Tải bản đầy đủ (.doc) (7 trang)

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (145.14 KB, 7 trang )

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN VÀ
VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN
TS. Dương Anh Sơn, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế-Luật, ĐHQG TP.HCM
Hợp đồng là sự thoả thuận, sự thoả thuận này dựa trên nguyên tắc tự do hợp đồng,
có nghĩa là ý chí của các bên được thể hiện một cách tự do, không chịu bất kỳ một sự tác
động nào. Tuy nhiên trong thực tiễn có nhiều trường hợp các bên hoặc một trong các bên
khi đàm phán, ký kết hợp đồng ý chí của họ được hình thành một cách không tự nguyện,
tức là họ không được tự do trong việc thể hiện ý chí của mình hoặc xuất phát từ những ý
niệm không xác thực. Pháp luật gọi các trường hợp này là hợp đồng được ký kết trái
nguyên tắc tự do tự nguyện thoả thuận. Những trường hợp này là: nhầm lẫn, lừa dối và đe
doạ.
Theo quy định của pháp luật của tất cả các nước, nhầm lẫn có thể được coi là căn cứ
để yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, tuy nhiên thế nào là nhầm lẫn được xem xét
không giống nhau trong pháp luật của các nước khác nhau. Pháp luật của các nước hầu như
không ra khái niệm nhầm lẫn, còn trong khoa học pháp lý, về vấn đề này có nhiều cách
nhìn khác nhau.
Có quan đỉểm cho rằng, nhầm lẫn là những trường hợp hợp đồng được ký kết
nhưng ý chí của một hoặc của các bên được hình thành không đúng vì nhiều lý do khác
nhau. Nhầm lẫn có thể do các bên chưa thoả thuận hết mọi điều khoản của hợp đồng, có
thể do các bên không thể hiện sự cẩn thận cần phải có, cũng có thể do sự tự tin thái quá của
chủ thể hoặc hành vi của người thứ ba
1
. Ý kiến khác cho rằng, nhầm lẫn có nghĩa là hợp
đồng được ký kết không phản ánh ý chí đích thực của các bên, không có khả năng mang lại
kết quả mà các bên hướng đến tại thời điểm ký kết hợp đồng
2
. Có thể nói, nhầm lẫn là khi
ý chí của các bên không giống với ý chí của họ trong giai đoạn thống nhất ý chí mặc dù
không bị đe doạ hoặc lừa dối.
Việc coi nhầm lẫn là căn cứ tuyên bố hợp đồng vô hiệu gặp phải hai vấn đề phức
tạp trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn. Một mặt, trên xuất phát từ thuyết ý chí,


nhầm lẫn được coi là việc hợp đồng được ký kết trái với ý chí đích thực của chủ thể và vì
vậy nên cần phải coi hợp đồng đó là vô hiệu. Mặt khác nếu trong mọi trường hợp khi hợp
đồng được ký kết trái với ý chí đích thực của chủ thể sẽ bị vô hiệu, điều này sẽ tạo ra sự
không ổn định, mất trật tự trong lưu thông dân sự và trong hoạt động kinh doanh thương
mại- điều mà không ai muốn. Chính vì vậy nên pháp luật cũng như Toà án cẫn phải thận
trọng trong việc xem xét hợp đồng vô hiệu. Để tìm giải pháp hài hoà các mối quan hệ trên
cần phải phân biệt hai loại nhầm lẫn: nhầm lẫn không có ý nghĩa pháp lý, tức là không ảnh
hưởng đến hiệu lực của hợp đồng và nhầm lẫn có ý nghĩa pháp lý-là căn cứ để yêu cầu toà
án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Như vậy không phải mọi nhầm lẫn đều có ý nghĩa pháp lý
đối với bên nhầm lẫn. Điều này là nhất quán trong mọi hệ thống pháp luật.
3
Tuy nhiên
trong thực tiễn việc phân biệt hai loại nhầm lẫn nói trên là việc không đơn giản, trong khi
đó hậu quả pháp lý của chúng lại khác nhau.
Có thể nói rằng, nhầm lẫn, nhìn từ góc độ là điều kiện để yêu cầu Toà án tuyên bố
hợp đồng vô hiệu là một trong những vấn đề phức tạp nhất của pháp luật hợp đồng và gây
nhiều khó khăn cho người học khi nghiên cứu vấn đề này.
1
Xem: Giáo trình Luật Dân sự (bản tiếng Nga), NXB Prospect, tập 1, Moscơva 2000, tr. 261.
2
Xem: Gusev. A.N, Bình luận BLDS Liên Bang Nga, bản tiếng Nga, NXB INFRA-M, Maxcơva 2000. tr. 322.
3
Xem: Konrad Zweigert, Hein Kotz, So sánh luật trong lĩnh vực tư pháp, Tập 2, NXB. Quan hệ quốc tế, M, 1998, tr.s 118- 119.
1
Người bán bán cho người mua một bình gốm Trung Quốc với giá rẻ vì cho rằng, đó
là bình gốm giả cổ do người địa phương làm ra. Sau đó người mua phát hiện ra rằng đó là
một tác phẩm nghệ thuật vô giá được làm từ thời Nhà Minh. Trong trường hợp này người
bán có quyền yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu và đòi lại bình cổ với lý do đã
không đánh giá chính xác giá trị của chiếc bình hay không? Có hay không có ý nghĩa việc
người bán là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực đố cổ và có thể đánh giá đúng giá trị của

