Tải bản đầy đủ (.pdf) (72 trang)

Nghiên cứu lượng Carbon (C) tích lũy của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) tại xã Bảo Linh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (9.61 MB, 72 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



HÀ THANH TÙNG



“NGHIÊN CỨU LƯỢNG CARBON (C) TÍCH LŨY
CỦA RỪNG VẦU ĐẮNG (INDOSASA ANGUSTATA
MC. CLURE) TẠI XÃ BẢO LINH, HUYỆN ĐỊNH HÓA,
TỈNH THÁI NGUYÊN”



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Lâm Nghiệp
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2010 - 2014









THÁI NGUYÊN, 2014
2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



HÀ THANH TÙNG



“NGHIÊN CỨU LƯỢNG CARBON (C) TÍCH LŨY
CỦA RỪNG VẦU ĐẮNG (INDOSASA ANGUSTATA
MC. CLURE) TẠI XÃ BẢO LINH, HUYỆN ĐỊNH HÓA,
TỈNH THÁI NGUYÊN”



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Lâm Nghiệp
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2010 - 2014

Giáo viên hướng dẫn: 1. Ths. TRƯƠNG QUỐC HƯNG
2. TS. NGUYỄN THANH TIẾN
Khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên






THÁI NGUYÊN, 2014
i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm!

Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2014
XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!



Ths. Trương Quốc Hưng Hà Thanh Tùng

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)

ii
LỜI CẢM ƠN


Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ
nhiệm khoa Lâm nghiệp - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến
hành thực tập tốt nghiệp tại xã Bảo Linh, huyện Định Hóa - tỉnh Thái
Nguyên. Để thực hiện đề tài: "Nghiên cứu lượng Carbon (C) tích lũy của
rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) tại xã Bảo Linh, huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên" .
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên; Ban chủ nhiệm Khoa Lâm Nghiệp. Đặc biệt là sự chỉ bảo hướng dẫn
của thầy giáo Ths. Trương Quốc Hưng và TS. Nguyễn Thanh Tiến đã tận
tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài trong thời gian nghiên cứu. Nhân dịp này,
tôi xin gửi lời cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
Xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ và các hộ gia đình tại các xã ở địa bàn
nghiên cứu huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và
giúp đỡ trong việc triển khai thu thập số liệu ngoài hiện trường.
Mặc dù bản thân đã rất nỗ lực học tập, nghiên cứu, nhưng do trình độ
và thời gian còn hạn chế, nên đề tài nghiên cứu không thể tránh khỏi thiếu sót,
rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các
bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên



Hà Thanh Tùng

iii


MỤC LỤC

Phần 1:

MỞ ĐẦU
1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2.Mục đích nghiên cứu 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 4
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
5
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 5
2.1.1. Công ước liên hợp quốc về biến đổi khí hậu 5
2.1.2. Cơ chế phát triển sạch CDM và nghị định thư Kyoto 5
2.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
2.2.1. Những nghiên cứu trên thế giới 6
2.2.1.1. Nghiên cứu về sinh khối 6
2.1.1.2. Nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon 7
2.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam 8
2.2.2.1. Nghiên cứu về sinh khối 8
2.2.2.2. Nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon 10
2.2.4. Nhận xét chung 14
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 16
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 16
2.3.1.1. Vị trí địa lý 16
2.3.1.2. Đặc điểm địa hình 16
2.3.1.3. Điều kiện khí hậu, thủy văn 16

2.3.1.4. Hiện trạng đất đai và tài nguyên rừng: 17
2.3.2. Tình hình dân cư kinh tế 18
2.3.2.1. Dân tộc, dân số và lao động 18
2.3.2.2. Giao thông và cơ sở hạ tầng 19
2.3.2.3. Văn hóa - giáo dục 19
iv
2.3.3 Nhận xét và đánh giá chung 20
2.3.3.1. Những yếu tố thuận lợi 20
2.3.3.2. Những yếu tố khó khắn 20
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
3.3. Nội dung nghiên cứu 21
3.4. Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu 21
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 22
3.4.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 22
3.4.2.2 Phương pháp lập ô tiêu chuẩn 23
3.4.2.3. Phương pháp nội nghiệp 26
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Một số quy luật kết cấu lâm phần rừng Vầu đắng tại xã Bảo Linh,
huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 29
4.1.1 Quy luật phân bố 29
4.1.1.1 Quy luật phân bố N/D 29
4.1.1.2 Quy luật phân bố N/H 30
4.1.2. Quy luật tương quan H-D 31
4.2. Đặc điểm sinh khối của rừng vầu đắng tại xã Bảo Linh, huyện Định
Hóa, tỉnh Thái Nguyên 32
4.2.1. Đặc điểm sinh khối tươi của lâm phần Vầu đắng 32

4.2.2. Đặc điểm sinh khối tươi của cây bụi thảm tươi và thảm mục 36
4.2.2.1 Đặc điểm sinh khối tươi của cây bụi thảm tươi 36
4.2.2.2. Đặc điểm sinh khối tươi của vật rơi rụng 37
4.3. Đặc điểm sinh khối khô của rừng Vầu đắng tại xã Bảo Linh, huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 38
4.4. Đặc điểm sinh khối khô cây bụi thảm tươi và thảm mục của lâm
phần Vầu đắng 42
v
4.4.1. Đặc điểm sinh khối khô của cây bụi thảm tươi 42
4.4.2. Đặc điểm sinh khối khô của vật rơi rụng 43
4.5. Lượng carbon tích lũy của rừng Vầu đắng thuần loài tại xã Bảo
Linh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 44
4.5.1. Lượng carbon tích lũy trong lâm phần Vầu đắng 44
4.4.2. Lượng carbon tích lũy trong cây bụi, thảm tươi 47
4.4.3. Cấu trúc carbon tích lũy trong vật rơi rụng 48
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1. Kết luận 50
5.1.1. Một số quy luật kết cấu lâm phần rừng vầu đắng 50
5.1.2. Đặc điểm sinh khối tươi rừng vầu đắng 50
5.1.3. Đặc điểm sinh khối khô rừng vầu đắng 51
5.1.4. Trữ lượng carbon tích lũy của lâm phần vầu đắng 51
5.2. Tồn tại 52
5.3. Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 1

vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ của từ

CDM : Cơ chế phát triển sạch (Clean
Development Mechanism)
D
1.3
: Đường kính ngang ngực
D
1.3
: Đường kính ngang ngực bình quân
HĐND : Hội đồng nhân dân
H
dc
: Chiều cao dưới cành
H
vn
: Chiều cao vút ngọn
H
vn
: Chiều cao vứt ngọn bình quân
IPCC : Intergovernmental Panel on Climate
KH : Kế hoạch
N : Mật độ
ODB : Ô dạng bản
OTC : Ô tiêu chuẩn
PCCCR : Phòng cháy chữa cháy
SKK : Sinh khối khô
SKT : Sinh khối tươi
THCS : Trung học cơ sở
UBND : Ủy ban nhân dân



vii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1. Nắn phân bố số cây theo cấp đường kính 29
Bảng 4.2. Nắn phân bố số cây theo cấp chiều cao 30
Bảng 4.3. Bảng quy luật phân bố tương quan H/D 31
Bảng 4.4. Đặc điểm sinh khối tươi lâm phần Vầu đắng trên ba cấp tuổi 33
Bảng 4.5. Đặc điểm sinh khối tươi cây bụi, thảm tươi lâm phần Vầu đắng 36
Bảng 4.6. Đặc điểm sinh khối tươi vật rơi rụng lâm phần Vầu đắng 37
Bảng 4.7. Đặc điểm sinh khối khô lâm phần Vầu đắng trên ba cấp tuổi 39
Bảng 4.8. Đặc điểm sinh khối khô của cây bụi, thảm tươi 42
Bảng 4.9. Đặc điểm sinh khối khô vật rơi rụng lâm phần Vầu đắng 43
Bảng 4.10. Lượng carbon tích lũy của lâm phần Vầu đắng ở ba cấp tuổi 44
Bảng 4.11. Lượng carbon tích lũy trong cây bụi, thảm tươi 47
Bảng 4.12. Lượng carbon tích lũy trong vật rơi rụng 48



viii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1. Sơ đồ bố trí ÔTC, ô thứ cấp và các ô dạng bản 23
Hình 4.1. Biểu đồ phân bố bình quân số cây Vầu đắng theo cấp đường kính 30
Hình 4.2. Phân bố bình quân số cây Vầu đắng theo cấp chiều cao 31
Hình 4.3. Biểu đồ sinh khối tươi lâm phần Vầu đắng theo 3 cấp tuổi 34
Hình 4.4. Tỉ lệ sinh khối tươi của các bộ phận lâm phần Vầu đắng cấp tuổi 1 34
Hình 4.5. Tỉ lệ sinh khối tươi của các bộ phận lâm phần Vầu đắng cấp tuổi 2 35
Hình 4.6. Tỉ lệ sinh khối tươi của các bộ phận lâm phần Vầu đắng cấp tuổi 3 35
Hình 4.7. Tỉ lệ phần trăm sinh khối tươi cây bụi thảm tươi ở các ô tiêu chuẩn 37

Hình 4.8. Đặc điểm sinh khối tươi vật rơi rụng lâm phần Vầu đắng 38
Hình 4.9. Đặc điểm sinh khối khô lâm phần Vầu đắng trên ba cấp tuổi 40
Hình 4.10. Biểu đồ sinh khối khô lâm phần Vầu đắng theo cấp tuổi 1 41
Hình 4.11. Biểu đồ sinh khối khô lâm phần Vầu đắng theo cấp tuổi 2 41
Hình 4.12. Biểu đồ sinh khối khô lâm phần Vầu đắng theo cấp tuổi 3 41
Hình 4.13. Biểu đồ cấu trúc sinh khối khô của cây bụi thảm tươi 42
Hình 4.14. Biểu đồ cấu trúc sinh khối khô của vật rơi rụng 43
Hình 4.15. Đặc điểm sinh khối carbon của lâm phần Vầu đắng 45
Hình 4.16. Biểu đồ tỉ lệ lượng carbon tích lũy trong các bộ phận lâm
phần cây vầu đắng cấp tuổi 1 46
Hình 4.17. Biểu đồ tỉ lệ lượng carbon tích lũy trong các bộ phận lâm
phần cây vầu đắng cấp tuổi 2 46
Hình 4.18. Biểu đồ tỉ lệ lượng carbon tích lũy trong các bộ phận lâm
phần cây vầu đắng cấp tuổi 3 47
Hình 4.19. Biểu đồ trữ lượng carbon tích lũy của cây bụi, thảm tươi 48
Hình 4.20. Biểu đồ trữ lượng carbon tích lũy của vật rơi rụng 49

1

Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Rừng có vai trò to lớn đối với sự sống trên trái đất của chúng ta: cung cấp
nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều tiết nguồn nước tạo ra tiểu
hoàn cảnh khí hậu, bảo vệ và cải tạo đất làm cho đất đai được tốt hơn và quan
trọng hơn cả đó là rừng cung cấp O
2
hấp thụ khí CO
2

giúp con người có thể tồn
tại được. Hiện nay vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng đang là vấn đề rất được chú
trọng và quân tâm không chỉ trong nước mà cả trên thế giới.
Ngày nay cùng với sự suy giảm tài nguyên rừng là vấn đề biến đổi khí
hậu, hiện tượng nóng lên của trái đất nguyên nhân trực tiếp là do phát thải quá
mức khí nhà kính, đặc biệt là CO
2
. Kể từ cuối thế kỷ 18, mức CO
2
tăng thêm
35,4% chủ yếu do con người đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch như than đá,
dầu mỏ, khí đốt trong quá trình phát triển công nghiệp. Tình trạng phá rừng,
đốt rẫy, khai thác gỗ vô tổ chức cũng là nguyên nhân tạo ra hơn 20% phát thải
khí nhà kính trên toàn cầu. Với diện tích rừng ngày càng thu hẹp cộng với quá
trình khai thác rừng không hợp lý chính là nguyên nhân để lượng carbon tích tụ
càng nhiều. Theo tiến sỹ Christopher Field: "Lượng carbon tích trữ trong hệ
sinh thái rừng thấp dẫn đến CO
2
trong khí quyển tăng nhanh hơn và quá trình
nóng lên toàn cầu diễn ra cũng nhanh hơn" và theo tuyên bố của tổ chức Thống
kê Nam cự (BAS) cho biết vào năm 2006 có gần 10 tỷ tấn CO
2
trong khí quyển
trái đất, tăng 35% so với năm 1990.
Ở Việt Nam, vấn đề thương mại hóa các giá trị dịch vụ môi trường rừng
bao gồm khả năng hấp thụ CO
2
của rừng còn rất mới mẻ nhưng cũng đã có sự
quan tâm nghiên cứu trong một vài năm gần đây. Chính phủ đã có Nghị định
48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 về nguyên tắc và phương pháp định giá các

