Tải bản đầy đủ (.doc) (87 trang)

Cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (397.63 KB, 87 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH


NGUYỄN NHƯ LUẬT


CÁI HÀI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NHƯ LUẬT
CÁI HÀI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2014
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 14
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 14
6. Cấu trúc luận văn 15
Chương 1 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN CỦA CÁI HÀI TRONG TRUYỆN NGẮN


VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
1.1. Tình trạng phát triển của cái lố lăng trong một xã hội “không có vua” 16
1.2. Truyền thống thể hiện cái hài trong văn xuôi Việt Nam các thời kỳ trước đó 18
1.2.1. Cái hài trong văn xuôi 1930 - 1945 18
1.2.2. Cái hài trong văn xuôi 1945 - 1975 24
1.2.3. Cái hài trong văn xuôi 1975 - 2000 25
1.3. Ý thức về dân chủ và cảm quan hậu hiện đại của chủ thể sáng tạo 28
1.3.1. Ý thức về dân chủ như là điều kiện cần cho sự trở lại của cái hài 28
1.3.2. Cảm quan hậu hiện đại - một nhân tố quan trọng thúc đẩy cái hài phát triển 30
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG CỦA CÁI HÀI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
2.1. Cái hài từ cuộc “cãi cọ” giữa các giá trị đời sống 35
2.2. Cái hài từ sự cọc cạch trong cấu trúc nhân cách của con người 44
2.3. Cái hài từ sự bất tương xứng giữa bản chất của đời sống và sự phản ánh của nghệ
thuật 52
Chương 3 CÁC PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CÁI HÀI TRONG
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
3.1. Tạo tiếng cười từ các tình huống nghệ thuật giả tưởng 57
3.2. Tạo tiếng cười từ hình thức giễu nhại 64
3.3. Tạo tiếng cười từ sự pha trộn mang tính nghịch dị các loại hình ngôn ngữ 72
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ quan trọng của cuộc sống con
người. Mỗi nền nghệ thuật dân tộc qua từng thời đại lại có những khám phá
sâu sắc về cái hài của dân tộc mình. Cái hài xuất hiện trong văn học Việt Nam
ngay từ buổi sơ khai, được thể hiện qua nhiều dạng thức phong phú và thăng
trầm theo những biến thiên của các hình thái xã hội khác nhau. Sau một thời
gian bặt tiếng, cái hài đã trở lại với văn học đương đại Việt Nam, rõ nhất là

trong truyện ngắn, tạp văn và tiểu thuyết. Đây là một hiện tượng đáng quan
tâm, tìm hiểu.
1.2. Truyện ngắn là thể loại nhỏ gọn, vừa hội tụ được nhiều yếu tố để
đảm nhiệm vai trò xung kích trong đổi mới văn học, vừa phù hợp với độc giả
hiện đại. Truyện ngắn cũng là thể loại văn học có lợi thế trong việc tiếp cận
đời sống hiện thực từ nhiều chiều. Cái hài trong truyện ngắn Việt Nam là một
đề tài thú vị nhưng chưa có nhiều thành tựu nghiên cứu thỏa đáng. Với truyện
ngắn Việt Nam đương đại, cái hài trở thành một nội dung phản ánh chứa đựng
nhiều tầng sâu tư tưởng và cũng là một phương thức sáng tạo thể hiện tài
năng của các nhà văn. Nghiên cứu Cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập
niên đầu thế kỉ XXI chính là để phát hiện bí quyết tạo nên sự hấp dẫn bạn đọc
ở một số cây bút nổi tiếng thuộc nhiều thế hệ khác nhau.
1.3. Từ sau năm 1986, xã hội Việt Nam hình thành một diện mạo mới,
đòi hỏi nhu cầu khám phá mới. Một khi tinh thần dân chủ đã bắt đầu lan rộng,
tiếng cười cũng trở nên phổ biến trong văn học, đem lại dư vị mới cho nhiều
tác phẩm. Với đề tài Cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập niên đầu thế kỉ
XXI, ta có thêm cứ liệu để chứng minh sự đa dạng của những hướng tìm tòi
nghệ thuật trong các sáng tác văn xuôi Việt Nam đương đại.
4
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về cái hài trong văn học nghệ thuật nói chung
2.1.1. Khái niệm cái hài
Cái hài là một đặc tính vốn có của đời sống. Nó muôn hình ngàn vẻ,
hiện diện trong mọi lĩnh vực xã hội và là một phạm trù mỹ học thu hút sự lí
giải của nhiều học giả.
Các nhà mỹ học Hi Lạp cổ đại như Platon, Aristote đã đưa ra những
kiến giải sâu sắc về cái hài. Platon cho rằng: “Thiếu hài hước không nhận
thức được cái nghiêm túc… Cái đối lập được nhận thức nhờ cái đối lập” [24;
170]. Ông thừa nhận cái hài, nhưng lại phản đối cái hài trong đất nước lí
tưởng của ông vì sợ nó sẽ làm cho công dân thiếu nghiêm túc, hoặc sẽ chọc

