Tải bản đầy đủ (.pdf) (38 trang)

Khóa luận tốt nghiệp Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới tại xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (437.11 KB, 38 trang )

1
PHẦN 1
TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HUYỆN THANH CHƯƠNG
1.1. Đặc điểm tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Thanh Chương là một huyện miền núi địa hình tương đối phức tạp. Chiều dài
từ Nam đến Bắc 43 km, chiều rộng từ Đông sang Tây 23km, phía Đông giáp
huyện Đô Lương, phía Tây giáp huyện Lào, Nam giáp Nam Đàn và Hà Tĩnh,
phía Bắc giáp huyện Anh Sơn.
Thanh Chương có diện tích tự nhiên 186.204 ha; dân số 307.377 người, đứng
thứ 7 về diện tích huyện, thứ 11 về dân số. Mật độ dân số trung bình 297 người
trên km
2
(tương đôi cao so với các huyện miền núi). Huyện được chia thành 39
xã, một thị trấn và một Trại CT số 6. Thanh Chương cách thành phố Vinh 70km
về phía Đông Nam và cách quốc lộ 1A khoảng 65 km về phía Đông.
Thanh Chương là huyện trung du miên núi của tỉnh, có tiềm lực để phát triển
thành vùng chăn nuôi lớn; có diện tích đất lâm nghiệp lớn, và nhất là nhiều công
trình trọng điểm khác so với các huyện miền núi khác. Đây là nhân tố quan trọng
cho phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp đặc biệt là chăn nuôi gia súc và đẩy
nhanh tiến trình phát triển tổng đàn gia súc của tỉnh.
1.1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình huyện Thanh Chương có xu hướng nghiêng dần từ Bắc và Tây
Nam ra phía Đông Đông Bắc. Phía Tây hình thành dãy đồi núi hình cánh
cung chạy từ Đông Bắc xuống Tây Nam bao lấy cả một vùng trung du ở phía
Đông Đông Nam.
Dựa vào phân bố địa hình, Thanh Chương được chia làm hai vùng: vùng trung
du và vùng đồi núi phía tây.
+ Vùng trung du gồm 28 xã; độ cao bình quân so với mặt nước biển là:
+3,6 đến + 4,5m.
+ Vùng Đồi núi phía tây gồm 11 xã; là các xã phía Tây, Tây Bắc giáp với


các xã miền núi huyện Anh Sơn, Lào, Hà Tĩnh, nằm trong vùng chuyển tiếp giữa
2
miền núi và trung du. Đặc điểm chung của vùng này là một số đồi núi, phần lớn
phần phía Đông các sườn núi của dãy núi thoải dần có nhiều khe suối đã được
dựng thành hồ đập và tiểu thuỷ nông.
Từ đặc điểm của địa hình nói trên, trong phát triển kinh tế xã hội của huyện
Thanh Chương có những thuận lợi và khó khăn sau.
1.1.3. Khí hậu, thời tiết
Thanh Chương là một huyện của tỉnh Nghệ An nên có những đặc điểm của
khí hậu miền Trung: nhiệt đới ẩm gió mùa.
Nhiệt độ bình quân năm là 23,6
0
C, tối cao là 40
0
C, tối thấp là 5
0
C; Tổng tích
ôn năm: 8500
0
C, số giờ nắng trung bình hàng năm là 1673h, bức xạ mặt trời
hàng năm là khá lớn, 74,6 Kcal/cm
2
Lượng mưa bình quân năm 1.587 mml, năm lớn nhất là 3,471 mm
3
, năm mưa
nhỏ nhất 1150 mm
3
. Lượng mưa hàng năm phân bố không đều giữa các tháng,
các mùa trong năm. Mưa nhiều, lại tập trung trong một thời gian ngắn là nguyên
nhân gây lũ lụt hàng năm.

Bão và áp thấp nhiệt đới trung bình mỗi năm 2 đến 3 cơn đổ bộ vào địa bàn
huyện. Bão kéo theo mưa to, thường xảy ra lũ quét gây nhiều thiệt hại cho sản
xuất và đời sống.
Trong nhiều yếu tố của khí hậu thời tiết có ảnh hưởng đến sản xuất và sử dụng
đất thì hạn và rét là ảnh hưởng lớn nhất, thứ đến là lũ lụt và gió bão.
Bảng 1.1. Diễn biến thời tiết thuỷ văn huyện Thanh Chương 2005 – 2009
Stt Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
1
Nhiệt độ trung binh các
tháng trong năm (
0
C)
24,6 25 25,3 26,4 25,4
2 Số giờ nắng/năm 1.529 1.889 1.892 20.012 20.001
3 Số ngày mưa/Năm 189 152 145 151 150
4 Lượng mưa mml /Năm 3.490,9 2.698,3 3.247,3 2.449,3 1.895,2
5
Độ ẩm tương đối
trung bình
86,91 86,56 86 85,4 88,4
[Theo nguồn 1]
3
1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Trong thời kỳ 2001 - 2005, định hướng kinh tế phát triển của huyện với cơ cấu
Công nghiệp, Nông nghiệp, Dịch vụ. Huyện chủ trương phát triển Nông nghiệp
toàn diện và xây dựng nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tăng
nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, nhất là Nông nghiệp, Lâm nghiệp; từng
bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp,thực
hiện cơ giới hóa từng khâu công việc, mở rộng điện khí hóa, đưa công nghệ sinh
học vào sản xuất.

Về chăn nuôi, phấn đấu nhịp độ tăng bình quân hàng năm là 7,5% khuyến
khích kinh tế hộ gia đình đầu tư chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng chăn nuôi
công nghiệp với quy mô vừa và lớn,trang trại; chú ý khâu chọn giống phải phù
hợp với thị trường. Thực hiện các biện pháp để nâng cao năng suất, hạ giá thành,
đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lai tạo giống, phòng trừ
dịch bệnh cho vật nuôi, chế biến thức ăn tại chỗ.
1.3. Tình hình chăn nuôi và công tác Thú y
1.3.1. Tình hình chăn nuôi:
Hiện nay, cùng với sự phát triển khoa học kỷ thuật, thông qua việc tập huấn,
công tác khuyến nông, sách báo người dân đang dần thay đổi tập quán chăn
nuôi theo hướng ngày càng có hiệu quả hơn. Trong những năm qua số lượng gia
súc không ngừng tăng lên, chất lượng sản phẩm mà ngành chăn nuôi đem lại cho
huyện cũng tăng lên đáng kể.
Bảng 1.2. Số lượng gia súc trên địa bàn huyện Thanh Chương năm 2009
Stt Tên xã Trâu bò (con) Lợn (con)
1 Cát Văn 3.376 2.764
2 Phong Thịnh 2.555 2.445
3 Thanh Hòa 1.347 1.998
4 Thanh Nho 1.835 2.477
5 Thanh Đức 3.199 2.146
6 Hạnh Lâm 2.804 2.309
7 Thanh Mỹ 2.894 3.101
8 Thanh Liên 2.848 3.308
9 Thanh Tiên 1.914 2.973
4
10 Thanh Hương 3.216 2.480
11 Thanh Lĩnh 1.433 3.297
12 Thanh Thịnh 2.528 2.851
13 Thanh An 1.772 2.664
14 Thanh Chi 1.713 2.517