loại rừng; Quyết định 380-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về
thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, tiếp đó năm 2010 chính phủ
đã ra Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch
vụ môi trường rừng. Chính phủ cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm
ứng phó với biến đổi khí hậu điển hình là quyết định 158/QĐ-TTg ngày
02/12/2008 của Thủ tướng chính phủ về chương trình mục tiêu quốc gia ứng
2

phó với biến đổi khí hậu, trong đó việc giảm lượng CO
2
(nguyên nhân chính
gây nên sự nóng lên của trái đất) rất được quan tâm. Như vậy, có thể nói hiện
nay ở nước ta hành lang pháp lý cho việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường
rừng bao gồm cả khả năng hấp thụ và lưu giữ CO
2
là đã có cơ sở nhưng việc
thực thi còn rất nhiều cản trở do chúng ta chưa có đủ cơ sở khoa học cũng như
thực tiễn cho việc xác định khả năng hấp thụ và lưu giữ CO
2
của từng loại
rừng. Ở nước ta hiện nay các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên
cứu sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của một số dạng rừng trồng cho một
số loài cây trồng rừng phổ biến ở Việt Nam như Keo các loại, Bạch đàn,
Thông, Tuy nhiên, những nghiên cứu nhằm lượng hóa giá trị dịch vụ môi
trường của rừng bao gồm cả khả năng hấp thụ và lưu giữ CO
2
cũng như giá trị
thương mại mà rừng mang lại ở Việt Nam còn ít và tản mạn, chưa có hệ thống,
thiếu các dữ liệu cơ bản nên chưa đủ cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc định
giá rừng nói chung, định lượng khả năng cố định carbon cho các dạng rừng nói

riêng. Do vậy, giá trị mang lại của rừng hiện nay vẫn chưa được tính toán một
cách đầy đủ. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc thu hút cộng đồng
tham gia phát triển nghề rừng một cách bền vững.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía bắc với sự phát triển của nhiều nhà
máy, khu công nghiệp lớn đang gây ra những sức ép hết sức nặng nề với môi
trường về khí thải. Trong những năm gần đây được Đảng và nhà nước quan
tâm tới công tác phát triển rừng, diện tích rừng của Thái Nguyên tăng đáng kể.
Diện tích rừng đã được phát triển mạnh trong các huyện thuộc tỉnh, sự đóng
góp đó không thể không nhắc đến là công tác phát triển rừng tại huyện Định
Hóa. Tại Định Hóa loài cây Vầu Đắng là một trong những loài cây có ý nghĩa
và vai trò quan trọng cho người dân địa phương, rừng vầu đắng không chỉ đem
lại nguồn thu tương đối lớn cho người dân từ việc khai thác sản phẩm măng
làm thực phẩm, cây làm nguyên liệu chế biến như: Đũa, bột giấy mà rừng
vầu đắng còn góp phần quan trọng trong việc cảo tạo đất, điều hòa tiểu khí hậu,
chống xói mòn, rửa trôi, hạn chế lũ lụt, Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy,
giá trị của rừng Vầu đắng mới chỉ được thừa nhận ở những giá trị kinh tế của
nó mang lại, những giá trị về bảo vệ môi trường, hấp thụ C0
2
của rừng Vầu
đắng vẫn chưa được thừa nhận mặc dù về mặt nhận thức chúng ta đều biết rừng
3

nói chung trong đó có rừng vầu đắng nói riêng đều góp phần quan trọng trong
việc giảm thiểu biến đổi khí hậu, có khả năng hấp thụ và lưu giữ khí gây ra
biến đổi khí hậu chủ yếu là C0
2
nhưng lại không có đầy đủ cơ sở khoa học
cũng như thực tiễn để lượng hóa chúng.
Xuất phát từ những yêu cầu đó, được sự nhất trí của trường Đại Học Nông
lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và giáo viên hướng dẫn

tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu lượng Carbon (C) tích lũy của rừng Vầu
đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) tại xã Bảo Linh, huyện Định Hóa,
tỉnh Thái Nguyên" .
1.2.Mục đích nghiên cứu
- Mục tiêu về lý luận
Góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc định lượng giá trị môi
trường của rừng trồng Vầu đắng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
- Mục tiêu về thực tiễn
Xác định hàm lượng carbon tích lũy của rừng Vầu đắng (Indosasa
angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Bảo Linh huyện Định Hóa, tỉnh Thái
Nguyên góp phần làm cơ sở đánh giá giá trị của rừng nhằm thực hiện chính
sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm ra được một số quy luật kết cấu lâm phần của rừng vầu đắng thuần
loài tại xã Bảo Linh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
- Nghiên cứu được đặc điểm sinh khối và hàm lượng carbon tích lũy của
rừng vầu đắng tại xã Bảo Linh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Qua quá trình nghiên cứu đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên
cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý trong quá trình làm
việc. Xây dựng cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu khả năng tích lũy carbon
rừng Vầu đắng tại khu vực nghiên cứu.
Đồng thời đây cũng là cơ sở để sinh viên củng cố kiên thức đã học ở trên
lớp vào thực tiễn, nhằm giúp cho sinh viên được làm quen dần với thực tế sản
xuất. Sau khi hoàn thành đề tài sinh viên có thể học được các phương pháp, kĩ
4

năng trong lập kế hoạch, viết báo cáo, phân tích số liệu Đây là những vấn đề
cần thiết cho công việc sau này.

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Nghiên cứu đề tài sẽ đánh giá được vai trò của rừng nói chung và rừng
vầu đắng nói riêng trong việc tích lũy lượng carbon nhằm nâng cao ý thức của
người dân trong bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường sinh thái.
Nghiên cứu đề tài giúp xác định lượng carbon tích lũy của rừng Vầu đắng
(Indosasa angustata Mc. Clure) làm cơ sở cho việc thu phí môi trường và chi
trả cho người bảo vệ và phát triển rừng góp phần tăng thu nhập cho người dân
sống gần rừng và dựa vào rừng. Qua đó nâng cao nhận thức của người dân
trong bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng.


















