Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia Cúc Phương và Xuân Thủy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 101 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG





TRẦN NHO ĐẠT





ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, TỔ CHỨC DU LỊCH SINH
THÁI TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA QUỐC GIA
CÚC PHƯƠNG VÀ XUÂN THỦY







LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG










Hà Nội - Năm 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG





TRẦN NHO ĐẠT



ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, TỔ CHỨC DU LỊCH
SINH THÁI TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA QUỐC GIA
CÚC PHƯƠNG VÀ XUÂN THỦY



Chuyên ngành: Môi trường trong Phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)




LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn An Thịnh






Hà Nội - Năm 2015
i

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học quốc gia HàNội,
dưới sự dạy dỗ và giúp đỡ hết sức nhiệt tình của các thầy cô giáo cũng như sự giúp
đỡ của Ban Lãnh đạo, cán bộ, nhân viên Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi
trường, tôi đã được tiếp thu những kiến thức về một ngành khoa học mà tôi đã lựa
chọn và theo đuổi. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến sự giúp đỡ quý báu
và tận tình đó.
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân,
tôinhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của Tiến sỹ Nguyễn An Thịnh. Phong
cách nghiên cứu khoa học cẩn trọng, tỉ mỉ cùng với những lời động viên khích lệ
của thầy đã giúp tôi học hỏi được rất nhiều kiến thức về ngành khoa học mình yêu
thích. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban quản lý các Vườn quốc gia Xuân Thủy và
Cúc Phương; các bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo, cán bộ của Trung
tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt

quá trình học tập, nghiên cứu tại Trung tâm, cũng như gia đình, bạn bè đã khuyến
khích, động viên tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!





ii

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Trần Nho Đạt
Sinh ngày: 15/5/1986
Học viên cao họcKhóa 9 của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi
trường - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Chuyên ngành đào tạo: Môi trường trong phát triển bền vững
Tôi xin cam đoan số liệu và những kết quả nghiên cứu, tính toán trong luận
văn này là hoàn toàn trung thực. Nếu có gì sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu
tráchnhiệm./.


H Ni, ngy 12 thng 03 năm 2015
Tác giả




Trần Nho Đạt




iii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC HÌNH v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC
TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, TỔ
CHỨC DU LỊCH SINH THÁI TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA 4
1.1. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái 4
1.1.1. Các khái niệm về du lịch và du lịch sinh thái 4
1.1.2. Mối quan hệ của du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác 7
1.1.3. Những đặc trưng của du lịch sinh thái 8
1.1.4. Các nguyên tắc của du lịch sinh thái 9
1.1.5. Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 10
1.1.6. Quan hệ du lịch sinh thái với cộng đồng địa phương 10
1.1.7. Tài nguyên du lịch và du lịch sinh thái 11
1.1.8. Các kiểu du lịch sinh thái 13
1.2. Thực trạng nghiên cứu, tổ chức phát triển du lịch sinh thái trên thế giới và Việt
Nam 14
1.2.1. Trên thế giới 14
1.2.2. Tại Việt Nam 17
1.3. Quản lý, phát triển du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng 18
1.3.1. Khái quát về tổ chức phát triển du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng 18

1.3.2. Hiện trạng về cơ chế, chính sách liên quan tới phát triển du lịch sinh thái tại
rừng đặc dụng tại Việt Nam 21
CHƯƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1.Địa điểm nghiên cứu 31
iv

2.2.Thời gian nghiên cứu 31
2.3.Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1. Phương pháp luận 31
2.3.2. Các phương pháp nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1. Phân tích cơ cấu tài nguyên cho phát triển du lịch sinh thái tại hai Vườn quốc
gia 37
3.1.1. Vườn quốc gia Xuân Thủy 37
3.1.2. Vườn quốc gia Cúc Phương 41
3.2. Phân tích thực trạng hoạt động tổ chức phát triển du lịch sinh thái tại hai Vườn
quốc gia 43
3.2.1.Vườn quốc gia Xuân Thủy 43
3.2.2.Vườn quốc gia Cúc Phương 50
3.3. Phân tích SWOT - AHP xác định các giải pháp ưu tiên tổ chức, quản lý du lịch
sinh thái tại hai Vườn quốc gia 55
3.3.1. Phân tích SWOT 55
3.3.2. Xác định các giải pháp ưu tiên quản lý, tổ chức du lịch sinh thái 65
3.4. Đề xuất các giải pháp ưu tiên nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức du lịch sinh
thái tại hai Vườn quốc gia 68
3.4.1. Các giải pháp ưu tiên đối với Vườn quốc gia Cúc Phương 68
3.4.2. Các giải pháp ưu tiên đối với Vườn quốc gia Xuân Thủy 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 91


v

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Mô hình cấu trúc du lịch sinh thái “Nguồn: Lê Văn Lanh, 1999” 7
Hình 1.2. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch lịch sử, và
các loại hinh du lịch khác Lê Huy Bá, 2006” 8
Hình 1.3. Du lịch sinh thái được tạo thành bởi sự thống nhất và bổ sung của du lịch
học và sinh thái học “Nguồn: Lê Huy Bá, 2006” 8