chiếc bình nhưng đã bất cẩn khi thực hiện việc đánh giá? Có quan trọng hay không việc
người mua biết chính xác hoặc đoán biết được đó là bình cổ nhưng đã giấu người bán? Sẽ
như thế nào nếu cả người bán và người mua của hợp đồng ban đầu đều là các chuyên gia
trong lĩnh vực đánh giá đồ cổ? Có ý nghĩa hay không việc người mua, vì tin vào hiệu lực
của hợp đồng đã bỏ ra một khoản tiền lớn để phục hồi chiếc bình với mục đích bán lại,
hoặc đã bán lại cho người khác? Nếu người mua, một cách trung thực cam kết với người
mua rằng, đó là bình dả cổ và yêu cầu người bán thực hiện hợp đồng? Và cuối cùng, nếu
người bán yêu cầu người mua trả lại bình, người mua đồng ý nhưng yêu cầu trả mức chênh
lệch giá?
4
Để trả lời câu hỏi nói trên cần phải xem xét một số điều kiện của sự nhầm lẫn.
1. Phạm vi của nhầm lẫn: Điều 131 BLDS năm 2005 về “giao dịch dân sự vô hiệu do
bị nhầm lẫn” quy định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của
giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội
dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa
án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn
về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này”. Như
vậy theo pháp luật của Việt Nam hiện hành, nhầm lẫn chỉ có thể liên quan đến nội dung của
hợp đồng mà không quy định nhầm lẫn về chủ thể. Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể nội
dung, tuy nhiên có thể hiểu rằng, trong nội dung của hợp đồng có rất nhiều vấn đề, ví dụ, đối
tượng của hợp đồng, tính chất của hàng hoá, công việc. ..
Cách tiếp cận trên trong pháp luật của Việt Nam, có thể nói là tương tự với pháp
luật của nhiều nước. Theo Điều 178 BLDS Liên Bang Nga, hợp đồng được ký kết do bị
nhầm lẫn nghiêm trọng có thể bị toà án tuyên bố vô hiệu khi có sự yêu cầu của bên bị
nhầm lẫn. Nhầm lẫn nghiêm trọng là nhầm lẫn liên quan đến: bản chất của hợp đồng hoặc
tương tự hay liên quan đến những đặc tính của đối tượng làm giảm khả năng đáng kể việc
sử dụng chúng theo mục đích. Nhầm lẫn liên quan đến động cơ của giao dịch không được
coi là có ý nghĩa pháp lý quan trọng.
Khác với pháp luật của Việt Nam và Liên Bang Nga, pháp luật của nhiều nước có quy
định nhầm lẫn về chủ thể, tuy nhiên chỉ trong một số trường hợp hạn chế. Điều 1110 BLDS

