Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

Một số kinh nghiệm soạn giáo án điện tử môn Tiếng Việt lớp 3

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (321.29 KB, 17 trang )

PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay, trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, CNTT bước đầu đã được
ứng dụng vào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện
nay, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục còn rất hạn chế. Thực tế đó đòi hỏi
cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng giảng dạy bằng cách phát huy
những ưu thế của lĩnh vực CNTT, phải biết tận dụng nó, biến nó thành công
cụ hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp giáo dục.
Thực tế cho thấy trong lĩnh vực giáo dục đào tạo (GD-ĐT), công nghệ
thông tin có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy
học,. CNTT là phương tiện để tiến tới “xã hội học tập”. Mặt khác, giáo dục
và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNTT thông
qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng
yêu cầu “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp
học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ
trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn”.
Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên, nhận thức được rằng, việc ứng dụng
CNTT phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những
hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học
và chắc chắn sẽ được sử dụng rộng rãi trong nhà trường phổ thông trong một
vài năm tới, tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và đưa CNTT vào giảng dạy thí điểm
một số tiết trong năm học trong các đợt sinh hoạt chuyên đề.
Tuy nhiên, trong quá trình ứng dụng CNTT trong dạy học - nhất là
đối với môn Tập đọc - vẫn còn gặp không ít những khó khăn. Chính vì thế,
trong đề tài này tôi xin trình bày một số biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng dạy học tập đọc có sự hỗ trợ của CNTT mà cụ thể là “Dạy học tập đọc
bằng giáo án điện tử” để cùng trao đổi, thảo luận và đi đến những ý kiến
thống nhất nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung và dạy học tập đọc
1
nói riêng trong thời gian tới. Mong nhận được sự động viên và góp ý của các


thầy cô đồng nghiệp.
2.Mục đích nghiên cứu
-Nhằm nâng cao chất lượng dạy học, tính thực tiễn ở đơn vị công tác.Tôi
nhận thấyviệc : ‘soạn giáo án điện tử”là vấn đề hết sức cần thiết giúp học
sinh tiếp cận với CNTT và nắm bắt thông tin nội dung bài học nhanh
nhất .Vì vậy tôi xét thấy cần tìm hiểu đề tài này ở trường và đưa ra
“Một số kinh nghiệm soạn giáo án điện tử môn Tiếng Việt lớp 3’’
để hỗ trợ giáo viên trong công tác giảng dạy tốt hơn .giúp giáo viên và học
sinh tiếp cận với phương pháp dạy học mới ứng dụng CNTT hiện đại , phù
hợp với xu thế thời đại .
3 . Đối tượng nghiên cứu
-Các tiết dạy có sử dụng CNTT
2
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng:
1.1. Có thể nói khó khăn lớn nhất khi thực hiện giáo án điện tử
(GAĐT) đó là trang thiết bị, phương tiện. Mặc dù trong xu thế CNTT phát
triển như vũ bão hiện nay nhưng việc trang bị những phương tiện giảng dạy
như máy tính xách tay, máy chiếu đa chức năng (Multimedia projector) vẫn
còn là một yêu cầu rất khó khăn với các nhà trường.
1.2. Phần lớn các giáo viên ngại sử dụng GAĐT vì cho rằng mất
nhiều thời gian để chuẩn bị một bài giảng. Việc thực hiện bài giảng một
cách công phu bằng các dẫn chứng sống động trên các slide là một điều
không phải dễ dàng với nhiều giáo viên. Để có một bài giảng như thế đòi hỏi
phải mất nhiều thời gian chuẩn bị trong khi số tiết của mỗi giáo viên trong
tuần là khá lớn, trang thiết bị còn thiếu nên giáo viên ít khi nghĩ đến điều
này. Giáo viên còn ngại sử dụng GAĐT thì nhà quản lí giáo dục cũng chưa
mặn mà lắm với việc đầu tư những trang bị đắt tiền trên cho dạy học.
1.3. Ngoài kiến thức chuyên môn, để thực hiện được GAĐT, giáo

