trên tôi đã tìm
thêm một số từ ngữ khác cần luyện đọc đúng đó là các từ ngữ: “xanh thẫm, nụ
hoa, cánh xoè ra duyên dáng, ngan ngát, toả khắp vườn, khắp nhà…” Sở dĩ tôi đã

lựa chọn thêm những từ ngữ này bởi vì thực tế ở lớp tôi dạy vần còn một số ít em
đọc chưa tốt, các em hay nhầm lẫn vần, phụ âm đầu và dấu thanh. Cụ thể như:
Từ Học sinh đọc nhầm
Xanh thẫm Sân thấm
Nụ hoa Nụ hao
Cánh xoè ra duyên dáng Cánh xèo ra duyên dáng
Ngan ngát Ngan ngác
Toả khắp vườn, khắp nhà Toả khắc vườn, khắc nhà
Giáo viên cũng nên để cho học sinh tự nêu những từ mà các em cảm thấy
khó đọc trong khi phát âm.
Thí dụ: Bài “Chú công”
SGK chỉ yêu cầu luyện đọc từ “nâu gạch, rẻ quạt, rực rỡ, lóng lánh”
nhưng các em học sinh lớp tôi đã nêu ra được 2 từ mà các em cho là khó đọc đó
là: “màu sắc, xoè tròn” vì khi đọc dễ bị lẫn “màu sắc” với “màu xắc”, “xoè
tròn” với “xèo tòn”
Khi cho các em luyện đọc từ ngữ, giáo viên nên kết hợp phân tích tiếng
để giúp học sinh nhớ lại những âm vần đã học. Tuy nhiên chúng ta cần tập trung
gọi những học sinh đọc còn yếu, song để giúp những em này đọc được đúng thì
việc gọi một số em giỏi đọc thật to, thật chính xác là một việc làm không thể
thiếu bởi vì các êm yếu sẽ bắt chước các bạn để đọc và như vậy các em sẽ có ý
thức tự sửa hơn. Sau đó cả lớp sẽ đồng thanh những từ ngữ này. Cần tăng cường
cho các em nhận xét nhau đọc, đúng hay say, nếu sai thì ở đâu, các em có thể tự
- 18 -
sửa lại cho bạn. Nếu học sinh không làm được việc đó, giáo viên phải kịp thời
uốn nắn sửa sai ngay cho các em. Nhất thiết phải có khen chê kịp thời.
- Không chỉ luyện đọc đúng từ trong giờ tập đọc mà trong các tiết tăng
cường Tiếng Việt tôi cũng luôn đưa ra những bài tập phân biệt phụ âm đầu và
vần để giúp các em phát âm tốt hơn.
Thí dụ: Dạng bài tập điền vần hoặc điền phụ âm đầu
+ Bài tập 1: Điền l hay n

….o… ắng , …o…ê , ….í….ẽ , ….áo…ức
+ Bài tập 2: Điền r, d, gi
… ộn….ã , … ập ….ờn , tháng… iêng
+ Bài tập 3: Điền s, x
…ản …uất , …anh….anh , …o….ánh
…ung phong , ….ừng…ững
+ Bài tập 4: Điền vần ăc, ắt hay ăp
m… trời , m… áo , đôi m……
kh……… nơi , th……. nến
+ Bài tập 5: Điền vần anh hay ăn
ch … len , c…… đẹp , c…… nhà
m…. khoẻ , bức tr…….
.v v và còn nhiều bài tập khác dạng như trên. Sau khi học sinh điền xong
giáo viên phải yêu cầu và kiểm tra các emđọc. Nếu các em đọc sai giáo viên
phải kịp thời uốn nắn ngay. Phần luyện đọc từ nếu giáo viên làm tốt, hướng dẫn
học sinh đọc kỹ sẽ giúp cho các em đọc trơn bài đọc tốt hơn.
b. Đọc đúng: dạng thơ
Thơ là tiếng nói của tình cảm, là sự phản ánh con người và thời đại một
cách cao đẹp, thơ rất giàu chất trữ tình. Vì vậy khi đọc thơ cần thể hiện được
tình cảm của tác giả gửi gắm trong từ, từng dòng thơ, nhịp thơ để truyền cảm
xúc đến người nghe. Vì vậy đọc thơ phải đọc đúng dòng thơ, vần thơ, thể thơ để
thể hiện sắc thái, tình cảm. Khi dạy bài tập đọc là thơ thì một công việc không
thể thiếu được đối với giáo viên và học sinh đó là ngắt nhịp câu thơ. Thực tế cho
thấy học sinh mắc lỗi ngắt nhịp là do không tính đến nghĩa chỉ đọc theo áp lực
của nhạc thơ. Học sinh tìm được trong bài có những dấu câu thì ngắt nhịp ra sao.
Do vậy khi dạy những bài đọc thơ ở giai đoạn đầu tôi thường chép lên bảng các
câu thơ cần chú ý ngắt giọng rồi hướng dẫn
- 19 -
Thí dụ: Bài “Tặng Cháu”
Vở này / ta tặng cháu yêu ta