5

Phần 2

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Công ước liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
Những thập kỷ gần đây, thế giới đặc biệt quan tâm, lo lắng nhận thấy
nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển tăng lên nhanh chóng do các hoạt
động phát thải qua mức các khí nhà kính của con người dẫn đến gia tăng hiệu
ứng nhà kính, làm nhiệt độ trái đất tăng với tốc độ chưa từng có trong quá khứ.
Biến đổi khí hậu tác động nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, đe dọa cuộc
sống toàn nhân loại và mọi sự sống trên hành tinh chúng ta.
Biến đổi khí hậu với biểu hiện chủ yếu là hiện tượng ấm lên toàn cầu. Sự
ấm lên toàn cầu do hiệu ứng các khí nhà kính nhân tạo đã và đang tác động
mạnh mẽ đến khí hậu trái đất. Nhằm làm ổn định các khí nhà kính trong khí
quyển ở một mức mà có thể ngăn chặn và hạn chế tất cả những biến đổi nguy
hiểm của khí hậu cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực để giảm nhẹ biến đổi
khí hậu. Công ước Liên hợp quốc về thay đổi khí hậu được thông qua trong hội
nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển ở Riode
Janeiro, Braxin, tháng 6 năm 1992, Công ước khung của LHQ về biến đổi khí
hậu (UNFCCC) đã được 189 nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam ký kết
tham gia. Mục tiêu chính của UNFCCC là ổn định khí nhà kính trong khí
quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người vào
hệ thống khí hậu.
2.1.2. Cơ chế phát triển sạch CDM và nghị định thư Kyoto
CDM là một trong 3 cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto trong đó
nó cho phép các nước phát triển đạt được các chỉ tiêu về giảm phát thải khí nhà
kính bắt buộc thông qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước
đang phát triển, sẽ nhằm hấp thụ khí CO2 từ khí quyển và làm giảm lượng phát
thải khí nhà kính.
Các dự án CDM có hai mục tiêu chính đó là:
- Nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển, nơi sẽ thực hiện các dự án

CDM đạt được mục tiêu phát triển bền vững.
6

- Nhằm cung cấp cho các nước phát triển "cơ hội linh hoạt” để làm
giảm chi tiêu phát thải khí nhà kính, và cho phép họ thu được các chứng chỉ
giảm phát thải từ các dự án CDM đầu tư tại các nước đang phát triển. (Ngô
Đình Quế và cs 2005) [10].
2.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Những nghiên cứu trên thế giới
2.2.1.1. Nghiên cứu về sinh khối
Sinh khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong sinh quyển hoặc số
lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích, thể tích vùng”. Sinh khối là một
chỉ tiêu quan trọng thể hiện năng suất của rừng, sinh khối được dùng để nghiên
cứu một số chỉ tiêu khác như dinh dưỡng hoặc các chỉ tiêu về môi trường rừng.
Nghiên cứu sinh khối được thực hiện từ rất sớm, trước năm 1840, các
công trình nghiên cứu đã tập trung vào lĩnh vực sinh lý thực vật, nghiên cứu
quá trình quang hợp tạo nên vật chất hữu cơ từ nước, oxi và năng lượng ánh
sáng mặt trời.
Đối với loài Pinus massoniana lượng carbon có trong tầng cây cao, vật rơi
rụng và đất rừng của rừng 30 năm tuổi (rừng già) cao hơn lượng carbon của
rừng 20 năm tuổi (rừng trung niên) và hai loại rừng trên đều có lượng carbon
tích trữ cao hơn so với rừng 7 năm tuổi (rừng non). Tuy nhiên, đối với thảm
thực vật dưới tán rừng thì lượng carbon cao nhất.
Palm và cộng sự (1986) cho rằng lượng carbon trung bình trong sinh khối
phần trên mặt đất của rừng nhiệt đới Châu Á là 185 tấn/ha và biến động từ 25-
300 tấn/ha
Duyiho cho biết hệ sinh thái rừng nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ
10-50 tấn/ha/năm, trung bình là 20 tấn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60-800
tấn/ha/năm, trung bình là 450 tấn/ha/năm theo Lê Hồng Phúc (1996) [7].
Đại dương và thảm thực vật là nơi có khả năng hấp thụ một khối lượng

lớn CO
2
phát thải vào không khí bởi các hoạt động của con người. Trong đó
thảm thực vật đã lưu giữ một lượng CO
2
lớn hơn 1 nửa khối lượng chất khí
phát thải đó và cũng chính từ nguyên liệu carbon này hàng năm thảm thực vật
trên trái đất đã tạo ra được 150 tỷ tấn vật chất khô thực vật. Rừng nhiệt đới
toàn cầu có diện tích khoảng 17,6 triệu km
2
tích lũy 547 tỷ tấn carbon trong
7

sinh khối và trong đất. Tuy nhiên, lượng carbon có biến động rất lớn giữa các
vùng và các kiểu thảm thực bì khác nhau.
Xác định sinh khối là phương pháp xác định có ý nghĩa rất quan trọng khi
nghiên cứu về sinh khối, vì nó liên quan đến độ chính xác của công trình
nghiên cứu. Mỗi tác giả có những điều kiện khác nhau mà sử dụng các phương
pháp xác định sinh khối khác nhau, có thể kể đến một số nghiên cứu của tác giả
chính như sau:
Edmonton (1968) đề xướng phương pháp Oxygen nhằm định lượng
oxygen tạo ra trong quá trình quang hợp của thực vật màu xanh. Từ đó tính ra
được năng suất và sinh khối rừng.
Transnean (1926), Huber (Đức, 1952), Monteith (Anh, 1960 - 1962),
Lemon (Mỹ, 1960 - 1987), Innone (Nhật, 1965 - 1968), … đã dùng phương pháp
dioxit carbon để xác định sinh khối. Theo đó sinh khối được đánh giá bằng
cách xác định tốc độ đồng hóa CO
2
.
Whittaker (1966), Tritton và Hornbeck (1982) cho rằng sinh khối rừng có

