Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

Hệ thống nhận diện thương hiệu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.98 MB, 57 trang )











PHẦN MỞ ðẦU



















2


1. Lý do chọn ñề tài ( tính cấp thiết của ñề tài):
Ngày nay, khi ñời sống kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu người dân cao hơn, hàng
hóa ña dạng hơn, tốt hơn thì quảng cáo hàng hóa cũng phát triển, các hãng muốn mọi
người biết ñến mình, người tiêu dùng thì thông qua các loại hình ñồ họa và thông tin ñại
chúng ñể tiếp cận các mặt hàng. ðồ họa góp phần quảng cáo cho thương hiệu một cách
hiệu quả nhất. Vì vậy, Chuyên ngành ðồ Họa ngày càng chiếm vị trí quan trọng hơn trong
xã hội
.
Với sự phát triển nhanh chóng và ñời sống ñô thị sôi ñộng như hiện nay, hàng loạt các
loại hình dịch vụ xuất hiện với quy mô ngày càng mở rộng ñã cho ra ñời những phong
cách sống mới, hiện ñại và tích cực hơn.

Thế kỉ 21 hay còn gọi là thời ñại tòan cầu hóa với xu hướng chung của thế giới, Việt Nam
từng bước hội nhập vào thế giới , trở thành một phần của kinh tế toàn cầu. Vậy hội nhập là
gì? Mượn từ “convergence” trong tiếng Anh, tôi cho rằng mục tiêu của hội nhập phải là
hội tụ. Nói cách khác là ñể ñẩy Việt Nam lên một tầng văn minh mới thì cần biến Việt
Nam thành một môi trường hội tụ những ñiều hay, ñẹp, sáng tạo, nhất của nhân loại, song
song ñó vẫn phải giữ gìn nét ñẹp văn hóa ñặc trưng của dân tộc.

Việt Nam ñang là một bến cảng quốc tế, có xu hướng “mở”, con người Việt Nam năng
ñộng, không dừng lại ở sự ñịnh hình mà còn tiếp tục hòan thiện và thích ứng. Nhìn nhận về
người Việt Nam phải ñặt trong trạng thái “ñộng” – không ngừng phát triển. ðiều ñó thể
hiện rõ ở mọi mặt trong ñời sống người Việt hiện nay, ñặc biệt là những người Việt trẻ.

Những người Việt trẻ - lực lượng nòng cốt trong công cuộc phát triển ñất nước. Họ thích
thử thách, khám phá những cái mới, thích nghi nhanh với cuộc sống công nghiệp, luôn
muốn thể hiện cái tôi cá nhân, khẳng ñịnh vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Trong
giai ñoạn chuyển mình của ñất nước, họ càng tất bật hơn với những công việc nhằm ñáp
ứng nhu cầu cuộc sống tương lai của bản thân nói riêng và cũng chính là ñáp ứng nhu cầu
3

tương lai của cả ñất nước nói chung. Dường như 24 tiếng/ngày là quá ít so với nhịp sống
nhanh của những người Việt trẻ khi mà cuộc sống ñô thị luôn hối hả và xã hội luôn thúc
giục ñổi mới tư duy, tiếp thu kiến thức mới… Chính vì lí do ñó mà tất cả mọi thứ ñáp ứng
nhu cầu sống giờ ñây ñược gói gọn trong hai từ “nhanh - gọn”. Hàng loạt các sản phẩm,
nhãn hàng “nhanh - gọn” tràn ngập thị trường Việt Nam. ðây cũng chính là một ñặc trưng
cho một xã hội phát triển với nền kinh tế phát triển từng ngày.

Cùng với làn sóng ñó, loại hình chuỗi cửa hàng bán lẻ bắt ñầu trở mình thành một mô
hình kinh doanh hiện ñại và hiệu quả, trong ñó có thể kể tới những nhãn hàng như cà phê
Trung Nguyên, phở 24, Kinh ðô Bakery….của Việt Nam hay những KFC, Loteria, Pizza
Hut….từ các nước phương tây, phục vụ cho nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng là cần
có những giải pháp cho vấn ñề thời gian .

Mô hình nhà hàng thức ăn nhanh gần như nhanh chóng chiếm ñược sự quan tâm của
người tiêu dùng hiện nay, ñáp ứng nhu cầu ăn uống cần thiết của con người trong ñiều
kiện không cho phép về thời gian, bận rộn hay cao hơn là nhu cầu thưởng thức dịch vụ
tiện lợi, chu ñáo và vệ sinh

ðể tồn tại và phát triển trong một nền kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh ñầy khốc
liệt thì các doanh nghiệp cần nỗ lực hết sức trong việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu
của mình. Một trong những ñộng thái tích cực nhất ñể khuếch trương thương hiệu một
cách có hiệu quả là ñầu tư ñúng cách vào bộ mặt của thương hiệu. Thương hiệu của bạn
cũng có thể có ñược những lợi ích chức năng và lợi ích cảm tính này. Song ñể làm ñược
như vậy, bạn phải có một mẫu ñịnh dạng chuẩn cho thương hiệu.

Bộ nhận diện thương hiệu – mang lại hiệu quả về mặt nhận biết thương hiệu sẽ giúp các
nhà ñầu tư dễ dàng tạo dựng vị trí của mình trong lòng người tiêu dùng. Một thương hiệu
mới xây dựng cần ñược phân biệt dễ dàng với những thương hiệu khác trong cùng lĩnh
vực hàng hóa, dịch vụ.


4
Từ những suy nghĩ và lập luận trên, người viết chọn ñề tài xây dựng “ bộ ñịnh dạng
thương hiệu cho nhà hàng thức ăn nhanh Handy”, tạo dựng một mô hình nhà hàng phục
vụ thức ăn nhanh tiện lợi nhưng vẫn ñảm bảo dinh dưỡng, vệ sinh và nhất là phù hợp với
khẩu vị của người Việt Nam.

2. Mục ñích nghiên cứu:

Trên thế giới, tất cả các nhãn hàng ñều mong muốn sản phẩm hay nhãn hiệu của mình
ñược tất cả mọi người biết ñến và lựa chọn, nó không nằm ngoài mục tiêu nhằm mở rộng
thị phần hay gia tăng doanh số bán hàng, và ñể làm ñược ñiều ñó thì việc trước tiên chính
là làm thế nào ñể trở thành sự lựa chọn hàng ñầu trong tâm trí người tiêu dùng. ðây là
ñiều hết sức quan trọng và mang ý nghĩa rất lớn tới sự thành bại của thương hiệu, mỗi
thương hiệu thành công ñều hiểu rõ tầm quan trọng của việc chiếm lĩnh tâm trí khách
hang. Tạo dụng ñược vị trí nhất ñịnh trong long khách hang rõ rang không phải là ñiều
ñơn giản khi lượng thông tin mà người tiêu dùng nhận ñược hàng ngày là rất lớn. chính vì
vậy các chủ doanh nghiệp làm thế nào lưu lại thông ñiệp của mình trong lòng khách
hàng?