Tỏ chút lòng yêu cháu / gọi là
Mong cháu / ra công mà học tập
Mai sau / cháu giúp nước non nhà
Học sinh sẽ được luyện đọc từng câu rồi đọc nối tiếp nhau cho đến hết
bài. Giáo viên có thể cho các em dùng ký hiệu đánh dấu vào sách để khi đọc
không bị quên.
Đến giai đoạn sau (khoảng từ giữa học kỳ II trở đi) tôi đã để học sinh
nhìn vào sách và nêu cách ngắt giọng của mình ở từng câu thơ (vì những bài thơ
của lớp 1 thường là ngắn nên công việc này cũng không chiếm quá nhiều thời
gian trong tiết dạy). Nếu học sinh nói đúng giáo viên công nhân ngay và cho các
em đánh dấu luôn vào sách. Nếu học sinh nói sai giáo viên sửa lại cho học sinh.
Thí dụ 1: Bài “Mẹ và cô”
Học sinh thường ngắt nhịp như sau:
Buổi sáng / bé chào mẹ
Chạy tới ôm / cổ cô
Buổi chiều / bé / chào cô
Rồi sào / vào lòng mẹ
Mặt trời / mọc / rồi lặn
Trên đôi chân / lon ton
Hai chân trời / của con
Là mẹ / và cô giáo
Tôi đã sửa lại những câu học sinh sai và nêu cho các em thấy tại sao ngắt
nhịp như vậy lại là sai.
Thí dụ: Câu “chạy tới ôm cổ cô” ngắt nhịp như trên là sai vì “ôm cổ cô”là
một cụm từ liền nhau, nếu ngắt giọng ở sau chữ “cổ” thì cụm từ đó sẽ bị tách ra
và nghĩa của nó sẽ không rõ ràng. Hay câu “Buổi chiều bé chào cô” cũng tương
tự tôi đã sửa cách đọc bài thơ trên như sau:
Buổi sáng / bé chào mẹ
Chạy tới / ôm cổ cô
- 20 -

Buồi chiều / bé chào cô
Rồi / sà vào lòng mẹ
Mặt trời mọc / rồi lặn
Trên đôi chân / lon ton
Hai chân trời / của con
Là mẹ / và cô giáo
Thí dụ 2: Bài “Kể cho bé nghe”
Khi đọc học sinh thường ngắt mỗi dòng thơ một lần là do thói quen
nhưng tôi đã sửa lại và hướng dẫn cho các em cách đọc vắt dòng: cuối dòng 1
đọc vắt luôn sang dòng 2, cuối dùng 3 đọc vắt luôn sang dòng 4. Cứ như thế cho
đến hết bài.
Bên cạnh việc rèn đọc đúng trong các giờ tập đọc ở trên lớp thì trong các
tiết tăng cường tiếng Việt tôi cũng thường đưa ra những câu thơ hoặc bài thơ
ngắn để giúp học sinh luyện đọc và ngắt giọng, cũng có thể đó là những câu ứng
dụng hay bài ứng dụng đã có ở phần học vần.
Thí dụ:
“Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”
Hay
“Tiếng dừa làm dịu nắng trưa
Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo
Trời trong đầy tiếng rì rào
Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra”
c. Đọc đúng: dạng văn xuôi
Tương tự như ở thơ, giáo viên cần chú trong rèn cho các em biết ngắt,
nghỉ hơi cho đúng. Cần phải dựa vào nghĩa và các dấu câu để ngắt hơi cho đúng.
Khi đọc không được tách một từ ra làm hai, tức là không ngắt hơi trong một từ.
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu, nghĩ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở
dấu chấm. Đối với những câu văn dài cần hướng dẫn học sinh ngắt hơi cho phù

