Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (986.54 KB, 110 trang )



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o



CHU HỒNG DƢƠNG


GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ XÂY DỰNG
CÁC KHU ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƢNG YÊN



LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH






Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ




CHU HỒNG DƢƠNG

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ XÂY DỰNG
CÁC KHU ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƢNG YÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH


NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM QUANG VINH

XÁC NHẬN CỦA XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN CHẤM LUẬN VĂN





Hà Nội - 2015


CAM KẾT


Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.



LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Quang Vinh đã tận tình hƣớng dẫn tôi thực hiện
nghiên cứu này. Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới UBND huyện Văn Giang,
Ban GPMB, các Phòng, Ban của huyện Văn Giang – tỉnh Hƣng Yên đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi để tôi có đƣợc những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu.


TÓM TẮT
Tên luận văn: Giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây
dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hƣng
Yên.
Tác giả: Chu Hồng Dƣơng
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Bảo vệ năm: 2015
Giáo viên hƣớng dẫn: TS. Phạm Quang Vinh
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
*Mục đích:
Luận văn nhằm làm rõ những cơ sở lý luận và đánh giá một cách đúng đắn
thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng
các khu đô thị và khu công nghiệp ở huyện Văn Giang, đề xuất các giải pháp có căn
cứ và có tính khả thi nhằm giải quyết một cách căn bản việc làm cho lao động bị thu
hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, đô thị trên địa bàn huyện
những năm tới.

* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về công tác thu hồi đất nông nghiệp và
các chính sách của nhà nƣớc về công tác giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp và đô thị trên địa bàn huyện Văn
Giang, tỉnh Hƣng Yên.
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về việc làm nói chung, việc làm cho lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện Văn Giang.
- Đánh giá đúng thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và việc làm của lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị.
- Đề xuất phƣơng hƣớng và các giải pháp có căn cứ để tiếp tục giải quyết việc
làm, ổn định cuộc sống cho lao động tại các địa phƣơng đã, đang và sẽ thu hồi đất
để xây dựng các khu công nghiệp và đô thị trong những năm tới.


Những đóng góp mới của luận văn:
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện giải pháp giải quyết
việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu đô thị và công
nghiệp một cách hệ thống, đầy đủ cả về lý luận, đánh giá thực trạng, giải pháp giải
quyết việc làm cho lao động bị mất đất
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà
nƣớc về công tác Giải phóng mặt bằng, thu hồi đất nông nghiệp và giải quyết việc
làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp.
























MỤC LỤC

Danh sách các từ viết tắt xviii
Danh sách bảng xix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị thu
hồi đất nông nghiệp. 4
1.1.1. Việc làm và vai trò của việc làm 4
1.1.2. Phát triển các Khu công nghiệp, đô thị và vấn đề giải quyết việc làm
cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. 7
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới giải quyết việc làm cho người lao động. 15
1.1.4. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi
đất nông nghiệp của một số nước trên thế giới. 20
1.1.5. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất

của một số địa phương trong nước 23
1.2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu. 24
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 28
2.1. Phƣơng pháp luận 28
2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể 28
2.2.1. Phương pháp phân tích 28
2.2.2. Phương pháp tổng hợp 29
2.2.3. Phương pháp so sánh 30
2.2.4. Phương pháp thống kê mô tả và nghiên cứu tài liệu 30
2.3. Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 31
2.4. Các bƣớc thực hiện và thu thập số liệu 31
2.5. Các công cụ đƣợc sử dụng 32


CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN GIANG –
HƢNG YÊN 33
3.1. Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và thực hiện chính sách đền bù cho ngƣời
lao động khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Văn Giang. 33
3.1.1. Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp của huyện Văn Giang để làm Khu
công nghiệp và Khu đô thị 33
3.1.2. Chủ trương chính sách của huyện Văn Giang về đền bù, hỗ trợ cho
người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. 34
3.1.3. Thực trạng thực hiện chính sách đền bù cho lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp xây dựng các Khu công nghiệp ở huyện Văn Giang 38
3.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hƣởng đến giải quyết việc làm cho
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Văn Giang. 41
3.2.1. Đặc điểm tự nhiên 41
3.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 44
3.2.3. Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao

động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Văn Giang 49
3.3. Nhu cầu việc làm và thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp huyện Văn Giang 51
3.3.1. Nhu cầu việc làm của lao động sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp 51
3.3.2. Chủ trương của huyện Văn Giang giải quyết việc làm cho lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp. 54
3.3.3. Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
của huyện Văn Giang 59
3.4. Đánh giá về thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang thời gian qua. 67
3.4.1. Kết quả đạt được 67
3.4.2. Hạn chế và nguyên nhân 70