thể xác định nhanh chóng dựa vào mối liên hệ giữa sinh khối với kích thước
của cây hoặc từng bộ phận cây theo dạng hàm toán học nào đó. Phương pháp
này đã được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu Âu.
Whitaker (1961, 1966), Mark (1971) cho rằng “số đo năng suất chính là
số đo tăng trưởng, tích lũy sinh khối ở cơ thể thực vật trong quần xã”
Aruga và Maidi (1963) đưa ra phương pháp “Chlorophyll” để xác định
sinh khối thông qua hàm lượng Chlorophyll trên một đơn vị diện tích mặt đất.
Đây là chỉ tiêu biểu thị khả năng của hệ sinh thái hấp thụ các tia bức xạ hoạt
động quang tổng hợp.
2.1.1.2. Nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon
Đối với loài Pinus massoniana lượng carbon có trong tầng cây cao, vật rơi
rụng và đất rừng của rừng 30 năm tuổi (rừng già) cao hơn lượng carbon của
rừng 20 năm tuổi (rừng trung niên) và hai loại rừng trên đều có lượng carbon
tích trữ cao hơn so với rừng 7 năm tuổi (rừng non). Tuy nhiên, đối với thảm
thực vật dưới tán rừng thì lượng carbon cao nhất.
Palm và cộng sự (1986) cho rằng lượng carbon trung bình trong sinh khối
phần trên mặt đất của rừng nhiệt đới Châu Á là 185 tấn/ha và biến động từ 25-
300 tấn/ha.
8

Houghton (1991) đã nhận định lượng carbon rừng nhiệt đới Châu Á là 40-
250 tấn/ha, trong đó 50-120 tấn/ha ở phần thực vật và đất.
Brawn (1991) Rừng nhiệt đới Đông nam á có lượng sinh khối trên mặt đất
từ 50-430 tấn/ha (tương đương 25-215 tấn C/ha) và trước khi có tác động của
con người thì các trị số tương ứng là 350-400 tấn/ha (tương đương 175-200 tấn
C/ha) (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005)
Duyiho cho biết hệ sinh thái rừng nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ
10-50 tấn/ha/năm, trung bình là 20 tấn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60-800
tấn/ha/năm, trung bình là 450 tấn/ha/năm theo Lê Hồng Phúc (1996) [7].
Đại dương và thảm thực vật là nơi có khả năng hấp thụ một khối lượng

lớn CO
2
phát thải vào không khí bởi các hoạt động của con người. Trong đó
thảm thực vật đã lưu giữ một lượng CO
2
lớn hơn 1 nửa khối lượng chất khí
phát thải đó và cũng chính từ nguyên liệu carbon này hàng năm thảm thực vật
trên trái đất đã tạo ra được 150 tỷ tấn vật chất khô thực vật. Rừng nhiệt đới
toàn cầu có diện tích khoảng 17,6 triệu km
2
tích lũy 547 tỷ tấn carbon trong
sinh khối và trong đất. Tuy nhiên, lượng carbon có biến động rất lớn giữa các
vùng và các kiểu thảm thực bì khác nhau.
Xét trên phạm vi toàn cầu, số liệu thống kê năm 2003 cho thấy lượng
carbon lưu trữ trong rừng khoảng 800-1.000 tỷ tấn. Trong 1 năm rừng hấp thụ
khoảng 100 tỷ tấn khí carbonic và thải ra khoảng 80 tỷ tấn oxy
Tổng lượng hấp thu dự trữ carbon của rừng trên thế giới khoảng 830 PgC,
trong đó carbon trong đất lớn hơn 1,5 lần carbon dự trữ trong thảm thực vật
(Brown, 1997) 26. Đối với rừng nhiệt đới, có tới 50% lượng carbon dự trữ
trong thảm thực vật và 50% dự trữ trong đất (IPCC,2000) .
2.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.2.1. Nghiên cứu về sinh khối
Hầu hết các dự án hiện nay đã và đang triển khai ở Việt Nam liên quan
đến cơ chế phát triển sạch (CDM). Việt Nam là nước đang phát triển không
nằm trong những nước nằm trong diện phải cắt giảm khí phát thải nhà kính, mà
Việt Nam là một trong những nước gánh chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi
khí hậu toàn cầu. Nhiều dự án trong đó có thể kể đến dự án trồng rừng theo cơ
chế phát triển sạch là một dự án lớn đã và đang góp phần trong việc giảm thiểu
9


khí phát thải hiệu ứng nhà kính, giảm thiểu biến đổi khí hậu. Tiêu biểu một số
dự án như:
Tác giả đã công bố nghiên cứu sinh khối rừng Thông ba lá để tính toán
khả năng cố định CO
2
mà cây rừng hấp thụ. Đây là công trình nghiên cứu có
ý nghĩa trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của rừng,
tạo tiền đề cho việc xây dựng dự án trồng rừng CDM sau này. (Nguyễn
Ngọc Lung, 2004) [6].
Công trình nghiên cứu “Sinh khối và năng suất rừng đước” đã áp dụng
phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng
Đước đôi rừng ngập mặn ven biển Minh Hải. (Nguyễn Hoàng Trí, 1986) [13].
Dự án “Tái trồng rừng Cao Phong” bao gồm việc trồng khoảng 365 ha
rừng trên đất trảng cỏ và đất có cây bụi hiện đang bị suy thoái tại các xã Xuân
Phong và Bắc Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Tổng lượng phát thải
khí nhà kính dự kiến giảm được trong 16 năm (2008-2023) là 42.645 tấn CO
2

tương đương (theo Bộ TNMT).
Các dự án về Lâm nghiệp còn rất ít, mới chỉ có một dự án “Trồng rừng
môi trường trên đất mới ở A Lưới - tỉnh Thừa Thiên - Huế” với lượng CO
2
cắt
giảm được là 27.528 tấn/năm do Uỷ ban nhân dân huyện A Lưới, Hội nông dân
A Lưới, Lâm trường A Lưới và tổ chức phát triển Hà Lan thực hiện bên khác
thực hiện.
Từ những thành công bước đầu trong việc thực hiện nghiên cứu sinh khối
rừng, từ khi Cơ chế phát triển sạch được thông qua đã có khá nhiều các công trình

nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của rừng được thực hiện, có thể kể tới một số
nghiên cứu sau:
Tuỳ thuộc vào năng suất lâm phần ở các tuổi nhất định mà khả năng hấp
thụ CO
2
của các lâm phần có sự khác nhau. Để tích luỹ khoảng 100 tấn CO
2
/ha,
Thông nhựa phải đến tuổi 16 - 17, Thông mã vĩ và Thông 3 lá ở tuổi 10, Keo
lai 4 - 5 tuổi, Keo tai tượng 5 - 6 tuổi và Bạch đàn uro ở tuổi 4 - 5. Tác giả đã
lập phương trình tương quan hồi quy tuyến tính giữa lượng CO
2
hấp thụ hàng
năm với năng suất gỗ và năng suất sinh học, từ đó tính ra được khả năng hấp
thụ CO
2
thực tế ở nước ta đối với 5 loài cây trên. Cũng theo Ngô Đình Quế
(2005), với tổng diện tích 123,95 ha khi trồng Keo lai 3 tuổi, Quế 17 tuổi,
10