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các kiểu du lịch sinh thái 14
Bảng 3.1: Thống kê số lượng khách quốc tế đến Vườn quốc gia Xuân Thủy trong
giai đoạn từ năm 2003 – 6 tháng cuối năm 2010 44
Bảng 3.2: Thống kê số lượng khách quốc tế đến Vườn quốc gia Xuân Thủy trong
giai đoạn từ năm 2003 – 6 tháng đầu năm 2008 theo quốc tịch 45
Bảng 3.3: Thống kê số lượng khách du lịch nội địa đến Vườn quốc gia Xuân Thủy
trong giai đoạn từ năm 2003 – 6 tháng đầu năm 2010 45
Bảng 3.4: Thống kê số lượng khách nước ngoài đến Vườn quốc gia Xuân
Thủytrong giai đoạn từ năm 2003- 6 tháng đầu năm 2008 (tính theo quý) 46
Bảng 3.5: Bảng giá dịch vụ du lịch tại Vườn quốc gia Xuân Thủy 49
Bảng 3.6: Thống kê số lượng du khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch
tại Vườn quốc gia Cúc Phương trong hai năm 2011-2012 54

Bảng 3.7: Phân tích SWOT về quản lý, tổ chức du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia
Cúc Phương và Vườn quốc gia Xuân Thủy 63
Bảng 3.8: Các nhân tố ma trận ý kiến của chuyên gia 35
Bảng 3.9: Ma trận so sánh của các nhân tố 35
Bảng 3.10: Ma trận trị số nhất quán W1 36
Bảng 3.11: Ma trận trọng số các trị số nhất quán W2 36
Bảng 3.12: Chỉ số ngẫu nhiên ứng với số nhân tố (RI) 36
Bảng 3.13: Thống kê đặc điểm chung trong tổ chức và quản lý du lịch sinh thái tại
Vườn quốc gia Cúc Phương 65
Bảng 3.14: Giá trị trọng số các phương án ưu tiên tổ chức và quản lý du lịch tại
Vườn quốc gia Cúc Phương 66
Bảng 3.15: Thống kê đặc điểm chung trong tổ chức và quản lý du lịch sinh thái tại
Vườn quốc gia Xuân Thủy 67
Bảng 3.16: Giá trị trọng số các phương án ưu tiên tổ chức và quản lý du lịch sinh
thái tại Vườn quốc gia Xuân Thủy 68
Bảng 3.17: So sánh các giải pháp lựa chọn phát triển du lịch sinh thái tại hai Vườn
quốc gia 80
vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DLST
VQG
BTTN
Du lịch sinh thái
Vườn quốc gia
Bảo tồn thiên nhiên




1

MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đã coi trọng công tác bảo tồn
thiên nhiên rất sớm. Ngay từ năm 1962, khi đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh
và còn nhiều khó khăn, Chính phủ đã thành lập khu rừng cấm Cúc Phương nay là
Vườn quốc gia Cúc Phương - Vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Từ khi đất
nước thống nhất cho đến nay, Chính phủ có quyết định thành lập thêm nhiều Vườn
quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên. Tính đến thời điểm rà soát, quy hoạch lại ba
loại rừng theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hệ thống rừng
đặc dụng bao gồm 164 khu với tổng diện tích tự nhiên là 2.265.753,88ha,trong đó
có 30 Vườn quốc gia, diện tích 1.077.236,13 ha; 69 khu Khu Bảo tồn Thiên
nhiên,diện tích 1.099.736,11 ha; 45 khu bảo vệ cảnh quan, diện tích 78.129,39 ha và
20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học, diện tích 10.652,25 ha. Việc thành
lập hệ thống rừng đặc dụng là một thành tích quan trọng của Việt Nam trong công
cuộc bảo vệ môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đóng góp
tích cực đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu.
Với sự đa dạng về các hệ sinh thái, cảnh quan đẹp, rừng đặc dụng có một tiềm
năng rất lớn về du lịch mà hiện nay chúng ta đã và đang khai thác theo hướng phát
triển bền vững các khu rừng đặc dụng bằng việc tổ chức phát triển du lịch sinh thái.
Vườn quốc gia Cúc Phương và Vườn quốc gia Xuân Thủy là hai Vườn quốc gia có
tiềm năng, lợi thế lớn để phát triển du lịch sinh thái, đang là hướng phát triển ưu tiên,
cốt lõi của sự phát triển hướng tới cơ chế tài chính bền vững của các Vườn này. Một
vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý du lịch sinh thái tại hai Vườn quốc gia này là:
với nguồn kinh phí đầu tư từ Ngân sách Nhà nước cho công tác quản lý, cần xác định
lĩnh vực ưu tiên để phát triển nhằm nâng cao hiệu quả về giá trị nguồn vốn tài chính.
Để trả lời được câu hỏi này, cần thực hiện những nghiên cứu cụ thể trên cơ sở kết quả
thực hiện và định hướng phát triển du lịch sinh thái tại hai Vườn quốc gia này.
Nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả

quản lý, tổ chức du lịch sinh thái tại các Vườn quốc giaCúc Phương và Vườn quốc
2

gia Xuân Thủy, đề tàiluận văn thạc sỹ“Đnh gi thực trạng và đề xuất giải php
nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức du lịch sinh thi tại cc Vườn quốc gia Cúc
Phương và Xuân Thủy” đã được lựa chọn nghiên cứu và hoàn thành.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn
* Mục tiêu chung: Đề tài đặt ra mục tiêu là tìm hiểu những khó khăn về nguồn
lực, sự chia sẻ lợi ích trong việc phát triển du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia Cúc
Phương và Xuân Thủy, đề xuất được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quản lý, tổ chức du
lịch sinh thái tại hai Vườn quốc gia này.
* Mục tiêu cụ thể:
+Tổng luận các vấn đề lý luận liên quan tới phát triển, tổ chức hoạt động du
lịch sinh thái tại rừng đặc dụng.
+ Có được những nhận định, đánh giá tổng quan về thực trạng quản lý, tổ
chức du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia nghiên cứu.
+ Phân tích, đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với
công tác quản lý, phát triển du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia.
+ Xác định được mức độ ưu tiên cho mỗi lĩnh vực quản lý, phát triển du lịch
sinh thái tại mỗi Vườn quốc gia.
+ Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức du lịch
sinh thái, góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển bền vững các Vườn quốc gia
Cúc Phương và Xuân Thủy.
3. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là hoạt động, cơ chế quản lý, tổ chức du lịch sinh
thái tại các khu rừng đặc dụng.
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tại haiVườn quốc gia:Cúc Phương và
Xuân Thủy. Cả haiVườn quốc gia này đều có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái
với những thế mạnh riêng về địa điểm, tính đa dạng sinh học cao và nhiều danh lam
thắng cảnh thu hút khách du lịch.