CHƢƠNG 4: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN GIANG – HƢNG YÊN 76
4.1. Các căn cứ chủ yếu xác định phƣơng hƣớng và giải pháp giải quyết việc làm
cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang – Hƣng
Yên 76
4.2. Phƣơng hƣớng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
trên địa bàn huyện Văn Giang – Hƣng Yên 76
4.2.1. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế trên cơ sở phát triển các ngành sử dụng nhiều
lao động, đặc biệt là lao động phổ thông và không đòi hỏi chuyên môn cao 77
4.2.2. Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động 78
4.2.3. Huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế để giải quyết việc
làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 79
4.2.4. Nâng cao vai trò của các cơ quan chức năng trong công tác giải quyết
việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 80
4.3. Các giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông

nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang 80
4.3.1. Tăng cường chỉ đạo công tác quy hoạch kinh tế, xã hội và đất đai 80
4.3.2. Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo nghề 81
4.3.3. Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn lao động nông nghiệp 84
4.3.4. Khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, dịch vụ 86
4.3.5. Thực hiện các chính sách thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển các ngành
công nghiệp có vòng quay ngắn nhằm tăng cầu về lao động 88
4.3.6. Tạo điều kiện để người dân được góp vốn vào các dự án bằng giá trị đất
bị thu hồi 90
4.3.7. Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lao động 91
KẾT LUẬN 94
Tài liệu tham khảo. 96



DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
BCH
Ban chấp hành
2

Cao đẳng
3
CHXHCNVN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
4

CN – XDCB
Công nghiệp – Xây dựng cơ bản
5
CNH, HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
6
ĐH
Đại học
7
GTSX
Giá trị sản xuất
8
HĐND
Hội đồng nhân dân
9
TC, CNKT
Trung cấp, công nhân kỹ thuật
10
TM – DV
Thƣơng mại – Dịch vụ
11
UBND
Uỷ ban nhân dân



DANH SÁCH BẢNG

STT
Bảng

Nội dung
Trang
1
Bảng 3.1
Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi thời kỳ 2011 -
2014
34
2
Bảng 3.2
Bảng giá đất nông nghiệp theo quyết định số
21/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 về quy định giá
các loại đất trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên năm 2014
37
3
Bảng 3.3
Diện tích, cơ cấu các loại đất đất của huyện Văn Giang
năm 2010 và quy hoạch đến năm 2020
43
4
Bảng 3.4
Diện tích các loại đất nông nghiệp của huyện Văn
Giang năm 2010 - 2014
44
5
Bảng 3.5
Giá trị sản xuất các ngành của huyện Văn Giang
(2011-2014)
45
6
Bảng 3.6

Cơ cấu kinh tế huyện Văn Giang ( 2011-2014)
45
7
Bảng 3.7
Dân số và lao động huyện Văn Giang
47
8
Bảng 3.8
Cơ cấu lao động huyện Văn Giang giai đoạn 2011 –
2014
48
9
Bảng 3.9
Cơ cấu độ tuổi và trình độ văn hoá lao động huyện
Văn Giang
49
10
Bảng 3.10
Diện tích và số hộ bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa
bàn huyện Văn Giang từ năm 2011 đến 2014
51
11
Bảng 3.11
Số ngƣời trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp cần giải quyết việc làm giai đoạn 2011-2014
52
12
Bảng 3.12
Mức kinh phí hỗ trợ theo từng hình thức đào tạo
54



13
Bảng 3.13
Danh mục nghề đào tào và thời gian đào tạo
54
14
Bảng 3.14
Giá trị sản xuất các ngành của huyện Văn Giang
63
15
Bảng 3.15
Cơ cấu kinh tế huyện Văn Giang
64
16
Bảng 3.16
Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của
lao động trong những hộ dân bị thu hồi đất
72


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài :
Mục tiêu CNH-HĐH, thực hiện mô hình nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã
hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn coi trọng nhân tố con ngƣời, coi con
ngƣời vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Để thực hiện mục tiêu phát
triển vì con ngƣời, do con ngƣời thì trƣớc hết phải tạo ra môi trƣờng sản xuất kinh

doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế tạo nhiều việc làm tăng thu nhập. Khi phát triển
các khu công nghiệp và đô thị sẽ đƣợc đẩy nhanh tăng trƣởng kinh tế, tạo nhiều việc
làm và cải thiện đời sống nhân dân. Nhƣng trong thực tế thực hiện thì lại không
hoàn toàn nhƣ vậy, những nông dân bị thu hồi đất bị phục vụ phát triển khu công
nghiệp, đô thị hoá lại thiếu việc làm, đời sống giảm sút, nhiều vấn đề về xã hội, môi
trƣờng tác động tiêu cực đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Do vậy
càng phát triển các khu công nghiệp và đô thị thì áp lực cho việc làm, đời sống cho
nông dân ngày càng tăng.
Sự nghiệp CNH - HĐH đang đƣợc đẩy mạnh ở Văn Giang. Đã có 87 dự án
đƣợc chấp thuận đầu tƣ kinh doanh, sản xuất công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ và
đô thị trên địa bàn huyện. Gắn liền với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hoá đang
diễn ra khá mạnh mẽ là việc thu hồi đất, mà chủ yếu là đất nông nghiệp để phát
triển các khu đô thị và các khu công nghiệp. Quá trình xây dựng các khu đô thị và
khu công nghiệp đã và đang kéo theo hàng loạt những khó khăn trong việc giải
quyết việc làm cho ngƣời lao động nông nghiệp bị mất đất. Vấn đề này nếu không
đƣợc giải quyết một cách thấu đáo sẽ không chỉ ảnh hƣởng đến tiến độ và hiệu quả
của các công trình, mà sâu sa hơn nó còn tiềm tàng những bất ổn cho xã hội.
Để đánh giá đƣợc thực trạng thu hồi đất và ảnh hƣởng của nó tới việc làm của
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết
việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang, tôi
đã triển khai nghiên cứu đề tài: “Giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện
Văn Giang tỉnh Hưng Yên” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế.
2

2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá một cách đúng đắn thực trạng giải quyết việc
làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công
nghiệp ở huyện Văn Giang, đề xuất các giải pháp có căn cứ và có tính khả thi nhằm
giải quyết một cách căn bản việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây

dựng các khu công nghiệp, đô thị trên địa bàn huyện những năm tới.
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về việc làm nói chung, việc làm cho lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện Văn Giang.
- Đánh giá đúng thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và việc làm của lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị.
- Đề xuất phƣơng hƣớng và các giải pháp có căn cứ để tiếp tục giải quyết việc
làm, ổn định cuộc sống cho lao động tại các địa phƣơng đã, đang và sẽ thu hồi đất
để xây dựng các khu công nghiệp và đô thị trong những năm tới.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị
và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hƣng Yên còn có những vấn đề
gì bất cập và tồn tại? Nguyên nhân dẫn đến các bất cập và tồn tại đó.
- Các chính sách giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây
dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hƣng
Yên còn có gì chƣa phù hợp, chƣa đồng bộ?
- Những nhân tố nào ảnh hƣởng tới giải quyết việc làm cho ngƣời lao động.
- Phƣơng hƣớng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn
Giang tỉnh Hƣng Yên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm và những giải pháp cơ bản giải
quyết việc làm cho lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng các khu
công nghiệp, đô thị trong quá trình công nghiệp hoá trên địa bàn huyện Văn Giang -
Hƣng Yên.
3

Phạm vi nghiên cứu của đề tài đƣợc giới hạn nhƣ sau:
- Về phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm của
lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn huyện Văn Giang - Hƣng Yên.
- Về phạm vi thời gian:

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng, việc làm của lao động có đất nông
nghiệp bị thu hồi từ năm 2011 đến năm 2014. Đây là thời kỳ công nghiệp hoá diễn
ra nhanh chóng. Đồng thời, nhiều vấn đề bức xúc trong quá trình thu hồi đất cũng
nảy sinh chủ yếu trong thời gian này.
- Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu những biện pháp đã
và đang đƣợc thực hiện để giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp cũng nhƣ tiềm năng và điều kiện để giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp bị thu hồi đất.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu
tham khảo, Luận văn bao gồm 4 chƣơng :
- Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu nghiên cứu.
- Chương 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu.
- Chương 3: Thực trạng và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp ở huyện Văn Giang – Hƣng Yên.
- Chương 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang – Hƣng Yên.







4

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp.