Mọi thương hiệu ñều cung cấp ñến người tiêu dùng những lợi ích chức năng, vì vậy rất
khó ñể tạo sự khác biệt, dễ gây nhầm lẫn nếu chỉ dựa vào những ñặc ñiểm này. ðó là lý
do vì sao dù bạn có muốn hay không, những công ty phải lấy lợi ích cảm xúc làm vũ khí
mới ñể chiến thắng ñối thủ của mình.

Ngày nay, một công ty muốn thành công thì cần phải giành ñược sự chú ý của khách
hàng. Với một nhãn hàng mới ra ñời, không gì quan trọng hơn là phài ñưa hình ảnh của
mình ñến gần với người tiêu dùng, công việc của nhà thiết kế cần làm là tạo dựng hình
ảnh, bộ mặt cho thương hiệu, thu hút sự chú ý của người tiêu dùng, cái khó là cần tạo
ñược sự chú ý phù hợp, lien quan ñến những ñặc ñiểm, tính chất riêng của sản phẩm thức
ăn nhanh Handy.


5
3. ðối tượng nghiên cứu:

3.1 Sản phẩm handy:
Sản phẩm hamburger tại handy cung cấp ñầy ñủ ngưồn năng lượng cần thiết ñể duy trì
hoạt ñộng cho cơ thể, là giải pháp hữu hiệu cho những người bận rộn.

Sản phẩm thức ăn nhanh của handy có ñầy ñủ các thành phần dinh dưỡng, sử dụng nhiều
rau xanh, kết hợp với các thực phẩm tươi ñược chọn lựa kỹ càng và chế biến phù hợp với
khẩu vị của người châu Á nói chung , người Việt Nam nói riêng.

3.2 Nhóm khách hàng của Handy
Khi nói chuyện với một người khác, ñể câu chuyện không tẻ nhạt và hời hợt bạn cần hiểu
rõ người ñối diện, nắm bắt tâm lý cũng như thói quen và sở thích của họ vv…, ñể thuyết
phục một khách hàng cũng cần những ñiều ñó, thông ñiệp của bạn sẽ rất hời hợt nếu bạn
không có những suy nghĩ tương ñồng với người tiêu dùng.

Một dòng sản phẩm mới sẽ thất bại nếu nhà sản xuất không ý thức ñược rõ rang về ñối
tượng khách hàng của họ là ai. Các công ty thành công ñều biết rất rõ về ñối tượng người
tiêu dùng mà họ nhắm ñến, ñiều này làm cho sản phẩm và dịch vụ của họ mang tính cạnh
tranh cao hơn những công ty ñối thủ.

Công ty thức ăn nhanh Handy xác ñịnh rõ nhóm khách hàng thường xuyên mà mình
hương tới sẽ là bộ phận thanh niên, sinh viên, công nhân viên chức… những người năng
ñộng, bận rộn hoặc không có thời gian…Việc thiết kế quảng cáo từ ñó cần mang tính
năng ñộng, nhanh nhẹn và thoải mái.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu:


"Hệ thống nhận diện thương hiệu" là sự diễn ñạt bản sắc của một công ty ...bằng hình ảnh
thông qua việc sử dụng văn từ và các biểu tượng. "Hệ thống nhận diện thương hiệu" gồm
6
những yếu tố nhận biết cấu thành thương hiệu ñược thể hiện một cách ñồng bộ, nhất quán
tạo nên ñặc ñiểm riêng giúp phân biệt thương hiệu ñó với những thương hiệu khác.

Bộ nhận diện thương hiệu có tác dụng giúp nhận dạng sản phẩm. Nó tạo ra ấn tượng trong
lòng người tiêu dùng về cấp ñộ của sản phẩm và giúp quảng cáo cho sản phẩm ñó.
Thương hiệu mới xây dựng cần ñược phân biệt dễ dàng với những thương hiệu khác trong
cùng lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, vì vậy bộ nhận dạng thương hiệu cần tạo ñược sự khác
biệt và chú ý của người tiêu dùng.
Nhà thiết kế có rất nhiều lựa chọn về bố cục kết hợp, ñể có thể tạo ra mẫu ñịnh dạng
format chuẩn cho thương hiệu. ðể bất kỳ sự lựa chọn kết hợp các yếu tố trên mang lại lợi
ích cho thương hiệu, nhà thiết kế không những phải ghi nhớ những yêu cầu về mặt thẩm
mỹ, mà còn phải cân nhắc xem liệu hiệu quả mang lại sẽ góp phần thể hiện hay làm lu mờ
tính cách của thương hiệu.
Hơn nữa, khi ñịnh dạng format cho một phương tiện truyền thông nhất ñịnh, ví dụ như
biểu mẫu giao dịch, thì nhà thiết kế cũng cần cân nhắc xem nó sẽ liên hệ về mặt hình ảnh
như thế nào với các phương tiện truyền thông khác, như tài liệu giới thiệu sản phẩm hay
bản tin nội bộ. Các mẫu ñịnh dạng format cho các phương tiện truyền thông khác nhau
cần phải ñiều chỉnh cho phù hợp với những yêu cầu kỹ thuật ñặc thù. Tuy vậy, chúng cần
phải có diện mạo tương tự nhau, ñể cùng giúp thương hiệu tạo ñược ấn tượng tối ña một
cách nhất quán
5. Phương pháp nghiên cứu:
Một hệ thống nhận diện thương hiệu thường bao gồm những yếu tố nhận biết cơ bản sau:

 Biểu tượng ( Logo)
Màu sắc trong các tài liệu truyền thông
Kiểu chữ trong các tài liệu giao dịch và truyền thông



7
 Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên các tài liệu văn phòng
Danh thiếp
Giấy viết thư
Bì thư A5
Bì thư A4
Nhãn thư tín
Hóa ñơn
Bản tin nội bộ
Thẻ nhân viên
Tài liệu thuyết trình
ðồng phục

 Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên sản phẩm và bao gói
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên sản phẩm
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên tem nhãn dán lên sản phẩm
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu in trực tiếp lên sản phẩm
Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên bao gói sản phẩm
Bố cục trình bày dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên bao gói sản phẩm
Một số minh họa ứng dụng

 Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên các biển hiệu
Các dạng biển hiệu
Biển hiệu Tổng công ty
Biển hiệu phòng ban
Biển hiệu tại quầy lễ tân và phòng họp
Biển quảng cáo
Biển hiệu ñại lý



8
 Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trong truyền thông marketing
Ấn phẩm quảng cáo
Thiết kế gian hàng hội chợ triển lãm
Quảng cáo trên truyền hình (tư vấn)
Quảng cáo trên các phương tiện vận chuyển
Hàng khuyến mại
Website và vỏ ñĩa CD (Thiết kế giao diện)

Một quy trình xây dựng và thiết kế hình ảnh, bản sắc thương hiệu thường ñược bắt ñầu
bằng những nghiên cứu khách hàng về: ñịnh vị thương hiệu, sản phẩm, khách hàng... . từ
ñó có thể giúp cho những ý tưởng sáng tạo ñược hình thành. Phần lớn thời gian của một
quy trình xây dựng và thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu dựa trên tầm cỡ, tính phức
tạp cũng như số lượng những hạng mục thiết kế của dự án.

