Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư nhân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (133.28 KB, 16 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nớc và giữ nớc, ông cha ta rất chú trọng
đến thực túc, binh cờng để yên dân và bảo đảm cho non sông bền vững.
Đảng ta trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng cũng luôn đặc biệt quan
tâm đến vấn đề này và quan điểm về xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ đ-
ợc đề cập đến trong nhiều nghị quyết quan trọng của Đảng, nhất là từ đại hội VI
đến nay.
Tuy nhiên trong bối cảnh của thế giới hiện nay,khi toàn cầu hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra nh một xu thế khách quan thì việc mở cả đất
nớc để nền kinh tế hội nhập với thế giới, cùng phát triển chung là điều cần thiết.
Do vậy, việc đổi mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự phát triển kinh tế t nhân
là cần thiết. Xây dựng nền kinh tế t nhân vận hành theo cơ chế thị trờng mà
Đảng và nhân dân ta đang thực hiện đã tỏ rõ tầm nhìn thế kỷ cuả Đảng cộng sản
Việt Nam. Cơ chế vận hành của nền kinh tế t nhân đợc xác định là cơ chế thị tr-
ờng có sự quản lý của nhà nớc bằng kế hoạch, pháp luật và công cụ đòn bẩy
kinh tế. Điều đó có nghĩa là trong 15 năm đổi mới đất nớc, từ việc xoá bỏ cơ
chế bao cấp cũ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng, Nhà nớc đã chấp nhận vai
trò của các qui luật kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nớc chú
trọng thực hiện các chức năng quản lý của mình, cơ cấu lại một cách toàn diện
về tổ chức, chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ máy nhà nớc, góp
phần thể chế hoá t tởng Nhà nớc do dân và vì dân. Nhà nớc đã giành cho
mình quyền can thiệp vào thị trờng đúng lúc, đúng liều lợng. Mục đích thay đổi
cơ cấu và quyền can thiệp này chính là giúp các doanh nghiệp cạnh tranh trong
một môi trờng lành mạnh và có hiệu quả.
Duy trì sự định hớng đúng đắn và tạo ra cơ chế thúc đẩy, kích thích các
đơn vị kinh tế, các cơ sở chủ động hợp tác và đua tranh phát triển phù hợp với
cơ cấu kinh tế của kế hoạch vĩ mô, bãi bỏ và ngăn chặn các tổ chức gây nên độc
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quyền và mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trớc pháp luật, tồn tại và phát


triển theo nguyên tắc hiệu quả.
Từ những nhận thức đó, em đã nghiên cứu thực hiện đề tài Tiếp tục đổi
mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự phát triển kinh tế t nhân".
Đề tài đợc thực hiện với hai nội dung chính :
3 Khái niệm, tầm quan trọng và cơ chế vận hành của nền kinh tế t nhân có
sự quản lý của Nhà nớc.
3Những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự
phát triển kinh tế t nhân ở Việt Nam.
Chơng I:
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khái niệm, tầm quan trọng và cơ chế vận hành của nền kinh tế
t nhân có sự quản lý của nhà nớc.
1.Cơ sở lý luận của nền kinh tế hàng hoá.
Kinh tế hàng hoá ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của
xã hội loài ngời. Khi xã hội phát triển, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt thành một
nghề độc lập, của cải làm ra ngày một nhiều, không những đáp ứng đủ cho nhu
cầu cuộc sống mà còn có thừa. Số sản phẩm d thừa này đợc đem ra trao đổi
hoặc buôn bán đó chính là hàng hoá. Hàng hoá phát triển cùng với phát triển
của xã hội loài ngời.
Ơ thời kỳ chiếm hữu nô lệ, xã hội phân chia giai cấp thành kẻ giầu ngời
nghèo, sản xuất bớc đầu phát triển, giai cấp chủ nô ngày càng giầu, của cải d
thừa nhiều, dẫn đến trao đổi hàng hoá.
Thời kỳ phong kiến, phơng thức sản xuất phong kiến ra đời, giai cấp địa
chủ nắm trong tay hầu hết ruộng đất, công cụ lao động và t liệu lao động, trong
khi đó ngời nông dân là lực lợng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất. Trong
thời kỳ này, sản xuất hàng hoá phát triển hơn. Đến chủ nghĩa t bản, sản xuất và
lu thông hàng hoá phát triển mạnh, xuất hiện các tập đoàn t bản lớn mang tính
chất toàn cầu, thị trờng hàng hoá ra đời.
Khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ra đời là một thành công của giai