viên cần phải trang bị được cho mình những kiến thức căn bản về vi tính, sử
dụng thành thạo phần mềm Power Point, biết khai thác tài liệu phục vụ
giảng dạy từ nhiều nguồn khác nhau như sưu tầm trên Internet, từ các đĩa
phim tài liệu… Công việc này đòi hỏi giáo viên phải có niềm đam mê thật
sự với công việc, sự sáng tạo, sự nhạy bén, tính thẩm mỹ để săn tìm tư liệu
từ nhiều nguồn. Trong khi trình độ sử dụng máy vi tính, sử dụng các phần
mềm tiện ích và khai thác thông tin từ mạng internet của đa số giáo viên còn
hạn chế thì đây cũng là một trở ngại không nhỏ đến việc dạy học bằng
GAĐT.
1.4. Một số giáo viên bước đầu làm quen với việc soạn giảng bằng
GAĐT nên chưa có những kinh nghiệm xử lí sao cho bài giảng tốt nhất.
3
Nhiều bài dạy đang còn quá rườm rà, xa rời nội dung hoặc làm gián đoạn bài
học do sử dụng quá nhiều hiệu ứng hoặc hình ảnh, phim minh họa cho nên
giờ dạy lại thiên về việc trình diễn những kỹ xảo tin học. Ngược lại, nhiều
bài giảng lại quá đơn điệu, sơ sài do đó không nâng cao được chất lượng giờ
dạy.
- Nhiều trường học trên địa bàn huyện đã được trang bị phòng máy vi
tính, tuy nhiên hầu như chưa có trường nào mạnh dạn kết nối internet - mặc
dù giá cước hiện nay rất rẻ - vì rất nhiều “cái sợ”. Vì thế không nhận thấy
được hiệu quả của việc giảng dạy ở những địa phương khác, giáo viên cũng
không có điều kiện để tìm hiểu về kỹ năng sử dụng GAĐT…
Chính vì những khó khăn trên mà việc sử dụng GAĐT trong dạy học
trên địa bàn huyện còn rất hạn chế. Với số lượng máy chiếu đa năng trong
địa bàn huyện ít ỏi như hiện nay thì việc đa số giáo viên sử dụng thành thạo
GAĐT để dạy học là một mục tiêu mà cần phải một thời gian nữa mới có thể
đạt được.
1.5 Kết quả (hiệu quả của thực trạng trên):
Xuất phát từ những thực tế trên, trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy
có một số kết quả sau:

- Giáo viên rất ngại sử dụng GAĐT. Nhiều giáo viên tỏ ra bi quan khi
nhắc đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học, thậm chí có người còn cho
rằng không thể làm được. Chính vì thế không phát huy được tính ưu việt của
GAĐT trong dạy học.
- Việc vận dụng những phương pháp dạy học mới trong những năm
vừa qua cũng đã đem lại những kết quả cao, song nhìn chung chất lượng học
sinh chưa thật sự tốt, học sinh nhanh nhớ nhưng cũng nhanh quên và trong
môn tập đọc, các em chỉ học được những gì cơ bản nhất chứ chưa có sự đầu
tư, tìm tòi những tri thức mới, chưa thực sự “hiểu” và “cảm” được nội dung
văn bản.
4
- Rất nhiều học sinh chưa được tiếp cận với cách học tập mới và rất
hứng thú này. Có thể nói đây là một thiệt thòi của các em.
Khảo sát hiệu quả từ phía HS cho thấy, nếu sử dụng phương pháp dạy
học truyền thống với phấn trắng bảng đen thì hiệu quả mang lại dù có cao
song cũng không đồng đều giữa các lớp, hứng thú học tập của học sinh cũng
không cao. Đây là kết quả thu được từ học sinh lớp 3A trường tiểu học
Quảng Đông.
Lớp Sĩ số
Giỏi Khá Trung bình Yếu - kém
SL % SL % SL % SL %
3A 26 6 22,8 9 34,2 10 39.2 1 3,8
Rõ ràng không thể phủ nhận thành công của các phương pháp dạy học
truyền thống song kết quả khảo sát như trên là chưa thực sự đồng đều.
2. Các giải pháp thực hiện
2.1 Tham mưu cùng Tổ chuyên môn và Ban giám hiệu, đề nghị các
cấp quản lí giáo dục tạo điều kiện trang bị những thiết bị cần thiết cho việc
thực hiện GAĐT như máy tính, máy chiếu đa năng (Multimedia projector).
2.2 Tổ chức một số buổi học tập về cách sử dụng máy chiếu, thiết lập
các hiệu ứng trong PowerPoint cho giáo viên để họ có thể tự thiết kế GAĐT