- Thời gian nghiên cứu: đánh giá hoạt động quản lý, tổ chức du lịch sinh thái
của hai Vườn quốc gia được nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2012.
3

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
-Ý nghĩa khoa học: Luận văn bước đầu đưa ra được thực trạng về phát triển
du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia Cúc Phương và Xuân Thủy, phát triển du
lịch sinh thái là vấn đề mới và đang được các cấp, ngành quan tâm; phân tích những
ưu điểm và tồn tại trong việc phát triển du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia được
lựa chọn nghiên cứu, đặc biệt là quản lý, tổ chức.
-Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần đưa ra những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý tổ chức du lịch sinh thái, góp phần vào công tác bảo tồn và
phát triển bền vững các Vườn quốc gia Cúc Phương và Xuân Thủy.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được trình bày tại 3
chương sau:
- Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Chương 2. Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3. Kết quả nghiên cứu.
4

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ
THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ, TỔ CHỨC DU LỊCH SINH THÁI TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA
1.1. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái
1.1.1. Các khái niệm về du lịch và du lịch sinh thái
Từ xa xưa du lịch đã được bàn đến rất nhiều với các quan niệm khác nhau.
Những định nghĩa truyền thống chỉ quan niệm du lịch đơn giản chỉ là một kỳ nghỉ
hoặc một chuyến đi giải trí. Ngày nay, có những công trình nghiên cứu chính thức
về du lịch với các định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung các định nghĩa này đều

bao hàm các nội dung liên quan đến dạng chuyển cư đặc biệt, cách thức sử dụng
thời gian tại nơi đến và các hoạt động kinh tế xã hội liên quan diễn ra tại nơi đó. Hai
nhà học giả Hoa Kỳ là Mathieson và Wall đã khái quát với định nghĩa như sau: “Du
lịch l sự di chuyển tạm thời của người dân đến những nơi ngoi khu vực cư trú v
lm việc thường xuyên của họ, cc hoạt đng thực hiện trong thời gian lưu trú tại
những nơi đó, v cc tiện nghi được sinh ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ”
Cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà còn là tất
cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó nên Kasparđưa ra định nghĩa Du lịch
l ton b những quan hệ v hiện tượng xảy ra trong qu trình di chuyển v lưu trú
của con người tại nơi không phải l nơi ở thường xuyên hoặc nơi lm việc của họ.
Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của Hunziker và Kraff : du lịch l
tổng hợp cc mối quan hệ v hiện tượng bắt nguồn từ cuc hnh trình v lưu trú
tạm thời của cc c nhân tại những nơi không phải l nơi ở v nơi lm việc thương
xuyên của họ.
Ở Việt Nam, du lịch được định nghĩa chính thức trong Pháp lệnh du lịch [19]
như sau: ''Du lịch l hoạt đng của con người ngoi nơi cư trú thường xuyên của
mình nhằm thỏa mãn nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong mt khoảng
thời gian nhất định''. Trong Luật Du lịch Việt Nam 2005 [21], định nghĩa về du lịch
được điều chỉnh là: “cc hoạt đng có liên quan đến chuyến đi của con người ngoi
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải
trí, nghỉ dưỡng trong mt khoảng thời gian nhất định”. Các học giả biên soạn bộ
Bách khoa toàn thư Việt Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai
5

phần riêng biệt. Nghĩa thứ nhất của từ này là “mt dạng nghỉ dưỡng sức tham quan
tích cực của con người ngoi nơi cư trú với mục đích : nghỉ ngơi, giải trí, xem danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn ho, nghệ thuật, ”. Theo nghĩa thứ
hai, du lịch được coi là ”mt ngnh kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều
mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử v văn ho dân tc, từ
đó góp phần lm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoi l tình

hữu nghị với dân tc mình; về mặt kinh tế du lịch l lĩnh vực kinh doanh mang lại
hiệu quả rất lớn; có thể coi l hình thức xuất khẩu hng ho v dịch vụ tại chỗ”.
Theo thời gian cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội thì các chuyến du lịch
trở nên dài hơn, số người có nhu cầu đi du lịch không ngừng gia tăng. Việc gia tăng
đó đã ảnh hưởng rất lớn về mặt môi trường cũng như các tài nguyên du lịch ở
những vùng mà khách đến thăm quan. Theo đó một loại hình du lịch mới đã xuất
hiện có thể khắc phục được những vấn đề trên đó chính là du lịch sinh thái.
Du lịch sinh thái bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời.
Những du khách tấp nập kéo đếnVườn quốc gia Yellowstone và Yosemit hàng thế
kỉ trước đây là những nhà du lịch sinh thái đầu tiên. Những khách lữ hành đến
Serengeti từ khoảng nửa thế kỉ trước, những nhà mạo hiểm Hymalaya đã cắm trại
trên Annapurna 25 năm sau, hàng ngàn người đến chụp ảnh chim cánh cụt ở Nam
Cực , được coi là những khách du lịch sinh thái. Những khách thăm quan, ngày
càng nhận thấy được những tác động về mặt sinh thái mà họ có thể gây ra cho giá trị
tự nhiên và cho những mối quan tâm của dân địa phương. Các tua du lịch được tổ
chức chuyên hóa - săn chim, bộ hành thiên nhiên, thám hiểm có hướng dẫn đang
tăng lên đó chính là du lịch sinh thái (David Western, 1999).
Ngày nay, xu hướng của toàn thế giới coi du lịch sinh thái là nguồn tài
nguyên quý giá, Du lịch sinh thái đã và đang trở nên phổ biến đối với những người
yêu thiên nhiên, cũng được xem là một cách trả nợ tự nhiên, làm tăng giá trị của tự
nhiên. Về nội dung du lịch sinh thái là loại hình thăm quan, thám hiểm, đưa du
khách đến với môi trường còn tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang
dã, đặc sắc để tìm hiểu nghiên cứu các hệ sinh thái và các nền văn hóa bản địa độc
đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm bảo tồn, phát triển đối với tự
nhiên và cộng đồng địa phương.
6