15 Thanh Khê 2.093 2.592
16 Thanh Thủy 2.576 2.470
17 Võ Liệt 2.333 4.820
18 Thanh Long 1.268 2.315
19 Thanh Hà 2.218 2.752
20 Thanh Tùng 2.053 2.753
21 Thanh Giang 1.123 965
22 Thanh Mai 3.147 2.335
23 Thanh Xuân 3.037 4.760
24 Thanh Lâm 2.789 2.973
25 Thanh Hưng 1.270 2.735
26 Thanh Văn 1.404 3.548
27 Thanh Phong 2.121 3.343
28 Thanh Tường 702 1.997
29 Thanh Đồng 1.083 2.208
30 Thị Trấn 408 1.708
31 Đồng Văn 1.901 3.797
32 Thanh Ngọc 2.834 3.543
33 Ngọc Sơn 2.824 3.084
34 Xuân Tường 2.209 3.393
35 Thanh Dương 1.726 3.104
36 Thanh Lương 1.849 2.362
37 Thanh Yên 1.636 3.045
38 Thanh Khai 1.118 2.370
39 Thanh Sơn 977 1.062
40 Ngọc Lâm 1.264 602
41 Trại CT số 6 168 510
Tổng cộng 81.565 108.476
[Theo nguồn 2]
5

1.3.2. Công tác giống gia súc
+ Giống lợn: Chủ yếu là lợn lai F1, và lợn Móng Cái. Bước đầu đưa vào
chăn nuôi thử nghiệm một số giống lợn mới ngoại nhập.
+ Giống gia cầm: Các giống gia cầm chủ yếu là gà Ri, gà Tam Hoàng,
Lương phượng… về các giống vịt: chủ yếu là vịt cỏ, vịt Bầu, vịt Xiêm, ngan
Pháp, ngan Hàn Quốc…
+ Giống trâu bò: chủ yêu bò vàng, hiện nay đã hình thành đàn bò lai sind
trên địa bàn nhiều xã của huyện, nhất là sau chương trình sind hóa đàn bò được
triển khai tại huyện, hiện nay nhiều giống bò mới được nhập về và đang được
nuôi thử nghiệm. [Theo nguồn 3].
1.3.3. Nguồn thức ăn
+ Trâu bò: Chủ yếu chăn thả ngoài đồng bãi, thức ăn bổ sung chủ yếu rơm
rạ, thân ngô, thân cây họ đậu…
+ Lợn: Thức ăn chủ yếu được cung cấp từ các sản phẩm sản xuất của
ngành trồng trọt, thức ăn tinh được lấy từ bột Sắn, bột Ngô, Cam Gạo… thức ăn
xanh được cung cấp từ rau như rau muống, rau Khoai Lang, thân cây Chuối…;
Thức ăn công nghiệp cũng được sự dụng rộng rãi song chưa nhiều nhiều vì bà
con chăn nuôi theo kiểu tận dụng là chủ yếu.
+ Gia cầm: Chăn nuôi gia cầm phát triển ở các hộ dân theo kiểu chăn nuôi
nhỏ lẻ. Nguồn thức ăn chủ yếu tận dụng phế phụ phẩm của của ngành trồng trọt.
Chăn nuôi chủ yếu thả vườn, một số ít chăn nuôi tập trung công nghiệp nhưng
mức đầu tư còn thấp. Trong những năm vừa qua do tình hình dịch Cúm Gia Cầm
diễn biến phức tạp nên số lượng gia cầm của huyện giảm đi rõ rệt. Người nông
dân cũng giảm đầu tư vào chăn nuôi gia cầm.
1.3.4. Công tác thú y:
1.3.4.1. Mạng lưới thú y cơ sở
Mạng lưới thú y trên địa bàn huyện luôn được củng cố để đáp ứng nhu cầu
chăn nuôi của địa phương. Tất cả các xã trên địa bàn huyện đều có ban thú y, với
trên 120 thú y viên có đăng ký thường xuyên hành nghề dịch vụ thú y, đội ngũ
này thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn, khoa học kỹ thuật thông qua

6
nhiều kênh thông tin và nguồn tài liệu khác nhau để áp dụng vào thực tế sản xuất.
Tuy nhiên phần lớn thú y cơ sở mới có trình độ sơ cấp, trung cấp còn đại học thì
rất ít nên còn rất hạn chế trong quá trình hành nghề.
1.3.4.2. Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm
Công tác tiêm phòng được huyện chỉ đạo chặt chẽ. Kết quả tiêm phòng nhìn
chung đạt tỷ lệ khá, năm sau cao hơn năm trước và ổn định qua các năm.
Công tác tiêm phòng định kỳ một năm 2 đợt, đợt 1: tháng 3, 4. Đợt 2: tháng 7,
8 hàng năm.
1.3.4.3. Công tác kiểm dịch giết mổ
Công tác kiểm soát giết mổ được đảm bảo bởi đội ngũ thú y viên,hầu hết các
gia súc, gia cầm đều được kiểm dịch của cán bộ thú y trước khi đến tay người
tiêu dùng.
1.3.4.4. Tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
Thanh Chương cũng là điểm giao lưu buôn bán Động vật và các sản phẩm
động vật với nhiều nơi trong và ngoài tỉnh. Chính vì vậy cơ quan thú y huyện
đặc biệt quan tâm tới công tác kiểm dịch. Năm năm qua, công tác này được
Trạm Thú Y Huyện Thanh Chương làm khá tốt chính vì vậy mà hạn chế khá
nhiều sự lây lan dịch bệnh do vận chuyển gia súc trong vùng. [Theo nguồn 4].
1.4. Nhận xét đánh giá
1.4.1. Thuận lợi
+ Toàn huyện Thanh Chương có diện tích địa hình đồi núi phức tạp nhưng
lại có nhiêu đồng cỏ tự nhiên thuận lơi cho việc chăn nuôi nên chăn nuôi là một
thế mạnh của huyện. Ngoài ra trồng trọt cũng phát triển tương đối nhanh so với
các huyện trong tỉnh Nghệ An. Trồng trọt có khả năng canh tác nhiều loại cây
trồng khác nhau, có thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất,
trồng cây công nghiệp,từ đó thúc đẩy ngành trồng trọt phát triển phong phú va đa
dang.
+ Bên cạnh sự phát triển của ngành trồng trọt thì ngành chăn nuôi trong
những năm qua cũng phát triển mạnh mẽ nhờ được đầu tư và nhất là công tác