ghẹo bề trên. Với Aristote, cái hài là tương phản giữa đẹp và xấu.
Các nhà triết học cổ điển Đức như Kant, Hegel cũng quan tâm đến việc
lý giải cái hài. Theo Kant (1724-1804): cái hài là sự mâu thuẫn giữa cái thấp
hèn và cái cao cả. Hegel (1770-1831) quan niệm hài là mâu thuẫn giữa cái giả
dối, cái có cơ sở hư ảo với cái có ý nghĩa, cái bền vững và chân lí.
Tsernyshevsky, nhà văn, nhà tư tưởng Nga định nghĩa: “Cái hài là sự
trống rỗng và sự vô nghĩa bên trong được che đậy bằng một cái vỏ huênh
hoang tự cho rằng có nội dung và có ý nghĩa thực sự” [18; 30].
Những phát hiện trên đều là thành tựu của mỹ học, chúng đồng nhất ở
chỗ: cái hài được sinh ra từ mâu thuẫn của những mặt đối lập.
Từ điển thuật ngữ văn học đã khái quát: cái hài là “phạm trù mỹ học
phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo
ra tiếng cười ở những cung bậc và sắc thái khác nhau. Đó là sự mâu thuẫn, sự
không tương xứng mà người ta có thể cảm nhận được về phương diện xã hội -
thẩm mỹ (chẳng hạn giữa hình thức với nội dung, hành động với tình huống,
mục đích và phương tiện, bản chất và biểu hiện v.v…)” [18; 29].
5
Giáo trình Mỹ học đại cương (PGS.TS. Nguyễn Văn Huyên chủ biên)
cũng kết luận: “Cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ khách quan, mang ý nghĩa
xã hội sâu sắc. Đó là những cái xấu đội lốt cái đẹp, bị phát hiện bất ngờ và
gây ra tiếng cười tích cực, phê phán cái xấu dưới ánh sáng của một lý tưởng
thẩm mỹ tiến bộ” [24; 177].
Như vậy, cái hài gắn với tiếng cười, chứa đựng tiếng cười, cái hài là
một hiện tượng gây cười. Tuy nhiên không phải tiếng cười nào cũng là biểu
hiện của cái hài. Mặt khác, một hiện tượng chỉ có thể được coi là cái hài khi
chủ thể nhận thức được những mâu thuẫn chứa đựng trong nó.
2.1.2. Đặc điểm của cái hài
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, có ba yếu tố tạo thành cái hài: một là
bản chất mang tính hài của đối tượng; hai là sự cường điệu những đường nét,
kích thước và những liên hệ của chúng trong việc mô tả đối tượng; ba là sự

sắc bén, ý nhị, hóm hỉnh của người thể hiện.
Cái hài trước hết phải là cái xấu của con người hoặc là con người có
điểm xấu. Nhưng không phải mọi cái xấu đều là yếu tố của cái hài. Cái xấu
chỉ trở thành yếu tố của cái hài khi nó có ý nghĩa xã hội. Ví dụ như tính xu
nịnh, gia trưởng,…; thói dối trá, ngoại tình, hống hách, cửa quyền…; sự dốt
nát, tình trạng thiếu dân chủ,… Cái xấu đáng cười là cái chưa đến nỗi xấu
quá, chưa đến mức đê tiện, kinh tởm.
Cái hài là cái xấu đội lốt cái đẹp. Bản thân cái xấu có nhiều dạng thái
rất khác nhau. Những cái xấu giả dạng cái đẹp, xấu mà chưa biết mình xấu
mới là cái hài với tư cách phạm trù của mỹ học. Nó bộc lộ mâu thuẫn trong
bản thân, trong quan hệ và mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Ví dụ một tên quan
huyện ăn đút lót cứ tưởng mình là thanh liêm và nhiều kẻ nịnh bợ cho hắn là
thanh liêm; một người đam mê quyền lực nhưng lại phê phán những người
khác là hám danh,…
6
Cái hài luôn gắn với yếu tố bất ngờ: “bất ngờ là yếu tố riêng biệt biểu
thị biên độ sâu và rộng về không gian và thời gian của cái hài. Thiếu yếu tố
bất ngờ thì không có mối liên hệ giữa chủ thể và đối tượng của cái hài” [24;
175]. Một tình huống căng thẳng đang diễn ra giữa cái đẹp và cái xấu, cái xấu
tưởng đã chiến thắng, bất ngờ bị vạch trần, bị đánh bại, lúc đó tiếng cười bật
lên. Tính bất ngờ nào cũng xoáy vào các điểm yếu của con người và những
con người có điểm yếu. Nếu vấn đề mà cái bất ngờ nêu lên có giá trị nhân loại
và văn hóa, cái hài sẽ có ý nghĩa xã hội rộng và sâu hơn.
Cái hài gắn với tiếng cười tích cực. Đó là tiếng cười dí dỏm, mỉa mai,
châm biếm một cách nhẹ nhàng nhưng lại có sức mạnh chống lại cái xấu, dân
chủ hóa xã hội. Ở đâu có cái xấu và có lý tưởng của cái đẹp thì ở đó xuất hiện
tiếng cười tích cực. Nó không giết người mà xóa các điểm yếu trong con
người, nó nhằm vào con người có điểm yếu nhưng không để tiêu diệt con
người. “Cái hài bao hàm một ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng định lí
tưởng thẩm mỹ cao cả… Sức mạnh phê phán của nó vừa có tính phủ định lại

vừa mang ý nghĩa khẳng định. Nó phủ định cái lỗi thời xấu xa nhân danh cái
cao đẹp” [18; 30].
Mỹ học hiện đại còn bàn đến yếu tố tục như một dạng của cái hài.
Người ta thường gắn cái hài với những bộ phận sinh dục của con người để tìm
ra tiếng cười. Sự liên kết các yếu tố tục với các yếu tố không tục làm nên hậu
thuẫn và điểm đột phá của tiếng cười. Tuy nhiên, tục không phải là yếu tố cơ
bản của cái hài.
2.1.3. Các cấp độ của cái hài
Trong cuộc sống cũng như trong văn học nghệ thuật, cái hài được thể
hiện qua nhiều cấp độ khác nhau: nhẹ nhất là hài hước - bông đùa nhằm loại
bỏ những điểm yếu cho đối tượng; dí dỏm - chỉ bảo, gợi mở là cái cười có
tính chất trí tuệ mang ý nghĩa nhận thức; châm biếm, mỉa mai là tiếng cười
7
có màu sắc phê phán một cách nhẹ nhàng; cao nhất là tiếng cười đả kích có
tính xã hội rõ rệt, nhằm phủ định đối tượng. Cái hài còn gắn với tiếng cười
mang nhiều sắc thái: cười khinh bỉ, cười thiện cảm, cười nghiêm khắc, cười
chua chát,…
Sự phát triển của cuộc sống phát sinh các hình thức khác nhau của tiếng
cười. Việc nhận ra tính hài hước của đối tượng thuộc về những người thông
minh, sắc sảo, có xúc cảm hài, nhạy cảm với các xung đột, mâu thuẫn, có ý
thức dân chủ và tinh thần sáng tạo.
Cái hài được phản ánh trong nhiều loại hình nghệ thuật (trừ kiến trúc);
thuận lợi nhất là trong văn học.
2.2. Những nghiên cứu về cái hài trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
Qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên
cứu nào bao quát một cách thỏa đáng về cái hài trong văn xuôi Việt Nam nói
chung, văn xuôi Việt Nam đương đại nói riêng, nhưng những nhận xét về cái
hài trong sáng tác của một tác giả hay tác phẩm cụ thể thì có khá nhiều.
Giai đoạn trước 1945, cái hài từng là một phạm trù thẩm mỹ quan trọng
làm nên sự đa dạng của văn học dân tộc. Văn xuôi trào phúng đầu thế kỉ XX