5.1 Nghiên cứu và Phân tích (Research & Analysis)
Những Dự án xây dựng và thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu dù lớn hay nhỏ luôn
cần sự phối hợp nghiên cứu và phân tích giữa nhà thiết kế và khách hàng, ñây là cách tốt
nhất cho những những ñịnh hướng sáng tạo mang tính khác biệt rõ ràng với những thương
hiệu khác. Về phía khách hàng, chủ doanh nghiệp bắt buộc phải tham gia ngay từ khâu
này.

Những cuộc nghiên cứu tùy mức ñộ sẽ bao gồm các bước cơ bản sau:

Kiểm tra nội bộ (Internal audit):
Thống nhất những mục tiêu cụ thể của dự án. Những thông tin, tài liệu liên quan có ích
cho dự án hay những cuộc trao ñổi, thảo luận bàn tròn cũng có những giá trị hữu ích cho
những nghiên cứu và phân tích ban ñầu.


Thấu hiểu người tiêu dùng (Customer insight):
9
Những nghiên cứu mang tính thấu hiểu người tiêu dùng sẽ cho những kết quả khách quan
và ñúng ñắn nhằm giúp nhà thiết kế và khách hàng tìm ra ñược những ñịnh hướng, giải
pháp và ý tưởng phù hợp với những suy nghĩ, cảm nhận của họ.

ðối thủ cạnh tranh (Competitors):
Nghiên cứu kỹ lưỡng ñối thủ cạnh tranh sẽ giúp cho nhà thiết kế và khách hàng có những
ñịnh hướng chiến lược mang tính ñúng ñắn, ñiều này sẽ giúp tạo ñược sự khác biệt và
tách biệt với ñối thủ.

5.2 Chiến lược (Strategy)
Ở bước này những yếu tố ñịnh vị và cốt lõi thương hiệu, ý tưởng nền của khách hàng,
khái niệm thiết kế cơ bản (Concept), thông ñiệp chính phải ñược xác ñịnh một cách rõ
ràng. Một bảng tóm tắt về dự án (Project brief) bao gồm những giải pháp và ý tưởng, mục
tiêu của dự án và những kết quả nghiên cứu ñược nhà thiết kế thuyết trình cùng khách
hàng.

Hai ñến ba ñịnh hướng chiến lược của dự án sẽ ñược ñưa ra, khách hàng chọn một, ñịnh
hướng ñược chọn là ñịnh hướng chính của dự án, tất cả những ý tưởng, hình ảnh, thông
ñiệp… ñều xoay quanh ñịnh hướng này cho ñến khi hoàn tất dự án.

5.3 Thiết kế (Design)
ðây là giai ñoạn ñã quyết ñịnh ý tưởng và ñịnh hướng chính của dự án nhằm bước vào
triển khai các thiết kế cơ bản. Những thiết kế cơ bản hoàn tất sẽ ñược thuyết trình với
khách hàng và sẽ ñược ñiều chỉnh ñể chọn ra mẫu thích hợp nhất. Mẫu ñược chọn là xuất
phát ñiểm cho việc triển khai toàn bộ những hạng mục thiết kế của dự án.

5.4 Bảo hộ (Trademark protection)
Bảo hộ thương hiệu luôn là nhu cầu cần thiết nhằm bảo ñảm an toàn cho thương hiệu

tránh những sự sao chép, bắt chước từ ñối thủ cạnh tranh. Việc ñăng ký bảo hộ cũng là
bước an toàn cho giai ñoạn tung dự án ra thị trường.
10

5.5 Ứng dụng (Application)
Toàn bộ hạng mục thiết kế của dự án ñược thiết kế theo từng nhóm cơ bản, khách hàng
ñiều chỉnh và ký duyệt theo từng nhóm cho ñến khi hoàn tất. Các thiết kế hoàn tất bao
gồm tất cả những yếu tố thiết kế về kiểu dáng, màu sắc, chất liệu và cả những tham vấn
cho khách hàng trong việc ñưa vào sản xuất thực tế.

5.6 Sản xuất Dự án (Implementation)
Tùy vào thỏa thuận ban ñầu giữa khách hàng và nhà thiết kế mà một bản thiết kế có
những chi tiết hướng dẫn thiết kế theo từng mức ñộ khác nhau, nó có thể là những lời tư
vấn miệng hay những bản hướng dẫn thiết kế chi tiết (manual guide) cho việc sản xuất dự
án. Khách hàng cũng có thể yêu cầu nhà thiết kế trong vai trò là một giám sát và tư vấn
ñể làm việc với nhà cung ứng trong suốt quá trình sản xuất dự án với một khoản phí ñược
thỏa thuận giữa hai bên.

Vai trò giám sát của nhà thiết kế cho việc sản xuất dự án sẽ rất cần thiết và quan trọng,
những kinh nghiệm của nhà thiết kế sẽ giúp cho kết quả sản xuất dự án ñạt ñược ñộ chính
xác cao, hạn chế rủi ro hoặc phát sinh. Ngoài ra còn giúp cho khách hàng chọn ñược
những nhà cung ứng có năng lực và tiết kiệm tối ña ngân sách ñầu tư.










11










PHẦN NỘI DUNG













\

12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN


1.1 Tổng quan lịch sử của ñề tài:
1.1.1 Lịch sử ñề tài nghiên cứu:
Theo dòng xoáy thời gian, mọi vật trong cuộc sống ñều phát triển không ngừng, cùng với
các bước tiến của xã hội, rất nhiều các lĩnh vực trong ñời sống ñều có những bước phát
triển ñánh dấu sự ra ñời của nhiều phong cách mới, phong phú và thích hợp hơn, ñáp ứng
nhiều nhu cầu khác nhau của con người.