khuyến nông được quan tâm. Thể hiện số đầu gia súc tăng dần qua các năm. Số
7
cán bộ có trình độ thường xuyên được bổ xung. Có sự đa dạng các giống vật
nuôi công tác giống được quan tâm nhiều hơn nhằm nâng cao chất lượng đàn gia
súc của huyện. Nhất là với đội ngũ thú y cơ sở được đào tạo thì công tác thú y
đàm bảo sức khỏe cho đàn gia súc ngày càng được nâng cao và đội ngũ thú y cơ
sở này cũng đang ngày một phát huy được vai trò và nhiệm vụ của mình trong
quản lý cũng như trong công việc.
1.4.2. Khó khăn
+ Một số xã miền núi có đặc điểm kinh tế đặc biệt khó khăn. Do hệ thống giao
thông kém, trường học chưa được đầu tư đúng mức, một phần còn do phong tập
tục quán lạc hậu.
Lượng mưa nắng phân bố không đồng đều, nhiệt độ tương đối cao ảnh hưởng
xấu đến trồng trọt và chăn nuôi.Vào những tháng 4,5,6 nắng hạn kéo dài làm
cho nguồn nước khan hiếm nên ảnh hưởng không nhỏ đến trồng trọt. Đố với
gia súc, gia cầm thì việc hạn hán làm cho bệnh tật diễn ra nhiều, phức tạp
ảnh hưởng tới sức khoẻ vả khả năng sinh sản của gia súc gia cầm. Chịu ảnh
hưởng trực tiếp gió Phơn Tây Nam là một yếu tố bất lợi cho ngành trồng trọt
và chăn nuôi.
+ Nguồn lực con người: Mặc dù nguồn lực con người rất phong phú song hầu
hết người dân có trình độ văn hoá còn hạn chế. Đó là yếu tố bất lợi lớn, ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả của việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ
thuật và nắm bắt các phương thức sản xuất, các quy trình công nghệ mới của
ngành nông nghiệp nhằm áp dụng vào sản xuất.
+ Hình thức chăn nuôi: Chủ yếu chăn nuôi theo nông hộ nhỏ lẻ, vốn đầu tư
ban đầu chưa cao, việc nhận thức áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi còn
nhiều khó khăn và hạn chế, chính vì vậy mà nguy cơ xảy ra dịch bệnh trên đàn
gia súc là rất lớn.
+ Sự quan tâm của các ngành chức năng: Huyện Thanh Chương là một huyện
miền núi xa trung tâm của tỉnh Nghệ An về sản xuất nông nghiệp. Nên chưa

được sự quan tâm đúng mức của chinh quyền, chưa có dự án nào thực sự lớn để
tận dung hết tiềm năng của huyện. Gặp nhiều khó khăn về vốn, có ít nghiên cứu
có chất lượng để đưa vào thực tiễn giúp cho người dân nâng cao năng suất trong
trồng trọt và chăn nuôi.
8
PHẦN 2
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.1. Đặt vấn đề
Trên thế giới, chăn nuôi lợn là ngành kinh tế lớn, nhất là các nước nông
nghiệp, thịt lợn chiếm 40% tổng lượng các loại thịt (trong đó, thịt bò chiếm 31%,
thịt cừu 6%, thịt gia cầm 23%. Chăn nuôi lợn là ngành đã có từ rất lâu đời, đó là
ngành nghề truyền thống của hàng triệu nông dân. Ngoài sản phẩm chính là cung
cấp thịt, ngành chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón hữu cơ cho
ngành trồng trọt, góp phần làm tăng năng suất cây trồng.
Ở Việt Nam hiện nay chăn nuôi lợn có vị trí rất quan trọng trong ngành nông
nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng. Lợn đã cung cấp cho cả nước
một khối lượng lớn về thực phẩm, còn cho xuất khẩu và cung cấp phân bón cho
cây trồng.
Những năm trở lại đây nhờ việc áp dụng những tiến bộ mới về khoa học kỹ
thuật và thự hiên một số chính sách mới về phát triển đàn lợn lên số lượng ở
nước ta đã tăng nhanh. Tuy nhiên còn nhiều tác nhân làm hạn chế đến việc phát
triển chăn nuôi lợn, các yếu tố như tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, trình độ dân
trí còn thấp, các cơ sở nghiên cứu còn hạn chế, đội ngũ cán bộ thú y chưa đáp
ứng được nhu cầu thực tiễn Do đó đã ảnh hưởng lớn đến dịch bệnh gây thiệt
hại rất lớn về đàn lợn làm ảnh hưởng tới nền kinh tế nông nghiệp.
Cụ thể, trong những năm gần đây, ở địa phương huyện Thanh Chương- Nghệ
An nói riêng cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước nói chung tình hình
dịch bệnh xảy ra nhiều trên đàn lợn đã làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của
người chăn nuôi. Và một trong những bệnh quan trọng xuất hiện phổ biến mà
chúng ta cần quan tâm hiện nay đó là các bệnh sản khoa xuất hiện trên đàn lợn

nái sinh sản mà đòi hỏi chúng ta cần ngăn chặn nó. Do đó chúng ta cần phải nắm
bắt được đặc điểm của các bệnh đó cũng như các yếu tố để từ đó có biện pháp
khắc phục hữu hiệu.
9
Trước tình hình đó, trên thực tế địa bàn huyện, với mong muốn góp phần
bé nhỏ của mình vào công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho đàn lợn nái,
được sự cho phép của khoa Chăn Nuôi - Thú Y, sự đồng ý của Trạm Thú Y
huyện Thanh Chương và sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Th.S. Giang
Thanh Nhã, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Điều tra tỷ lệ mắc bệnh sinh
sản trên đàn lợn nái nuôi tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An và đề
xuất các biện pháp khắc phục"
2.2. Cơ sở lý luận
2.2.1. Đặc điểm sinh lý và sinh sản của lợn nái
Sinh sản là chức năng vô cùng quan trọng của cơ thể sống, duy trì và cải tạo
phát triển nòi giống. Ở tất cả các loài gia súc, gia cầm đều sinh sản theo phương
thức hữu tính, tức là sự kết hợp giữa cơ thể đực và cơ thể cái. Ưu thể của hình
thức sinh sản này là khả năng tái tổ hợp các tính trạng di truyền tốt về khả năng
sản xuất và thể trạng của cả bố lẫn mẹ, các thế hệ con cháu có sức sản xuất và
sức sống cao hơn bố mẹ.
Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm sinh lý sinh sản người ta cho hàng loạt
tiến bộ mới được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất như sử dụng hormon hướng
sinh dục để gây động dục hàng loạt, kỹ thuật cấy ghép hợp tử, kỹ thuật nhân
bản… đã mở ra cho ngành Công nghệ sinh học nói chung và ngành Chăn nuôi
nói riêng những bước phát triển mới, hứa hẹn nhiều trong tương lai.
2.2.2. Cấu tạo và chức năng sinh dục cái
Cơ quan sinh dục cái được chia làm hai bộ phận chính sau:
2.2.2.1. Bộ phận bên trong
- Buồng trứng:
Hầu hết buồng trứng của loài động vật có vú là đối nhau qua cột sống, nằm
trong xoang chậu gắn liền với dây chằng rộng của tử cung và cùng nằm cao cùng