cấp công nhân và nhân dân lao động, xoá bỏ chế độ bóc lột, xây dựng một chế
độ công bằng mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động là ngời làm chủ. ở
thời kỳ này xuất hiện phơng thức sản xuất XHCN. Lực lợng sản xuất phát triển
cho nên hàng hoá và thị trờng hàng hoá cũng phát triển mạnh. Nh vậy, qua sự
phát triển của các giai đoạn lịch sử kinh tế, hàng hoá ngày một phát triển và
kinh tế hàng hoá xuất hiện nh một tất yếu khách quan.
2. Thị trờng trong kinh tế thị trờng.
Thị trờng đã và đang là vấn đề lớn nổi lên, bởi đó là nơi hàng ngày, hàng
giờ xảy ra các mối quan hệ về cung, cầu hàng hoá thông qua các mối quan hệ
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mua bán trực tiếp nh việc ký hợp đồng thơng mại giữa các doanh nghiệp với
nhau. Nói cách khác, nó là tấm gơng phản chiếu sinh động những vấn đề từ
cuộc sống đặt ra mà sản xuất phải đáp ứng.
Trong nền kinh tế sản xuất nhỏ cung luôn bé hơn cầu, ít ngời quan tâm
đến thị trờng. Song khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá sản xuất lớn, trong xu
thế đan xen hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, thị trờng hàng hoá trở thành
vấn đề thời sự và cấp bách.
Ngày nay, thị trờng không hẳn là khâu cuối cùng phụ thuộc và bị động
hoàn toàn vào sản xuất nh thời bao cấp. Vì thế hơn lúc nào hết các nhà sản xuất
cần tham khảo và hiểu biết nhiều hơn nữa các thông tin thị tròng trong và ngoài
nớc, khảo sát thăm dò, dự đoán đúng xu hớng diễn biến thị trờng từ đó mở rộng
đầu t đổi mới công nghệ, tổ chức sản xuất hợp lý, làm những sản phẩm có nhiều
lợi thế cạnh tranh, đợc thị trờng chấp nhận. Sản xuất chỉ quyết định tiêu dùng
khi sản xuất bắt mạch trúng thị trờng.
Đối với nớc ta trớc đây, mỗi năm nhà nớc phải tìm nguồn cân đối cho đợc
trên dới 7000 tỷ đồng và một khoản ngoại tệ lớn để các doanh nghệp vay, bao
nhiêu cũng hết nhng nay thì có tiền mà nhiều doanh nghiệp không vay do
không có dự án. Quanh đi quẩn lại chỉ có trên dới mời mặt hàng nông, thuỷ sản
xuất khẩu chiến lợc( không tính dầu thô) mà cứ thừa một phần do giá cả, chất l-

ợng cha có sức cạnh tranh cao, nhng một phần cũng do thị trờng nhỏ hẹp. Cái
khó hiện nay là đầu t làm ra sản phẩm gì, có thị trờng không, quy mô thị trờng
đó nh thế nào, tập quán thị trờng ra sao, hàng gì xuất khẩu và xuất khẩu bao
nhiêu, hàng gì để lại trong nớc. Tất cả những câu hỏi từ đầu ra, cụ thể là nơi tập
kết cuối cùng của sản phẩm phải đợc giải đáp trớc. Đó là nét đặc trng của thị tr-
ờng trong cơ chế thị trờng. Làm tốt điều này để chúng ta yên tâm bàn tới
chuyện đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế, ổn định vững chắc hàng năm.
Từ những nét đặc trng của thị trờng trong cơ chế thị trờng chúng ta thấy đ-
ợc hiện nay ở Việt Nam ta, cơ chế vận hành trong nền kinh tế là một cơ chế có
nhiều u và khuyết tật. Nó đòi hỏi các nhà kinh tế học Việt Nam phải có những
lời giải đúng cho bài toán kinh tế để thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3. Tính tất yếu và sự cần thiết phát triển nền kinh tế t nhân ở Việt Nam .
Trong thời kỳ quá độ việc tồn tại nền kinh tế t nhân nhiều thành phần là
một tất yếu khách quan. Phân công lao động xã hội và sự chuyên môn hoá sản
xuất phát triển từ đó nảy sinh ra những mối quan hệ kinh tế, những sự trao đổi
hoạt động xã hội.
Trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế còn nhiều thành phần với nhiều hình
thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất, có nhiều chủ thể kinh tế khác nhau.
Các chủ thể này độc lập tách biệt nhau nhng đều nằm trong một hệ thống phân
công lao động xã hội, do đó sản xuất và đời sống của họ có sự phụ thuộc lẫn
nhau
Trong kinh tế quốc dân và kinh tế tập thể, tuy cùng dựa trên hình thức sở
hữu công cộng về t liệu sản xuất nhng các đơn vị kinh tế vẫn có sự tách biệt
nhất định và có quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh, cạnh tranh và hợp tác với
nhau. Ngoài ra các đơn vị còn có sự khác nhau về trình độ kỹ thuật, trình độ
quản lý và hiệu quả kinh doanh...do đó còn có sự khác biệtvề mặt lợi ích kinh
tế. Vì vậy, quan hệ kinh tế t nhân nhiều thành phần, thuận lợi bảo đảm sự công
bằng, hợp lý trong quan hệ giữa các đơn vị ấy với nhau.