xuất hiện hai cây bút tiêu biểu là Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng.
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy trong sáng tác của họ, cái hài như là
nhu cầu tự nhiên của đời sống, mang tính chất nhiều chiều, lưỡng hợp.
Các nhà nghiên cứu đã tiếp cận cái hài trong truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan từ nhiều góc độ. Lê Thị Đức Hạnh với “Nghệ thuật trào phúng
trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan” đã chỉ ra: “Cơ sở tiếng cười của
ông thường là do nhà văn nhận thức được sự trái ngược giữa hiện tượng với
thực chất của sự vật và con người; là do thấy được mối mâu thuẫn giữa cái
phô trương bề ngoài và tình trạng thiếu sức sống bên trong của một sự vật
nào đó” [19; 403].
8
Nguyễn Thanh Tú với “Chất hài trong câu văn Nguyễn Công Hoan” đi
từ quan niệm “đời chỉ là một sân khấu hài kịch” của nhà văn để thấy ông “có
thái độ tiếp cận cuộc sống một cách hết sức suồng sã, xóa bỏ mọi khoảng
cách ngôi thứ, đạp đổ mọi tôn ti trật tự, bóc trần mọi giáo lý giả tạo… để trơ
ra một “thế giới bị lộn trái”[19; 424].
Trần Văn Hiếu trong bài “Chất trí tuệ của tiếng cười và óc châm
chọc tinh quái của Nguyễn Công Hoan” khẳng định: “Tác phẩm của ông
được xem như một mảng mầu không thể thay thế trên bức tranh trào phúng
toàn cảnh vốn hết sức phong phú và đa dạng của văn học thời kỳ 1930-
1945. Đặc sắc truyện trào phúng Nguyễn Công Hoan được thể hiện trên
nhiều phương diện và ở nhiều cấp độ song nghệ thuật tạo dựng chất trí tuệ
và óc châm chọc tinh quái có thể được xem như một đóng góp riêng, độc
đáo và quan trọng” [19; 459].
Có một thời, cái hài không được xem như một thái độ nghệ thuật trong
văn chương của Vũ Trọng Phụng. Trong bài “Tìm hiểu lịch sử cái gọi là “vấn
đề Vũ Trọng Phụng”, Phong Lê giải thích rằng bởi “nó chạm vào một chỗ
thiêng nhất, nhạy cảm nhất trong quan niệm nghệ thuật, vốn gắn rất chặt với
quan niệm chính trị và quan niệm đạo đức ở xứ ta” [84; 27,28].
Nhiều nhà nghiên cứu đã tham gia “mổ xẻ” cái hài trong sáng tác của

Vũ Trọng Phụng và coi đó chính là điều làm nên tên tuổi một nhà văn lớn của
dân tộc. Hoàng Ngọc Hiến trong bài “Dị ứng với cái rởm - một phương diện
của trào phúng Vũ Trọng Phụng” đã viết: “Hài hước là một tình cảm mĩ học
có giá trị nhân bản và sức cảm hóa to lớn. Tình cảm hài hước chế giễu những
gì đáng khinh ghét, đồng thời làm dịu đi những tình cảm khinh ghét…. Số đỏ
là một tác phẩm trào phúng hài hước” [84; 97].
Tác giả Mai Quốc Liên trong bài “Bản chất mỹ học của cái cười trong
Số đỏ” đã đưa ra một lý giải thuyết phục: “Vũ Trọng Phụng vươn tới tầm của
9
“tiếng cười toàn dân” trong văn học dân gian, trong thơ Hồ Xuân Hương và vì
thế tiếng cười của ông mang một tầm cỡ triết lý nhân sinh mà đồng thời vẫn
mang ý nghĩa thời sự” [84; 104].
Đào Tuấn Ảnh trong “Mỹ học nghịch dị trong Số đỏ của Vũ Trọng
Phụng” cũng ghi nhận thành tựu xuất sắc của tác phẩm trào phúng Vũ Trọng
Phụng: “Nụ cười đau khổ, cảm giác bi kịch là nhân vật “chính diện” trong Số
đỏ. Nụ cười ấy là chất thanh lọc cao cấp nhất của văn chương, bởi nó giúp ta
hiểu và tin rằng trong cái thế giới nghịch dị đó nhất thiết, hoặc trực tiếp, hoặc
gián tiếp, phải tồn tại sự nhận biết về chuẩn mực của cuộc sống, về điều cuộc
sống là như thế nào và cần phải như thế nào” [84; 271].
Bên cạnh Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng, tiếng cười trong
sáng tác của nhà văn Nam Cao cũng đem lại cho người đọc một cái nhìn mới
về sự vận động của thẩm mỹ hiện đại trong văn học Việt Nam giai đoạn trước
năm 1945. Đó là tiếng cười ra nước mắt, gắn với những trạng huống bi kịch
thuộc về “phần xác” của con người: cái đói và miếng ăn. Tiếng cười có ý
nghĩa “khai tử và tái sinh”, gắn với “phần dưới” của con người ở Nam Cao đã
góp phần khẳng định tầm vóc của một nhà văn lớn.
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và sáng tác của họ còn
là những cái “mỏ” có nguồn trữ lượng dồi dào cho văn học nhà trường. Khó
mà thống kê cho hết tên các đề tài khóa luận, luận văn, luận án về họ đã được
các sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh thực hiện. Trong số đó, đề tài liên