với độ cao u xoang chậu, chức năng của buồng trứng là sản xuất ra tế bào sinh
dục cái (trứng), sản xuất ra một số kích dục tố (hormon) để tham gia vào việc
điều hoà chức năng sinh sản của gia súc cái.
10
- Ống dẫn trứng (Fallop): phần đầu nó loa như cái phễu hay còn gọi là loa
kèn, kích thước rất nhỏ. Chức năng của ống dẫn trứng là nơi để tế bào sinh dục
đực (tinh trùng) và tế bào sinh dục cái (trứng) gặp nhau, ống dẫn trứng có khả
năng co bóp dưới ảnh hưởng của hormon Oxytocin nhằm giúp cho tinh trùng
thuận lợi hơn trong việc thụ tinh.
- Tử cung: gồm 3 bộ phận.
+ Sừng tử cung: có kích thước khác nhau tuỳ từng loài, chức năng của nó là
nơi làm tổ và cư trú của bào thai trong quá trình mang thai.
+ Thân tử cung: có kích thước khác nhau tùy theo loài, chức năng của nó là
nơi lam tổ và cư trú của thai trong quá trình mang thai.
+ Cổ tử cung: có kích thước khác nhau tuỳ theo loài, cổ tử cung là nơi ngăn
cánh giữa bên ngoài và bên trong tử cung. Bình thường và khi gia súc mang thai,
cổ tử cung luôn đóng kín để tránh sự xâm nhập của vi khuẩn cung như tác nhân
bên ngoài tác động tới thân và sừng tử cung để bảo vệ thai nhi. Cổ tử cung chỉ
mở khi gia súc động dục và trong quá trình đẻ. Vì vậy, thông qua việc khám phá
sự đóng mở của cổ tử cung người ta có thể chẩn đoán được con vật ở giai đoạn
nào của quá trinh mang thai.
- Âm hộ: là đoạn nằm từ tiền đình đến cổ tử cung, âm đạo có 3 chức năng
chính.
+ Là chỗ đẻ chứa dương vật con đực khi giao phối.
+ Là nơi bài tiết nước tiểu.
+ Là lối ra của bào thai.
2.2.2.2. Bộ phận bên ngoài:
Gồm có hai môi âm đạo, là nơi tập trung nhiều mút thần kinh, tác dụng gây
hưng phấn sinh dục khi giao phối và khi co tác dụng bảo vệ các cơ quan bên
trong đường sinh dục cái, bình thường no khép kín lại hai môi lại để ngăn chăn

sự xâm nhập của các tác nhân xâm nhập từ bên ngoài gây viêm nhiễm đường
sinh dục, hai môi âm đạo mở ra ở thời kỳ hưng phấn cao nhất khi thực hiện giao
phối và khi gia súc đẻ. [Theo nguồn 5]
2.2.2.3. Tuyến vú:
11
Tuyến vú có nguồn gốc từ ngoại bì. Trong hoạt động sinh lý nên liên quan
mật thiết với cơ quan sinh dục cái, dưới sự ảnh hưởng điều hoà của hormon sinh
sản mới được phát dục và thành thục trước khi đẻ lần đầu tiên.
Cấu tạo của tuyến vú gồm hai phần: bao tuyến và hệ thống ống dẫn.
Sự sinh triển và phát dục của tuyến vú theo giai đoạn và có liên quan đến sự
phát triển và trạng thái chức năng của nó trong hoạt động sinh sản. Sự sinh
trưởng và phát dục của tuyến vú có thể chia ra làm các giai đoạn sau:
Giai đoạn còn non: tuyến vú chưa phân hoá và phát triển đực, cái giống nhau
về hình thể, chỉ khác ở cơ quan sinh dục bên ngoài.
Giai đoạn phát triển và thành thục sinh dục: mô liên kết, mô mỡ, phát triển chiến
ưu thế hơn mô tuyến, bầu vú tăng dần về thể tích.
Khi thành thục về tính: hệ thống ống dẫn bắt đầu phát triển mạnh, nói chung
bao tuyến vẫn chưa phát triển. Qua các chu kỳ động dục bầu vú phát triển to đần
ra, thấy rõ ở giai đoạn động dục, sau động có xu thế nhỏ lại.
Khi có chửa: hệ thống ống dẫn tiếp tục phát triển nhanh, gia tăng số lượng
ống dẫn, bao tuyến bắt đầu hình thành và phát triển mô tuyến thay dần mô liên
kết, mô mỡ chiếm ưu thế. Hoạt động tiết sữa xuất hiện vào cuối thời kỳ có chửa,
sữa được hình thành gọi là sữa non. Sự phát dục của tuyến vú hoàn tất khi kết
thúc giai đoạn chửa, ngay sau khi đẻ gia súc bắt đầu tiết sữa để nuôi con non.
[Theo nguồn 6].
2.2.3. Cơ chế thần kinh thể dịch trong điều hoà chu kỳ sinh sản.
Khi gia súc đến tuổi thành thục về tính về sinh dục chịu ảnh hưởng của hai
yếu tối: nhân tố nội tại và nhân tố ngoại cảnh.
2.2.3.1. Nhân tố nội tại
Khi gia súc cái đến tuổi thành thục về tính, buồng trứng đã có nang trứng

phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ thể con vật đã có sẵn một hàm
lượng hoormon Oestrogen đã tác động lên trong khi vỏ đại não ảnh hưởng đến
Hyphothalamus.
2.2.3.2. Nhân tố ngoại cảnh
12
Nhiệt độ, ánh sáng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc biệt là Sterol tự nhiên
từ thức ăn chúng xâm nhập vào cơ thể hoặc do ảnh hưởng từ con đực thông qua
giác quan như thính giác, thị giác, xúc giác… Các kích tố này truyền thông đến
trung khu cảm giác của vỏ đại não. Vỏ đại não tiếp thu yếu tố ngoại cảnh từ nội
tại truyền đến vùng dưới đồi (Hyphothalamus). Hypothalamus tiết ra GnRH
(Ganadotropin Realising Hoormon) gồm hai thành phần FRH và LRH; ngoài ra
Hypothalamus còn tiết ra PRH (Prolactin Realising Hoormon), FRH kích thích
thuỳ trước tuyến yên tiết ra FSH (Follculin Stimalin Hoormon), FSH theo máu
tuần hoàn kích thích buồng trứng phát triển và làm trứng rụng.
Trứng chín tiết ra noãn bào tố Oestrogen , sau đó Oestrogen theo máu tuần
hoàn khắp cơ thể, tác động đến trung khu đại não làm hưng phấn sinh dục (thực
hiện các triệu chứng động dục bên ngoài), tác độnh đến đường sinh dục, làm
biến đổi bộ máy sinh dục.
LRH kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết ra FSH, FSH chỉ có tác động làm
cho noãn bào chín thành nang Graaf chứ không làm cho trứng rụng. LH cùng với
FSH kích thích sự phát triển của noãn bào và làm cho nang Graaf vỡ chín, hoạt
động của Enzym hyaluronidaza tăng lên độ phân giải acid hyaluronic trên bề mặt
noãn bào, dẫn tới bào mòn noãn, đồng thời trong noãn bào tăng dịch tiết gây ra
áp lực mạnh làm cho noãn bào vỡ và trứng rụng được giải phóng ra ngoài. Như
vậy, FSH chỉ làm cho trứng chín còn LH làm cho trứng rụng; tỷ lệ tốt nhất cho
trứng rụng là LH/FSH = 3/1. Sau khi trứng rụng sẽ hình thành nên thể vàng, thể
vàng tiết ra hoàn thể tố Progesteron. Progesteron tác động đến Hypothalamus
theo cơ chế điều hoà ngược âm tính. Lúc này là giai đoạn ức chế sinh dục, nếu
trứng được thụ thai thì thể vàng tồn tại trước khi đẻ khoảng 10 đến 12 ngày, nếu
trứng không được thụ thai thì thể vàng tồn tại trong một thời gian ngắn khoảng