hợp. Cụ thể tôi cho học sinh tự tìm những câu văn dài đó hoặc do chính giáo
viên đưa ra. Sau đó yêu cầu học sinh xác định cách ngắt giọng, gọi học sinh
- 21 -
nhận xét đúng sai. Đối với học sinh lớp 1 giáo viên cũng chưa nên hỏi nhiều quá
về việc tại sao các em lại ngắt giọng như vậy mà nếu thấy đúng thì giáo viên
công nhận ngay, còn nếu sai thì sửa cho các em và giải thích để các em thấy rõ
hơn. Sau khi xác định ngắt giọng ở mỗi câu văn dài bao giờ giáo viên cũng phải
nhấn mạnh cho các em thấy tầm quan trọng trong việc ngắt, nghỉ đúng ở các câu
văn, đoạn văn. Muốn xác định cách ngắt giọng đúng thì phải dựa vào nghĩa vào
các tiếng, từ, dấu câu.
Thí dụ: Bài “Trường em”
Câu dài trong bài cần hướng dẫn cách ngắt nghỉ hơi là:
“Ở trường / có cô giáo hiền như mẹ / có nhiều bè bạn thân thiết như
anh em /”
Tôi đã chép câu này lên bảng và hướng dẫn cách ngắt hơi như trên (vì
đây là bài đầu tiên trong chương trình tập đọc nên tôi hướng dẫn luôn cách đọc).
Thí dụ 2: Bài “Đầm sen”
Học sinh đã phát hiện ra câu dài trong bài là ngắt giọng như sau:
“Suốt mùa sen / sáng sáng lại có những người ngồi trên thuyền nan / rẽ
lá / hái hoa”
Tôi đã bổ sung thêm cách nghỉ hơi cho các em như sau:
“Suốt mùa sen , / sáng sáng / lại có những người ngồi trên thuyền nan /
rẽ lá / hái hoa //”
Tôi giải thích ta ngắt ở sau từ “sáng sáng” để nhấn mạnh thêm về thời
gian mà con người đi thăm đầm sen.
Đối với những bài có lời thoại, giáo viên phải hướng dẫn kỹ học sinh cách
lên giọng cuối câu hỏi và xuống giọng cuối câu kể (câu trả lời)
Thí dụ 3: Bài “Vì bây giờ mẹ mới về”
Tôi đã hướng dẫn học sinh đọc từng câu thoại của mẹ và của con. Những
câu hỏi của mẹ:

Con làm sao thế ? Đứt khi nào thế ? (đọc lên giọng cuối câu)
Những câu trả lời của cậu bé.
Con bị đứt tay. Lúc nãy ạ ! Vì bây giờ mẹ mới về (đọc xuống giọng ở cuối câu)
Cũng như thơ, sau khi sửa xong lỗi ngắt giọng cho học sinh, giáo viên
phải gọi nhiều em đọc, các học sinh khác nghe và nhận xét bạn đọc.Việc luyện
đọc cho học sinh đọc đúng từ, câu sẽ giúp cho việc đọc đoạn, bài được trôi chảy,
- 22 -
lưu loát hơn và học sinh nắm chắc được cách đọc đúng văn bản được học mà
không phải tình trạng học vẹt.
Để tiết học nhẹ nhàng, không nhàm chán mà lại nhiều em được luyện đọc
thì giáo viên phải tổ chức đọc theo nhiều hình thức khác nhau như đọc cá nhân,
đọc theo nhóm, theo tổ hoặc đồng thanh. Những hình thức này còn giúp giáo
viên kiểm soát được khả năng đọc của toàn thể học sinh trong lớp.
- Luyện đọc diễn cảm sẽ được thể hiện trong tiết 2, trong phạm vi đề tài
này tôi chỉ đề cập đến vấn đề đọc đúng. Vì vậy mà cách hướng dẫn đọc diễn
cảm sẽ không được nêu lên trong đề tài.
d. Luyện đọc củng cố và nâng cao
Để giúp học sinh đọc bài một cách chắc chắn, giáo viên cần dành thời
gian để luyện đọc củng cố và nâng cao. Trong phần này giáo viên cho học sinh
luyện đọc cá nhân – giáo viên cần chú ý tới các em đọc yếu để em đó được tham
gia đọc – giáo viên cần động viên khích lệ kịp thời. Trong quá trình học sinh đọc
giáo viên quan tâm theo dõi, uốn nắn, sửa sai cho các em. Đối với những bài đọc
có lời đối thoại nên cho các em đọc theo lối phân vai. Đối với bài thơ cần cho
các em đọc nhiều. Một tiết học tập đọc chỉ có 35 – 40 phút vì vậy để đảm bảo
thời gian và chất lượng giờ học, học sinh phải đọc trước văn bản ở nhà. Giáo
viên cần có sự chuẩn bị chu đáo, phải đưa ra các tình huống có thể xảy ra khi
hướng dẫn học sinh đọc cho đúng, cho hay. Muốn vậy giáo viên phải luôn trau
dồi kiến thức, luôn thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp với sự phát triển
của xã hội. Trong giờ học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức để học sinh
tự tìm ra kiến thức.