quan đến khía cạnh trào phúng, hài hước chiếm tỉ lệ cao, như: Tiếng cười
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao; Bút pháp
trào phúng của Vũ Trọng Phụng; Đối sánh ngôn ngữ trào phúng trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan và tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng…
Giai đoạn 1945 - 1975, văn đàn Việt Nam vắng bóng cái hài. Quan
niệm thẩm mỹ của văn học thời chiến gắn với khuynh hướng sử thi trang
10
trọng. Sáng tác của các nhà văn cách mạng tập trung phụng sự nhiệm vụ
chính trị của đất nước. Về bộ phận văn học miền Nam, chúng ta chưa đầu tư
nghiên cứu được đầy đủ. Đâu đó trong các truyện ngắn, thấp thoáng tiếng
cười đôn hậu nhẹ nhàng của nhà văn Vũ Tú Nam, Nguyễn Khải.
Sau 1975, đặc biệt từ sau năm 1986, văn học Việt Nam có hiện tượng
“cười trở lại”. Thời kỳ này, văn xuôi đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc
vận động đổi mới của văn học dân tộc. Vai trò cách tân của văn xuôi đồng
thời được khẳng định với vị thế mới của cái hài. Nhiều thế hệ nhà văn đã chọn
tiếng cười như một phương tiện để khám phá cho hết các ngóc ngách, tầng
bậc của cái thế giới mới đang đầy biến động. Đầu tiên, phải kể đến những cây
bút có tuổi như Vũ Bão, Bùi Ngọc Tấn với giọng văn hài hước, hóm hỉnh mà
chua cay. Rồi những tên tuổi từng làm chấn động văn đàn dân tộc khi sử dụng
yếu tố dâm tục với tần suất khá cao như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài.
Rồi Đoàn Lê, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Quang Lập,…
Theo đó, các nghiên cứu về cái hài trong văn xuôi cũng xuất hiện ngày
càng phong phú. Nhiều bài viết về sáng tác của các tác giả đều có phần đề cập
đến yếu tố cái hài.
Bài “Vũ Bão và tiếng cười triết luận” của Hoài Nam đặt ra giả thiết:
“Hẳn ông muốn nối nghiệp tác giả của Số đỏ mà “đi tìm sự thật biết cười”, mà
khiêu vũ với chữ nghĩa, mà mang tiếng cười hài hước góp phần làm tươi tắn
cho một nền văn chương đã quá thừa sự nghiêm nghị” [35].
Bài “Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp” của Nguyễn Đăng Điệp
viết: “Có lẽ Vũ trọng Phụng là người có ảnh hưởng không nhỏ đến Nguyễn

Huy Thiệp (…). Chất đời thấm vào ngôn ngữ và khoảng cách tiếp cận suồng
sã trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng cũng như trong văn Nguyễn Huy Thiệp đã
góp phần tạo nên màu sắc giễu nhại trong giọng điệu của nhà văn. Những yếu
tố nghịch dị và giọng điệu giễu nhại một mặt giúp ta nhận thấy bản chất thật
11
của đời sống, mặt khác, tạo nên một không gian dân chủ về phương diện tinh
thần” [14].
Nguyễn Thị Thanh Nga trong bài “Yếu tố trào lộng trong văn xuôi Việt
Nam đương đại qua một số tác giả tiêu biểu” cho rằng: “Văn xuôi Việt Nam
đương đại tính từ sau 1975, ngoài vẻ đẹp và ý nghĩa nhân văn vĩnh cửu thì
tiếng cười trào lộng thi thoảng được lồng vào đó, mà đôi khi còn trở thành
cảm hứng chủ đạo…” [36].
Phạm Tuấn Anh trong bài “Hài hước phồn thực trong văn xuôi Việt
Nam sau 1975” cũng khẳng định: “Bắt nguồn từ truyền thống văn học, hài
hước phồn thực đã phô diễn thỏa sức và trở thành một phẩm chất thẩm mỹ
đặc sắc của văn xuôi Việt sau 1975” [1].
2.3. Những nghiên cứu về cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập
niên đầu thế kỷ XXI
Sáng tác của các nhà văn Đoàn Lê, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà,
Phan Thị Vàng Anh,… với sắc điệu đa dạng của cái hài tiếp tục được mến
mộ. Tuy nhiên, sự chú ý của dư luận cũng chỉ mới dừng lại ở các bài viết nhỏ
của một số nhà nghiên cứu văn học hoặc một số luận văn, khóa luận của học
viên, sinh viên trường đại học.
Nguyễn Việt Hà và Hồ Anh Thái là hai nhà văn được giới nghiên cứu
để ý nhiều khi đề cập đến phạm trù cái hài trong văn xuôi đương đại. Những
năm gần đây, sáng tác của họ đã thực sự trở thành đối tượng của các công
trình khoa học, nhưng cũng chưa đủ bề dày.
Các bài viết trực tiếp đề cập đến yếu tố cái hài trong truyện ngắn đương
đại mới chỉ gắn với việc khảo sát một tác giả hoặc tác phẩm cụ thể, chưa có
tầm bao quát rộng, kiểu như: “Cái hài và bi kịch người trí thức trong truyện