16 ngày của chu kỳ sau.
FRH kích thích thuỳ trước tuyến yên phân tiết LTH (Luteino Trofic
Hoormon), LTH tác động vào buồng trứng, duy trì sự tồn tại của thể vàng, kích
thích thể vàng phân tiết ra Progesteron. Progesteron tác động lên tuyên yên, ức chế
tuyến yên phân tiết FSH và LH, quá trình động dục kết thúc. [Theo nguồn 7]
13
2.2.4.
Các giai đoạn của chu kỳ động dục.
Người ta thường chia chu kỳ động dục của gia súc ra làm 4 giai đoạn:
2.2.4.1
.Giai đoạn trước động dục
Kéo dài trung bình 2 ngày, trong giai đoạn này hoạt động của cơ quan sinh
dục ở mức độ cao. Âm hộ mọng lên, sưng to và có màu đỏ tươi. Vùng thắt âm hộ
và có dịch nhầy. Buồng trứng có một số bao noãn có đường kính quãng 4 mm,
sau đó đạt tới 8-12mm. Các thể vàng được hình thành từ chu kỳ trước dần dần bị
teo biến, niêm mạc đường sinh dục được tăng sinh.
2.2.4.2
Giai đoạn động dục.
Giai đoạn này kéo dài 3 ngày, ở giai đoạn này mọi hoạt động sinh dục rất
mãnh liệt. Âm đạo chảy dịch nhầy trong suốt và keo (độ dính cao), âm hộ đỏ tái
(màu mận chín). Vùng thắt âm đạo và âm hộ mở ra hoàn toàn, sừng tử cung tăng
về thể tích, cơ tử cung tăng cường co bóp, các mạch máu trong niêm mạc tử
cung giãn nở hơn. Các tuyến tăng tiết pH dịch nhờn âm đạo hơi thấp 6,7 so với
7,0 lúc bình thường. Nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 - 0,5
o
C. Dịch nhầy âm đạo có
nồng độ Ca
++
, K
+

, Na
+
cao làm cho độ dẫn điện tăng, điện trở âm đạo giảm
xuống thấp, thấp nhất khi lợn chịu đực và rụng trứng.
Buồng trứng có nhiều thay đổi trên bề mặt có nhiều nang trứng nổi rõ nhưng
chưa đạt tới mức độ chín hoàn toàn. Ở nái tơ thường 8 - 14 cái, ở lợn nái cơ bản
12 - 20 cái có khi hơn. Ở lúc 0h chịu đực các bao noãn to, màng bao noãn mỏng
nhưng trứng vẫn chưa rụng do vậy không nên phối vào lúc 0 giờ chịu đực. Trứng
chỉ võ sau 30 - 32 giờ kể từ lúc 0 giờ. Trứng rụng các thể vàng được hình thành
từ các nang trứng bị vỡ.
2.2.4.3.
Giai đoạn sau động dục.
Giai đoạn này kéo dài khoảng 3 - 4 ngày các dấu hiệu của hoạt động sinh dục
giảm dần. Có thể lợn cái vẫn tìm đực nhưng không cho giao phối. Âm hộ teo lại
tái nhạt. Vùng thắt âm hộ - âm đạo co bóp. Niêm mạc tiền đình âm đạo màu
trắng hơi ướt. Dịch âm đạo chứa nhiều bạch cầu và các tế bào biểu mô. Trong
buồng trứng đã có nhiều thể vàng.
14
2.2.4.4.
Giai đoạn yên lặng sinh dục.
Kéo dài 12 - 13 ngày, lợn nái yên tĩnh không có phản xạ với lợn đực. Âm hộ
teo nhỏ trắng nhạt, tử cung giảm thể tích, thể vàng giảm từ 10 mm xuống 7 - 8
mm, các bao noãn tiếp tục phát triển đến cuối giai đoạn này đạt khoảng 10 mm.
Sau giai đoạn yên lặng sinh dục lại bắt đầu sự phát triển của bao noãn và những
thay đổi đặc trưng của đường sinh dục. Điều đó chứng tỏ chu kỳ mới lại bắt đầu.
Ở những lợn nái được thụ tinh chu kỳ sinh dục dừng lại chuyển sang thời kỳ có
chửa, tiết sữa, nuôi con. Sau khi cai sữa lợn con từ sau 5 - 8 ngày chu kỳ sinh
dục lại trở lại. [Theo nguồn 5].
2.2.5. Sự hình thành và phát triển của thai
2.2.5.1. Quá trình làm tổ của hợp tử

- Sau khi trứng rụng và gặp tinh trùng sẽ xảy ra quá trình thụ tinh đẻ tạo
thành hợp tử, hợp tử di chuyển về tử cung làm tổ. Khi hợp tử dến sát tử cungnó
tiết ra một loại enzym để bào mòn niêm mạc tử cung thành một chỗ lõm và cư
trú ở đó. Những tế bào niêm mạc tử cung phát triển rất nhanh và che kín hợp tử
cư trú, lúc này hợp tử được cư trú tạo đó cho đến khi trở thành thai nhi trước lúc
để.
Thời gian làm tổ của hợp tử ở lợn khoảng 12 - 14 ngày
- Màng thai gồm 3màng: màng ối, màng nhung và màng niệu.
+ Màng ối là màng trong cùng gần với thai nhi nhất, màng có hình bầu dục, ở
rốn của thai thì màng ối và da của thai nhi dính lại. Màng ối thường trong suốt ,
qua màng có thể nhìn thấy thai nhi giữa lớp màng ối và mặt trong của màng niệu
có mạng lưới huyết quản phân bố do từ dây rốn lại.
Túi trong màng ối có nước ối, nước ối từ đâu sinh ra thì cho đến nay vẫn
chưa được làm rõ, có thể do các tế bào hình trụ của thượng bì màng ối sinh ra.
Nước ối khi mới sinh ra có màu vàng sau đó biến thành màu vàng nhạt, nước ối
giảm vào thời kỳ mang thai.
Thành phần hoá học của nước ối không ổn định ở từng giai đoạn có chửa.
Nhưng chủ yếu là protein, ure, muối, đường, kích tố nhau, sinh tố, Oxytocin…
15
Tác dụng của nước ối là giữ cho nhau ở trạng thái cân bằng tránh
sự chèn ép của các cơ quan phụ tạng của mẹ và giúp cho thai nhi tránh được tác
nhân cơ học tác động từ bên ngoài,ngoài ra còn làm cho các tổ chức xung quanh
không dính vào thai nhi. Khi gia súc để túi màng ối vỡ có tác dụng bôi trơn
đường sinh dục để quá trình đẻ được dễ dàng hơn.
+ Màng niệu là màng nằm giữa màng đệm và màng ối, màng niệu từ hốc
bụng của phôi thò ra mà hình thành có thể coi như một bóng đái ngoài cơ thể.
Trong màng niệu có chứa nước niệu, thành phần hoá học của nước niệu là ure và
một số muối.
+ Màng nhung là màng ngoài cùng, trên màng nhung có lông nhung (núm
nhau), lông nhung của các loài gia súc khác nhau thì khác nhau. [Theo nguồn 8]