Sản xuất hàng hoá, quan hệ hàng hoá-tiền tệ còn cần thiết và là tất yếu
trong quan hệ kinh tế đối ngoại của các nớc trên thế giới vì mỗi nớc là một quốc
gia riêng biệt, là những chủ sở hữu khác nhau về sản phẩm hàng hoá. Sản xuất
hàng hoá không những là một tất yếu khách quan mà còn rất cần thiết và có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế ở những nớc có nền kinh tế lạc
hậu, kinh tế còn mang tính tự cấp, tự túc trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH.
Kinh tế t nhân thúc đẩy phát triển phân công lao động xã hội đi sâu vào
chuyên môn hoá sản xuất, tạo điều kiện nâng cao trình độ ngời lao động, cải
tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng suất lao động. Kinh tế t nhân thúc đẩy
việc tích tụ, tập trung sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu xã
hội ngày càng tăng và vơn tới những thị trờng quốc tế. Kinh tế t nhân cũng thúc
đẩy việc không ngừng cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đổi mới tổ chức
quản lý nâng cao năng suất lao động, chất lợng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và giá thành sản phẩm. Kinh tế t nhân thúc đẩy việc phát huy tính năng động
sáng tạo của mỗi ngời lao động, mỗi đơn vị kinh tế, tạo điều kiện cho sự phát
triển tự do và toàn diện của mỗi cá nhân, đồng thời tạo ra cơ chế phân bổ và sử
dụng các nguồn lực của xã hội hợp lý, tiết kiệm.
Kinh tế t nhân còn mở rộng và phát triển giao lu kinh tế và văn hoá giữa
các địa phơng, các vùng các miền của đất nớc với các nớc, các dân tộc khác
trong khu vực và trên thế giới, làm phong phú hơn cuộc sống tinh thần, tăng c-
ờng sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hợp tác giữa các nớc, các khu vực trên thế
giới.
4. Sản xuất hàng hoá t nhân ở nớc ta hiện nay.
Sản xuất hàng hoá t nhân ở nớc ta hiện nay là sản xuất hàng hoá mở, vừa
vận động theo cơ chế thị trờng vừa có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng
XHCN.
Sản xuất hàng hóa t nhân của nớc ta ngày càng đợc mở rộng, phát triển
việc trao đổi hàng hoá, hợp tác sản xuất giữa các vùng, các miền của đất nớc,

mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế, tham gia hội nhập vào thị trờng khu vực
và thế giới, thu hút đầu t trực tiếp và gián tiếp của nớc ngoài vào nớc ta. Sản
xuất hàng hoá t nhân của nớc ta vận động theo cơ chế thị trờng, các doanh
nghiệp có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh dới tác động của quan hệ cung cầu,
cạnh tranh và của quy luật giá trị.
Nớc ta đang ở chặng đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH, không qua chế độ
t bản chủ nghĩa với sản xuất nhỏ và phổ biến. Trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất còn thấp, biểu hiện cụ thể là sản lợng, mặt hàng và chủng loại hàng
hoá còn nghèo nàn, khối lợng hàng hoá lu thông trên thị trờng và kim ngạch
xuất khẩu còn thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm còn cao, chất lợng
giá trị sử dụng hàng hoá còn thấp, quy mô và dung lợng thị trờng còn hẹp. Hiện
nay ở nớc ta thị tròng hàng hoá ( t liệu sản xuất, t liệu tiêu dùng, bất động sản)
và dịch vụ còn ở trình độ sơ khai. Thị trờng lao động, thị trờng tài chính( tiền tệ,
vốn) mới đang trong quá trình hình thành.
6

×