cho mình.
2.3 Tìm hiểu và nghiên cứu thêm những kỹ năng cơ bản và nâng cao
trong việc sử dụng GAĐT để làm phong phú thêm những dạng bài tập khác
nhau.
2.4 Tham gia các buổi thao giảng để thu nhận những góp ý chân thành
từ đồng nghiệp, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy theo phương pháp mới.
2.5 Thăm dò và đánh giá chất lượng học sinh sau giờ học để nắm bắt
được thực chất chất lượng của các em.
Tôi nghĩ rằng, với khả năng sư phạm vốn có cộng thêm một ít bồi
dưỡng về kiến thức tin học, các giáo viên hoàn toàn có thể thiết kế được bài
giảng điện tử để thể hiện tốt hơn phương pháp sư phạm, góp phần đổi mới
phương pháp giảng dạy.
5
3. Các biện pháp tổ chức thực hiện
Biện pháp 1: Ngoài kiến thức chuyên môn cần phải trang bị những
kiến thức tin học cơ bản nhất:
Mặc dù GAĐT chưa được các trường học đón nhận rộng rãi, chưa
thực sự phổ biến nhưng bước đầu nó đã tạo ra một không khí học tập và làm
việc khác hẳn cách học và cách giảng dạy truyền thống. Phải chăng việc dạy
bằng giáo án điện tử sẽ giúp người thầy đỡ vất vả bởi vì chỉ cần “click”
chuột? Thực ra, muốn click chuột để tiết dạy thực sự hiệu quả thì người dạy
cũng phải bỏ công tìm hiểu, làm quen với cách giảng bài mới này. Cụ thể,
người thầy cần phải:
- Có kiến thức cơ bản về sử dụng máy tính
- Biết sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint
- Biết cách truy cập và khai thác tài nguyên Internet.
- Có khả năng sử dụng một phần mềm chỉnh sửa ảnh, làm
các ảnh động, cắt các file âm thanh … đơn giản.
- Biết cách sử dụng projector
Để đạt đạt được những yêu cầu trên ,bản thân tôi cũng phải tham khảo