1.1.1. Việc làm và vai trò của việc làm
1.1.1.1. Khái niệm
Điều 9, Chƣơng II, Bộ Luật Lao động nƣớc CHXHCN Việt Nam có ghi rõ:
“Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.
Theo khái niệm trên một hoạt động đƣợc coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện:
- Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động và
cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu
thức tạo ra thu nhập của việc làm.
- Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp
lý của việc làm.
Các hoạt động lao động đƣợc xác định là việc làm bao gồm:
- Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hay tinh thần, không bị pháp luật
cấm, đƣợc trả công dƣới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
- Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhập cho gia
đình mình, nhƣng không đƣợc trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó. Đó
có thể là các công việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu tƣ nhân của
gia đình, các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, đều đƣợc coi là việc làm.
Trong nền kinh tế, ngƣời có sức lao động nói chung luôn có nhu cầu việc làm
để tạo nguồn thu nhập, đảm bảo cuộc sống. Người có việc làm là những ngƣời từ đủ
15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế đang làm công việc để nhận tiền
lƣơng, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật hoặc đang làm công việc
không đƣợc hƣởng tiền lƣơng, tiền công hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất
kinh doanh, công việc nội trợ, chăm sóc con cái của hộ gia đình. Khái niệm ngƣời
có việc làm còn bao gồm những ngƣời có sức lao động, có việc làm nhƣng chƣa
chấp nhận làm việc, hoặc chƣa sẵn sàng làm việc, thậm chí không chịu làm việc.
5

Trên thực tế, do phân biệt ngƣời có việc làm không chịu làm việc và ngƣời không
có việc làm thực sự có những khó khăn nên những đối tƣợng này đƣợc liệt kê vào
những ngƣời không có việc làm. Cách thức này tuy có tiện về thống kê, nhƣng

không phản ánh chính xác thực tiễn.
Trong số ngƣời có việc làm, căn cứ vào số giờ thực tế làm việc và nhu cầu làm
thêm của ngƣời đƣợc coi là có việc làm, ngƣời ta lại chia ra thành ngƣời đủ việc
làm và ngƣời thiếu việc làm.
Điều 104, mục I, chƣơng VII, Bộ Luật Lao động nƣớc CHXHCN Việt Nam có
quy định: “Thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong
một tuần. Ngƣời sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày
hoặc tuần, nhƣng phải thông báo trƣớc cho ngƣời lao động biết. Thời giờ làm việc
hàng ngày đƣợc rút ngắn từ một đến hai giờ đối với những ngƣời làm các công việc
đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động - Thƣơng
binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.”
Theo đó, người đủ việc làm gồm những ngƣời làm việc đủ thời gian quy định
là có số giờ làm việc trong tuần lễ lớn hơn hoặc bằng 48 giờ; hoặc những ngƣời có
số giờ nhỏ hơn 48, nhƣng không có nhu cầu làm thêm; hoặc những ngƣời có số giờ
làm việc nhỏ hơn 48, nhƣng bằng hoặc lớn hơn giờ quy định đối với những ngƣời
làm các công trình nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành.
Người thiếu việc làm là những ngƣời có tổng số giờ làm việc trong 1 tuần dƣới
48 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn quy định đối với những ngƣời làm công
việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của nhà nƣớc, có nhu cầu làm
thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhƣng không có việc để làm.
Bên cạnh nhóm ngƣời có việc làm, còn tồn tại nhóm ngƣời không có việc làm.
Đó là những ngƣời thất nghiệp.
Thất nghiệp là sự tồn tại của một bộ phận lực lƣợng lao động có khả năng và
sẵn sàng làm việc nhƣng không tìm đƣợc việc làm.
Theo quy định của Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội, Người thất nghiệp
là những ngƣời đủ từ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc nhƣng không có việc làm
6

trong tuần lễ điều tra, và tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc trong 4 tuần lễ
qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với lý do chờ việc, nghỉ thời vụ,

không biết tìm việc ở đâu hoặc trong tuần lễ trƣớc điều tra có tổng số giờ làm việc
dƣới 48 giờ, muốn làm thêm nhƣng không tìm đƣợc việc.
1.1.1.2. Vai trò của việc làm
Việc làm có vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì
sự phát triển kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng các nguồn lực nhƣ tài nguyên,
vốn, lao động, công nghệ, trong đó việc sử dụng lao động có vai trò quan trọng và
quyết định tới sự phát triển.
Qua việc làm ta có thể đánh giá đƣợc sự phát triển của nông thôn về nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực cụ thể nhƣ an sinh xã hội, trình độ phát triển của dân cƣ, trình
độ học hành… Ở nông thôn, tỷ lệ ngƣời có việc làm thƣờng xuyên cao thì cuộc sống
của ngƣời dân sẽ ổn định, giảm bớt các tệ nạn xã hội mang lại do lao động không có
việc làm gây ra nhƣ chơi bời cờ bạc, nghiện hút ma tuý… Vì thế, việc giải quyết việc
làm cho ngƣời lao động nông thôn sau khi bị thu hồi đất càng trở nên cần thiết. Giải
quyết tốt vấn đề này không những góp phần phát triển kinh tế xã hội mà còn giúp
ngƣời dân lao động nông thôn giảm bớt việc bị lôi kéo vào các hoạt động không lành
mạnh trong xã hội.
Việc làm thƣờng xuyên giúp cho ngƣời dân có đời sống thu nhập ổn định, giúp
cho họ có khả năng dễ dàng tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, đồng thời
nâng cao khả năng nhận thức của ngƣời dân.
Việc làm cho lao động nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy cơ sở hạ tầng ngày
càng phát triển theo hƣớng ngày càng hoàn thiện. Tạo ra sự thu hẹp khoảng cách
giữa thành thị và nông thôn.
Việc làm còn giúp cho ngƣời lao động cải tạo bản thân, thông qua những quy
định, nguyên tắc trong công việc mà ngƣời lao động sẽ sống có ý thức, trách nhiệm
hơn đối với bản thân và cộng đồng xung quanh. Việc làm cũng làm cho ngƣời lao
động hoà nhập với cộng đồng thông qua hoạt động lao động tập thể và các mối quan
hệ xã hội. Qua ngƣời lao động có thể tiếp thu, nâng cao trình độ văn hoá, các kỹ
7