Thức ăn nhanh là một sản phẩm ñánh dấu sự khởi ñầu cho phong cách ẩm thực mới, một
phương thức phục vụ nhu cầu nhanh, tiện lợi của con người. Thức ăn nhanh ra ñời ñã
nhanh chóng trở thành hình ảnh của một lối sống thời ñại, mở ñầu cho sự xuất hiện và
bành trướng của một nền công nghiệp mới – ngành công nghiệp “fast food”
1.1.1.1 Lịch sử - nguồn gốc Hamburger:
Hamburger là một thực phẩm phổ biến cho các cuộc liên hoan ngoài trời ñược nướng trên
vỉ barbecue. Hamburger thường ñược nướng ở sau vườn ñể cả gia ñình cùng ăn. Thịt
hamburger thường ñược mua sống và có thể có vi khuẩn gây hại, cho nên cần phải ñược
nấu chín kỹ lưỡng.
Nhiều nhà hàng fast food dựa vào hamburger ñể bán. Dãy nhà hàng McDonald's bán một
loại hamburger có tên là Big Mac, ñược bán chạy nhất thế giới, ñồng thời ñược khách
hàng ưa thích nhất. Các dãy nhà hàng khác như Burger King, Whataburger, Carl's Jr.,
Wendy's, Jack-in-the-Box, và Sony cũng dựa vào món hamburger. Fuddruckers là một
dãy nhà hàng chuyên bán hamburger "thượng hạng".
Nguồn gốc tên gọi “Hamburger”
Tên hamburger có nguồn gốc từ tên của thành phố Hamburg, ðức, một người dân từ
Hamburg ñược gọi là "Hamburger"; theo ñó, bất cứ vật gì có nguồn gốc từ thành phố này
13
hay ñược phổ biến ñầu tiên tại ñây ñược có tên gọi này. (Tuy nhiên, tên của loại ñồ ăn này
không ñược viết hoa). ðầu tiên một loại bánh có thịt bò xay tên là "thịt nướng Hamburg"
(Hamburger steak) ñược nhắc ñến trong một sách nấu ăn ở Mỹ năm 1891; món này ñược
ñặt giữa hai lát mì, và ñược gọi là "bánh kẹp Hamburg" (Hamburger sandwich). ðến giữa

thế kỷ 20, cả hai tên gọi này ñã ñược ñọc ngắn lại thành "hamburger" hay "burger".
Tên gọi "burger" nay có nghĩa rộng hơn, có thể chỉ ñến các loại bánh kẹp có thịt xay, thịt
gà, cá, hay cả các món chay ở giữa, nhưng vẫn có lát mì hình tròn.
Tại Hamburg mọi người thường bỏ 1 miếng thịt heo nướng vào giữa 1 cái bánh cuộn gọi
là bánh nóng Rundstück, nhưng khi ñó nó vẫn thiếu 1 ñiều cơ bản mà tất cả các
hamburger hiện nay ñều làm ñó là miếng thịt kẹp phải ñược nấu chính trước khi cho vào
miếng bánh. Thời Trung Cổ, thành phổ cảng Hamburg là nơi giao thương quan trọng giữa
các lái buôn người Ả Rập và Châu Âu. Một lý thuyết ñược nhiều người thừa nhận là
chính các lái buôn Ả Rập ñã du nhập món Kibbeh ñược kẹp với miếng thịt cừu tẩm nhiều
loại gia vị và thường ñược ăn sống, nhưng người dân bản xứ ñã có công chế biến lại món
ăn ñó bằng cách thay thế thịt cừu bằng thịt heo hay thịt bò, và một ñiều thay ñổi quan
trọng nữa là miếng thịt kẹp ñược nấu hoặc nướng chính, khi ñó bánh "Hamburg Steak"
hay "Hamburger" ñã trở thành một loại bánh nóng Rundstück ñộc nhất vô nhị và ñược
mọi người tán thưởng.
Úc và New Zealand
Hamburgers ở Úc và New Zealand thường có cà chua, rau diếp, pho mát và một ít thịt (có
tẩm nước sốt BBQ hoặc nước sốt cà chua), và thường có củ cải ñường, hành tây, trứng,
thịt hun khói và dứa (aka "burger with the lot). "BLT" có nghĩa là hamburger dùng kèm
với thịt hun khói, rau diếp, và cà chua.
ðông Á
Trong một số nước ðông Á như ðài Loan, Nhật Bản hay Hàn Quốc, một số quán ăn
nhanh bán một loại "biến thể" của hamburger với miếng bánh kẹp (bun) là cơm thay vì
14
bánh mì. "Bánh kẹp" (The "bun") ñược làm từ loại một loại gạo nếp có ñộ kết dính ñủ ñể
cho phép tạo ra hình dáng miếng bánh mà không làm nó bị rã ra.
1.1.1.2 Lịch sử phát triển mô hình thức ăn nhanh:
Một trong những người sáng lập nên ngành công nghiệp fast-food là Carl Karcher, sinh
trưởng tại Ohio (Mỹ). Năm 1939, ông ñến California và mua một chiếc xe ngựa ñể ñi bán
xúc xích dạo cho khách ngồi trong xe hơi. Công việc rất phát triển, Carl ñã mở một quầy
ăn di ñộng chuyên phục vụ cho các thực khách ngồi trong ô tô với tên gọi “Quầy thịt

nướng lưu ñộng dành cho thực khách xe hơi Carl” (Carl’s Drive-in Barbecue).

Cũng trong thời gian ñó, hai anh em nhà McDonald, Richard và Maurice, ñã rời quê nhà
New Hampshire, ñến California mở một rạp hát nhưng thất bại. Biết dân Mỹ ñang rất
thích ăn trong quầy hàng drive-in, họ ñã mở một quầy hàng như thế tại Pasadena,
California vào năm 1939 với tên gọi “Thịt băm viên nổi tiếng của McDonald”
(McDonald’s Famous Hamburgers).

Cuối những năm 1940, anh em nhà McDonald cảm thấy mệt mỏi với việc phải thay
những ñĩa, ñồ thủy tinh, ñồ bạc nên ñã quyết ñịnh ñóng cửa quầy hàng và mở một quầy
hàng McDonald mới với thức ăn ñược ñể trong túi, bao nhựa hoặc giấy. Nhiều doanh
nghiệp trên khắp nước Mỹ ñã tìm ñến quầy hàng McDonald ở California ñể xem quầy
hàng hoạt ñộng như thế nào.