Tuy nhiên định nghĩa đầu tiên về du lịch sinh thái đến năm 1987 mới được
Hector Ceballos - Lascurain đưa ra: ''Du lịch sinh thi l du lịch đến những khu vực
tự nhiên ít bị thay đổi với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng v hưởng

ngoạn phong cảnh v giới thực đng vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn
hóa (cả qu khứ, hiện tại) được khm ph trong những khu vực ny''. Theo quan
niệm của Wood (1991): ''Du lịch sinh thi l du lịch đến cc khu vực còn tương đối
hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên v văn hóa m không
lm thay đổi sự ton vẹn của cc hệ sinh thi đồng thời tạo những cơ hi về kinh tế
để ủng h việc bảo tồn tự nhiên v mang lại lợi ích về ti chính cho người dân địa
phương''. Ngoài các định nghĩa của các cá nhân còn có định nghĩa của các tổ chức,
các hiệp hội như định nghĩa của Liên hiệp hội du lịch sinh thái Quốc tế như sau:
“Du lịch sinh thi l việc đi lại có trch nhiệm tới cc khu vực thiên nhiên m bảo
tồn được môi trường v cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”.
Gần đây nhất, các định nghĩa về du lịch sinh thái được đưa ra trong các công
trình của David Bruce Weaver (2001) về từ điển du lịch sinh thái; của Ralf Buckley
(2009) về các nguyên lý và thực tiễn của du lịch sinh thái; hay của David Newsome
và nnk. (2013) về du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn. Tất cả các công trình này đều
nhấn mạnh du lịch sinh thái là một loại hình phát triển du lịch tại một khu vực tương
đối hoang sơ, dựa trên các hệ sinh thái tự nhiên và thúc đẩy phát triển cộng đồng.
Ở Việt Nam du lịch sinh thái là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỉ
90 của thế kỉ XX. Tại hội thảo ''Xây dựng chiến lược quốc gia về pht triển du lịch
sinh thi ở Việt Nam'' (tháng 9/1999) đã đi đến thống thất định nghĩa du lịch sinh thái
ở Việt Nam: ''Du lịch sinh thi l mt loại hình du lịch dựa vo thiên nhiên v văn
hóa bản địa có tính gio dục môi trường v đóng góp cho cc nỗ lực bảo tồn v pht
triển bền vững với sự tham gia tích cực của cng đồng địa phương''. Trong luật Du
lịch 2005 [21], du lịch sinh thái được định nghĩa là “hình thức du lịch dựa vo thiên
nhiên, gắn với bản sắc văn ho địa phương với sự tham gia của cng đồng nhằm
pht triển bền vững”. Nội dung của du lịch sinh thái được mở rộng hơn trong định
nghĩa: “Du lịch sinh thi l mt loại hình du lịch lấy cc hệ sinh thi đặc thù, tự
nhiên lm đối tượng để phục vụ cho những khch du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn,
thưởng thức những cảnh quan hay cc nghiên cứu về hệ sinh thi. Đó cũng l hình
thức kết hợp chặt chẽ, hi hòa giữa pht triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những
7


cảnh đẹp của Quốc gia cũng như gio dục, tuyên truyền v bảo vệ, pht triển môi
trường v ti nguyên thiên nhiên mt cch bền vững” (Lê Huy Bá, 2000) [3].
Như vậy từ định nghĩa đầu tiên về du lịch sinh thái năm 1987, cho tới nay
nhận thức về du lịch sinh thái có sự thay đổi: từ chỗ đơn thuần coi du lịch sinh thái
là hoạt động du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực
hơn, theo đó du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, có
tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và
đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.
Tóm lại, trên thế giới cũng như Việt Nam, khái niệm du lịch sinh thái được
nhìn nhận như là du lịch lựa chọn những mặt tích cực của một số loại du lịch, và có
thể biểu diễn bằng sơ đồ kết hợp giữa các thành phần du lịch thiên nhiên và văn hóa
bản địa, du lịch ủng hộ bảo tồn, du lịch có giáo dục môi trường, du lịch hỗ trợ cộng
đồng. Trong đó, du lịch sinh thái dù hiểu theo định nghĩa nào đi nữa thì nó cũng hội
tụ các yếu tố cơ bản: (1) sự quan tâm đến thiên nhiên v môi trường; (2) trch
nhiệm với xã hi v cng đồng (hình 1.1).