ngắn Vũ điệu của cái bô” (Nguyễn Thị Thúy Hằng), “Cái “lạ” trong truyện
ngắn Hồ Anh Thái” (Hỏa Diệu Thúy)…
12
Bài “Cái hài và bi kịch người trí thức trong truyện ngắn Vũ điệu của
cái bô” của Nguyễn Thị Thúy Hằng đã chỉ ra: “Sau 1975, đất nước chuyển
mình sang một giai đoạn mới. Đời sống hòa bình và sự khuyến khích phát
huy dân chủ của Đảng đã tạo điều kiện thuận lợi để ý thức cá nhân trỗi dậy.
Kinh nghiệm cá nhân được coi trọng đã “phục sinh” cảm hứng trào lộng
trong văn xuôi” [21].
Tác giả Hỏa Diệu Thúy trong bài “Cái “lạ” trong truyện ngắn Hồ Anh
Thái” viết: “Những chân dung nghịch dị, nghịch lý rất đông trong truyện ngắn
Hồ Anh Thái và xuất hiện ở cả mảng truyện trong nước đến mảng truyện nước
ngoài. Không chỉ sử dụng để diễn tả “cái tất yếu không thể hiểu được”, tác giả
còn nhằm bộc lộ thái độ hoặc để hài hước, giễu nhại, thậm chí phê phán, lên án
những tồn tại mặt trái của xã hội, những thói tật của con người, trong đó “có
mình” như một thái độ “tự phê bình”, tự kiểm điểm nghiêm khắc” [80].
Về tập truyện ngắn Của rơi của Nguyễn Việt Hà, tác giả Nguyễn Chí
Hoan cho rằng: một phần quan trọng năng lượng của những truyện ngắn này
“biểu hiện chủ yếu qua những phát ngôn trào lộng, dí dỏm, qua những motive
nhại rất bỡn cợt và thách thức” [15; 283].
Phạm Tuấn Anh trong luận án tiến sĩ Sự đa dạng thẩm mỹ của văn xuôi
Việt Nam sau 1975 cũng nhận thấy: “Cái hài trong văn xuôi Việt Nam sau
1975 có cả cái châm biếm, đả kích và cái hài hước ( ). Tuy nhiên, theo chúng
tôi, cái hài hước mới thực sự chứa đựng sự thay đổi sâu sắc, có tính bản thể
của tư duy nghệ thuật, tư duy văn hoá mới. Chính từ cánh cửa hài hước đã mở
ra những khả năng tương tác, chuyển hoá đa dạng của các phẩm chất thẩm mĩ:
đẹp - hài, bi - hài, cảm thương - hài…” [2; 156,157].
Nhìn chung, những thành quả nghiên cứu nói trên chưa bao quát được
vị thế chủ âm hết sức phong phú của cái hài trong truyện ngắn Việt Nam 10
năm đầu thế kỉ XXI, nhưng cũng là nguồn tư liệu tham khảo quý giá giúp

chúng tôi thực hiện đề tài này.
13
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI.
3.2. Phạm vi tư liệu khảo sát
Chúng tôi khảo sát toàn diện các truyện ngắn có yếu tố hài hoặc thể
hiện rõ cái hài được xuất bản trong khoảng 10 năm, từ 2000 đến 2010, đặc
biệt là truyện ngắn của các tác giả Vũ Bão, Bùi Ngọc Tấn, Ma Văn Kháng,
Đoàn Lê, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Phan Thị Vàng Anh
Vì điều kiện không cho phép, chúng tôi chỉ quan tâm đến các sáng tác
được đưa vào hai cuốn tuyển tập Văn mới 5 năm đầu thể kỷ và Văn mới 5
năm 2006-2010 cùng một số tuyển tập truyện ngắn của cá nhân các tác giả Hồ
Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Đoàn Lê, Phan Thị Vàng Anh.
Chúng tôi cũng khảo sát cả những tập truyện ngắn của một số tác giả
Việt Nam như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… hay của
các tác giả nước ngoài như Azit Nexin, V.Sucsin… để có tư liệu đối sánh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Tìm hiểu điều kiện phát triển của cái hài trong truyện ngắn Việt
Nam thập niên đầu thế kỷ XXI.
4.2. Làm sáng tỏ cái hài của truyện ngắn Việt Nam thập niên đầu thế kỷ
XXI từ phương diện đối tượng được miêu tả (những mâu thuẫn đáng cười
trong đời sống, trong nhân cách con người, trong thái độ ứng xử với tự nhiên,
xã hội…).
4.3. Phân tích những phương thức nghệ thuật đã được các nhà văn sử
dụng để tạo nên cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng
các phương pháp sau đây:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc.

14
- Phương pháp loại hình.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1. Điều kiện phát triển của cái hài trong truyện ngắn Việt Nam
thập niên đầu thế kỷ XXI
Chương 2. Đối tượng của cái hài trong truyện ngắn Việt Nam đầu
thế kỷ XXI
Chương 3. Các phương thức nghệ thuật thể hiện cái hài trong
truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XXI
15
Chương 1
ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN CỦA CÁI HÀI
TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
1.1. Tình trạng phát triển của cái lố lăng trong một xã hội “không
có vua”
Cuộc sống vốn chứa đầy mâu thuẫn: giữa cũ và mới, hình thức và nội
dung, đẹp và xấu Chính sự không tương khớp giữa các yếu tố này đã làm nảy
sinh cái hài. Trong văn học, cái hài được coi là một kiểu nhận thức cuộc sống.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, điều đầu tiên trong ba yếu tố tạo thành
cái hài là bản chất mang tính hài của đối tượng. Nói rõ ra, đó chính là môi
trường xã hội trong diện mạo của một tấn trò đời chứa nhiều nghịch cảnh trớ
trêu. Có thể mượn tên một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp để mô
tả tình trạng xã hội này: “không có vua”. Theo nhà nghiên cứu Lã Nguyên thì
đó “là trạng thái nhân thế đảo điên, thiếu vắng chuẩn mực giá trị, điểm tựa
tinh thần và vì thế mà sự sống trở nên vô nghĩa” [37].
Bước sang thế kỷ XXI, sự nghiệp đổi mới đã đi được một chặng đường.

