Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

lý luận chung về con người và vai trò của con người

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (190.24 KB, 25 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
1
Mục lục
Trang
Lời nói đầu................................................................................................................2
Chơng I. Lý luận chung về con ngời........................................................................3
1.Quan điểm của các nhà triết học trớc Mác về con ngời.............................................3
2.Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con ngời...............................................................5
2.1.Con ngời là một thực thể sinh học xã hội................................................................5
2.2.Con ngời là tổng hoà các mối quan hệ xã hội.........................................................5
2.3. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.......................................................................7
2.4. Quan hệ giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ......................................................9
Chơng II. Vai trò của con ngời..............................................................................10
1. T tởng Hồ Chí Minh về con ngời và vai trò của con ngời ......................................10
2. Vai trò của con ngời Việt Nam hiện nay.................................................................12
2.1. Mặt tích cực của con ngời Việt Nam...................................................................15
2.2. Hạn chế của con ngời Việt Nam..........................................................................16
2.3. Giải pháp phát triển con ngời Việt Nam trong thời đại mới ...............................17
2.3.1. Khai thác hợp lý và có hiệu quả nguồn lực con ngời .......................................17
2.3.2. Đào tạo trớc đòi hỏi của kinh tế tri thức...........................................................18
2.3.3. Cải cách giáo dục để đẩy nhanh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nớc.....................................................................................................20
Kết luận...................................................................................................................22
Tài liệu tham khảo..................................................................................................24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2
Lời nói đầu
Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội từ nền kinh tế còn phổ biến là sản
xuất nhỏ, ruộng đất canh tác bình quân đầu ngời thấp, tài nguyên khoáng sản tuy đa
dạng phong phú, song trữ lợng không lớn nh nhiều nớc khác, cơ sở vật chất kỹ
thuật còn nghèo, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, đang đứng trớc nguy cơ tụt hậu


ngày càng xa hơn về kinh tế, khoa học, kỹ thuật so với các nớc phát triển. Vì vậy,
nền kinh tế muốn phát triển nhanh, mạnh và bền vững, thì phải phát huy tốt mọi
nguồn lực, nhng quan trọng nhất là phải biết phát huy nguồn lực con ngời.
Ngày nay, nhiều nớc đang tiến vào làn sóng văn minh mới, với nền sản xuất hiện
đại, khoa học, kỹ thuật công nghệ tiên tiến. Nhiều nớc cách đây mấy chục năm có
điểm xuất phát thấp hơn Việt Nam, nhng họ đã phát triển nhanh chóng nhờ có chiến
lợc phù hợp, có những chính sách khôn ngoan, năng động. Nhiều quốc gia vốn cũng
nghèo về tài nguyên khoáng sản, nhng nhờ biết phát huy yếu tố con ngời, đặt con
ngời ở vị trí trung tâm trong chiến lợc phát triển kinh tế- xã hội, nên đã vơn lên đuổi
kịp và vợt các nớc khác.
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, đảng ta xác định nhiệm vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ hàng đầu thì vai trò của con ngời là quan
trọng nhất. Con ngời là chủ thể sáng tạo của lịch sử. Trong CMXHCN con ngời là
yếu tố quyết định vừa là điểm xuất phát vừa là mục đích của một chính sách kinh tế
xã hội. Xây dựng xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội mà ở đó có đủ những
điều kiện vật chất và tinh thần.
Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin về con ngời tại
hội nghị lần thứ t của ban chấp hành trung ơng khoá VII, Đảng ta đã đề ra và thông
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3
qua nghị quyết về việc phát triển con ngời Việt Nam toàn diện với t cách là động lực
của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đó
là con ngời phát triển cao về trí tuệ, cờng tráng về thể chất, phong phú về tinh thần,
trong sáng về đạo đức.
Chơng I. Lý luận chung về con ngời
1. Quan điểm của các nhà triết học trớc Mác về con ngời
Khi đề cập tới vấn đề con ngời các nhà triết học đều tự hỏi: Thực chất con ngời
là gì và để tìm cách trả lời câu hỏi đó phải giải quyết hàng loạt mâu thuẫn troch
chính con ngời. Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi con ngời là một tiểu vũ trụ,
là một thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con ngời là bản chất vũ trụ.