Hình 1.1. Mô hình cấu trúc du lịch sinh thi “Nguồn:

Lê Văn Lanh, 1999


1.1.2. Mối quan hệ của du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch không chỉ dựa vào thiên nhiên, mà còn
bao gồm cả tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa bản địa của cộng đồng địa phương.
Nhưng các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên như nghỉ dưỡng, thăm quan, mạo
hiểm chủ yếu mới chỉ đưa con người về với thiên nhiên, còn việc giáo dục, nâng
DU LỊCH
DU LỊCH
SINH THÁI
DU LỊCH ỦNG
HỘ BẢO TỒN
DU LỊCH THIÊN NHIÊN
VĂN HÓA BẢN ĐỊA
DU LỊCH CÓ GIÁO
DỤC MÔI TRƯỜNG
DU LỊCH HỖ TRỢ
CỘNG ĐỒNG
8

cao nhận thức cho du khách về thiên nhiên và môi trường, văn hóa cộng đồng địa
phương là rất hiếm và hầu như không có. Tuy nhiên, nếu như trong hoạt động của
loại hình du lịch này có gắn liền với việc thực hiện các nguyên tắc của du lịch sinh
thái, bao gồm việc nâng cao nhận thức để du khách có trách nhiệm với công tác bảo
tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa cộng đồng, tạo việc làm và lợi ích cho người dân
địa phương thì bản thân chúng đã chuyển hóa thành một dạng của du lịch sinh thái.

Hình 1.2. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thi, du lịch văn hóa,
du lịch lịch sử, v cc loại hinh du lịch khc

Lê Huy Bá, 2006



Du lịch sinh thái có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với du lịch học và
sinh thái học.

Hình 1.3. Du lịch sinh thi được tạo thnh bởi sự thống nhất v
bổ sung của du lịch học v sinh thi học “Nguồn:

Lê Huy Bá, 2006


1.1.3. Những đặc trưng của du lịch sinh thái
Sự khác biệt của du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác thể hiện ở
việc đảm bảo đầy đủ các đặc trưng sau:
- Dựa trên địa bn hấp dẫn về tự nhiên v cc yếu tố văn hóa bản địa: đối
tượng của du lịch sinh thái là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên, kể cả những nét
văn hóa bản địa đặc sắc.


DLST
Các loại hình du lịch khác ( DL khám
phá, du lịch cộng đồng,…
Du lịch văn hóa,
du lịch lịch sử.
9

- Đảm bảo bền vững về sinh thi, ủng h bảo tồn: đây là đặc trưng khác biệt
nổi bật của du lịch sinh thái so với các loại hình du lịch khác vì nó được phát triển
trong những môi trường có những hấp dẫn ưu thế. Vì thế, trong hoạt động du lịch
sinh thái, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải
được duy trì và quản lí cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du
lịch. Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm khách thăm quan, yêu cầu sử dụng các

phương tiện dịch vụ và tiện nghi của khách thường thấp hơn các yêu cầu về việc
đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng.
- Có gio dục môi trường: đặc điểm có giáo dục môi trường trong du lịch
sinh thái là một yếu tố cơ bản, có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ của
khách, cộng đồng và chính ngành du lịch. Đây có thể coi là một trong những công
cụ hữu hiệu cho các khu tự nhiên.
- Khuyến khích cng đồng địa phương tham gia v hưởng lợi ích du lịch: du
lịch sinh thái cải thiện lợi ích tăng thêm thu nhập cho cộng đồng địa phương trên cơ
sở cung cấp các kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả
năng tham gia vào việc quản lí, vận hành dịch vụ du lịch du lịch sinh thái. Đó cũng
là cách người dân có thể trở thành người bảo tồn tích cực.
- Cung cấp cc kinh nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khch: thỏa
mãn những mong muốn của du khách là sự nâng cao hiểu biết và những kinh
nghiệm du lịch lí thú là sự tồn tại sống còn và lâu dài của ngành du lịch sinh thái.
1.1.4. Các nguyên tắc của du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái được phát triển trên cơ sở những nguyên tắc hướng tới phát
triển bền vững. Các nguyên tắc được đảm bảo trong du lịch sinh thái là các nguyên
tắc không chỉ cho các nhà qui hoạch, nhà quản lí, nhà điều hành mà còn cho cả
những hướng dẫn viên du lịch mà Cochrane (1996) đã tổng kết như sau:
- Sử dụng thận trọng nguồn tài nguyên, kích thích sự bảo tồn và giảm thiểu
các nguồn rác thải rắn.
- Phát triển ở mức độ nhỏ và hợp lí nhất với các ngành kinh tế khác hoặc với
các chiến lược sử dụng lãnh thổ.
- Tạo nên những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng địa phương, những
người nên được quyền làm chủ trong sự phát triển và trong hoạch định.
10

- Các chiến dịch thị trường cần tôn trọng môi trường, du lịch không nên làm
xói mòn nền văn hóa và xã hội địa phương.
- Có khả năng hấp dẫn số lượng khách du lịch ngày càng tăng và thường