2.2.5.2. Quá trình hình thành của thai nhi và sự đoán tuổi của thai nhi
+ Khi gia súc đẻ non cần xác định tuổi của thai nhi để tìm ra nguyên nhân, từ
đó đề ra biện pháp phòng trị, giúp ta đoán được tuổi của thai.
+ Các giống khác nhau thì có sự khác rất lớn về kích thước sủa thai nhi, ngay
trong một ổ thai có kích thước to nhỏ khác nhau, trung bình giao động trong
khoảng.
- Tháng thứ nhất: thân dài 1,6 - 1,8cm, các bộ máy trong cơ thể bắt đầu
hình thành.
- Tháng thứ hai: 35 ngày thân dài 5cm, 60 ngày thân đã dài 8cm, ngoại hình
rõ và co thể phân biệt được giới tính của thai nhi.
- Tháng thứ ba: thân dài 14 - 18cm, tại mép, đuôi đã có lông to nhỏ. Trước
khi đẻ thân dài 20 - 25cm, toàn bộ thân bao phủ bở lớp lông dày, xương sọ cứng,
đã có răng cưa và răng nanh.
Công thức tính dài thân: DT = X(X+2); trong dó DT là độ dài thân, x là số
tháng của thai. [Theo nguồn 5].
2.2.5.3. Nội tiết trong thời gian mang thai
Thai nhi phát triển được bình thường trong quá trình mang thai là do ảnh
hưởng nhịp nhàng của các kích tố buồng trứng, nhau thai và thuỳ trước tuyến
yên tiết ra một số hoormon
16
+ Thời kỳ đầu: nhau thai bắt đầu hình thành và tiết ra chất Prolan B có hoạt
tính giống như hormon LH của thuỳ trước tuyến yên. Chất này kích thích hoàn
thể tố tiết ra Progesteron làm cho niêm mạc tử cung dày lên, tạo điều kiện cho
hợp tử phát triển, làm tổ. Nhau thai còn tiết ra Progesteron và Oestrogen nên vẫn
còn hiện tượng động ở thời kỳ đầu có chửa.
+ Thời kỳ sau: thể vàng teo dần do hiện tượng Progesteron giảm dần, con lại
Oestrogen tăng đến mức tối đa, đồng thời tuyến yên tiét ra Oxytocin. Hai
hormon Progesteron và Oxytocin làm tăng co bóp của tử cung cho nên hay xảy
ra hiện tương sảy thai. [Theo nguồn 7].
2.2.5.4. Sự biến đổi cơ thể khi mang thai

+ Biến đổi toàn thân:
Khi có thai hormon của nhau thai và các hormon của thể vàng làm ảnh
hưởng đến cơ năng của các tuyến khác.
Ở thời kỳ cuối do huy động các chất dinh dưỡng cho sự hình thành bào thai
cho nên con vật ốm đi.
Trong thời kỳ chửa, Glycogen được tích luỹ ở gan, mỡ trung gian và
cholesterol trong máu tăng lên máu mhanh đông hơn do lượng canxi phát triển
trong máu giảm, lượng kali tăng lên. Hoạt động của tim, phổ trở nên khó khăn do
áp lực của bào thai đè lên trong xoang bụng và xoang ngực. Quá trình lưu thông
máu, hô hấp và tiêu hoá bị ảnh hưởng. Do đó ở cuối thời kỳ có chửa con vật
thường có những biểu hiện khác thường như bị phù nề, khó thở hay đi tiểu tiện,
mệt mỏi.
+ Biến đổi cục bộ ở cơ quan sinh dục:
- Buồng trứng: thể tích tăng lên, thể vàng tồn tại.
- Tử cung: thể tích và trọng lượng của tử cung tăng lên, dây chằng căng do
buồng trứng kéo về phía trước và hơi thấp xuống. Máu được lưu thông đến tử
cung rất nhiều để tăng cung cấp chất dinh dưỡng và Oxy để nuôi sống bào thai.
- Cổ tử cung: niêm mạc cổ tử cung dày lên, trên niêm mạc có tế bào tiết ra
dịch keo dính gây hiện tượng đóng nút cổ tử cung lại không cho các tác nhân bên
ngoài tác động hoặc xâm nhập vào bào thai. Dịch này có tính axit yếu nên không
17
chảy vào tử cung mà chảy ra âm đạo, trước khi đẻ, dịch này lỏng và chảy ra
ngoài. [Theo nguồn 7].
2.2.6. Các nguyên nhân và triệu chứng của các bệnh sản khoa
2.2.6.1.Bệnh sẩy thai
2.2.6.1.1.Nguyên nhân
+Sẩy thai truyền nhiễm:
- Do vi trùng.
Nguyên phát: Do vi trùng Brucella, phẩy khuẩn vibrio foetus.
Thứ phát: Do bệnh lở mồm long móng, đóng dấu, dịch tả và xoắn trùng.

- Sẩy thai do kí sinh trùng.
Nguyên phát: Roi trùng trichomonois foctus (thường kí sinh ở đường sinh
dục bò)
Thứ phát: ký sinh trùng đường máu: Biên trùng, tiên mao trùng, sán lá gan…
+ Sẩy thai không truyền nhiễm:
- Sẩy thai do ngoại thương:
Thành bụng bị kích thích mạnh.
Làm việc quá nặng nhọc.
Khám thai kỹ thuật kém.
Khi có thai vẫn cho đực nhảy hoặc thụ tinh nhân tạo.
Khi điều trị làm con vật quá đau đớn.
- Sẩy thai do triệu chứng: Có thai nhưng con vật bị bệnh đường sinh dục,
viêm mãn tĩnh, khối u tử cung, viêm âm đạo, viêm buồng trứng, rối loạn
nội tiết…
-Sẩy thai do dinh dưỡng:
Thức ăn kém phẩm chất gây rối loạn tiêu hóa, rối loạn trao đổi chất mà chủ
yếu là thiếu đạm, Ca, P, Cu, Fe và sinh tố.
Nếu thiếu sinh tố A sự liên kết giữa lông nhung, màng thai và niêm mạc tử
cung mẹ bị trở ngại dẫn dến sẩy thai.
Nếu thiếu sinh tố E thai chết non có thể tiêu biến cũng có thể xác khô.
Nếu thiếu sinh tố D làm sự thay đổi Ca của mẹ bị rối loạn sẽ ảnh hưởng tới con.
18
- Sẩy thai do thói quen.
Trong cùng một điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ở một gia súc nào đó có
chửa và cứ đến thời kỳ nào đó lại sẩy thai nếu 3 lần trở lên thì ta cho sẩy thai là
thói quen.
Nguyên nhân: Phôi phát triển không bình thường hoặc bộ máy sinh dục mẹ
không bình thường, giảm cơ năng tuyến giáp, hoàng thể bị ảnh hưởng, phôi
giống đồng huyết;
-Sẩy thai do thuốc.Thường do dùng thuốc không đúng chỉ định.