Sau ñó họ ñã trở về ñịa phương và dựng lên những quầy hàng giống McDonald của riêng
mình như Burger King, Taco Bell, Wendy’s Old – Fashioned Hamburgers, Dunkin’
Donuts, Kentucky Friend Chicken (KFC)... Ngay cả Carl Karcher, cha ñẻ của ngành thức
ăn nhanh ñã khởi nghiệp bằng việc bán xúc xích trên xe ngựa, cũng mở một loạt các quầy
hàng thức ăn nhanh với tên gọi là Carl Jr.’s

15
Câu chuyện của McDonald's bắt ñầu ở San Bernadio, bang California. Ray Kroc là một
người bán hàng, chuyên cung cấp “milkshake - sữa lắc trước khi uống và thức ăn trộn”
cho một cửa hàng thức ăn phục vụ lái xe và khách hàng qua ñường của hai anh em Dick
và Mac McDonald. Kroc ước tính rằng cửa hàng này chắc chắn bán ñược trên 2,000 hộp
milkshake hàng tháng và từ ñó, Kroc tò mò muốn biết nhiều hơn lí do tại sao công việc
kinh doanh của 2 anh em nhà McDonald lại phát ñạt ñến thế.

Ông ta tới thăm cửa hàng “phục vụ nhanh” này và cực kỳ kinh ngạc trước tốc ñộ phục vụ
món Hamburger ở ñây: 15 giây cho một chiếc bánh hamburger 15 cent với khoai tây và

sữa lắc. Kroc nhìn thấy tiềm năng phát triển của công việc kinh doanh này và quyết ñịnh
tham gia vào. Anh em nhà McDonald ñã ñồng ý với lời ñề nghị của Kroc về việc mua lại
bản quyền “quán ăn nhanh”. Và ngày 15 tháng 4 năm 1955, Kroc khai trương cửa hàng
McDonald’s phục vụ thức ăn nhanh ñầu tiên tại Des Plaines, ngoại ô phía bắc Chicago.

Với tốc ñộ phát triển cực nhanh, hệ thống các cửa hàng McDonald’s bán ñược hơn 100
triệu chiếc bánh hamburger trong vòng 3 năm ñầu tiên và cửa hàng McDonald's thứ 100
ñược khai trương 4 năm sau ñó, năm 1959. Tới năm 1961, Kroc trả 2.7 triệu ñô la Mỹ
mua hết toàn bộ quyền lợi từ anh em nhà McDonald và năm 1963, việc bán chiếc bánh
hamburger thứ một tỉ ñã ñược truyền hình trực tiếp trên tivi vào giờ quảng cáo cao ñiểm.

McDonald’s không chỉ phổ biến ở trong nước Mỹ mà còn nhanh chóng có ñược những
thành công trên thị trường quốc tế như Canada, Nhật Bản, Úc và ðức. Ngày nay, có
khoảng 1.5 triệu người làm việc cho McDonald’s trên toàn thế giới. Khởi ñầu
McDonald’s chỉ là một hiện tượng của nước Mỹ nhưng nay nó ñã trở thành một thương
hiệu quốc tế ñích thực.

Từ một cửa hàng gia ñình phục vụ ñồ ăn rất nhỏ, McDonald’s ñã phát triển thành một hệ
thống các cửa hàng phục vụ nhanh với giá trị hàng tỉ ñôla Mỹ. Khi mà bánh hamburger và
khoai tây chiên vẫn là chỗ dựa chính cho hoạt ñộng kinh doanh của McDonald's thì khả
16
năng ñoán trước và ñáp ứng ñược nhu cầu thực sự của khách hàng chính là thành công
lớn nhất của họ.

Một ví dụ rõ nhất là bánh sandwich File-O-Fish, ñược làm bởi Lou Groen, chủ cửa hàng
chi nhánh ở Cincinati, khu vực tập trung phần lớn người theo ñạo Thiên Chúa giáo. Groen
nhận thấy công việc kinh doanh của mình hoạt ñộng không tốt vào các ngày thứ 6 – ngày
mà người theo ñạo Thiên Chúa Giáo không ăn các món có thịt. Groen ñã ñưa ra món bánh
sandwich nhân cá, ñáp ứng nhu cầu của người dân ñịa phương. Loại bánh xăng-uých
“File-O-Fish” này ñược bán ñầu tiên năm 1963 và ñã nhanh chóng trở thành một món

trong thực ñơn ñược ưa thích ở tất cả các cửa hàng McDonald’s khắp thế giới.

Tiếp theo ñó, năm 1968 thì Big Mac, món bánh sandwich thành công nhất của McDonald
ñược làm bởi nhà hàng Jim Deligatti thuộc Pittsburg. Và 9 năm sau, cũng nhà hàng trên,
họ phục vụ thực ñơn bữa sáng cho những người lái xe. Và ñiều này ñã làm thay ñổi thói
quen ăn sáng của hàng triệu người Mỹ.

McDonald’s thành công vẻ vang nhờ vào óc thực tế, sáng tạo (innovation) cũng như sự
linh hoạt, biết thích ứng vào khung cảnh xã hội và của từng quốc gia riêng biệt.
Món chủ lực chính của McDonald’s là bánh mì hamburger ăn với khoai Tây chiên
(French fries) kèm theo Coke. ðể ñáp ứng với nhu cầu của thị trường ăn uống,
McDonald’s ngày nay ñã thêm vào menu nhiều món mới lạ, làm từ cá, thịt gà, gan, thịt
cừu, McRib, và họ còn chơi luôn cả món pizza nữa… ðầu tháng 8 năm 2006,
McDonald’s cho tung ra món Snack wrap, gồm có thịt gà, salade, sauce, và tất cả ñược
cuốn lại trong một loại bánh mềm tortilla. Theo quảng cáo, thì ñây là một món ăn nhanh,
rất tiện và rất bổ với giá bán chỉ có 1,29$




17
Những ñiều có thể bạn chưa biết về Mc Donald

McDonald’s phục vụ khoảng 45 triệu người mỗi ngày trên toàn
thế giới - với doanh thu trên 20 triệu ñôla ở nước Mỹ và hơn 25
triệu ñôla ở toàn bộ các nước khác.
Cứ cách nhau 8 tiếng lại có thêm một cửa hàng McDonald’s ñược
khai trương ở ñâu ñó trên thế giới.
Trung bình một ngày có khoảng 8% thanh niên Mỹ ñến ăn ở
McDonald’s.


Cửa hàng “MeSki” ñầu tiên ñược khai trương ở Lindvallen, Thụy
ðiển năm 1996, tại ñây khách hàng có thể thưởng thức chiếc bánh
BigMac, ca cao nóng hay một miếng bánh táo trên con ñường dốc
trượt mà không cần phải cởi bỏ các dụng cụ trượt tuyết.
Việc ñầu tư 2,250 ñô la Mỹ cho 100 cổ phiếu của McDonald’s
năm 1965 ñến ngày 30 tháng 9 năm 1999 ñã tăng lên 74,360 cổ
phiếu và trị giá là 3.2 triệu ñô la Mỹ.
Ronald McDonald có thể nói ñược hơn 25 thứ tiếng, bao gồm cả
tiếng Quảng ðông, Bồ ðào Nha, Hindu, Talalog và tiếng Nga.
Từ năm 1984, các tổ chức nhà từ thiện mang tên Ronald
McDonald’s (RMHC) – Ronald McDonald ñã ñóng góp gần 250
triệu ñô la Mỹ với mục ñích tài trợ các chương trình vì trẻ em.