Con ngời là vật cao quý nhất trong trời đất, là chúa tể của muôn loài. Chỉ đứng sau
thần linh. Con ngời đợc chia làm hai phần là phần xác và phần hồn. Chủ nghĩa duy
tâm và tôn giáo thì cho rằng: Phần hồn là do thợng đế sinh ra; quy định, chi phối mọi
hoạt động của phần xác, linh hoòn con ngời tồn tại mãi mãi. Chủ nghĩa duy vật thì
ngợc lại họ cho rằng phần xác quyết định và chi phối phần hồn, không có linh hồn
nào là bất tử cả, và quá trình nhận thức đó không ngừng đợc phát hiện. Càng ngày
các nhà triết học tìm ra đợc bản chất của con ngời và không ngừng khắc phục lý luận
trớc đó.
Triết học thế kỷ XV - XVIII phát triển quan điểm triết học về con ngời trên cơ
sở khoa học tự nhiên đã khắc phục và bắt đầu phát triển. Chủ nghĩa duy vật máy móc
coi con ngời nh một bộ máy vận động theo một quy luật cổ. Học chủ nghĩa duy tâm
chủ quan và thuyết không thể biết một mặt coi cái tôi và cảm giác của cái tôi là
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4
trung tâm sáng tạo ra cái không tôi, mặt khả cho rằng cái tôi không có khả năng vợt
quá cảm giác của mình nên về bản chất là nhỏ bé yếu ớt, phụ thuộc đấng tới cao. Các
nhà triết học thuộc một mặt đề cao vai trò sáng tạo của lý tính ngời, mặt khác coi con
ngời là sản phẩm của tự nhiên và hoàn cảnh.
Các nhà triết học cổ điển đức, từ Cartơ đến Heghen đã phát triển quan điểm
triêt học về con ngời theo hớng của chủ nghĩa duy tâm. Đặc biệt Heghen quan niệm
con ngời là hiện thân của ý niệm tuyệt đối là con ngời ý thức và do đó đời sống con
ngời chỉ đợc xem xét vè mặt tinh thần Song Heghen cũng là ngời đầu tiên thông qua
việc xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần mà phát hiện ra quy luật về sự
phát triển của đời sống tinh thần cá nhân. Đồng thời Heghen cũng đã nghiên cứu bản
chất quá trình t duy khái quát các quy luật cơ bản của quá trình đó.
Sau khi đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy tâm Heghen, phơ bách đã phê phán tính
siêu tự nhiên, phi thể xác trong quan niệm triết học Heghen, ông quan niệm con ngời
là sản phẩm cảu tự nhiên, có bản năng tự nhiên, là con ngời sinh học trực quan, phụ
thuộc vào hoàn cảnh, ông đã sử dụng thành tựu của khoa học tự nhiên để chứng minh
mối liên hệ không thể chia cắt của t duy với những quá trình vật chất diễn ra trong cơ

thể con ngời, song khi giải thích con ngời trong mối liên hệ cộng đồng thì phơ bách
lại rơi vào lập trờng của chủ nghĩa duy tâm.
Tóm lại: Các quan niệm triết học nói trên đã đi đến những các thức lý luận xem xét
ngời một cách trừu tợng. Đó là kết quả của việc tuyệt đối hoá phần hồn thành con ng-
ời trừu tợng. Tự ý thức còn chủ nghĩa duy vật trực quan thì tuyệt đối hoá phần xác
thành con ngời trừu tợng. Sinh học, tuy nhiên họ vẫn còn nhiều hạn chế, các quan
niệm nói trên đều cha chú ý đầy đủ đến bản chất con ngời.
2. Quan điểm chủ nghĩa Mác về con ngời
2.1. Con ngời là một thực thể sinh học xã hội
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con ngời là khái niệm chỉ những cá thể ngời nh
một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5
Con ngời là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật.
Do vậy nhiều quy luật sinh vật học cùng tồn tại và tác động đến con ngời. Để tồn tại
với t cách là một con ngời trớc hết con ngời cũng phải ăn, phải uống... Điều đó giải
thích vì sao Mác cho rằng co ngời trớc hết phải ăn, mặc ở rồi mới làm chính trị.
2.2. Con ngời là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội
Mác và Anghen nhiều lần khẳng định lại quan điểm của những nhà triết học
đi trớc rằng. Con ngời là một bộ phận của giới tự nhiên, là một động vật xã hội, nhng
khác với họ, Mác, Anghen; xem xét mặt tự nhiên của con ngời, nh ăn, ngủ, đi lại, yêu
thích... Không còn hoàn mang tính tự nhiên nh ở con vật mà đã đợc xã hội hoá. Mác
viết: Bản chất của con ngời không phải là một cái trừu tợng cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất của con ngời là tổng hoà của những
mối quan hệ xã hội
( )
1
con ngời là sự kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội nên
Mác nhiều lần đã so sánh con ngời với con vật, so sánh con ngời với những con vật
có bản năng gần giống với con ngời... Và để tìm ra sự khác biệt đó. Mác đã chỉ ra sự