Thí dụ:
Thuốc tăng cường co bóp tử cung oxytocin, Ergotanin, Stryclinin, Pilocarpin
Dùng thuốc gây mê toàn thân cloral hydrrat
Dùng các thuốc tẩy liều cao MgSO
4
, Na
2
SO
4
.
Tẩy giun sán trong khi có thai
-Sẩy thai nhân tạo.
Tiêm estogen, oxytocin, progtaflandin, xoa bốp thể vàng, dùng dẫn tinh quản
bơm nước 40-45 vào tử cung hoặc dung dịch NaCl 5 %, lugol 1 % hoặc dùng
huyết thanh ngựa chửa sau đó xoa bóp thẻ vàng.
2.2.6.1.2. Triệu chứng
Sẩy thai hoàn toàn: Toàn bộ thai được tống ra ngoài trước thời kỳ sinh đẻ,
cũng có thể toàn bộ thai hoặc phôi bị tiêu hút, xác khô và nằm lại trong tử cung.
Sẩy thai không hoàn toàn:
Một số thai được đẩy ra ngoài trước lúc đến ngày đẻ còn các thai khác vẫn
phát triển bình thường.
Một số thai bị tiêu hút đươc đẩy ra hoặc nằm lại trong đường sinh dục, một
số thai khác vẫn phát triển bình thường.
2.2.6.2. Bệnh sót nhau
2.2.6.2.1.Nguyên nhân
- Do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân sau:
- Sau khi dẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian có thai nhất là giai đoạn cuối
con vật không được vận động thỏa đáng. Trong thức ăn thiếu các chất khoáng,
19
nhất là Ca và P. Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo,

chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung
giãn nở quá mức.
- Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác.
- Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền
nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu tạo
của nhau.
2.2.6.2.2.Triệu chứng
Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:
Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung. Khi mắc
thường là
có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn.
Sót nhau không hoàn toàn:
Đối với động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung
con mẹ.
Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong
tử cung con mẹ.
Con vật biểu hiện các triệu chứng:
Đối với trâu bò: Khi sót nhau hoàn toàn thì cuống nhau (dây rốn) thường treo
lơ lửng ở mép âm môn. Khi sót nhau không hoàn toàn thì cần kiểm tra nhau đã
ra,nếu có dấu hiệu rách một phần nhau ta phải kiểm tra thật kỹ để phát hiện. Khi
sót nhau, con vật thường bỏ ăn hoặc kém ăn, nhu động dạ cỏ giảm cũng có thể
ngừng nhai lại, có khi đi ỉa chảy, nhiệt độ tăng, sản lượng sữa giảm, con vật cong
lưng rặn.
Đối với lợn: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống
nước, sản dịch chảy ra màu nâu. Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ
đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm
số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không.
2.2.6.3.Bệnh viêm tử cung
2.2.6.3.1.Nguyên nhân
20

- Do rối loạn chức năng nội tiết
- Do kỹ thuật đỡ đẻ không tốt
-Do một số bệnh truyền nhiễm như bệnh sẩy thai truyền nhiễm (Brucelalosis),
roi trùng (trychomonosis) hay phẩy khuẩn.
- Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, đặc biệt là kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho bò.
Thường viêm cả ba lớp.
Viêm lớp cơ
Viêm tương mạc
Viêm niêm mạc. Trường hợp viêm cả ba lớp gọi là viêm tứ cung
Viêm tử cung chia làm 4 độ
Độ 1: Dùng mỏ vịt kiểm tra thấy biến đổi toàn bộ tử cung. Kiểm tra qua âm
đạo thấy một ít mủ chảy ra.
Độ 2: Dịch tiết ra đọng lại ở âm đạo vẩn đục có mủ.
Độ 3: Mủ chảy ra nhiều.
Độ 4: Nếu cổ tử cung mổ mủ chảy ra nhiều, nếu cổ tử cung đóng mủ tích. Ở
độ 4 viêm rất nặng trên niêm mạc tử cung và bị hoại tử sau đó ăn sâu xuống lớp
cơ, dẫn đến viêm tử cung hoại tử, viêm tử cung có màng giả.
2.2.6.3.2. Triệu chứng
- Nhiệt độ cơ thể hơi tăng, kém ăn, lượng sữa giảm
- Con vật cong lưng rặn, dịch trong tử cung chảy ra có lợn cợn lẫn mủ.
- Đuôi dính bết niêm dịch đóng thành mảng khô.
- Dùng mỏ vịt kiểm tra thấy cổ tử cung hơi mở có khi có mủ chảy ra.
- Nếu kiểm tra qua trực tràng kích thích tử cung vuốt nhẹ từ sừng tử cung
đến cổ mủ sẽ chảy ra ngoài.
- Dùng dẫn tinh quản hút dịch ra để kiểm tra.
- Kiểm tra thấy thể vàng tồn tại.
2.2.6.4. bệnh bại liệt sau khi đẻ
2.2.6.4.1. Nguyên nhân
Do kỹ thuật đỡ đẻ không tốt nhất là khi đẻ khó làm ảnh hưởng khớp bán
động háng,thần kinh toạ hoặc do chế độ dinh dưỡng.

21
2.2.6.4.2.Triệu chứng
Nếu nặng con vật bị liệt hai chân sau không đi được, trong trường hợp liệt
do gãy xương con vật đau đớn va có hiện tượng tốt do nhiễm trùng.
2.2.6.5. Bệnh viêm vú
2.2.6.5.1.Nguyên nhân
- Khi bú con cắn loét đầu vú.
- Chuồng trại bẩn, con vật kéo lê bầu vú trên sàn chuồng.
- Do ngoại thương kỹ thuật vắt sữa.
- Do vi trùng có thể xâm nhập qua lỗ đầu vú, ống lâm ba hoặc huyết quản.
Thường các loại vi trung sau
Streptococus 86%
Strephylococus 5,4%
Trực trùng sinh mủ 2,7%
Ecoli 1,2%
Các loại vi trùng khác 3,7%.
- Ngoài ra còn do thể trạng của gia súc nhất là tuổi của gia súc. Gia súc của
tuổi sung sức sinh đẻ dễ viêm vũ hơn, bò 5-9 tuổi 77%, bò trên 9 tuổi 20%.
2.2.6.5.2.Triệu chứng
Người ta phân ra các loại viêm vú sau:
- Viêm vú thanh dịch
- Viêm vú cata
- Viêm vú có sợi fibrin
- Viêm vú có mủ
- Viêm vú xuất huyết
- Viêm vú đặc biệt
- Hoá rắn tuyến vú
- Viêm hoại tử
2.2.6.6.Bệnh chậm sinh và vô sinh
2.2.6.6.1.Nguyên nhân

22
Nguyên nhân của bệnh không chửa đẻ của gia súc cái rất phức tạp song hầu
hết các tác giả đều do 2 nguyên nhân chính.
-Do phẩm chất của con cái kém do bệnh: bệnh đường sinh dục, bệnh bẩm
sinh, già yếu, rối loạn nội tiết
-Do ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh như: Thức ăn, thời tiết, khí
hậu,chăm sóc nuôi dưỡng dẫn tinh
2.2.6.6.2.Triệu chứng
+ Đối với bệnh chậm sinh: Đến tuổi thành thục giới tính con vật không có
biểu hiện động dục, con vật biểu hiện triệu chứng động dục chậm hơn binh
thường.
+ Đối với bệnh vô sinh: nếu khám qua trực tràng kiểm tra không có thể vàng,
con vật không có triệu chứng động dục và thụ tinh không có kết quả. [Theo
nguồn 5].
2.3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Trên đàn lợn nái nuôi tại các hộ gia đình trên địa bàn huyện Thanh Chương
tỉnh Nghệ An
2.3.2. Nội dung nghiên cứu:
Điều tra 6 bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái là bệnh sẩy thai, sót nhau,
viêm tử cung, bại liệt, viêm vú, chậm sinh-vô sinh.
Phân tích tỷ lệ mắc bệnh sinh sản chung ở đàn lợn nái trên địa bàn huyện
Thanh Chương
Phân tích tỷ lệ mắc bệnh sinh sản giữa các vùng sinh thái khác nhau: Đồng
bằng,trung du, miền núi.
Phân tích tỷ lệ mắc bệnh sản khoa giữa cá lứa để khác nhau.
So sánh tỷ lệ mắc bệnh sản khoa giữ các giống lợn khác nhau.
Nêu ra một số biện pháp khắc phục.
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu:
23