năng sống… thậm chí tìm đƣợc công việc mới phù hợp hơn, có thu nhập cao hơn,

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình.
Đối với ngƣời nông dân đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, rất quan trọng. Giờ
đây, khi đất canh tác của ngƣời nông dân bị quy hoạch làm khu công nghiệp khu đô
thị làm cho nông dân rơi vào tình trạng tƣ liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi. Trong
khi, họ là những ngƣời thƣờng rất dễ bị tổn thƣơng trƣớc sự chi phối của quy luật
thị trƣờng. Cùng với tâm lý lo sợ rủi ro, lối tƣ duy “ăn chắc, mặc bền”, sản xuất nhỏ
lẻ, manh mún càng làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm của ngƣời nông dân càng trở
nên khó khăn. Do đó, tạo việc làm cho nông dân là rất cần thiết, nhất là những nông
dân bị mất đất canh tác.
1.1.2. Phát triển các Khu công nghiệp, đô thị và vấn đề giải quyết việc làm cho
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp.
1.1.2.1. Tính tất yếu của xu thế phát triển các Khu công nghiệp, đô thị trong quá
trình công nghiệp hoá.
Hiện đang có nhiều quan niệm về khu công nghiệp. Có quan niệm cho rằng,
khu công nghiệp là một vùng đất đƣợc phân chia theo hệ thống nhằm cung cấp mặt
bằng cho các ngành công nghiệp. Có quan niệm coi khu công nghiệp nhƣ một khu
đô thị công nghiệp hay thành phố công nghiệp, ngoại việc cung cấp cơ sở hạ tầng,
tiện ích công cộng, khu công nghiệp còn bao gồm khu thƣơng mại, dịch vụ, hành
chính, nhà ở cho ngƣời lao động… ngoài hàng rào khu công nghiệp.
Theo nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, khu công nghiệp là
khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (có tƣờng rào bao quanh)
không có dân cƣ sinh sống, do các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định
thành lập.
Từ khi xuất hiện các khu công nghiệp cho đến nay, thực tế đã cho chúng ta
thấy vai trò hết sức quan trọng của chúng trong nền kinh tế, đặc biệt là đối với các
nƣớc đang phát triển thƣờng thiếu vốn và kỹ thuật. Việc tập trung các doanh nghiệp
sản xuất trong khu công nghiệp đã thu hút đƣợc nguồn vốn lớn từ nƣớc ngoài, cũng
8