nhiều nguồn tư liệu ,sách báo có liên quan đến CNTT như tìm mua các cuốn
sách ; tự học powerpoint ,các giáo trình tin học cơ bản , tìm tòi các tài
liệu trên Intơnet ,các lớp chuyên đề của phòng giáo dục và điều quan trọng
là có sự đam mê tìm hiểu thì tôi nghĩ việc gì cũng thành công.
Thoạt nghe thì có vẻ phức tạp nhưng thực sự để sử dụng GAĐT vào
giảng dạy có bắt buộc phải thực hiện hết những yêu cầu trên? Câu trả lời là
không. Tuỳ thuộc vào tính chất của mỗi môn học, mỗi bài học mà có các
yêu cầu khác nhau được đặt ra cho giáo viên. Tuy nhiên nếu đáp ứng được
hết các yêu cầu trên thì thật tuyệt vời, các hoạt động của giáo viên trong giờ
dạy sẽ rất phong phú và hấp dẫn, lại tiết kiệm được rất nhiều thời gian chuẩn
bị bài.
6
Biện pháp 2: Khai thác và xử lý thông tin, tư liệu phục vụ cho bài
giảng:
Từ những giáo án được soạn sẵn trên giấy và được trình bày lại trên
bảng đen làm thế nào để chúng trở thành các GAĐT được trình bày trên máy
chiếu? Điều này đòi hỏi người thầy phải biết sử dụng PowerPoint. Đây là
một phần mềm nằm trong bộ MS Office dùng để tạo các trình diễn đa dạng
trên máy tính. Nếu chỉ dừng ở mức độ gõ những nội dung cần thiết cộng
thêm một ít định dạng về màu sắc, font chữ, thiết nghĩ giáo viên nào cũng có
thể làm được. Tuy nhiên nếu chỉ có thế thì chúng ta chưa thực sự khai thác
hết sức mạnh của PowerPoint cũng như chưa phát huy hiệu quả của phương
pháp giảng dạy mới này.
7
Ví dụ trong tiết tập đọc – hiểu văn bản “Hội đua voi ở Tây Nguyên”-
lớp 3, trong phần “giới thiệu bài”, giáo viên có thể chiếu lên màn hình bản
đồViệtNam
và lễ hội đua voi ở vùng đất Tây Nguyên trên bản đồ kết hợp thêm
vài lời giới thiệu ngắn gọn sẽ làm cho học sinh hình dung rõ hơn về địa danh
và lễ hội đặc trưng ở vùng tây Nguyên này. hoặc thay vì giáo viên viết bảng

phụ câu luyện đọc ,thì bây giờ, trên màn hình hiện ra các câu văn được thể
hiện rõ cách ngắt nghỉ , nhấn giọng dưới các cụm từ rõ nét . Giọng đọc
8
(được thay cho lời đọc của thầy, của trò.Hay khi giúp học sinh hiểu nghĩa từ
mới “ Man – gát , chiêng “ giáo viên cho học sinh quan sát trên màn hình
bằng hìnhảnh thực kết hợp tiếng nhạc cụ .
Người thầy chỉ cần khéo léo dẫn dắt học sinh tiếp cận vấn đề. Với
hình thức giảng dạy như thế, chắc chắn học sinh đều cảm nhận được cái hay
của bài văn bản cũng như cảm nhận được tình cảm của tác giả củng như
không khí sôi động của lễ hội.
Những tư liệu minh họa cho các nội dung bài học tương đối nhiều trên
Internet. Thiết nghĩ, nếu chỉ cần bỏ chút thời gian mà có được những nội
dung, hình ảnh cần minh họa cho bài giảng thì đó là điều rất nên làm bởi lẽ
nó vừa cung cấp cho chúng ta tư liệu bài giảng lại vừa giúp ta nâng cao kỹ
năng sử dụng máy tính. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giáo viên cần
biết cách thức truy cập Internet để lấy thông tin. Tuy nhiên, không phải hình
ảnh nào chúng ta lấy từ Internet đều thỏa mãn ý muốn của chúng ta. Chẳng
hạn, khi cần đoạn phim miêu tả về cảnh đẹp đất nước giới thiệu để phục vụ
cho bài “ Cảnh đẹp non sông”, tôi có truy cập vào các trang tư liệu
(www.tulieu.bachkim.vn;), tìm được rất nhiều phim tư liệu về nội dung
9
này. Do vậy vấn đề đặt ra là cần phải chọn đoạn phim nào là phù hợp với
nội dung bài dạy và cắt, ghép chúng sao cho chỉ ngắn khoảng 1 phút. Điều
này có thể làm được dễ dàng trong 5 phút với sự trợ giúp của phần mềm hỗ
trợ.
Để có được những tư liệu trên, giáo viên cần phải có sự sưu tầm và
mạng internet là địa chỉ sưu tầm phong phú nhất. Các bạn có thể sưu tầm
được rất nhiều tài liệu từ các địa chỉ như: www.tulieu.bachkim.vn;
www.dayhoc.vn; www.dayhocintel.org hoặc tìm kiếm trong
www.google.com với từ khóa thích hợp… VD: giáo án , tài liệu