Thông 3 lá 15 tuổi, Keo lá tràm 12 tuổi thì sau khi trừ đi tổng lượng C của
đường cơ sở, lượng C thực tế thu được qua việc trồng rừng CDM là 7.553,6 tấn
C hoặc 27.721,9 tấn CO
2
. (Ngô Đình Quế và cs, 2005) [10]
2.2.2.2. Nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu sinh khối rừng được tiến hành khá muộn,
tuy nhiên bước đầu cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể và có thể kể đến

một số công trình nghiên cứu sau:
Tiến hành nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon lâm phần Thông mã vĩ và
lâm phần Keo lá tràm trồng thuần loài tại Hà Tây đã cho thấy: Lượng carbon
tích luỹ của rừng Thông mã vĩ biến động từ 80,7 - 122 tấn/ha và của rừng Keo
lá tràm là 62,5 - 103,1 tấn/ha theo Nguyễn Tuấn Dũng (2005) [2]
Với đối tượng nghiên cứu là Thông ba lá tại Đà Lạt, tác giả đã có công
trình nghiên cứu về sinh khối hoàn chỉnh, đây được xem là tác phẩm mang tính
chất đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu sinh khối ở nước ta. Sau khi nghiên cứu,
tác giả đã lập được một số phương trình tương quan giữa sinh khối của các bộ
phận của cây rừng với đường kính D
1.3
(Lê Hồng Phúc, 1996) [7].
Tác giả đã nghiên cứu về đa dạng nhóm sinh vật phân giải và cường độ
phân giải thảm mục trong rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại trạm đa dạng inh
học Mê Linh, Vĩnh Phúc kết quả cho thấy sinh khối khô của tầng thảm ục tại
các quần xã rừng có sự khác biệt. Tổng sinh khối khô của tầng thảm mục tại
các quần xã rừng nghiên cứu nằm trong khoảng 8,35 - 12,91 tấn/ha. (Đỗ Hoàng
Chung, 2012) [1].
Khi nghiên cứu về sinh khối rừng Bạch đàn Urophylla ở Yên Bái cho kết quả
cho thấy với sinh khối tươi ở tuổi 4 bằng 183,54 tấn/ha, ở tuổi 5 là 219,77
tấn/ha và ở tuổi 5 là 239,19 tấn/ha. Trong đó sinh khối trên mặt đất chiếm từ
77,78% - 89,12%. Tương ứng sinh khối khô ở tuổi 4 là 66,87 tấn/ha, tuổi 5 là
73,53 tấn/ha, tuổi 6 là 96,02 tấn/ha. Trong đó sinh khối khô trên mặt đất chiếm
từ 64,27% - 85,92%. (Nguyễn Văn Tấn, 2006) [12].
Khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
rừng trồng Keo tai tượng (Acacia
mangium) tại Tuyên Quang đã cho thấy lượng carbon hấp thụ trung bình ở cấp
đất I đạt 152,96 tấn/ha; cấp đất II đạt 127,91 tấn/ha; cấp đất III đạt 126,32
tấn/ha và cấp đất IV đạt 114,33 tấn/ha, trong đó tầng cây cao chiếm 49%; đất

11

chiếm 34%; vật rơi rụng chiếm 4% và cây bụi thảm tươi chiếm 13% tổng
lượng carbon trong lâm phần. (Nguyễn Duy Kiên, 2007) [5].
Kết quả thực hiện đề tài ”Nghiên cứu sinh khối và khả năng cố định
carbon của rừng Mỡ (Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên Quang và
Phú Thọ” cho thấy, cấu trúc sinh khối cây cá thể Mỡ gồm 4 phần thân, cành, lá
và rễ, trong đó sinh khối tươi lần lượt là 60%, 8%, 7% và 24%; tổng sinh khối
tươi của một ha rừng trồng Mỡ dao động trong khoảng từ 53,4 - 309 tấn/ha,
trong đó: 86% là sinh khối tầng cây gỗ, 6% là sinh khối cây bụi thảm tươi và 8%
là sinh khối của vật rơi rụng. (Lý Thu Quỳnh, 2007) [11].
Nhằm góp phần phục vụ việc xây dựng kịch bản đường cơ sở cho các dự
án trồng rừng CDM, sinh khối thảm tươi cây bụi tại Hòa Bình và Thanh Hóa
đã được nghiên cứu, theo đó các trạng thái đất rừng lau lách có thể tích lũy 20
tấn carbon/ha; cây bụi cao từ 2 - 3 m có thể tích lũy 14 tấn/ha; tế, guột và cây
bụi nhỏ hơn 2 m có thể tích lũy khoảng 10 tấn/ha; cỏ lá tre có thể tích lũy 6,6
tấn/ha; cỏ tranh tích lũy 4,9 tấn/ha và cỏ lông lợn có thể tích lũy 3,9 tấn/ha. (Vũ
Tấn Phương, 2006) [8].
Bên cạnh việc nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của một số trạng thái
rừng của Việt Nam thì vấn đề giá trị thương mại mang lại từ khả năng hấp thụ
CO
2
của rừng cũng được rất nhiều các tác giả quan tâm nghiên cứu.
Nếu tăng trưởng rừng đạt 15 m
3
/ha/năm và giá thương mại của khí CO
2