nhƣ sự tập trung đƣợc nguồn vốn trong nƣớc, tạo điều kiện đƣa kỹ thuật mới vào
sản xuất, thúc đẩy chuyển giao và tiếp thu tiến bộ khoa học công nghệ, xây dựng
các ngành mũi nhọn và nâng cao vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế
đảm bảo tăng trƣởng bền vững.
Việc phát triển các khu công nghiệp ngoài việc giúp giải quyết khó khăn về
vốn, việc làm còn giúp chính phủ nƣớc sở tại học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến,
khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của nƣớc mình, mở ra khả năng phát triển công
nghiệp theo hƣớng hiên đại hoá, góp phần thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế,
hoà nhập với kinh tế thế giới.
Các doanh nghiệp khi tham gia vào các khu công nghiệp sẽ làm tăng khả năng
cạnh tranh, khuyến trƣơng nhãn hiệu hàng hoá của mình. Giúp nƣớc chủ nhà xuất
khấu đƣợc vốn, chuyển giao đƣợc những công nghệ đã lỗi thời để kéo dài vòng đời
của sản phẩm.
Sự xuất hiện của các khu công nghiệp còn giúp cho nƣớc sở tại tăng cƣờng
xuất khẩu, thu đƣợc nhiều ngoại tệ, phân bố lại các khu vực sản xuất, chuyển dời
các khu vực sản xuất từ thành phố ra ngoại thành, thực hiện đô thị hoá nông thôn,
cải tạo môi trƣờng sống cho dân cƣ đô thị, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động
nông thôn.
Do có những vai trò hết sức to lớn đối với phát triển kinh tế xã hội nên từ khi ra
đời các khu công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ tại hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Hiện nay, CNH, HĐH là con đƣờng phát triển của mọi quốc gia trên thế giới.
Thực tiễn của nhiều quốc gia cho thấy, CNH, HĐH là nhân tố quyết định làm thay
đổi căn bản phƣơng hƣớng sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp
truyền thống sang phƣơng thức sản xuất mới, hiện đại.
Về thực chất, CNH, HĐH là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hƣớng phát
triển mạnh khu vực công nghiệp, dịch vụ và chuyển dịch cơ cấu lao động đáp ứng
yêu cầu CNH, HĐH, tăng nhanh lao động làm công nghiệp và dịch vụ, giảm mạnh
lao động làm nông nghiệp. Công nghiệp hoá diễn ra đồng thời với phát triển các
vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế mở, khu công nghiệp tập trung…
9


Sự hình thành các trung tâm công nghiệp, các khu công nghiệp tập trung ở mỗi
vùng nhằm đáp ứng các nhu cầu của sản xuất, đời sống ngày càng tăng của chính
vùng đó và là hạt nhân lan toả sang các vùng khác là yếu tố khách quan. Đó cũng là
biểu hiện của tính tập trung hoá trong các hoat động sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên, quy mô sản xuất phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quy mô
dân số của vùng để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả.
CNH, HĐH ở một nƣớc nông nghiệp nhƣ nƣớc ta thì nội dung quan trọng nhất
là chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm lao động nông thôn. Đặc
biệt, quá trình CNH, HĐH luôn gắn liền với việc xây dựng và phát triển các khu
công nghiệp khu chế xuất. Tính đến năm 2010, cả nƣớc có 255 khu công nghiệp và
khu chế xuất đã đƣợc thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 69.253 ha, trong đó
diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt trên 45.000 ha, chiếm khoảng 65%
tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó 171 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với
tổng diện tích đất tự nhiên 43.508 ha và 84 khu công nghiệp đang trong giai đoạn
đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên
25.673 ha.
1.1.2.2. Thu hồi đất xây dựng Khu công nghiệp, Khu đô thị
Quá trình mở cửa nền kinh tế hội nhập với khu vực và thế giới đã và đang có
những tác động đáng kể tới nền kinh tế, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kéo theo sự
thay đổi về cơ cấu lao động của các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, ảnh
hƣởng trực tiếp tới đời sống của ngƣời lao động nƣớc ta. Đặc biệt, ngày 7/11/2006,
nƣớc ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thƣơng mại Thế
giới WTO. Đây là một sự kiện trọng đại mang tính lịch sử, mở ra cho nƣớc ta
những thời cơ mới, thuận lợi mới, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình CNH, HĐH của
đất nƣớc.
Công nghiệp hoá và đô thị hoá có mối quan hệ khá chặt chẽ, tốc độ công
nghiệp hoá càng nhanh thì trình độ đô thị hóa càng đƣợc đẩy nhanh và ngƣợc lại. Sự
hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp tập trung với quy mô
lớn, khu kinh tế mở, các công trình công cộng, các cơ sở hạ tầng… đòi hỏi phải