Biện pháp 3: Đưa các tư liệu cần thiết vào bài dạy:
Khi đã sưu tập được những tư liệu cần thiết cần phải có sự chọn lọc
cần thiết để đưa vào bài giảng của mình. Không nên sử dụng quá nhiều hình
ảnh tư liệu mà chỉ sử dụng ở mức độ vừa phải để tránh làm phân tán sự tập
trung của học sinh.
Sau khi đưa hình ảnh minh họa vào bài giảng, thao tác cơ bản nhất đòi
hỏi người thầy phải nắm được là cách thiết lập các hiệu ứng để làm cho bài
giảng sinh động, mang lại không khí học tập, giảng dạy mới mẻ. Các hiệu
ứng cần được sử dụng một cách vừa phải để không làm ảnh hưởng đến sự
tiếp thu kiến thức của học sinh. Bên cạnh đó nếu giáo viên có thể sử dụng
thành thạo PowerPoint thì còn có thể thiết kế được nhiều kiểu bài tập khác
nhau rất phong phú và hấp dẫn như trò chơi ô chữ, lựa chọn đáp án…bằng
việc sử dụng các hiệu ứng. Ngoài ra, việc làm này còn giúp cho giáo viên
tiết kiệm được thời gian viết nội dung lên bảng, nội dung hiển thị đến đâu,
giáo viên giảng đến đó, làm cho thời gian giảng bài nhiều hơn, các em học
sinh hiểu bài sâu hơn. Để tạo được hiệu ứng chỉ cần chọn đối tượng cần áp
dụng hiệu ứng, chọn Slide Show / Custom Animation… sau đó trong mục
Add Effect chọn hiệu ứng hợp lý rồi chọn cách xuất hiện và thời gian cho
phù hợp với nội dung.
Biện pháp 4: Làm phong phú thêm hệ thống bài tập:
10
Khi đã biết cách sử dụng PowerPoint một cách thành thạo, giáo viên
có thể dễ dàng tạo ra được rất nhiều các dạng bài tập khác nhau nhờ việc sử
dụng các hiệu ứng ví dụ như dạng bài tập lựa chọn, trò chơi ô chữ…
Trong bài “Cảnh đẹp non sông” tôi đã thiết kế một hệ thống câu hỏi
trắc nghiệm phục vụ cho phần luyện học thuộc lòng củng cố nội dung bài
học khiến cho học sinh rất hứng thú. Một bảng gồm có 6 lựa chọn tương
đương với 6 câu hỏi. Học sinh sẽ phải lựa chọn ngẫu nhiên mà không được
biết trước nội dung câu hỏi.
Hình 1: Bảng câu hỏi để lựa chọn

Sau khi đã chọn một câu hỏi, giáo viên click chuột vào câu mà học
sinh chọn, nội dung câu hỏi và đáp án để lựa chọn mới hiện ra (thực hiện
bằng siêu liên kết - Hyperlink):
Khi học sinh nêu ra đáp án lựa chọn, giáo viên click vào đáp án ấy.
Nếu đáp án ấy sai thì xuất hiện tín hiệu báo sai bên cạnh đáp án kèm theo
một chuỗi âm thanh, sau đó tín hiệu báo sai sẽ biến mất (dùng thủ thuật
tricker):
Nếu đáp án học sinh chọn là đúng thì sẽ phát tín hiệu báo đúng kèm
theo một chuỗi âm thanh, tín hiệu báo đúng sẽ xuất hiện cạnh đáp án đúng:
Biện pháp 5: Linh hoạt khi hướng dẫn học sinh học tập
Bài giảng sau khi thiết kế sẽ được trình chiếu lên màn hình thông qua
máy chiếu. Nghĩa là giáo viên buộc phải biết cách sử dụng nó. Đây là một
11
trong những yêu cầu bắt buộc, chỉ cần một vài thao tác lắp máy chiếu với
CPU của máy tính hoặc kết nối với máy tính xách tay và điều chỉnh độ lớn
(zoom), độ nét (sharpness) trên màn hình giáo viên chắc hẳn sẽ có một bài
giảng chất lượng, học trò sẽ có không khí học thoải mái hơn. Thực tế cho
thấy nhờ GAĐT mà giáo viên đã tạo ra một không khí khác hẳn so với giờ
dạy truyền thống. Học sinh sẽ tập trung cao để nghe giảng và tư duy nhiều
hơn trong các giờ học.
Khi chuyển từ bài giảng truyền thống sang các slide trình diễn, giáo
viên thường mang tư tưởng của bài giảng cũ để áp đặt vào. Nghĩa là sẽ trình
bày tất cả những gì mình nói và viết vào slide. Điều này hoàn toàn sai lầm vì
như thế học sinh sẽ cho rằng giáo viên chỉ nói những điều trong sách, không
mở rộng các kiến thức ngoài, đồng thời nội dung trình chiếu sẽ rất dài, học
sinh khó có thể ghi chép đầy đủ vào vở để làm tài liệu học ở nhà.
Vì thế chỉ nên coi slide là nơi chỉ chứa tên bài học, các đề mục và các
ý chính phục vụ cho bài giảng. Nếu slide cần hình ảnh minh họa, giáo viên
nên tìm kiếm hình ảnh để chèn vào. Công đoạn đưa nội dung vào giáo viên
cũng nên lưu ý đến số lượng chữ, mầu sắc, kích thước trên các slide. Nhìn