- Chọn địa điểm điều tra: Điều tra tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên địa bàn 3 xã:
Thanh Văn, Thanh Hòa, Ngọc Lâm đặc trưng cho 3 vùng sinh thái tương ứng là:
Đồng bằng, Trung du, Miền núi.
- Lập bảng điều tra thống nhất.
- Tìm đọc tài liệu tham khảo và thu thập khối lượng ở trạm thú y.
- Đi đến các xã điều tra, kết hợp với thú y cơ sở đến từng hộ gia đình nuôi
lợn nái phỏng vấn thu thập các thông tin cần thiết.
- Thống kê, phân loại theo các chỉ tiêu đã điều tra.
- Tổng hợp các số liệu đã thu thập được.
- Tìm hiểu phương thức chăn nuôi lợn.
- Tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh và nêu ra biện pháp khắc phục.
- Xử lý số liệu: cộng, trừ,nhân, chia, tính phần trăm.
2.4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Qua quá trình điều tra đàn lợn nái nuôi tại hộ gia đình huyện Thanh Chương-
Nghệ An chúng tôi đã điều tra được tổng số lợn nái trên địa bàn 3 xã là 370
con.3 xã bao gồm là: Thanh Văn, Thanh Hoà, Ngọc Lâm tương ứng với 3 vùng
sinh thái: đồng bằng, trung du và miền núi. Từ kết quả điều tra bệnh sản khoa ở
lợn nái chúng tôi thu được kết quả như sau:
2.4.1. Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa chung trên toàn đàn
Bảng 1: Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa chung trên đàn lợn nái
Tên bệnh Số con điều tra Số con mắc bệnh
Tỷ lệ mắc bệnh
(%)
Sẩy thai 370 35 9,46
Sót nhau 370 25 6,76
Viêm tử cung 370 14 3,78
Bại liệt 370 28 7,57
Viêm vú 370 19 5,14
Chậm sinh-vô sinh 370 42 11,35
Tổng số 370 163 44,06

Trung bình - 27 7,34
24
Thông qua bảng 1 ta thấy, tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái được
điều tra là khá cao, trung bình là 7.34%. Điều này đã phản ánh một phần nào
trình độ chăn nuôi lợn nái của bà con nông dân còn thấp, công tác phòng chống
bệnh tật còn nhiều hạn chế. Diễn biến cụ thể từng bệnh như sau:
 Bệnh chậm sinh – vô sinh chiếm tỷ lệ cao nhất 11.35%. Đây là bệnh khá
phổ biến trong chăn nuôi hiện nay.
Nguyên nhân chính là do khâu chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái kém: Thức ăn
kém dinh dưỡng, lợn nái thiếu Vitamin A, D, E gây chậm phát triển buồng trứng,
chậm động dục, lợn cai sữa không động dục trở lại; chế độ vận động của lợn nái
còn ít …
Bệnh này một phần chủ yếu cũng do phối giống kém, phát hiện động dục và
chọn thời điểm dẫn tinh thích hợp là vấn đề khó khăn với người dân ở đây.
Các nguyên nhân khác như kế phát từ bệnh viêm tử cung làm cho lợn chậm
sinh – vô sinh hay do rối loạn nội tiết do hàm lượng FSH và LH không cân đối
(tỷ lệ cân đối FSH/LH = 1/3) làm cho gia súc động dục nhưng trứng không rụng
và thụ tinh không có kết quả.
 Bệnh sẩy thai chiếm tỷ lệ khá cao 9.46%
Nguyên nhân chủ yếu vẫn là vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng ở thời kỳ mang thai,
vì ở thời kỳ này lợn nái cần một hàm lượng dinh dươngz cao như protid, Vitamin
và khoáng chất. Thiếu dinh dưỡng dẫn tới bào thai phát triển không tốt gây chết
thai,thai tiêu và sẩy thai.
Nguyên nhân nữa là do ngộ độc thức ăn, kế phát từ các bệnh truyền nhiễm, ký
sinh trùng như: Lở mồm long móng, tụ huyết trùng, sán lá gan, trichomonas…và
cũng do tác động cơ học hay dùng thuốc không đúng chỉ định cũng gây sẩy thai.
 Bệnh bại liệt chiếm tỷ lệ 7.57%
Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng qua thực té chúng tôi thấy rằng nguyên
nhân chính vẫn là vấn đề chăn sóc nuôi dưỡng, trong quá trình nuôi dưỡng khẩu
phần ăn cho lợn nái không được cân bằng về dinh dưỡng. Người dân ở đây chủ

yếu dưa vào nguồn phụ phế phẩm từ nông nghiệp làm thức ăn cho lợn nái, mức
đầu tư cho lợn nái còn rất thấp, trong khi đó nhu cầu của lợn nái là rất lớn.
25
khẩu phần thức ăn không đủ protid, khoáng chất mà lại còn nhiều glucid. Đối
với khoáng chất, nhu cầu lợn nái sinh sản cần nhu cầu cao, đặc biệt là canxi và
photpho. Hai loại khoáng đa lượng này nếu thiếu quá mức thì sẽ làm cho lợn nái
mắc bệnh bại liệt trước và sau khi đẻ chiếm tỷ lệ cao.
nguyên nhân khác như cơ thể lợn mẹ qua nhỏ, lại dẫn tinh quá sớm, hay dẫn tinh
ngoại, đến khi lợn mẹ bị hẹp xương chậu do thai quá to, khi can thiệp không tốt
cũng dẫn tới bại liệt.
Nguyên nhân nữa là hầu hết chuồng trại không đảm bảo kỹ thuật, thiếu ánh
sáng, quá trình chăm sóc nuôi dưỡng không cho lợn nái vận động, tắm nắng dẫn
tới thiếu Vitamin D vì Vitamin là chất xúc tác cho quá trình hấp thụ canxi,
photpho.
Nói chung bệnh bại liệt thì có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính
là do vấn đề dinh dưỡng kém.
 Bệnh sót nhau chiếm tỷ lệ 6.76%.
Qua điều tra tìm hiểu cho thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn tới bệnh sót nhau
là do trong thời gian có thai nhất là ở giai đoạn cuối con vật không được vận
động thỏa đáng. Trong thức ăn thiếu các chất khoáng nhất là canxi và
photpho,hoặc tử cung bị sa liệt,con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa nhiều
thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức.
một nguyên nhân nữa cũng không kém phần quan trọng là do kế phát từ các
bệnh truyền nhiễm.
 Bệnh viêm vú chiếm tỷ lệ 5.14%.
Nguyên nhân chính là do vệ sinh chuồng trại không tốt, lợn con khi bú do
không được bấm răng từ khi đẻ nên làm xây xát bầu vú dẫn đến nhiễm khuẩn.
Một số lợn đẻ nhiều lứa nên bầu vú sệ, tiếp xúc với nền chuồng làm xây xát gây
viêm vú. Bệnh này còn do kế phát từ các bệnh sản khoa khác như viêm tử cung,
sót nhau sau khi đẻ, vi khuẩn tuần hoàn theo máu đến bầu vú gây viêm.

 Bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ thấp nhất 3.78%.
Qua điều tra tìm hiểu thì chúng tôi nhận đinh nguyên nhân chính gây ra
bệnh này là do kỹ thuật đỡ đẻ không tốt, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cũng không

×