10

dành ra một bộ phận lớn đất đai, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp. Nhƣ vậy,
cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc theo hƣớng CNH, HĐH, đô thị
hóa thì sự giảm sút một bộ phận khá lớn đất nông nghiệp là một tất yếu khách quan.
Đất khu công nghiệp bao gồm đất để xây dựng cụm công nghiệp, khu công
nghiệp, khu chế xuất và các khu sản xuất, kinh doanh tập trung khác có cùng chế độ
sử dụng đất.
Đất đai là yếu tố đầu vào quan trọng, làm địa điểm, làm cơ sở của các khu đô
thị, khu công nghiệp. Các khu đô thị, khu công nghiệp không thể hình thành, hoạt
động và phát triển khi không có đất đai, không có địa điểm hoạt động. Đất đai là nơi
xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động của ngành công
nghiệp: nhà xƣởng, hệ thống điện, nƣớc, giao thông, thông tin liên lạc… Sự phát
triển nhanh chóng của các khu đô thị, khu công nghiệp đòi hỏi mở rộng quy mô,
diện tích đất đai dành cho các nhu cầu này.
Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội… phục vụ lợi ích quốc gia ở nƣớc ta đƣợc tiến hành mạnh mẽ từ khi
thực hiện đƣờng lối đổi mới, chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu,
bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Quá trình này
đƣợc thúc đẩy nhanh hơn từ những năm 1990, khi nền kinh tế nƣớc ta bƣớc vào giai
đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định rõ: Đẩy
mạnh CNH, HĐH, xây dựng nền kinh tế tự chủ… tạo nền tảng để đến năm 2020
nƣớc ta cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp hiện đại.
Định hƣớng cơ cấu sử dụng đất là vấn đề quan trọng đối với tổ chức không
gian kinh tế - xã hội và tạo nguồn vốn từ quỹ đất cho phát triển. Cơ cấu sử dụng đất
đƣợc hoạch định theo nguyên tác đảm bảo hiệu quả sử dụng cao, cần đến đâu sử
dụng đến đó, hạn chế tối đa lấy đất nông nghiệp, nhất là đất lúa nƣớc để sử dụng
cho các khu công nghiệp và kết cấu hạ tầng, đô thị và các yêu cầu phi nông nghiệp
khác. Một khi bắt buộc phải dùng đất nông – lâm nghiệp vào mục đích khác thì cần
có đầu tƣ để chuyển đất hoang hoá chƣa sử dụng bù vào đất nông – lâm nghiệp đã

mất. Hạn chế tối đa việc chuyển đổi mục đích sử dụng các vùng đất màu mỡ thuận
11

lợi cho nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, khuyến khích chuyển mục đích sử
dụng những vùng đất đồi, đất mà sản lƣợng lƣơng thực thấp, giữ đất nông nghiệp
cho năng suất cao, đất trồng lúa nhiều vụ để đảm bảo vấn đề an ninh lƣơng thực.
Trừ trƣờng hợp không có đất nào khác mà địa phƣơng bắt buộc phải phát triển công
nghiệp thì mới tính toán một phần đất hạn chế nào đó.
Điều 57, Luật đất đai 2013 quy định đƣợc phép chuyển đổi mục đích sử dụng
đất đối với 7 trƣờng hợp: Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng
rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; Chuyển đất trồng cây hàng năm khác
sang đất nuôi trồng thủy sản nƣớc mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dƣới
hình thức ao, hồ, đầm; Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản
xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp; Chuyển đất
nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp; Chuyển đất phi nông nghiệp đƣợc Nhà nƣớc
giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp đƣợc Nhà nƣớc giao
đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất; Chuyển đất phi nông nghiệp không phải
là đất ở sang đất ở; Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục
đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
không phải là đất thƣơng mại, dịch vụ sang đất thƣơng mại, dịch vụ; chuyển đất
thƣơng mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi
nông nghiệp. Việc sử dụng đất để xây dựng khu công nghiệp phải phù hợp với quy
hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch chi tiết xây
dựng khu công nghiệp đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xét duyệt. Quy
hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp phải đảm bảo đồng bộ với quy hoạch nhà
ở, công trình công cộng phục vụ đời sống ngƣời lao động làm việc trong khu công
nghiệp. Nhà nƣớc thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển
kinh tế: đầu tƣ xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự
án đầu tƣ lớn theo quy định của Chính phủ.
Hơn nữa, thực hiện theo đúng chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng ta là chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng
lao động công nghiệp và dịch vụ, do vậy diện tích đất nông nghiệp phải thu hẹp để
12