vào slide giáo viên có nhiệm vụ giải thích kỹ càng và mở rộng nó ra chứ
không phải là đọc các dòng chữ trên slide. Nếu chưa quen với cách giảng
dạy này, giáo viên có thể thấy khó khăn trong việc xác định xem slide tiếp
theo sẽ trình bày về vấn đề gì. Không sao, để dễ dàng làm chủ quá trình điều
khiển học sinh, giáo viên có thể in ra một bản cầm tay (hand out) để vừa
giảng vừa nhìn vào đó mà xác định vấn đề sẽ nói tiếp theo.
Biện pháp 6: Sử dụng GAĐT không có nghĩa giáo án truyền thống
bị lãng quên.
Trong giáo án truyền thống chúng ta trình bày tất cả nội dung bài
giảng. Vậy thì đối với GAĐT chỉ gồm một số slide, các slide chỉ chứa từ
khóa, hình ảnh… thì làm thế nào mà GV có thể quan sát hết các vấn đề cần
được giảng? Để giải quyết việc này, tốt nhất giáo viên phải xây dựng cho
12
mình một đề cương bài giảng. Đề cương ghi rõ số tiết dạy của môn học, tên
bài giảng tương ứng với các tiết học nội dung cụ thể sẽ được trình bày trong
mỗi tiết học là gì? Vấn đề nào trình bày trước, vấn đề nào trình bày sau?
Vấn đề nào cần được trọng tâm và nhấn mạnh? Dành thời gian cho từng vấn
đề là bao nhiêu? … Sở dĩ cần chuẩn bị kỹ lưỡng như vậy là vì nếu tiết giảng
dạy đó GV chưa nói hết nội dung các slide hay đã trình bày hết nhưng thời
gian còn thừa là đồng nghĩa với việc “cháy giáo án” và không đảm bảo được
yêu cầu của bài dạy. Kết hợp đề cương này cùng một bản in cầm tay một
cách hợp lý chắc chắn sẽ không mắc phải sự cố này.
Biện pháp 7: Kết hợp giữa trình chiếu và ghi bảng:
Mặc dù những nội dung cơ bản đã được giáo viên tóm lược và trình
chiếu trên màn chiếu, tuy nhiên nó lại không thể lưu lại được bố cục của bài
dạy bởi trong quá trình giảng dạy các slide phải được trình chiếu nối tiếp
nhau, do đó sau khi kết thúc bài học học sinh có thể sẽ chưa hình dung lại
được hệ thống kiến thức của bài học. Do vậy, song song với quá trình trình
chiếu, giáo viên nên ghi lên bảng đen những tiêu đề, đề mục của bài học để
cuối tiết học học sinh dễ hình dung lại nội dung kiến thức vừa lĩnh hội.