- 23 -
Chương IV
DẠY THỰC NGHIỆM
Tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở khối lớp 1 của mình. Sau đây là
bài tập đọc mà tôi xin trình bày giáo án trong đề tài đó là bài “Sau cơn
mưa” khi dạy hai bài này tôi đã áp dụng những biện pháp nêu trên để rèn
đọc cho học sinh đạt kết quả tốt.
Dưới đây là nội dung giáo án đó
Môn: Tập đọc
Tiết số: 1 Tuần: 32
Lớp 1B Tên bài dạy : Sau c¬n ma
I – Mục tiêu :
Giúp học sinh:
+ Đọc trơn cả bài “Sau cơn mưa”
+ Luyện đọc các từ ngữ “mưa rào, đoá râm bụt, xanh bóng nhởn nhơ,
sáng tựa, quay quanh, giội rửa”
+ ôn vần ây, uây
II - Đồ dùng dạy học :
- Giáo viên : Tranh hoa râm bụt và tranh vẽ như SGK
- Học sinh : Sách giáo khoa
III – Hoạt động dạy học chủ yếu:
T.gian
dự kiến
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
5’ A. Bài cũ : Bài Luỹ tre
+ Đọc khổ thơ 1 của bài và trả lời câu hỏi:
Khổ thơ này tả luỹ tre vào buổi nào? Em thích
hình ảnh nào của luỹ tre vào buổi sớm?
+ Đọc khổ thơ 2 của bài và trả lời câu hỏi:
- Mỗi khổ thơ một học sinh

đọc và trả lời câu hỏi
- 24 -
T.gian
dự kiến
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Khổ thơ tả luỹ tre vào buổi nào? Em thích
hình ảnh nào trong khổ thơ này?
B. Bài mới
1. Giới thiệu bài :
2’
Giáo viên dùng lời:
Mùa hè thường có các trận mưa rất to
nhưng mau tạnh, gọi là mưa rào. Hôm nay
các em sẽ học một bài văn tả cảnh vật sau
một cơn mưa rào → Giáo viên ghi bảng tên
đầu bài.
2. Hướng dẫn luyện đọc
a. Giáo viên đọc mẫu
- Giọng chậm, đều, tươi vui
Học sinh theo dõi bài đọc ở
bảng
b. Hướng dẫn học sinh đọc
* Luyện đọc từ ngữ
Giáo viên gọi 1 học sinh giỏi đọc to những từ
ngữ mà SGK yêu cầu luyện đọc → cô ghi
bảng các từ đó: mưa rào, đoá râm bụt, xanh
bóng nhởn nhơ, sáng rực, mặt trời quây
quanh, vườn
5’
- Giáo viên gọi cá nhân học sinh đọc lần lượt

từng từ một cho đến hết và kết hợp phân tích
những tiếng mà học sinh dễ lẫn khi đọc và
viết: rào, đoá, xanh, quây, quanh
Cá nhân học sinh đọc lần
lượt từng từ và cho đến hết
kết hợp phân tích tiếng theo
yêu cầu của giáo viên
- Lưu ý: Tập trung gọi những em đọc còn yếu
- Trong khi học sinh đọc giáo viên kết hợp
giải nghĩa từ:
+ Đoá râm bụt: Sử dụng tranh hoa râm bụt
cho học sinh quan sát
+ Nhởn nhơ: Chỉ hoạt động chậm không tập
trung
* Luyện đọc câu:
Giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi SGK và
cho biết xem bài đọc này có mấy câu ?
- Học sinh theo dõi và trả
lời bài đọc có 5 câu
- 25 -

×