mở rộng các ngành khác. Bởi vậy, thu hồi đất nông nghiệp chính là để phục vụ cho
sự phát triển của các ngành khác.
Việc thu hồi đất không diễn ra đồng đều ở các địa phƣơng mà chỉ tập trung ở
một số vùng có điều kiện thuận lợi, nhất là gần các sân bay, bến cảng, các đầu mối
giao thông đƣờng sắt và đƣờng bộ, gần các trung tâm kinh tế lớn của của cả nƣớc.
Mức độ thu hồi đất cũng còn phụ thuộc lớn vào những tỉnh, thành phố có đội ngũ
cán bộ có năng lực, năng động, sáng tạo và có chính sách cởi mở, phù hợp với xu
thế phát triển của địa phƣơng.
Việc thu hồi đất ở nƣớc ta trong những năm gần đây là sự chuyển đổi mục
đích sử dụng đất. Nhờ có thu hồi đất, chúng ta đã xây dựng đƣợc nhiều khu đô thị,
khu công nghiệp, các cụm công nghiệp, hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội… Chính
điều đó đã làm cho quá trình CNH, HĐH có những bƣớc tiến đáng kể.
1.1.2.3. Mối quan hệ giữa việc thu hồi đất với việc làm của lao động nông nghiệp
Nhƣ đã nêu trên, để công nghiệp đại hoá, hiện đại hoá, việc thu hồi đất chuyển
đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng, đất chuyên dùng cho
các khu đô thị và khu công nghiệp… là tất yếu. Việc thu hồi đất này làm nảy sinh
nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, trong đó có một vấn đề nổi cộm và bức xúc nhất thu
hút sự quan tâm của toàn xã hồi là vấn đề ảnh hƣởng của việc thu hồi đất tới việc
làm của ngƣời dân có đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng các khu đô thị, khu
công nghiệp, khu chế xuất.
Đối với lao động nông nghiệp, đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, không thể
thay thế đƣợc. Việc chuyển một bộ phận đất nông nghiệp thành đất sử dụng cho sản
xuất công nghiệp, dịch vụ làm cho những ngƣời dân vốn sinh sống trên bộ phận
ruộng đất này không còn tƣ liệu sản xuất chính để đảm bảo cuộc sống, họ mặc
nhiên trở thành ngƣời thất nghiệp. Khi bị thu hồi đất, họ không những phải chuyển
nơi ở mà còn phải chuyển đổi nghề nghiệp mà cả mấy đời gắn bó. Vì vậy, vấn đề

việc làm đối với ngƣời dân bị thu hồi đất là vấn đề nan giải cần đƣợc giải quyết
trong thời gian sớm nhất.
Từ góc độ lao động và việc làm, CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi cơ cấu
13

lao động và việc làm từ các hoạt động nông nghiệp sang các hoạt động công nghiệp,
thƣơng mại và dịch vụ. Khi các khu công nghiệp, khu đô thị mở rộng ra các vùng
ngoại vi, các khu dân cƣ ở ngoại vi sẽ hình thành và các hoạt động công nghiệp,
thƣơng mại, dịch vụ sẽ phát triển. Nông thôn sẽ là nơi có sự thay đổi mạnh mẽ về
hoạt động công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ.
Những lao động nông nghiệp khi bị thu hồi đất canh tác, họ sẽ đƣợc Nhà đầu
tƣ đền bù một khoản tiền. Với số tiền đó, họ dùng để tạo nghề mới, tìm việc mới…
và có rất nhiều vấn đề khác cũng thay đổi theo.
Ngƣời lao động cần việc làm, họ muốn có thu nhập, có tiền công kiếm đƣợc từ
công việc, vì vậy họ cung cấp sức lao động của mình. Các ngành kinh tế vận hành
quá trình sản xuất để đạt hiệu quả với sự tham gia của ngƣời lao động. Ngƣời lao
động cũng là đối tƣợng tiêu dùng các loại hàng hoá, dịch vụ do các ngành kinh tế
sản xuất ra. Vì vậy, các ngành cần lao động để phát triển cũng nhƣ ngƣời lao động
cần cung cấp sức lao động của mình.
Sự phát triển của các khu công nghiệp sẽ tạo ra một lƣợng lớn việc làm, thu hút
và làm giảm đáng kể lao động nông nghiệp không có việc làm. Tuy nhiên, nhìn từ góc
độ khác thì khi gia tăng quy mô các khu công nghiệp, thu hồi thêm nhiều đất nông
nghiệp cũng sẽ làm cho một lực lƣợng đáng kể lao động nông nghiệp bị mất việc làm,
dẫn tới gia tăng tình trạng thất nghiệp. Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu
việc làm của nông dân bị thu hồi đất một phần là do sự phát triển các ngành công
nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ chƣa đáp ứng đủ nhu cầu giải quyết việc làm cho ngƣời
lao động. Mặt khác, do chính bản thân ngƣời lao động, vốn xuất phát từ nông dân, có
nhiều hạn chế về năng lực, trình độ văn hoá, do lớn tuổi, chƣa thích ứng với công việc
mới, không đáp ứng đƣợc yêu cầu của thị trƣờng lao động. Điều này gây khó khăn cho
cuộc sống của chính bản thân ngƣời lao động, đồng thời cũng gây khó khăn cho doanh

nghiệp trong việc thu hút lao động và ổn định sản xuất. Do chỉ có một bộ phận lao
động có đủ năng lực, trình độ đƣợc tuyển dụng vào làm việc trong các khu công
nghiệp, nên phần lớn lao động còn lại chƣa tìm đƣợc việc làm thích hợp. Để giải quyết
việc làm cho số lao động thất nghiệp này cần có chính sách đào tạo phù hợp để nâng

×