Pháp quy định “Sự nhầm lẫn chỉ là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi đó là sự nhầm lẫn về
bản chất của vật hoặc công việc là đối tượng của hợp đồng. Sự nhầm lẫn về chủ thể giao kết
không thể là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu, trừ trường hợp việc xem xét nhân thân người đó
là căn cứ chính dẫn đến việc giao kết hợp đồng”. Pháp luật của Anh xem xét nhầm lẫn về chủ
thể rất hạn chế và chỉ trong một số trường hợp đặc biệt. Theo pháp luật của Anh, nhầm lẫn về
chủ thể chỉ có thể xảy ra trong trường hợp, ví dụ, A ký hợp đồng với B vì tưởng B là C
5
. Bộ
Luật Dân sự Bắc Kỳ và Trung Kỳ trước đây cũng có quy định nhầm lẫn về chủ thể
6
, tuy nhiên
4
Xem: Konrad Zweigert, Hein Kotz, tlđd, tr. 119.
5
Anson V. Law of Contract, P. 203
6
Vì chịu sự ảnh hưởng của BLDS Pháp nên Bộ Dân luật Bắc kỳ (Điều 657) và Bộ Dân luật Trung kỳ (Điều 603) có quy định nhầm lẫn liên
quan đến chủ thể. Tuy nhiên chỉ trong một số trường hợp đặc biệt. Xem: Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật Lược khảo, Quyển II, Nghĩa vụ và
khế ước, Phần thứ nhất: Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, 1963. Tr.116.
2
chỉ giới hạn trong một số trường hợp, ví dụ: sự quan tâm về căn cước, về phẩm hạnh và tài
năng của cá nhân là lý do quyết định để kết ước
7
.
Không quy định nhầm lẫn về chủ thể có phải là khiếm khuyết của pháp luật hợp
đồng Việt Nam hay không? Và việc thiếu vắng quy định của pháp luật trong trường hợp
này gây ra những hậu quả pháp lý như thế nào? Có tác giả cho rằng, pháp luật quy định
như vậy là chưa đủ, bởi lẽ trong thực tế, hoàn toàn có thể xảy ra nhầm lẫn về chủ thể tham
gia giao kết hợp đồng và mặc dù pháp luật chưa quy định nhưng thực tiễn xét xử đã thừa
nhận nhầm lẫn về chủ thể

8
. Để chứng minh cho nhận định của mình tác giả đã sử dụng Bản
án Phúc thẩm
9
. Ông Trường và bà Thu có lập hợp đồng thỏa thuận hợp tác thành lập Công
ty cổ phần đầu tư thẩm mỹ Xuân Trường với ngành nghề kinh doanh gồm mua bán mỹ
phẩm, trang thiết bị y tế, dụng cụ thẩm mỹ, y ngoại tổng quát, đào tạo nghề. Hai tháng sau
khi thành lập giữa các chủ thể phát sinh tranh chấp. Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án đã
tuyên hợp đồng hợp tác giữa ông Trường và bà Thu là vô hiệu do nhầm lẫn (Tòa án đã viện
dẫn Điều 131, BLDS năm 2005). Tòa án cho rằng sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của
bà Thu bởi bà đã nhầm “y ngoại tổng quát” là “phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ”. Tôi cho
rằng, trong vụ việc nói trên, với cách quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Toà án
đã thiếu chính xác trong việc lựa chọn quy định của pháp luật để áp dụng, bởi lẽ: thứ nhất,
pháp luật Việt Nam không quy định nhầm lẫn về chủ thể; thứ hai, trong trường hợp này toà
án hoàn toàn có thể tuyên bố hợp dồng vô hiệu do: i) vi phạm điều kiện về chủ thể, ông
Trường là bác sĩ thì ông biết và buộc phải biết ông ta không có chuyên môn phẫu thuật tạo
hình thẩm mỹ, hoặc; ii) vi phạm điều cấm của pháp luật vì đây là lĩnh vực kinh doanh có
điều kiện. Mặt khác việc áp dụng quy định về nhầm lẫn sẽ dẫn đến rủi ro pháp lý trong
trường hợp Toà án thụ lý vụ án khi đã quá thời hạn 2 năm kể từ ngày ký hợp đồng theo
Khoản 1 Điều 136. Theo quan điểm của tôi, trong vụ việc nói trên sẽ hợp lý và thuyết phục
hơn nếu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Mặc dù
Bản án được tác giả sử dụng thiếu chính xác, tuy nhiên tôi chia sẽ với tác giả, rằng trong
BLDS Việt Nam cần phải bổ sung quy định nhầm lẫn về chủ thể trong một số trường hợp,
khi yếu tố nhân thân là động lực chủ yếu để bên nhầm lẫn ký kết hợp đồng.
2. Tính chất của nhầm lẫn phải nghiêm trọng. Điều 131 BLDS 2005 chỉ quy định nhầm
lẫn sự nhầm lẫn liên quan đến nội dung của giao dịch mà không quy định mức độ, tính chất của
nhầm lẫn. Thật ra pháp luật của nhiều nước không quy định những tiêu chí để xác định một sự
nhầm lẫn nào đó là nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, mà việc xác định này tuỳ thuộc vào
từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể cũng như khả năng nhận biết của chủ thể về đối tượng nhầm
lẫn. Tuy nhiên khác với pháp luật Việt Nam, sự thừa nhận án lệ của pháp luật nhiều nước có thể