18
Nối tiếp thành công ñó của nhãn hàng McDonald’s, chuỗi cửa hàng KFC xuất hiện với
một thể loại thức ăn nhanh khác là gà rán. KFC (trước ñây viết tắt trong tiếng Anh của
Kentucky Fried Chicken, còn gọi là Gà rán Kentucky trong tiếng Việt) là nhãn hiệu của
loạt cửa hàng ăn nhanh ñược ñánh giá nổi tiếng thứ hai trên thế giới sau McDonald's.
KFC chủ yếu kinh doanh các món ăn nhanh làm từ gà và món nổi tiếng nhất là Gà rán
Kentucky do ông Harland Sanders sáng chế.

Câu chuyện KFC khởi ñầu bằng một giấc mơ của một người ñáng kính: Ông Harland
Sanders, sinh ngày 9/9/1890 tại Henryville, bang Indiana - Mỹ và mất ngày 16/12/1980.
Ngay từ thuở nhỏ, ông ñã có năng khiếu nấu ăn và có thể nấu ñược rất nhiều món ñặc
trưng của vùng. Chính vì niềm ñam mê nấu ăn nên ông luôn luôn thử nghiệm, tìm tòi
nhiều hỗn hợp gia vị khác nhau và ông ñã tạo ra món Gà Rán Kentucky thật ñộc ñáo như
ngày nay


Năm 1939 Colonel Harland Sander giới thiệu với thế giới mùi vị sản phẩm sáng tạo nhất
của mình, công thức nguyên bản của món Gà rán Kentucky. Từ ñó hàng triệu người trên
thế giới ñã rất thích thú ñến nhà hàng của ông ñể thưởng thức các món ăn kèm theo bánh
bích quy tươi và nóng.

Colonel Harland Sandner sinh ngày 9 tháng 9 năm 1890, bắt ñầu tích cực tham gia vào
công cuộc kinh doanh thịt gà của mình ở ñộ tuổi 65. Hiện nay doanh nghiệp KFC mà ông
gây dựng ñã lớn mạnh trở thành một trong những hệ thống dịch vụ cung cấp thức ăn
nhanh lớn nhất thế giới. Và Colonel Sander một người tiên phong cho dịch vụ nhà hàng
ăn nhanh ñã trở thành một biểu tượng của tinh thần ñiều hành.

Năm 40 tuổi ông bắt ñầu nấu ăn cho những vị khách du lịch ñói bụng dừng chân ở sân ga
ở Corbin, Kentucky. Ông không có một nhà hàng nào cả mà phục vụ trên một cái bàn ăn
tối của ông trong một phần tư phòng khách của ga.

19
Khi có thêm nhiều người biết ñến các món ăn của mình, ông chuyển sang một nhà hàng
và khách sạn với 142 chỗ ngồi. Hơn 9 năm sau ông ñã hoàn thành một thực ñơn hoàn
chỉnh và các kĩ thuật nấu ăn căn bản vẫn ñược sử dụng ñể làm gà cho ñến tận ngày hôm
nay. Tên tuổi của Sander ngày càng nổi tiếng, thống ñốc Ruby Laffoon phong ông làm ñại
tá ở Kentucky năm 1935 công nhận ñóng góp của ông trong việc tạo ra kĩ thuật nấu
nướng.

Tuy nhiên vào ñầu những năm 50 một ñại lộ giữa các tiểu bang vòng qua thị trấn của
Corbin ñược lên kế hoạch xây dựng, Sander bán ñấu giá các tài sản khi nhận thấy ñây là
ñiểm kết thúc cho công việc kinh doanh của mình. Tin tưởng vào chất lượng thịt gà rán
của mình, ông ñã ñi du lịch vòng quanh ñất nước bằng ô tô từ nhà hàng này ñến nhà hàng
khác, nấu món gà cho các chủ nhà hàng ñể họ nhận xét. Sẽ có một bản hợp ñồng thỏa
thuận nhà hàng sẽ trả cho ông một Niken khi muốn bán thịt gà rán của ông.


Năm 1964 Sander có thêm hơn 600 ñại lí ñược cấp quyền kinh doanh thịt gà ở Mỹ và
Canada. Vào năm ñó ông ñã chuyển nhựợng niềm ñam mê của mình cho Jonh Brown,
người sau này là thống ñốc bang Kentucky từ năm 1980 ñến năm 1984, với giá 2 triệu
USD. Tuy nhiên KFC một lần nữa thay ñổi chủ, Heublien Inc giành ñược KFC với 285
triệu ñôla vào ngày 8 tháng 7 năm 1971, Heublien ñã phát triển hơn 3.500 nhà hàng rộng
rãi trên toàn thế giới. Sau ñó Kentucky lại trở thành một thành viên của Pepsi Co và ñến
tháng 1 năm 1997 Pepsi Co Inc thông báo về việc tách các nhãn hiệu con của nó, họ gộp
chung 4 nhãn hiệu KFC, Taco Bell và Pizza Hut thành một công ty ñộc lập là Tricon
Global Restaurants.

Vào tháng 5 năm 2002 công ty tuyên bố thay ñổi tên thành Yum. Công ty này sở hữu
A&W, All – American Food Restaurants, hệ thống các nhà hàng KFC, Long Jonh Silvers,
Pizza Hut và Taco Bell, ñây là một công ty lớn nhất thế giới về số lượng quán ăn, nhà
hàng với gần 32.500 ñại lí trên hơn 100 quốc gia trên thế giới
.

20
Trong các năm 2004 và 2005, KFC ñã khởi nguồn thành công với một chiến dịch mang
tên “singing soul” tiếp bước từ sự thành công của chiến dịch “Soul Food” năm 2003 và
2004. Chiến lược “Soul Food” ñã giúp KFC tạo ñược một hệ thống nhận diện thương hiệu
hoàn chỉnh và xây dựng ñược một mối quan hệ tốt ñẹp với khách hàng. Thừa hưởng sự
thắng lợi ñó, “singing soul” hiện nay ñã ñưa thương hiệu KFC phát triển vượt bậc.

Tập ñoàn KFC ñặt cơ sở tại Louisville, với một hệ thống nhà hàng các món gà phổ biến
nhất thế giới. Ở nước Anh KFC ñã xây dựng cho mình 1 hệ thống 680 kho hàng dùng cho
dự trữ gà. Toàn bộ KFC thuộc sở hữu của tập ñoàn Yum ñang hoạt ñộng với hơn 33.000
nhà hàng trên hơn 100 quốc gia trên thế giới. Bốn công ty KFC, Pizza Hut, Taco Bell và
Long Jonh Siver là những thương hiệu hàng ñầu của Yum toàn cầu! Những công ty này
mở khoảng ba quán ăn mỗi ngày và là những nhà hàng công nghiệp bán lẻ quốc tế lớn

mạnh nhất.