Xã hội Việt Nam đã bước qua đoạn đầu của thời kì hậu chiến đầy cam go, đời
sống chính trị, kinh tế và văn hóa đang diễn tiến hết sức phức tạp.
Việc áp dụng cơ chế thị trường trong quản lý kinh tế đã mở ra thời cơ
lớn đan xen cùng những thách thức nghiệt ngã trên con đường phát triển. Việc
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để hướng tới hội nhập, toàn cầu hóa
cũng tiềm ẩn nhiều cạm bẫy. Đời sống kinh tế được nâng cao, internet giúp
con người cập nhật và kết nối thông tin trong mọi lúc, ở mọi nơi. Từ mô hình
quan liêu bao cấp bưng bít, xã hội chuyển sang thời kỳ mở cửa với sự trỗi dậy
mạnh mẽ của tinh thần dân chủ,… Tất cả đòi hỏi những dịch chuyển phù hợp
về cơ cấu, thể chế, quan hệ xã hội, nhu cầu và lối sống.
16
Việc lúng túng trong hoạch định đường lối sách lược, chiến lược của
nhà nước đã tạo ra nhiều nghịch cảnh: kinh tế bề ngoài có vẻ phồn thịnh
nhưng không có tính bền vững; sự phân hóa giàu - nghèo; đội ngũ chủ chốt là
trí thức và công chức không tìm thấy sự đảm bảo cuộc sống trong khu vực
công; khoa học chậm phát triển; giáo dục bị thương mại hóa, suy thoái về chất
lượng; gia tăng những tình huống gia đình xung đột, tan vỡ, tác động tiêu cực
đến sự hình thành nhân cách; …
Xã hội đã phải cảnh báo về sự suy đồi đạo đức, nạn bạo hành, tệ nói
dối, hiện tượng làm giàu bất chính, phi pháp, lợi dụng chức quyền và các kẽ
hở trong khâu quản lý vốn yếu kém của nhà nước. Đó là nguyên nhân dẫn tới
tình trạng bất công, dẫn tới tiêu cực, gây bất ổn xã hội và bất an cho chế độ.
Trước thực trạng cuộc sống như thế, suy nghĩ của con người cũng khác
đi. Những khái niệm to tát, thiêng liêng của thời “sử thi” ít được nhắc đến,
ngôn ngữ tuyên truyền trở nên sáo rỗng. Bên cạnh những nhân tố lành mạnh,
tích cực, đã xuất hiện những lệch lạc trong lối sống: thực dụng, hưởng thụ,
tôn thờ vật chất, cực đoan, vô cảm, cơ hội, đạo đức giả,… ở một bộ phận
nhân dân, trong đó có lớp trẻ, có cả quan chức và công chức thoái hóa. Một
bộ phận sống hoang mang, hoài nghi, không lý tưởng.
Theo Giáo trình Mỹ học đại cương, “xã hội loài người là vương quốc

của cái hài. Ở đâu có cuộc đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu thì ở đó có cái hài
xuất hiện. Mâu thuẫn xã hội, sự tan rã của kỉ cương, sự thống trị của quyền
lực là những nguyên nhân rất sâu xa làm xuất hiện cái hài trong cuộc sống
(…). Ở cuối mỗi hình thái xã hội, cái hài thường nở rộ để loài người từ giã
quá khứ một cách vui vẻ. Ở đầu thời kỳ mới đang lên, mọi sự vụng về, bỡ ngỡ
cũng tạo nên cái hài” [24; 178,179].
Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XX - đầu thế kỷ XXI đang bước sang một
thời kỳ mới, mọi sự còn “vụng về, bỡ ngỡ”. Cái mốc 1986 với những tiếng
17
đổi mới, cởi trói lần lượt được xướng lên, thức dậy khát vọng tự do trong sáng
tạo nghệ thuật của người nghệ sỹ. Và sáng tác của họ đã trở thành một bộ
phận quan trọng trong diện mạo mới của đất nước. Nhà văn thời đổi mới có
quyền được nói cái mình nghĩ, được viết cái mình thấy. Họ dấn thân trong
công cuộc tìm tòi cách thể hiện hiện thực, và đã chọn tiếng cười như một giải
pháp thỏa đáng. Tiếng cười trong văn học tồn tại qua nhiều cách diễn đạt: hài
hước, giễu nhại, trào lộng, trào tiếu, trào phúng…
1.2. Truyền thống thể hiện cái hài trong văn xuôi Việt Nam các thời
kỳ trước đó
Cái hài gắn với văn học Việt Nam ngay từ buổi sơ khai. Bùi Văn
Nguyên cho rằng: “Trong dòng văn học phong phú và không bao giờ cạn ấy có
một điều hiển nhiên là truyện vui cười bao gồm các loại truyện khôi hài, truyện
trào phúng và truyện tiếu lâm rất được quần chúng ưa chuộng. Nếu như truyện
cổ tích mô tả một cách linh động cuộc sống và ước mơ của người bình dân,
giúp họ suy nghĩ thêm về vận mệnh của mình thì truyện vui cười gây được
những ấn tượng mãi mãi không phai mờ về những màn kịch nhỏ trong đầu trò
đời qua các thời đại” [9]. Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chỉ xin đề cập đến
truyền thống thể hiện cái hài trọng văn xuôi Việt Nam hiện đại.
1.2.1. Cái hài trong văn xuôi 1930 - 1945
Như ở phần trên chúng tôi đã lưu ý: Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng
Phụng là hai cây bút tiêu biểu của văn xuôi trào phúng giai đoạn này. Đối

tượng của tiếng cười trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan hết sức đa dạng,
sắc độ của tiếng cười mang nhiều cung bậc, nghệ thuật trào phúng hết sức
linh hoạt, giàu cá tính. Văn Nguyễn Công Hoan được ví “như mũi tên nhằm
vào một loại đối tượng của xã hội”, là “loại văn tiễn đưa tất cả những gì lỗi
thời đi vào vương quốc của bóng tối” [19; 402]. Trong khi miêu tả xã hội cũ,
nhà văn chú trọng khắc họa mâu thuẫn cơ bản của thời đại: giữa kẻ áp bức và
18
người bị áp bức. Theo nhà nghiên cứu người Nga N.I.Niculin, để vạch trần
tính phi lý của tất cả những gì được chấp nhận trong cái xã hội Việt Nam
thuộc địa - phong kiến, “Nguyễn Công Hoan đã sử dụng toàn bộ vũ khí muôn
hình muôn vẻ của cái hài - từ cái cười thương hại anh chàng trẻ tuổi háo danh
trong Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báo… đến thái độ tởm lợm và phẫn
nộ trong Răng con chó của nhà tư sản hoặc Một tấm gương sáng” [19; 367].
Trong một số truyện ngắn như Cụ Chánh Bá mất giầy, Mất cái ví… tài dẫn
chuyện của nhà văn đã biến sự “thông cảm” dành cho nhân vật phản diện
thành cái cười mỉa mai đối với nhân vật đó. Cuối truyện, bao giờ cũng là một
kết cục bất ngờ, “như cái giỏ hom, nó bất ngờ đối với độc giả hệt như miệng
hom nhỏ mà kéo được con cá vào” [19; 368].
Nguyễn Công Hoan là người có khả năng nhận biết tinh tường và xử lý
rất hoạt mối quan hệ giữa những tình huống hài hước nhỏ nhặt với các vấn đề
xã hội quan trọng của thời đại. Nhan đề truyện Tinh thần thể dục nghe rất
trang trọng, nhưng thực chất câu chuyện lại là một màn bi hài kịch. Hay chuỗi
truyện Báo hiếu: trả nghĩa cha và Báo hiếu: trả nghĩa mẹ, tưởng sẽ nói
chuyện hiếu thảo, ân nghĩa, mà thực ra là chuyện đại bất hiếu. Chuyện Mất
cái ví thực chất là “trộm” cái ví; chuyện Cụ Chánh Bá mất giầy kể về một cụ
Chánh “ăn cắp” giầy…
Đọc truyện trào phúng của Nguyễn Công Hoan, ta gặp nhiều loại
người, thuộc nhiều tầng lớp xã hội, trong nhiều dáng vẻ, góc độ khác nhau,
nhưng ấn tượng nhất là các nhân vật phản diện. Ông ưa sử dụng thủ pháp
cường điệu, phóng đại, nhưng cũng rất khéo trong miêu tả ngoại hình nhân