giải quyết được vấn đề đặt ra. Trong ví dụ mua bán bình cổ nói trên, nếu người bán là chuyên
gia trong lĩnh vực đồ cổ thì sự nhầm lẫn không thể coi là nghiêm trọng. Bởi lẽ người bán biết
hoặc buộc phải biết về đối tượng của hợp đồng. Nếu người mua là chuyên gia đồ cổ, còn người
bán là người bình thường thì sự nhẫm lẫn của người bán có thể coi là nghiêm trọng. Nhầm lẫn
chỉ có ý nghĩa nếu nó là động lực chủ yếu để bên bị nhầm lẫn ký kết hợp đồng. Với tư cách
là động lực chủ yếu nhầm lẫn chỉ được xem xét nếu nó là cơ sở duy nhất để bên bị nhầm
lẫn ký hợp đồng. Nếu còn có khả năng ký hợp đồng với những điều kiện khác thì không
thể coi nhầm lẫn là động lực chủ yếu. Thực tiễn xét xử của nhiều nước không coi hợp đồng
vô hiệu nếu nhầm lẫn là do động cơ thông thường. Nhầm lẫn có ý nghĩa pháp lý chỉ trong
7
Xem: Vũ Văn Mẫu, tlđd, Tr.116.
8
Xem: Đỗ Văn Đại, Nhầm lẫn trong chế định hợp đồng: Những bất cập và hướng sửa đổi Bộ luật Dân sự, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, Sô 22(11/ 2009) và Số 23 (12/2009).
9
Xem: Bản án số 49/2008/KDTM-PT ngày 10 tháng 04 năm 2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh
3
trường hợp, nếu sự nhầm lẫn đó có liên quan đến đặc tính, vì nó mà các bên đạt được sự
thoả thuận một cách trực tiếp.
Có thể nhận thấy, việc pháp luật Việt Nam không quy định rõ ràng nhầm lẫn đến mức
nào thì có ý nghĩa pháp lý trong xác định hiệu lực của hợp đồng cộng với việc pháp luật không
thừa nhận án lệ sẽ làm cho Toà án gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn xét xử. Bởi lẽ khó có tìêu
chí rõ ràng kho đánh giá mức độ nghiêm trọng của nhầm lẫn. Trong vụ kiện giữa Công ty Việt
Á Châu và Công ty Connell Bros
10
, theo hợp đồng Công ty Connell Bros bán cho Công
ty Việt Á Châu sản phẩm hoá chất Myflame 84527E. Giữa các bên phát sinh tranh chấp
liên quan đến chất lượng của Myflame 84527E. Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do
nhầm lẫn vì lý do sản phẩm Myflame 84527E được dùng cho nguyên liệu vải Polyester và
Oxphor nhưng lại ghi trong hợp đồng và trong bill nhận hàng là chất Myflame 84527E