Đồng thời giáo viên có thể sử dụng phần ghi bảng tóm tắt này để yêu cầu
học sinh trình bày cụ thể lại nội dung của từng ý.
Đối với những nội dung chính cần ghi chép vào vở, giáo viên đưa lên
màn chiếu và chiếu chậm lại để học sinh có thể ghi chép lại những kiến thức
cơ bản trên dùng làm tư liệu học tập ở nhà.
13
PHẦN THỨ BA
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết quả nghiên cứu:
Sau một quá trình nghiên cứu và vận dụng đợt tham gia chuyên đề ở
cấp cụm, huyện để thử nghiệm, tôi đã thực hiện được 2 tiết bằng GAĐT tại
trường sau tiết dạy, tôi đã cùng đồng chí phụ trách chuyên môn của nhà
trường và các đồng nghiệp thảo luận, góp ý, rút kinh nghiệm và đi đến nhận
xét thống nhất: GAĐT đã góp phần cải tiến rõ rệt chất lượng học tập của
học sinh và nâng cao chất lượng nghiệp vụ của giáo viên. Chất lượng khảo
sát học sinh sau tiết dạy ở trường đã cho thấy việc sử dụng GAĐT đã góp
phần nâng cao chất lượng đại trà của học sinh, chất lượng học tập của học
sinh cũng đồng đều hơn. Cụ thể:
Lớp

số
Giỏi Khá Trung bình Yếu - kém
SL % SL % SL % SL %
3A 26 8 30.4 10 39,2 8 30,4 0
2. Kiến nghị, đề xuất:
a. Với nhà trường:
- Tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương và các cấp quản lý
giáo dục để tăng cường thêm các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho giáo
dục.
- Có biện pháp tích cực khuyến khích cán bộ giáo viên tự học tập

nâng cao trình độ tin học và xây dựng ý thức vận dụng CNTT vào dạy học.
b. Với Phòng Giáo dục và Đào tạo:
- Tăng cường các đợt tập huấn chuyên đề về GAĐT trên địa bàn
huyện để học hỏi và nâng cao kỹ năng sử dụng.
- Tham mưu với các cấp quản lý, tạo điều kiện thuận lợi về trang thiết
bị, cơ sở vật chất cho các trường trong huyện, cần có những chính sách ưu
14
tiên đầu tư cho những đơn vị có thành tích giáo dục cao trong năm học, coi
đó như là một phần thưởng xứng đáng cho cả quá trình giáo dục của đơn vị.
Trên thực tế, việc ứng dụng sáng kiến này mới chỉ trong một phạm vi
hẹp, vì thế cũng chưa thể đánh giá được toàn diện và chính xác nhất những
ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng CNTT trong dạy học. Vì vậy, tôi rất
mong nhận được sự cổ vũ động viên cùng những lời góp ý chân thành từ các
thầy cô đồng nghiệp để sáng kiến ngày một hoàn thiện hơn.
Quảng Đông , ngày 10 tháng 04 năm 2011
Người thực hiện
Tống Thị Thuận
15
MỤC LỤC
Trang
PHẦNTHỨ NHẤT . MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 2
3.Đối tượng nghiên cứu 2
PHẦN THỨ HAI. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Thực
trạng……………………………………………………… 3
2 Các giải pháp thực hiện 5
3 Các biện pháp tổ chức 6
PHẦN THỨ BA. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN NGHỊ

ĐỀ XUẤT
1. Kết quả nghiên cứu 13
2. Kiến nghị, đề xuất 13
…………………………………………………………………… 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
16
1 / Tin học căn bản -Nguyễn Thu Thiên - Nhà xuất bản thống kê
2 ./Tự học POWEPOINT TRONG 12 tiếng - Nhà xuất bản văn hoá
thông tin.
3.Tài liệu tập huấn sử dụng ; ADOBE PRETE PRO7 –
Đào Nguyên Dũng -chuyên viên -PGD quảng Xương thực hiện
4. Giáo trình win dows 2000 - Nhà xuất bản thống kê
17

×