biến động từ 3-5 USD/tấn CO
2
, thì một ha rừng như vậy có thể đem lại 45 - 75
USD (tương đương 675.000 - 1.120.000 đồng). (Hoàng Xuân Tý, 2004) [16].
Các tác giả thiết lập mối quan hệ giữa lượng carbon tích luỹ của rừng với
các nhân tố điều tra cơ bản như đường kính (D
1.3
), chiều cao vút ngọn (H
vn
), mật
độ (N), như (Nguyễn Tuấn Dũng,2005) [2] đã xây dựng quan hệ cho 2 loài
Thông mã vĩ và Keo lá tràm (Ngô Đình Quế,2005) [10], đã xây dựng mối quan
hệ cho các loài Thông nhựa, Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Uro.
Đây là những cơ sở quan trọng cho việc xác định nhanh lượng carbon tích luỹ
của rừng trồng nước ta thông qua điều tra một số chỉ tiêu đơn giản.
Khả năng hấp thụ của rừng tự nhiên cũng được quan tâm nghiên cứu. (Vũ
Tấn Phương, 2006) [8], đã nghiên cứu trữ lượng carbon theo các trạng thái
rừng, kết quả cho thấy rừng giàu có tổng trữ lượng carbon là 694,9 - 733,9 tấn
12

CO
2
/ha, rừng trung bình 539,6 - 577,8 tấn CO
2
/ha, rừng nghèo 387,0 - 478,9
tấn CO
2
/ha, rừng phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO
2
/ha và rừng tre nứa là 116,5 -

277,1 tấn CO
2
/ha.
Trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu khả năng hấp thụ và giá trị thương
mại carbon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam” đã tiến hành
nghiên cứu năng suất sinh khối của một số loài cây trồng rừng như: Mỡ, Thông
đuôi ngựa, Thông nhựa, Keo lai, Keo lá tràm,… Kết quả đã đánh giá được cấu
trúc sinh khối cây cá thể và cấu trúc sinh khối lâm phần rừng trồng, tìm hiểu rõ
được mối quan hệ giữa sinh khối cây cá thể và lâm phần với các nhân tố điều
tra,… Góp phần quan trọng trong nghiên cứu sinh khối rừng trồng và nghiên
cứu khả năng hấp thụ carbon của một số loài cây trồng rừng sản xuất chủ yếu ở
nước ta hiện nay. (Võ Đại Hải và cs, 2009) [3]
Trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu khả năng cố định carbon của rừng
trồng Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lambert) và Thông nhựa (Pinus
merkusii Jungh et. de Vriese) làm cơ sở xác định giá trị môi trường rừng theo
cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam” đã xác định được khả năng hấp thụ carbon
ở cấp tuổi 6 của lâm phần Thông mã vĩ khoảng từ 115,21 - 178,68 tấn/ha, của
lâm phần Thông nhựa khoảng 117,05 - 135,54 tấn/ha tùy thuộc vào cấp đất,
đồng thời tác giả cũng đã xây dựng được bảng tra khả năng hấp thụ carbon của
cây cá thể cũng như lâm phần Thông mã vĩ và Thông nhựa chung và riêng cho
từng cấp đất, xác định được giá trị thương mại carbon của rừng trồng Thông
nhựa và Thông mã vĩ theo từng cấp đất. (Đặng Thịnh Triều, 2010) [14].
Đề tài “Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
và cải tạo đất của rừng trồng
Keo lai ở một số tỉnh miền núi phía Bắc” của Nguyễn Viết Khoa (2010) [4], đã
xác định được cấu trúc lượng carbon hấp thụ trong cây cá thể và lâm phần Keo
lai tính trung bình cho các tuổi và cấp đất như sau:
+ Cấu trúc lượng carbon hấp thụ trong cây cá thể Keo lai: Thân 54,31%,
rễ 16,4%, cành 15,16%, lá 8,58%, vỏ 5,54%.

+ Cấu trúc lượng carbon hấp thụ trong lâm phần Keo lai: Đất rừng chiếm
67,74%, tầng cây gỗ 27,58%, tầng cây bụi thảm tươi chiếm 1,48% và vật rơi
rụng chiếm 3,2%.
13

Đề tài nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của trạng thái rừng thứ sinh phục
hồi tự nhiên sau khai thác kiệt tại tỉnh Thái Nguyên đã cho thấy sinh khối khô
rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên trạng thái IIb tại Thái Nguyên là 76,46 tấn/ha.
Trong đó: Sinh khối khô tầng cây gỗ trung bình 63,38 tấn/ha; Sinh khối tầng cây
dưới tán (cây bụi thảm tươi, cây tái sinh) trung bình 4,86 tấn/ha; Sinh khối khô
vật rơi rụng trung bình 8,22 tấn/ha theo Nguyễn Thanh Tiến (2012) [15].
Nguyễn Ngọc Lung (2004), công bố nghiên cứu sinh khối rừng Thông ba lá
để tính toán khả năng cố định CO
2
mà cây rừng hấp thụ. Đây là công trình
nghiên cứu có ý nghĩa trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu khả năng hấp thụ
CO
2
của rừng, tạo tiền đề cho việc xây dựng dự án trồng rừng CDM sau này [6].
Nguyễn Văn Dũng (2005) nghiên cứu về rừng Thông Mã vỹ tại Núi Luốt
- Đại học lâm nghiệp cho thấy rừng Thông mã vỹ thuần loài 20 tuổi lượng
carbon tích luỹ là 80,7-122 tấn/ha, giá trị carbon tích luỹ ước tính đạt 25,8-39
triệu VNĐ/ha. Rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng lượng carbon
tích luỹ là 62,5-103,1 tấn/ha, giá trị tích luỹ carbon ước tính đạt 20-33 triệu
VNĐ [2].
Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng carbon theo các trạng thái
rừng cho biết: Rừng giàu có tổng trữ lượng CO
2