dùng cho nguyên liệu PO (da thuộc). Có ý kiến cho rằng, trong trường hợp này hợp đồng
không thể vô hiệu do nhầm lẫn
11
. Tôi cho rằng, mặc dù cả hai bên có sự nhầm lẫn PO và
PU, tuy nhiên sự nhầm lẫn này không không có ý nghĩa pháp lý bởi không liên quan đến
bản chất, đặc tính của hàng hoá là đối tượng của hợp đồng và cả hai bên đều biết nguyên
liệu PO không tồn tại trên thị trường 30 năm và không có thực. Việc nhầm lẫn này không
phải là lý do chủ yếu để các bên ký kết hợp đồng.Mặc dù các bên đã thừa nhận có sự nhầm
lẫn về tên gọi PO và PU nhưng không theo tôi ở đây đã có sự không thống nhất giữa ý chí
chung của các bên với ngôn từ được sử dụng trong hợp đồng. Chình vì vạy nên có thể nói
Quyết định của Toà án vi phạm Điều 409 BLDS 2005 về giải thích hợp đồng, theo đó
trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ của hợp đồng
thì cần phải dựa vào chí chí chung của các bên.
3. Một vấn đề nữa cần phải được xem xét một cách thận trọng dưới góc độ pháp lý
khi xác định nhầm lẫn là có cần thiết phải xác định lỗi của một bên là nguyên nhân dẫn đến
sự nhầm lẫn của bên kia hay không. Vấn đề này được xem xét không giống nhau trong
pháp luật của các nước khác nhau. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành
12
, nhầm lẫn phải do
hành vi lỗi vô ý của một bên gây ra. Điều đó có thể hiểu rằng, nếu không có lỗi của một
bên thì không có sự nhầm lẫn hay nhầm lẫn (nếu có) sẽ không có ý nghĩa pháp lý và không
thể là căn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
13
. Cũng có thể hiểu rằng, các
nhà làm luật Việt Nam không loại trừ nhầm lẫn không phải do lỗi bên kia, tuy nhiên họ chỉ
cho rằng, nhầm lẫn do lỗi của bên kia mới có thể có ý nghĩa pháp lý và có thể được coi là
điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Khác với pháp luật của Việt Nam, pháp luật của hầu hết các nước không xem xét lỗi
của một bên là điều kiện của nhầm lẫn mà chỉ quan tâm đến mức độ nhận thức của chủ thể
bị coi là có sự nhầm lẫn tại thời điểm ký kết hợp đồng. Ví dụ, Điều 1110 BLDS Pháp, Điều

178 BLDS Liên Bang Nga. Tuy nhiên khi xem xét kỹ pháp luật và án lệ cũng thực tiễn giải
quyết tranh chấp của các nước có thể nhận thấy rằng, một cách gián tiếp quy định một bên
bị nhầm lẫn là do hành vi vô ý của bên kia. Trong trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu
do bị nhầm lẫn, nếu bên bị nhầm lẫn chứng minh được rằng, nhầm lẫn xảy ra là do lỗi của bên
kia thì có quyền yêu cầu bồi thường những thiệt hại thực tế. Nếu bên yêu cầu toà án tuyên bố
10
Xem: Bản án số: 380/2006/KDTM-ST Ngày 01-8-2006 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Bản án số 68/KDTM-PT ngày
12/7/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh.
11
Xem: Trần Phương Hạnh, Hợp đồng bị tuyên vô hiệu do nhầm lẫn, nhìn từ quy định về xác đinh chất lượng hàng hoá trong hợp
đồng. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử. Xem: />12
Xem: Điều 131 BLDS 2005
13
Điều 141 BLDS 1995 không xem xét lỗi của bên kia là điều kiện của nhầm lẫn.
4
hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn không chứng minh được bên kia có lỗi dẫn đến sự nhầm lẫn
thì phải bồi thường thiệt hại thực tế cho bên kia, ngay cả khi sự nhầm lẫn xảy ra do những tình
huống không phụ thuộc vào bên bị nhầm lẫn
14
.
Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT (PICC) và Bộ nguyên tắc
luật hợp đồng của châu Âu cũng không coi lỗi là điều kiện của nhầm lẫn. Điều 3.5 PICC
quy định các điều kiện của nhầm lẫn- căn cứ yêu cầu hợp đồng vô hiệu nếu sự nhầm lẫn là
lớn đến mức mà một người bình thường, trong hoàn cảnh tương tự sẽ chỉ giao kết hợp
đồng với những điều khoản khác hoặc sẽ không khi nào giao kết hợp đồng đó nếu biết sự
thực và: i) phía bên kia cũng có sự nhầm lẫn tương tự, có nghĩa là sẽ không ký hợp đồng
nếu biết rõ sự thực, ở đây muốn nói là cả hai cùng nhầm lẫn. Như vậy trong trường hợp
này nhầm lẫn không là hậu quả của hành vi vô ý của bên kia; ii) phía bên kia có hành vi
(vô ý) gây ra nhầm lẫn, trường hợp này có thể nói là giống với quy định của pháp luật Việt
Nam, việc gây ra nhầm lẫn ở đây có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không