NHỮNG ðIỀU CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT VỀ THƯƠNG
HIỆU KFC

Mỗi ngày, KFC ñón tiếp gần 8 triệu khách hàng trên toàn thế
giới.

Hàng năm, hơn một tỉ “finger lickin” thịt gà ngon ñược phục
vụ cho các bữa ăn chính.

Thịt gà ñược chế biến từ cùng một công thức mà Colonel
Harland Sander ñã sáng tạo ra hơn nửa thế kỉ trước.

Người tiêu dùng trên toàn cầu ñã sử dụng hơn 300 sản phẩm
khác ñược chế biến từ Chunky Chicken Pot Pie ở Mỹ tới bánh
sanwich cá hồi ở Nhật Bản.
21

Hơn 50 năm trước, Colonel Sander ñã phát minh ra “sự thay
thế thức ăn ở nhà” – bán thức ăn ñầy ñủ cho các gia ñình bận
rộn.

Trong nhiều năm, Colonel Sander ñã cất giữ công thức pha chế
trong ñầu của mình và ngày nay công thức này ñược cất giữ an
toàn ở Louisville. Tại Kentucky. chỉ có một số ít người biết
công thức ñáng giá hàng triệu ñolla ñó (và họ họ ñã kí những
giao kèo ñảm bảo sự bí mật của công thức này)




1.1.1.2 Hiện trạng ñề tài:

Công nghiệp dịch vụ thực phẩm Anh

Trong những năm gần ñây khách hàng của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thực phẩm
ñã suy giảm mạnh do sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu cùng với sự giảm sút của tốc
ñộ sản xuất tổng lượng sản xuất nội ñịa và số lượng du khách quốc tế ñến vương quốc
Anh. Hơn nữa nỗi sợ mập phì của người tiêu dùng ñang hướng họ tới nguồn thực phẩm an
toàn có lợi cho sức khoẻ.

Mặc dù những nhân tố này không tác ñộng ñến việc bán hàng, nền công nghiệp dịch vụ
thực phẩm Anh vẫn tỏ ra linh ñộng hơn cả sự mong ñợi của các nhà phân tích và các
chuyên gia với sự tăng trưởng 25% từ năm 1999 và vươn tới giá trị hàng hoá bán ra là
26.5 tỉ trong năm 2004 (theo Mintel).

ðơn vị số lượng khách hàng của dịch vụ này ñứng ở mức 177.6 nghìn vào năm 2003, tăng
6.8% so với năm 1999. Năm 2003 ñã có 5.224 triệu vụ giao dịch, tăng 15.6% so với năm
22
1999 (theo Euromonitor). Thức ăn nhanh tiếp tục thể hiện sự tích cực của nó trong suốt
giai ñoạn vừa qua khi chiếm 53.6% các giao dịch về dịch vụ thực phẩm năm 2003, vượt
mức thị phần của nó 52.2% vào năm 1999 (theo : Euromonitor)

Thương hiệu Mỹ chinh phục toàn thế giới

McDonald’s là thương hiệu thống lĩnh và có tốc ñộ tăng trưởng lớn nhất trong thị trường
ñồ ăn nhanh ở 120 nước trên 6 châu lục. McDonald’s hoạt ñộng với trên 29,000 cửa hàng
trên toàn thế giới và theo ước tính thì doanh thu tổng cộng năm 2000 ñã là hơn 40 tỉ ñô la
Mỹ. Chỉ có một vài thương hiệu có thể sánh ngang với McDonald’s về sức mạnh thương

hiệu và sự hiện diện khắp nơi của biểu tượng Golden Arches (hình chữ M vòng cung màu
vàng). Tuy nhiên, McDonald's vẫn ñược ñánh giá là thương hiệu mạnh nhất theo nghiên
cứu của Interbrand, công ty tư vấn thương hiệu hàng ñầu trên thế giới.

Nghiên cứu trên ñiểm lại toàn bộ các diễn biến, từng bước phát triển của các thương hiệu
hàng ñầu và ñưa ra ñánh giá, ước lượng giá trị của từng thương hiệu. Interbrand ñã kết
luận rằng: “Không có một thương hiệu nào có thể ñem ra so sánh với McDonald’s về ý
tưởng xây dựng thương hiệu, cách thực hiện và sức hấp dẫn kéo dài, lan rộng nhanh
chóng của nó. McDonald’s là một thương hiệu Mỹ chinh phục toàn thế giới với sức mạnh
của hai yếu tố khá là khác biệt – văn hóa và thương mại”. McDonald’s bắt ñầu từ nước
Mỹ nhưng ñã nhanh chóng trở nên phổ biến trên toàn thế giới.

McDonald’s cam kết sẽ trở thành một thành viên ñắc lực của cộng ñồng. Các tổ chức từ
thiện mang tên Ronald McDonal (RMHC) ñã ñóng góp gần 250 triệu ñôla Mỹ với mục
ñích tài trợ các chương trình vì trẻ em trên toàn thế giới từ năm 1984. Cơ sở của RMHC
là chương trình Ngôi nhà Ronald McDonald, chương trình tài trợ cho các gia ñình có trẻ
em bị bệnh hiểm nghèo ñể các em có thể ñược ñiều trị ở các bệnh viện gần nhà nhất. Ngôi
nhà Ronald McDonald ñầu tiên ñược mở ở Philadenphia năm 1974 và hiện nay trên thế
giới có khoảng 200 ngôi nhà như thế.

23
Việt Nam - Thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới

Năm ngoái, Việt Nam chỉ xếp thứ 4 trong số những thị trường bán lẻ "hot" nhất thế giới.
Theo các chuyên gia của A.T. Kearney, Việt Nam ñạt ñược bước tiến ấn tượng trong năm
nay là nhờ kinh tế tăng trưởng mạnh, thể chế chính sách ñang cải tiến theo hướng thân
thiện với nhà ñầu tư nước ngoài và ñặc biệt là nhu cầu của người tiêu dùng về những mô
hình bán lẻ hiện ñại.

Theo Mike Moriarty, trưởng bộ phận nghiên cứu về tiêu dùng và bán lẻ của A.T.

Kearney, quy mô thị trường bản lẻ ở Việt Nam còn nhỏ, song vẫn rất hấp dẫn bởi áp lực
cạnh tranh chưa lớn, trong khi tốc ñộ tăng trưởng kinh tế ñạt trên dưới 8%. Bên cạnh ñó,
người tiêu dùng Việt Nam thuộc hàng trẻ nhất ở châu Á và ngày càng mạnh tay chi tiêu.