khác biệt ở nhiều chỗ nh chỉ có con ngời làm ra t liệu sinh hoạt của mình, con ngời
biến đổi tự nhiên theo quy luật của tự nhiên, con ngời là thớc đo của vạn vật, con ng-
ời sản xuất ra công cụ sản xuất... Luận điểm xem con ngời là sinh vật biết chế tạo ra
công cụ sản xuất đợc xem là luận điểm tiêu biểu của chủ nghĩa Mác về con ngời.
Luận điểm của Mác coi Bản chất của con ngời là tổng hoà các quan hệ xã
hội Mác hoàn toàn không có ý phủ nhận vai trò của các yếu tố và đặc điểm sinh học
của con ngời, ông chỉ đối lập luận điểm coi con ngời đơn thuần nh một phần của giới
tự nhiên còn bỏ qua, không nói gì đến mặt xã hội của con ngời. Khi xác định bản
chất của con ngời trớc hết Mác nêu bật cái chung, cái không thể thiếu và có tính chất
quyết định làm cho con ngời trở thành một con ngời. Sau, thì khi nói đến Sự định h-
ớng hợp lý về mặt sinh học Lênin cũng chỉ bác bỏ các yếu tố xã hội thờng xuyên
tác động và ảnh hởng to lớn đối với bản chất và sự phát triển của con ngời. Chính
Lênin cũng đã không tán thành quan điểm cho rằng mọ ngời đều ngang nhau về mặt
1. Sđd, t.3, tr. 11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
6
sinh học. Ông viết thực hiện một sự bình đẳng về sức lực và tài năng con ngời thì đó
là một điều ngu xuẩn... Nói tới bình đẳng thì đó luôn luôn là sự bình đẳng xã hội,
bình đẳng về địa vị chỉ không phải là sự bình đẳng về thể lực và trí lực của cá nhân
( )
1
.
Để khẳng định cho tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài ngời là sự thay
thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, Mác đã nói tới việc lấy sự phát triển
toàn diện của con ngời làm thớc đo chung cho sự phát triển xã hội, Mác cho rằng xu
hớng chung của tiến trình phát triển lịch sử đợc quy định bởi sự phát triển của lực l-
ợng sản xuất xã hội bao gồm con ngời và những công cụ lao động do con ngời tạo ra,
sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội, tự nó đã nói lên trình độ phát triển của xã
hội qua việc con ngời đã chiếm lĩnh xã hội và sử dụng ngày càng nhiều lực lợng tự
nhiên với t cách là cơ sở vật chất cho hoạt động sống của chính con ngời và quyết

định quan hệ giữa ngời với ngời trong sản xuất. Sản xuất ngày càng phát triển tính
chất xã hội hoá ngày cnàg tăng. Việc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lợng của
toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do nó mang lại sẽ cần đến những
con ngời hoàn toàn mới. Những con ngời có năng lực phát triển toàn diện và đến lợt
nó, nền sản xuất sẽ tạo nên những con ngời mới, sẽ làm nên những thành viên trong
xã hội có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển của mình theo
Mác "phát triển sản xuất vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho
mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội và phát triển con ngời toàn diện là một quá
trình thống nhất để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội"
( )
2
để sản xuất ra những con
ngời phát triển toàn diện hơn nữa, Mác coi sự kết hợ chặt chẽ giữa phát triển sản xuất
và phát triển con ngời là một trong những biện pháp mạnh mẽ để cải biến xã hội.
Con ngời không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất là yếu tố hàng
đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lợng sản xuất của xã hội mà hơn nữa,
con ngời còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua hoạt
động sản xuất vật chật con ngời sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch sử 7của xã hội loài
1. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Matxcova, 1978, t.45, tr. 110-111
2. C.Mác và Ph. ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.29
Website: Email : Tel : 0918.775.368
7
ngoài. Từ đó quan niệm đó Mác khẳng định sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội
có ý nghĩa là sự phát triển phong phú bản chất con ngời, coi nh là một mục đích tự
thân. Bởi vậy theo Mác ý nghĩa lịch sử mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là
phát triển con ngời toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá con ngời, giải phóng
con ngời, loại trừ ra khỏi cuộc sống con ngời để con ngời đợc sống với cuộc sống
đích thực. Và bớc quan trọng nhất trên con đờng đó là giải phóng con ngời về mặt xã
hội.
2.3. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội

Con ngời tồn tại qua những cá nhân ngời, mỗi cá nhân ngời là một chỉnh thể
đơn nhất gồm một hệ thống những đặc điểm cụ thể không lặp lại, khác biệt với
những cá nhân khác về cơ chế, tâm lý, trình độ
Xã hội bao giờ cũng do các cá nhân hợp thành. Những cá nhân này sống và
hoạt động trong những nhóm cộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do điều kiện lịch
sử quy định. Trong mối quan hệ với giống loài, tức là trong mối quan hệ với xã hội,
cá nhân biểu hiện ra với t cách sau:
- Cá nhân là phơng thức tồn tại của giống loài "ngời". Không có con ngời nói
chung, loài ngời nói chung tồn tại cảm tính.
- Cá nhân là cá thể ngời riêng rẽ, là phần tử tạo thành cộng đồng xã hội, là một
chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách.
- Cá nhân đợc hình thành và phát triển chỉ trong quan hệ xã hội. Nhng xã hội
thay đổi theo tiến trình lịch sử cá nhân là một hiện tợng có tính lịch sử. Mỗi thời kỳ
lịch sử có một "kiểu xã hội của cá nhân" mang tính định hớng về thế giới quan, ph-
ơng pháp luận cho hoạt động của con ngời trong thời kỳ lịch sử cụ thể đó.
Nếu nh cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể với giống loài,
sự khác biệt biểu hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân khác thì nhân cách
là khái niệm để chỉ sự khác biệt những yếu tố bên trong riêng biệt với toàn bộ hoạt
động sống của nó, của cá nhân này với cá nhân khác. Nhân cách là nội dung, trạng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
8
thái, tính chất, xu hớng bên trong riêng biệt của mỗi cá nhân. Đó là thế giới của "cái
tôi" do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội riêng biệt tạo nên. Mỗi cá
nhân "dấn thân" vào cuọc sống, tiếp thu và chuyển những giá trị văn hoá của xã hội
vào bên trong mình, thực hiện quá trình so sánh lọc bỏ, tự đánh giá, tự tạo nên thế
giới riêng của mình. Đâylà quá trình kép, xã hội hoá cá nhân và cá nhân hoá xã hội,
cá nhân xã họi và cá nhân nhân cách là thống nhất. Với nhân cách riêng, mỗi cá nhân
có khả năng ý thức về mình, làm chủ cuộc sống của mình, tự lựa chọn chức năng,
niềm vui và trách nhiệm hoạt động cụ thể trong xã hội.
Vấn đề cá nhân, nhân cách không giải quyết một cách khoa học nếu không có

phơng hớng triết học rõ ràng giải quyết mối quan hệ cá nhân và xã hội. Mối quan hệ
này đợc giải quyết liên tiếp thông qua tập thể cơ sở. Nó tạo thành một bộ phận hết
sức quan trọng của một cơ thể xã hội hoàn chỉnh. Cá nhân có nhân cách gia nhập vào
tập thể nh là bộ phận của cái toàn thể, thể hiện bản sắc của mình thông qua hoạt
động tập thể, nhng không "hoà tan" vào tập thể. Đây là mối quan hệ biện chứng bao
hàm mẫu thuẫn cá nhân và tập thể. Tuỳ theo tính chất và khả năng giải quyết những
mâu thuẫn đó mà mối quan hệ này có thể duy trì phát triển hoặc tan rã.
Mối quan hệ cá nhân và xã hội là mối quan hệ biện chứng, tác động nhau,
trong đó xã hội giữ vai trò quyết định. Nền tảng của quan hệ này là quan hệ lợi ích.
Thực chất của việc tổ chức trật tự xã hội là sắp xếp các quan hệ lợi ích sao cho khách
thác đợc cao nhất khả năng của mỗi thành viên vào các quá trình kinh tế, xã hội và
thúc đẩy quá trình phát triển lên trình độ cao hơn. Xã hội là điều kiện, là môi trờng,
là phơng thức để lợi ích cá nhân đợc thực hiện. Cá nhân không chỉ là sản phẩm của
xã hội mà còn là chủ thể của sự phát triển xã hội, của hoạt động sản xuất và hoạt
động xã hội khác. Với t cách là chủ thể của lịch sử, cá nhân hành động không phải
riêng rẽ mà với t cách là một bộ phận của tập thể xã hội (gia đình, giai cấp, dân tộc,
nhân dân). Nhân dân là cộng đồng lớn nhất, trong đó cá nhân hành động nh chủ thể
lịch sử. Cá nhân chỉ đợc hình thành phát triển trong xã hội, trong tập thể. Sự tác động
Website: Email : Tel : 0918.775.368
9
cá nhân và xã hội mang hình thức đặc thù tuỳ thuộc vào các chế độ xã hội và trình độ
văn minh khác nhau.
2.4. Quan hệ giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ
Mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh tụ là quan hệ biện chứng.
Tính biện chứng của mối quan hệ trên biểu hiện:
Thứ nhất, tính thống nhất giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ. Không có
phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, không có các quá trình kinh tế,
chính trị, xã hội của đông đảo quần chúng nhân dân, thì cũng không thể xuất hiện
lãnh tụ. Những các nhân u tú, những lãnh tụ kiệt xuất là sản phẩm của thời đại, vì
vậy, họ sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của phong trào quần chúng.