xuyên đáp ứng cho du khách những kinh nghiệm du lịch lí thú.
- Khách du lịch cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khu vực
đến thăm, đảm bảo tính giáo dục cao.
1.1.5. Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
a) Yêu cầu đầu tiên: cần thiết để có thể tổ chức du lịch sinh thái là sự tồn tại
của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao.
b) Yêu cầu thứ hai: liên quan đến nguyên tắc của du lịch sinh thái, thể hiện ở
các khía cạnh sau:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được hiểu biết cho khách du lịch sinh
thái, thì người hướng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am
hiểu các điều kiện sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương.
- Phải có được người điều hành có nguyên tắc, các nhà điều hành du lịch sinh
thái phải có được sự cộng tác với các nhà quản lí các khu bảo tồn thiên nhiên và
cộng đồng địa phương với mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các
giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống và nâng cao sự hiểu biết
chung giữa người dân địa phương với du khách.
c) Yêu cầu thứ ba: nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt
động du lịch sinh thái thì du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các
qui định về sức chứa, được hiểu từ 4 khía cạnh: vật lí, sinh học, tâm lí học và xã hội.
d) Yêu cầu thứ bốn: thỏa mãn nhu cầu, nâng cao hiểu biết của khách du lịch.
Đây cũng là yêu cầu cần thiết và lâu dài của ngành du lịch sinh thái.
1.1.6. Quan hệ du lịch sinh thái với cộng đồng địa phương
Trước khi hoạt động du lịch, cộng đồng địa phương đã gắn bó với mảnh đất
mà họ sinh sống, đồng thời chính họ có xu hướng bảo vệ các giá trị tự nhiên và văn
hóa tại đây. Những yếu tố thu hút sự quan tâm của khách du lịch với cộng đồng địa
phương rất đa dạng như: các yếu tố văn hóa, di tích lịch sử, kiến trúc, văn hóa nghệ
11

thuật, tập quán sản xuất, các món ăn địa phương , khi đó khách du lịch đến thăm
cộng đồng địa phương lại cung cấp các dịch vụ như: chỗ nghỉ ngơi và các dịch vụ

khác Sự kết hợp du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng địa phương đã tạo điều kiện
hình thành một loại hình du lịch mới là du lịch sinh thi dựa vo cng đồng. Mối
quan hệ giữa người làm du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương không phải là
mối quan hệ duy nhất, mà còn có mối quan hệ khác: cộng đồng địa phương và nhà
quản lý, cộng đồng địa phương và khách du lịch, người quản lý và khách du lịch,…
Do đó, cần phải điều tiết quan hệ giữa các bên cho hợp lý.
Tuy nhiên mối quan hệ này là song phương, khi hoạt động du lịch phát triển
nó mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương như:
- Tạo việc làm trực tiếp trong ngành du lịch và trong các ngành hỗ trợ khác.
- Thu ngoại tệ, làm đa dạng hóa nền kinh tế địa phương.
- Tạo động lực cải thiện cơ sở hạ tầng, giao thông, thông tin liên lạc, các cơ
sở y tế địa phương
- Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa du khách và dân địa phương, góp
phần nâng cao dân trí, cải thiện nhận thức, tạo mối quan hệ xã hội ngày càng tiến bộ.
Tuy nhiên, dù là loại hình du lịch nào nhưng nếu phát triển không đúng
nguyên tắc cũng đều gây những mặt tiêu cực như:
- Du lịch có thể góp phần vào quá trình phát triển và kém phát triển, làm tăng
thêm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo.
- Tạo ra sự phụ thuộc kinh tế nặng nề vào du lịch, làm nẩy sinh sự bất ổn về
tài chính, gây đảo lộn đời sống kinh tế xã hội.
- Gây ra sự quá tải đối với cơ sở hạ tầng.
Như vậy, bất kỳ loại hình du lịch nào cũng có những mặt tiêu cực nếu như
không có một định hướng phát triển đúng đắn. Do đó hiểu và nắm vững về mặt lý
luận của du lịch sinh thái là một vấn đề quan trọng trước khi bắt tay vào thiết kế
một kế hoạch phát triển du lịch sinh thái cho một vùng cụ thể.
1.1.7. Tài nguyên du lịch và du lịch sinh thái
Tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn vật liệu, năng lượng thông tin có trên
trái đất và vũ trụ mà con người có thể sử dụng để phục vụ cuộc sống và sự phát
triển của mình (Lê Thạc Cán, 1995) [8]. Theo quan niệm này, tài nguyên là của cải,
12


là tất cả những gì có thể dùng vào mục đích, hành động nào đó. Như vậy, nguồn tài
nguyên nhiều hay ít, giá trị lớn hay nhỏ đều phụ thuộc vào tiến bộ khoa học, công
nghệ và nhu cầu sử dụng của con người.
Tài nguyên du lịch là một dạng trong toàn bộ tài nguyên được con người sử
dụng. Đã có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về tài nguyên du lịch. Theo Pirôginoic
(1985): "Ti nguyên du lịch l cc thnh phần v thể cảnh quan tự nhiên v nhân
sinh có thể dùng để tạo ra sản phẩm du lịch, thoả mãn nhu cầu về chữa bệnh, thể
thao, nghỉ ngơi hay tham quan, du lịch". Theo Bonface, B. và Cooper, C (Geography
of Travel and Tourism, 1993)[33].
Tại Việt Nam, định nghĩa đầu tiên về tài nguyên du lịch được đưa ra trong
Pháp lệnh du lịch Việt Nam, 1999 [19]: “Ti nguyên du lịch là cảnh quan thiên
nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng
tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa nãm nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ
bản hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”. Định
nghĩa này được bổ sung, chỉnh sửa trong luật du lịch Việt Nam 2005 [21]: “Ti
nguyên du lịch l cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn ho,
công trình lao đng sng tạo của con người v cc gi trị nhân văn khc có thể
được sử dụng nhằm đp ứng nhu cầu du lịch, l yếu tố cơ bản để hình thnh cc
khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.
Cũng như các dạng tài nguyên khác, tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch
sử. Những tổng thể tự nhiên hay văn hóa - lịch sử cùng các thành phần của chúng có
thể tồn tại trước cả khi ngành kinh tế du lịch ra đời. Nhưng chúng chỉ trở thành tài
nguyên khi nhu cầu du lịch của con người xuất hiện (Bonface và Cooper, 1993) [33].
Tài nguyên du lịch có thể phân chia thành hai nhóm: tài nguyên du lịch tự
nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các
thành phần của tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên và các hiện tượng đặc sắc của
thiên nhiên. Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, lễ hội,
làng nghề, phong tục tập quán, ẩm thực, các công trình đương đại, các sự kiện,
Ti nguyên du lịch sinh thilà một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch,

bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và giá trị văn hóa
bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó (Pháp lệnh du
lịch Việt Nam, 1999 [19]). Tuy nhiên, không phải tất cả các giá trị tự nhiên và văn
13

hóa bản địa đều được coi tài nguyên du lịch sinh thái mà chỉ các thành phần và các
thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể có
khả năng khai thác để tạo ra các sản phẩm du lịch sinh thái phục vụ cho mục đích
phát triển du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng, mới được xem là tài nguyên
du lịch sinh thái.
Tài nguyên du lịch sinh thái bao gồm :
+ Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt nơi có tính đa dạng sinh học cao.
+ Các hệ sinh thái nông nghiệp (ví dụ: vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa,
cây cảnh ).
+ Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại
của hệ sinh thái tự nhiên với các phương thức canh tác, các lễ hội sinh hoạt truyền
thống gắn liền với các truyền thuyết của cộng đồng. Các giá trị bản địa thường được
khai thác với tư cách là tài nguyên du lịch sinh thái bao gồm: kiến thức canh tác,
khai thác, bảo tồn và sử dụng các loài sinh vật phục vụ cuộc sống của cộng đồng;
đặc điểm sinh hoạt văn hóa với các lễ hội truyền thống; kiến trúc dân gian, công
trình gắn với các truyền thuyết, đặc điểm tự nhiên của khu vực; các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ gắn với cuộc sống của cộng đồng; các di tích lịch sử văn hóa, khảo
cổ gắn liền với lịch sử phát triển, tín ngưỡng của cộng đồng.
Ti nguyên du lịch sinh thi có cc đặc điểm sau:
- Phong phú và đa dạng trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc có sức hấp dẫn lớn.
- Thường rất nhạy cảm với các tác động của môi trường.
- Thường có thời gian khai thác khác nhau.
- Thường nằm xa các khu dân cư và được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản
phẩm du lịch.
- Thường được khai thác lâu dài.

1.1.8. Các kiểu du lịch sinh thái
Các kiểu du lịch sinh thái được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, liên
quan đến nhiều yếu tố: yêu cầu về đặc điểm tự nhiên, qui mô của nhóm du lịch, yêu
cầu về các điều kiện dịch vụ du lịch của khách, nhu cầu về kinh nghiệm du lịch và
14

mức độ hài lòng. Kết hợp các yếu tố trên có thể khái quát lại thành ba kiểu du lịch
sinh thái chủ yếu (Bảng 1.1).
Bảng 1.1: Cc kiểu du lịch sinh thi
Kiểu
du lịch
sinh
thái
Yêu cầu về
khu tự nhiên
Qui mô
nhóm
Phương tiện,
cơ sở du lịch
Nhu cầu kinh
nghiệm du lịch
du lịch sinh thái
tiên phong

Các khu vực tự
nhiên xa xôi,
còn ít được sử
dụng
Các cá
nhân hoặc

nhóm nhỏ
(dưới 10
người)
Dùng vận tải
thô sở (đi bộ,
thuyền bè); ít
nhu cầu về các
dịch vụ và cơ
sở hạ tầng.
Là kinh nghiệm ''bất
thường đầu tiên'' yêu
cầu mức độ thách
thức cao về sự hiểu
biết và các kĩ năng
hoạt động ngoài trời
du lịch sinh thái
nhóm nhỏ
Khu vực đặc
biệt và thường ở
những nơi biệt
lập
Cá nhân
nhóm
tương đối
nhỏ (dưới
15 người)
Có sử dụng cơ
giới đặc biệt
(xe đi xuyên
rừng, thuyền

máy nhỏ)
Yêu cầu sự thách thức
và tính tự lập ở mức
trung bình, phù hợp
cho nhiều nhóm tuổi
kỹ năng hoạt động
ngoài trời ở mức vừa
phải
du lịch sinh thái
phổ biến(đại trà)
Là các khu vực
hấp dẫn về tự
nhiên phổ biến
và nổi tiếng
Nhóm
khách với
số lượng
lớn.
Dùng vận tải
cơ giới lớn, phổ
biến yêu cầu
đáng kể về cơ
sở hạ tầng và
các dịch vụ.
Yêu cầu về tính tự lập
và thách thức nói
chung là thấp. Đáp
ứng cho mọi đối
tượng du khách, bất
kể tuổi tác hoặc khả

năng về sức khỏe.
“Nguồn: Nguyễn Thị Sơn, 2000”
1.2. Thực trạng nghiên cứu, tổ chức phát triển du lịch sinh thái trên thế giới và
Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Du lịch sinh thái có nguồn gốc từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời và
bắt đầu được bàn đến từ những năm đầu của thập niên 1980 trên thế giới. Những
15