vật chỉ với vài chi tiết rất đắt. Đây là chân dung một nghị viên ở nông thôn:
“Một người mặt mũi phương phi, cổ rụt, bụng phệ, môi trễ mà không râu,
mặc quần áo lụa, phe phẩy cái quạt…” [19; 414]. Đây là nhà tư sản: “cái bụng
phưỡn ra, nấp trong bộ quần áo xếp nếp cứng như cái hộp. Tóc bóng mượt,
19
nhẵn như cái gáo lĩnh úp trên đầu, không chịu kém vẻ đẹp với bộ ria sửa khéo
như vẽ. Miệng lúc nào cũng chực tóe ra một chuỗi cười… [43; 89,90]. Còn
đây là viên tri huyện: “Chà! Chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi có thằng dân
nào vô ý buột miệng nói ra một câu sáo rằng “nhờ bóng quan lớn” là ông
tưởng ngay nó xỏ ông. Tức thì mặt bàn là một, mặt nó là hai, bị vả đôm đốp”
[19; 414]. Không hề giống nhau, nhưng hình ảnh nào cũng gây cười, cũng
đáng ghét, cũng hé lộ cái bản chất tham ăn, đần độn, hoặc vênh vang tự đắc,
hoặc gian manh, hách dịch…
Tiếng cười trong văn Nguyễn Công Hoan còn bật lên qua lối ví von so
sánh độc đáo, những liên tưởng bất ngờ, thú vị: “Quan ngắm một lúc, hai
con mắt sáng quắc như hai ngọn đèn giời, khiến cho hai vợ chồng nhà hàng
bánh giò phải thất đảm” [43; 64] hoặc: “một cô xấu, nhưng tân thời, mặt
phấn má hồng, môi đỏ, rẽ lệch, chiếc áo căng lườn, trông tức anh ách, như
một bài thơ thất luật” [43; 50]. Có hình ảnh một bà phủ với khuôn mặt long
trọng như “chiếc bánh dầy đám cưới” (Đàn bà là giống yếu); hoặc một bà
chủ mà chỉ thoạt trông thì phải bảo là “một đống hai ba cái chăn bông cuộn
lại với nhau, sắp đem cất đi” nếu “chưa nom rõ cái mặt phị, cái cổ rụt, cái
thân nung núc, và bốn chân tay ngắn chùn chụt” (Phành phạch); hay một bà
phán trông như một cây thịt tuy hơi cổ thụ nhưng chưa có vẻ gì cằn cỗi (Cho
tròn bổn phận)…
Sử dụng yếu tố nhại cũng là một biệt tài của Nguyễn Công Hoan: nhại
thể văn hành chính, công vụ như trong Tinh thần thể dục; nhại văn cáo phó
trong Báo hiếu: trả nghĩa mẹ; nhại giọng hát tuồng trong Đào kép mới; nhại
giọng trí thức Tây học trong Cái ví ấy của ai…
Có thể nói, “chỉ với những truyện ngắn trào phúng cũng đủ xác nhận

một sức sáng tạo to lớn tuyệt vời ở Nguyễn Công Hoan. Đọc lại tác phẩm của
ông, không những chúng ta thấy hàng loạt bức tranh nhiều màu vẻ của xã hội
20
thực dân phong kiến… mà còn có dịp hiểu thêm cách nhìn, cách sử dụng
tiếng cười của nhà văn” [19; 420]. Tiếng cười như thế chính là vũ khí của cái
thiện, giúp phê phán, đẩy lùi, xóa bỏ những mặt tiêu cực trong cuộc sống.
Vũ Trọng Phụng là một cây bút trào phúng bậc thầy trong nền văn xuôi
hiện đại Việt Nam. Tiểu thuyết Số đỏ có thể giúp chúng ta kiểm nghiệm được
đánh giá này. Theo Mai Quốc Liên, Số đỏ từng được gọi là “tiểu thuyết vỉa
hè”, “tiểu thuyết đô thị”, “tiểu thuyết hoạt kê”, đồng thời cũng được xếp vào
tầm kiệt tác, “kỳ lạ, vô song” [84; 99].
Đối tượng trào phúng của Số đỏ là đời sống thành thị Việt Nam vào
giai đoạn đầu của xã hội hiện đại - những năm 30 của thế kỷ XX. Trong mắt
Vũ Trọng Phụng, có cả một “xã hội Số đỏ”, một “thế giới Số đỏ” với hàng
loạt cái “rởm”: Âu hóa rởm, cải cách rởm, tu hành rởm, khoa học rởm, nghệ
thuật rởm, luật pháp rởm… Đó là thói sính khoa học, “tiết hạnh” rởm của bà
Phó Đoan khi bà “mừng thầm rằng mình đã trót hư hỏng một cách có tính
chất khoa học”. Đó là những bài thơ của Xuân. Đó là những “bối rối” trong
gia đình cụ cố Hồng trước “hạnh phúc của một tang gia”…
Trong tác phẩm Số đỏ, “cái rởm được cường điệu, được biếm họa…
Nhưng không thể nói là Vũ Trọng Phụng ghét những nhân vật nhếch nhác, lố
bịch này; … và hài hước của ông đặc biệt khởi sắc, đặc biệt dí dỏm khi viết
về họ, từ Min Đơ, Min Toa, cụ cố, Typn, ông mọc sừng đến bà Phó Đoan,
Xuân tóc đỏ…” [84; 91]. Hoàng Ngọc Hiến, trong bài viết Dị ứng với cái
rởm - một phương diện của trào phúng Vũ Trọng Phụng đã cho rằng: “đó là
những biểu hiện của một cái nhìn đại trí”.
Ngôn ngữ trào phúng đặc sắc là một thành công của tiểu thuyết Số đỏ.
Đó là “một thứ ngôn ngữ “đầu đường xó chợ”, ngôn ngữ “bụi đời”… tương
ứng với cái mà Bakhtin gọi là “ngôn ngữ quảng trường” trong Rabelai và các
tác giả thời phục hưng Châu Âu - một thứ ngôn ngữ bị đuổi ra khỏi thứ ngôn