hành động, trực tiếp hay ngầm hiểu; iii) bên kia biết hay không thể không biết về sự nhầm
lẫn nhưng vẫn để đối tác tiếp tục nhầm lẫn trái với những tiêu chuẩn về thiện chí và trung
thực trong thương mại thông thường.Trường hợp này có thể hiểu rằng, một bên biết bên
kia nhầm lẫn nhưng đã không hành động một cách trung thực thì bên bị nhầm lẫn có thể
yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu. Trong ví dụ trên, nếu người mua biết rõ ràng rằng, chiếc
bình là bình cổ và cũng biết chắc chắn rằng người bán không biết điều đó thì người bán có
thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên các điều kiện nói trên mới chỉ là điều
kiện cần. Hợp đồng chỉ có thể bị tuyên bố vô hiệu khi có thêm điều kiện đủ, đó là bên
không bị nhầm lẫn đã không hành động một cách hợp lý vào thời điểm hợp đồng vô hiệu
bằng cách dựa vào các điều khoản của hợp đồng. Điều này có nghĩa mặc dù biết và buộc
phải biết hợp đồng vô hiệu nhưng vẫn thực hiện hợp đồng. Điều 4:103 Bộ nguyên tắc luật
hợp đồng châu Âu cho phép một bên yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu (nếu các điều
kiện khác hội đủ) khi: (i) nhầm lẫn được gây ra do thông tin của bên kia cung cấp, (ii) bên
kia biết hoặc phải biết có nhầm lẫn nhưng đã để cho nạn nhân nhầm lẫn trái với nguyên tắc
thiện chí, (iii) hoặc bên kia cũng có cùng nhầm lẫn.
Khoản 2 Điều 131 BLDS 2005 quy định, trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho
bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ
luật này. Có lẽ vì quy định này nằm trong Điều 131 BLDS dưới tên gọi “Giao dịch dân sự vô
hiệu do bị nhầm lẫn ” nên có tác giả cho rằng, BLDS năm 2005 dự liệu hai trường hợp nhầm
lẫn của một bên: nhầm lẫn do lỗi vô ý hay cố ý của bên kia và thực tế cho thấy hai loại nhầm
lẫn này hoàn toàn có thể tồn tại.
15
Ở đây tôi cho rằng, tác giả đã có sự hiểu chưa thấu đáo ý tứ
của nhà làm luật khi xây dựng Khoản 2 Điều 131 BLDS. Tôi cho rằng, BLDS không coi nhầm
lẫn là do lỗi cố ý của một bên mà bằng khoản 2 chỉ nhấn mạnh rằng, nếu một bên có lỗi cố ý
làm cho bên kia hiểu sai về nội dung của giao dịch thì bị coi là lừa dối. Thật vậy khi một bên có
hành vi cố ý làm cho bên kia hiểu sai về nội dung cả hợp đồng tức là trong hành vi đó bao gồm
các thủ đoạn gian dối. Một bên cố ý làm cho bên kia hiểu sai bởi lẽ biết rằng, nếu không như
vậy thì bên kia hiểu đúng về nội dung của hợp đồng thì sẽ không bao giờ ký. Tôi cho rằng, việc
pháp luật không coi nhầm lẫn khi một bên có lỗi cố ý là phù hợp với thực tiễn và tương thích

với pháp luật của các nước cũng như thông lệ quóc tế. Ví dụ, Điều 1116 BLDS Pháp, Điều 179
BLDS Liên Bang Nga.
14
Xem: Điều 178 Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga
15
Xem: Đỗ Văn Đại, tlđd.
5

×