nhà nghiên cứu tiên phong và điển hình về lĩnh vực này là Ceballos - Lascurain [35]
trong tác phẩm ''Tourism, Ecotourism, and Protected Areas, IUCN – The World
Conservation Union''; Bo (1990): ''Ecotourism: The Protentials and Pitfalls,
Baltimore: Worldwide Fund for Nature, USA''[32], Bruckley (1994): ''A Framewrok
for Ecotourism''[34], cùng hàng loạt các nghiên cứu lý luận và thực tiễn về du lịch
sinh thái của các nhà khoa học quan tâm đến lĩnh vực này như: Dowling, Kreg
lindberg, Donale Hawkins và David Western Ngoài ra còn có những ấn phẩm về
hướng dẫn quy hoạch, quản lý du lịch và môi trường trong du lịch sinh thái của
nhiều tác giả như Foster, Buck Dowling, Ceballos - Lascurain
Du lịch sinh thái nói riêng và các loại hình du lịch thay thế nói chung mới
thực sự được chú ý khi nhân loại đứng trước những tác động tiêu cực ngày càng rõ
rệt của du lịch ồ ạt nổ ra vào đầu thế kỉ XX. Tiếp bước những nghiên cứu của một
số nhà khoa học như Kerg Lindberg, Donal E. Hawkins, Elizabeth Boo, Hetor
Ceballos-Lascuirain, Megan Epler Wood, Buckley và L.Hens. du lịch sinh thái nhận
được sự quan tâm nhiều hơn từ phía các tổ chức thế giới như Tổ chức Du lịch thế
giới (UNWTO), Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), Quỹ bảo tồn động vật
hoang dã thế giới (WWF) Sở dĩ có được mối quan tâm đó một phần là nhờ nỗ lực
bảo vệ môi trường được Liên Hợp Quốc đề ra trong Hội nghị về môi trường sống
của con người tại Stockholm-1972 (Thụy Điển) và Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất
tại Rio De Janero-1992 (Brazil).
Từ cấp độ quốc gia và khu vực, du lịch sinh thái phát triển mạnh mẽ trên quy

mô toàn cầu, đánh dấu bằng sự kiện Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ) chọn năm
2002 là “Năm Quốc tế Du lịch Sinh thái”. Tại hội nghị của LHQ, các quốc gia đã
ghi nhận giá trị quan trọng toàn cầu của du lịch sinh thái, những lợi ích cũng như
các ảnh hưởng của du lịch sinh thái đối với vấn đề bảo vệ môi trường. Kết quả của
Hội nghị này là Tuyên bố Quebec về du lịch sinh thi (Canada). Năm 2007, Hội
nghị du lịch sinh thi quốc tế tại Oslo (Na-Uy) đã tổng kết những thành công, hạn
chế cũng như thách thức của hoạt động du lịch sinh thái trên quy mô thế giới và đưa
ra khuyến nghị về 4 lĩnh vực: phát triển bền vững, bảo tồn, giáo dục và truyền thông
và những vấn đề nhạy cảm của du lịch sinh thái.
Hưởng ứng lời kêu gọi của LHQ về bảo vệ môi trường và phát triển du lịch
bền vững, hơn 90 quốc gia thành viên của Tổ chức du lịch sinh thái thế giới (TIES)
16

đã tham gia vào Thỏa ước Oslo (gọi tắt là GEC07). Nhiều nước như Mexico, Úc,
Malayxia, Ecuado, Costa Rica đã xây dựng chiến lược và kế hoạch du lịch sinh
thái quốc gia. Một số nước như Ecuado, Brazil, Úc, Kenya, Estonia, Inđonexia,
Venezuela đã thành lập hiệp hội du lịch sinh thái cấp quốc gia để hoạch định
chính sách và kiểm soát hoạt động du lịch sinh thái nước mình, đồng thời là cầu nối
chính thức với các tổ chức quốc tế có liên quan.
Hiện nay, phát triển du lịch sinh thái đang được phát triển tại nhiều quốc gia
đặc biệt tại các khu vực có tiềm năng du lịch cao nhằm đem lại lợi ích cao về kinh
tế. Tuy nhiên, những tác động tiêu cực đối với môi trường và các hệ sinh thái đã trở
thành thách thức mới và nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Năm 1998
với sự ra đời cuốn sách “ Du lịch sinh thi: hướng dẫn cho cc nh lập kế hoạch v
quản lý” (Hiệp hội du lịch sinh thái, Kreg Lindberg, Megan Epler Wood, David
Engeldrum)[39]đã cung cấp đầy đủ kiến thức về du lịch sinh thái, được coi là tài
liệu tốt đối với các nhà quy hoạch, quản lý, sinh viên và những người hoạt động
trong ngành này.
Du lịch sinh thái tại Costa Rica từ năm 1970 và bắt đầu phát triển vào những
năm 1980 đã tạo ra một nền kinh tế đa dạng nhưng cũng đem lại những thách thức

không nhỏ cho quốc gia này. Dựa vào thực trạng phát triển du lịch sinh thái, phân
tích tiềm năng phát triển du lịch bền vững, những tác động của du lịch đến kinh tế
xã hội và môi trường tại Costa Rica, Bernardo Duhá Buchsbaum đã đánh giá xu
hướng phát triển và đề xuất phương án nhằm phát triển du lịch sinh thái bền vững
trong nghiên cứu về du lịch sinh thái và phát triển bền vững tại Costa Rica
(Ecotourism and subtainable development in Costa Rica, Bernardo Duhá
Buchsbaum, 2004) [31].
Nhà xuất bản Taylor và Francis dựa trên các quan điểm về địa lý, kinh tế,
kinh doanh, triết học, sinh học và môi trường đã nghiên cứu du lịch sinh thái ở
nhiều khía cạnh khác nhau như tầm quan trọng của ngành du lịch và du lịch dựa vào
thiên nhiên, ưu-nhược điểm, các chính sách phát triển, quản lý du lịch sinh thái và
bảo tồn đa dạng sinh học (Du lịch sinh thi, Taylor v Francis, 2008) [42]. Hơn
nữa, sự phát triển đương đại của du lịch sinh thái được thể hiện trong tác phẩm “du
lịch sinh thái” (John Wiley & Sons Australia, 2008)[40]dựa trên nền tảng của ấn

×