là 694,9 - 733,9 tấn CO
2
/ha;
rừng trung bình là 539,6-577,8 tấn CO
2
/ha; rừng nghèo 387,0-478,9 tấn CO
2
/ha;
rừng phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO
2
/ha; rừng tre nứa là 116,5 - 277,1 tấn CO
2
/ha [8].
Nguyễn Văn Tấn (2006) Nghiên cứu rừng Bạch đàn Urophylla tuổi 4, 5, 6
tại Yên Bái cho thấy:
+ Ở tuổi 4: Tổng trữ lượng carbon là 32,81 tấn C/ha, trong đó phần trên
mặt đất là 25,51 tấn C/ha chiếm 77,77%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là 5,48
tấn C/ha chiếm 16,69% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,82 tấn C/ha
chiếm 5,54% tổng trữ lượng carbon.
+ Ở tuổi 5: Tổng trữ lượng carbon là 36,38 tấn C/ha, trong đó phần trên
mặt đất là 25,32 tấn C/ha chiếm 69,60%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là 9,32
tấn C/ha chiếm 25,36% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,83 tấn C/ha
chiếm 5,04% tổng trữ lượng carbon.
+ Ở tuổi 6: Tổng trữ lượng carbon là 47,37 tấn C/ha, trong đó phần trên
mặt đất là 37,17 tấn C/ha chiếm 78,47%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là 8,40
14

tấn C/ha chiếm 17,74% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,79 tấn C/ha
chiếm 3,79% tổng trữ lượng carbon.
Nguyễn Ngọc Lung và Nguyễn Tường Vân (2004) đã sử dụng công thức

tổng quát của quá trình quang hợp để tính ra hệ số chuyển đổi từ sinh khối khô
sang CO
2
đã hấp thụ là 1,630/1. Căn cứ vào biểu quá trình sinh trưởng và biểu
Biomass các tác giả tính được 1 ha rừng Thông 60 tuổi ở cấp đất III chứa đựng
707,75 tấn CO
2
[6].
Các tác giả thiết lập mối quan hệ giữa lượng carbon tích luỹ của rừng với
các nhân tố điều tra cơ bản như đường kính (D
1.3
), chiều cao vút ngọn (H
vn
),
mật độ (N), như (Nguyễn Tuấn Dũng, 2005) [2] đã xây dựng quan hệ cho 2
loài Thông mã vĩ và Keo lá tràm; (Ngô Đình Quế, 2005) [10] đã xây dựng mối
quan hệ cho các loài Thông nhựa, Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch
đàn Uro; Vũ Tấn Phương (2006) xây dựng các phương trình quan hệ Keo lai,
Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Urophylla và Quế 12. Đây là những cơ
sở quan trọng cho việc xác định nhanh lượng carbon tích luỹ của rừng trồng
nước ta thông qua điều tra một số chỉ tiêu đơn giản.
Khả năng hấp thụ của rừng tự nhiên cũng được quan tâm nghiên cứu. Vũ
Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng carbon theo các trạng thái rừng,
kết quả cho thấy rừng giàu có tổng trữ lượng carbon là 694,9 - 733,9 tấn
CO
2
/ha, rừng trung bình 539,6 - 577,8 tấn CO
2
/ha, rừng nghèo 387,0 - 478,9
tấn CO

2
/ha, rừng phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO
2
/ha và rừng tre nứa là 116,5 -
277,1 tấn CO
2
/ha [9].
Đề tài nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của trạng thái rừng thứ sinh phục
hồi tự nhiên sau khai thác kiệt tại tỉnh Thái Nguyên đã xác định được tổng
lượng CO
2
hấp thụ của rừng IIb tại Thái Nguyên dao động từ 383,68 - 505,87
tấn CO
2
/ha, trung bình 460,69 tấn CO
2
/ha (trong đó lượng CO
2
hấp thụ tập
trung chủ yếu ở tầng đất dưới tán rừng là 322,83 tấn/ha, tầng cây cao 106,91
tấn/ha, tầng cây dưới tán 15,6 tấn/ha và vật rơi rụng là 15,34 tấn/ha). (Nguyễn
Thanh Tiến, 2012) [15]
2.2.4. Nhận xét chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các
vấn đề có liên quan có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
15

Hiện nay các nước trên thế giới đang đặt mối quan tâm rất lớn tới CDM

và REDD. Đây là cơ hội cho những người dân sống bằng nghề rừng có thể tiếp
cận được nguồn đầu tư tài chính, cũng như cơ hội để phát triển nguồn nhân lực
thông qua việc chuyển giao công nghệ, giúp người dân xây dựng môi trường
sống an toàn, bền vững, góp phần xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt ở những nước
đang phát triển. Các công trình nghiên khả năng hấp thụ carbon của thực vật
được thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất sớm và đã đạt được nhiều thành công
nổi bật như: Xác định được khả năng hấp thụ CO
2
cho nhiều loại rừng khác
nhau, xây dựng được cơ sở khoa học cũng như thực tiễn trong việc nghiên cứu
hấp thụ CO
2
của rừng, xây dựng được nhiều phương pháp tiên tiến trong
nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
.
Đối với Việt Nam, vấn đề nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của rừng
được nghiên cứu khá muộn so với thế giới, tuy nhiên đây là lĩnh vực đã được
sự quan tâm rất lớn của toàn xã hội và bước đầu cũng đã đạt được những kết
quả đáng khích lệ, đặc biệt là đối với một số loài cây trồng rừng phổ biến ở
nước ta như: Thông nhựa, Thông đuôi ngựa, Mỡ, Keo các loại, Bạch đàn,…
Góp phần quan trọng trong việc định lượng giá trị môi trường rừng ở nước ta.
Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
ở nước ta
mới chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu cho đối tượng là rừng trồng, đối
tượng rừng tự nhiên đặc biệt là rừng vầu đắng vẫn chưa được quan tâm nghiên
cứu đúng mức. Hiện nay, đối tượng rừng vầu đắng chiếm một tỷ trọng khá lớn

so với tổng diện tích rừng tự nhiên ỏ các tỉnh vùng núi phía bắc của nước ta, do
vậy, việc nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
cho đối tượng rừng này là rất cần
thiết trong tiến trình lượng hóa các giá trị môi trường rừng, chi trả dịch vụ môi
trường rừng và hướng tới thị trường thương mại carbon trên thế giới. Thông
qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đã tham
khảo, kế thừa có chọn lọc các phương pháp của các tác giả như: Võ Đại Hải,
Bảo Huy, Vũ Tấn Phương, Ngô Đình Quế…Trong nghiên cứu để nghiên cứu
cụ thể cho đối tượng rừng vầu đắng tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên một
cách phù hợp và khoa học nhất.
Với những lý do đó đề tài luận án đặt ra là cần thiết vì: Rừng vầu đắng tại
huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên chưa có công trình nào nghiên cứu về khả

×