Thứ hai, quần chúng nhân dân và lãnh tụ thống nhất trong mục đích và lợi ích
của mình. Sự thống nhất về các mục tiêu của cách mạng, của hành động cách mạng
giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ do chính quan hệ lợi ích quy định. Lợi ích biểu
hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau: lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn
hoá Quan hệ lợi ích là cầu nối liền, là nội lực để liên kết các cá nhân cũng nh quần
chúng nhân dân và lãnh tụ với nhau thành một khối thống nhất về ý chí và hành
động. Lợi ích đó vânj đọng phát triển tuỳ thuộc vào thời đại, vào điẹa vị lịch sử của
giai cấp cầm quyền mà lãnh tụ là đại biểu, phụ thuộc vào khả năng nhận thức và vận
dụng đeer giải quyết mối quan hệ giữa các cá nhân, các giai cấp và tầng lớp xã hội.
Từ đó, có thể thấy rằng, mức độ thống nhất về lợi ích là cơ sở quy định sự thống nhất
về nhận thức và hành động giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử.
Thứ ba, sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ biểu hiện trong vai
trò khác nhau của sự tác động đến lịch sử. Tuy cùng đóng vai trò quan trọng đối với
tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, nhng quần chúng nhân dân là lực lợng quyết
định sự phát triển, còn lãnh tụ là ngời định hớng, dẫn dắt phong trào, thúc đẩy sự
phát triển của lịch sử.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
10
Bởi vậy, quan hệ giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân lãnh tụ là biện chứng,
vừa thống nhất vừa khác biệt.
Chơng II. Vai trò của con ngời
1. T tởng Hồ Chí Minh về con ngời và vai trò của con ngời
- Con ngời là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ không
phải do vài ba cá nhân anh hùng nào, vì vậy chúng ta phải yêu dân, quý dân, trọng
dân, vì có dân là có tất cả. Ngời nói: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân.
Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lợng đoàn kết của nhân dân.
( )
1
Do đó,

trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân.
Từ đó, ta thấy nổi lên ở Hồ Chí Minh một tấm lòng yêu thơng vô hạn đối với
con ngời, một niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con ngời, một ý chí kiên
quyết đấu tranh để giải phóng con ngời khỏi áp bức, bất công, đói nghèo, lạc hậu.
Cũng có thể coi đó là những nội dung cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.
- Con ngời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng.
T tởng Hồ Chí Minh về con ngời hoàn toàn xa lạ với các quan điểm xem con ngời
nh là công cụ, nh là phơng tiện. Mọi chính sách tăng trởng kinh té, phát triển văn hoá
của Hồ Chí Minh đều hớng tới con ngơiì. Ngời nói :Phải đem hết sức dân, tài dân,
của dân để làm lợi cho dân, dựa vào lực lợng của dân, tinh thần của dân để gây
hạnh phúc cho dân, chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn
hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy.
( )
2
Qua đó, có thể thấy, trong t t-
ởng Hồ Chí Minh, con ngời-mục tiêu và con ngời-động lực là thống nhất, vì dân và
do dân là thống nhất. Để phát huy vai trò động lực của con ngời, Hồ Chí Minh đã đề
cập đến một hệ thống nội dung và biện pháp (vật chất và tinh thần) nhằm tác động
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.9, tr.114
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.10, tr.115

×