Các tập ñoàn bán lẻ lớn của nước ngoài như Metro của ðức, Casino của Pháp, Parkson...
ñều ñã có mặt ở Việt Nam. Một tập ñoàn bán lẻ của Canada cũng ñã công bố kế hoạch
khai trương chuỗi cửa hàng tiện lợi mang tên Circle K ở Việt Nam.

Chuyên gia của A.T. Kearney ước tính quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam vào khoảng 20
tỷ USD. Song theo số liệu công bố trong nước, doanh số bán lẻ năm nay sẽ tăng khoảng
20,5% lên 975 nghìn tỷ ñồng, tương ñương 54,3 tỷ USD.

Sau 3 năm duy trì vị trí số 1, Ấn ðộ năm nay phải lùi xuống sau Việt Nam. Kế ñó là Nga,
Trung Quốc, Ai Cập, Morocco và Ảrập Xêút.

A.T. Kearney bắt ñầu công bố GRDI từ năm 2001, trong ñó ñánh giá về ñộ hấp dẫn của
thị trường bán lẻ ở những nền kinh tế mới nổi, dựa trên 25 yếu tố khách nhau, bao gồm cả
rủi ro kinh tế, chính trị, mức ñộ hấp dẫn cũng như bão hòa của thị trường bán lẻ.

Việt Nam với hơn 80 triệu dân, trong ñó 65% là dân số trẻ ở ñộ tuổi dưới 35 và tốc ñộ
tăng trưởng kinh tế năm 2005 dự kiến lên ñến 8,5% cũng ñang là thị trường hấp dẫn các
24
tập ñoàn kinh doanh thức ăn nhanh (fastfood).

Theo số liệu khảo sát 14.134 người tiêu dùng ở 28 quốc gia của AC Nielsen vào cuối năm
2004 cho thấy châu Á là thị trường tiêu thụ thức ăn nhanh tăng trưởng nóng nhất trên thế
giới. Chỉ riêng khu vực châu Á Thái Bình Dương, có 30% người tiêu dùng ăn ở ngoài ít
nhất 1 lần/tuần.

Cụ thể tỷ lệ phần trăm dân số ăn ở ngoài gia ñình ít nhất 1 tuần/lần là Hồng Kông 61%,

Malaysia 59%, Philippines 54%, Singapore 50%...

Thức ăn nhanh tại thị trường Việt Nam - Người ñẹp ñang ngủ

Cũng theo kết quả nghiên cứu của AC Nielsen, Việt Nam là thị trường sơ khai của
fastfood khi mới có khoảng 8% người tiêu dùng dùng thức ăn nhanh từ 1-3 lần/tháng. Con
số này quá ít so với các nước lân cận như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, ấn ðộ có hơn
70% người tiêu dùng ăn thức ăn nhanh ít nhất 1 lần/tháng.

Và số lượng khoảng 90% người tiêu dùng Việt Nam chưa quen với thức ăn nhanh sẽ là cơ
hội ñể các nhà kinh doanh khai thác. Ông Leo Maglasang, người quản lý ñại diện cho Tập
ñoàn Jollibee tại Việt Nam nói: "Chúng tôi ñánh giá ñây là thị trường tiềm năng và sẽ
tăng trưởng rất tốt trong thời gian sắp tới nên ñích thân tập ñoàn sẽ ñầu tư vốn lớn hàng
triệu USD, tổ chức các lớp học bài bản, ñưa người Việt Nam ra nước ngoài huấn luyện ñể
chuẩn bị mở hàng loạt cửa hàng thức ăn nhanh tại các tỉnh và thành phố lớn trên toàn Việt
Nam".

Cho ñến nay, nếu chỉ tính các ñiểm bán thiết kế theo hệ thống có thương hiệu như KFC,
Lotteria, Jollibee, Chicken Town, Manhattan... thì chỉ có 27 cửa hàng, bên cạnh ñó còn có
hơn 30 nhà hàng, tiệm bánh quy mô nhỏ ñặt trong các siêu thị, trung tâm thương mại, khu
vực dân cư ñông ñúc... chuyên bán bánh pizza, hamburger, mì Ý, salad trộn... với các hiệu
Win Chicken, Monaco, Hollywood, Mama... ðó là chưa kể ñến hệ thống hàng trăm xe
25
ñẩy, tiệm bán thức ăn nhanh theo kiểu Việt Nam với bánh tươi, bánh mì kẹp thịt, các loại
bánh làm từ gạo, nếp...

Hiện KFC, Lotteria và Jollibee là 3 thương hiệu của nước ngoài ñang kinh doanh fastfood
khá thành công tại Việt Nam với các món chính là gà chiên, bánh mì kẹp thịt, khoai tây
chiên và nước ngọt có gas. Các cửa hàng này bình quân thu hút khoảng 200-300
khách/ngày và cao ñiểm có từ 400 ñến trên 1.000 khách/ngày.


Thức ăn nhanh tại thị trường Việt Nam - ðứa bé chậm lớn

Tại Việt Nam, kể từ khi cửa hàng thức ăn nhanh ñầu tiên xuất hiện tại TP.HCM năm 1994
(Chicken Texas trên ñường Nguyễn Trãi, Quận 1), ñến nay ñã xuất hiện những chuỗi cửa
hàng fastfood theo các phong cách Âu, Mỹ, Á pha trộn với thói quen ẩm thực kiểu Việt
Nam. Bên cạnh bánh mì kẹp thịt Hamburger, gà chiên, khoai tây trộn xốt có cơm cajun,
salad bắp cải, salad bắp non...

Jollibee có thể coi là sự "hòa nhập" linh hoạt của phong cách fastfood với ñời sống cộng
ñồng. Ở những ñiểm bán fastfood khác, phong cách "công nghiệp" dường như giảm hẳn,
khách hàng không cần "tự phục vụ" mà các nhân viên sẽ mang thức ăn, thức uống tận
bàn. Sự thay ñổi này ở một khía cạnh nào ñó, ñã làm cho phong cách fastfood - với 15
giây 1 ổ bánh mì, khoai tây và nước không còn nữa.

Có một lý do khá bất ngờ, mà theo người quản lý các cửa hàng fastfood, làm cho thị
trường fastfood Việt Nam phát triển chậm hơn so với các nước châu Á khác, là do giao
thông bằng xe gắn máy không thuận tiện và không tạo cơ hội cho người tiêu dùng có thể
vừa lái xe, vừa dùng thức ăn nhanh.

Nhà kinh doanh hy vọng, với tốc ñộ ñô thị hóa, các phương tiện giao thông công cộng
phát triển sẽ tạo ñà cho thị trường fastfood tăng trưởng nhanh hơn.

×