21
ngữ quý phái, salon, sách vở” [84; 104,105]. Đó chính là âm vang trung thực
của cuộc đời, dội lại thành tiếng cười nhại đa cung bậc có ý nghĩa phủ định cả
một xã hội nhố nhăng, lố bịch từ “Em chã” đến cụ Tổ, từ trí thức đến bình
dân, tăng ni đến cảnh sát… Có thể dẫn ra phản ứng cửa miệng của Xuân tóc
đỏ với cụm từ “mẹ kiếp!”: Mẹ kiếp! con với chả cái!; Mẹ kiếp! chữ với chả
nghĩa!; Mẹ kiếp! quần với chả áo!
Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên đã so sánh tiếng cười của Vũ Trọng
Phụng trong Số đỏ với tiếng cười của các tác giả văn học cùng thời như
Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ, Đồ Phồn, Lý Toét, Xã Xệ và kết luận đó là
“tiếng cười nằm sâu trong hệ hình văn học Việt Nam truyền thống, đồng thời
khác lạ, không giống ai, thời sự, mới mẻ hiện đại trong ngôn ngữ và trong cấu
trúc tác phẩm” [84; 104].
Không ầm ĩ, suồng sã và phổ rộng như tiếng cười trong Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng, cái cười trong sáng tác của Nam Cao “bị thu lại tới mức, nếu
còn có thể cười được, thì chỉ là nụ cười nhếch mép lạnh lùng” [84; 270] mang
màu sắc ảm đạm. Mỗi tác phẩm của Nam Cao chứa đựng một sự cắt nghĩa hài
hước về cuộc đời. Đọc Sống mòn, Đời thừa, Chí Phèo, Trẻ con không được
ăn thịt chó… ta thấy cuộc đời thật buồn cười, còn con người thật đáng thương
- đáng thương nhưng cũng rất đáng trọng ở cái ranh giới mong manh giữa bản
năng và ý thức, thể xác và tâm hồn, thú tính và nhân tính Nam Cao thường
viết về “cái đói” và “miếng ăn” như một ám ảnh nghệ thuật, cũng là đề tài
cười ra nước mắt.
Ngay đến chuyện ân ái đầy bản năng, Nam Cao vẫn như cười cợt: “Và
Thị Nở giật mình. Thị Nở mới kịp giật mình thì thằng đàn ông đã bám lấy
thị… Thị vùng vẫy để ra, thị mở mắt, thị tỉnh hẳn, thị nhận ra Chí Phèo. Thị
vừa thở, vừa vật nhau với hắn và hổn hển: “Ô hay… Buông ra… Tôi kêu…
Tôi kêu làng… Buông ra. Tôi kêu làng lên bây giờ!” Thằng đàn ông phì cười.
22
Sao thị lại kêu làng nhỉ? Hắn vẫn tưởng chỉ có hắn mới kêu làng thôi; sao

người ta lại kêu tranh của hắn, bỗng nhiên hắn la lên, kêu làng. Hắn kêu như
một kẻ bị đâm, vừa kêu vừa dằn người đàn bà xuống. Thị Nở trố mắt ngây ra
nhìn. Thị Nở kinh ngạc: sao hắn lại kêu làng nhỉ? Mà hắn vẫn chưa chịu thôi
kêu làng. Cũng may người quanh đây không có ai lại gì tiếng hắn: mà khi hắn
kêu làng thì không ai cần động dạng: họ lạu bạu chửi rồi lại ngủ; hắn kêu làng
cũng như người khác buồn, hát ngao. Đáp lại hắn, chỉ có lũ chó cắn xao lên
trong xóm” [11; 36,37]. Đây là biểu hiện của tiếng cười lưỡng trị trong lý
thuyết của Bakhtin: “nó vừa vui nhộn, hoan hỉ, vừa nhạo báng, chế giễu, nó
vừa phủ định vừa khẳng định, vừa khai tử vừa tái sinh”.
Hài hước nghịch dị là một “sở trường” của Nam Cao. Những hình
tượng quái đản trong Chí Phèo, Nửa đêm, Lang Rận… đều gắn với bi kịch
của thân phận con người. Đây là chân dung Thị Nở: “Cái mặt của thị thực là
một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề
ngang hơn bề dài, thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu hai má
nó phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn
nhiều hơn người ta tưởng trên cổ người. Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vửa đỏ,
vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh muốn chen lẫn nhau với những cái
môi cũng cố to cho không thua với cái mũi, có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt
nở như rạn ra. Đã thế thị lại ăn trầu thuốc, hai môi dày được bồi cho dày
thêm, cũng may quết trầu sánh lại, che được cái màu thịt trâu xám ngoách. Đã
thế những cái răng rất to lại chìa ra: ý hẳn chúng nghĩ sự cân đối chữa được
một vài phần cho sự xấu” [11; 33,34].
Đến cách đặt tên cho nhân vật của Nam Cao cũng thật nực cười: Chí
Phèo, Thị Nở, Lang Rận, Trạch Văn Đoành…
Nói đến tiếng cười trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, còn
phải nhắc đến Ngô Tất Tố. Ông vốn là con người nghiêm cẩn, mực thước
23
chốn cửa Khổng sân Trình, nhưng trong sáng tác vẫn thấp thoáng nụ cười
hóm hỉnh: cảnh “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, ậm ọe quan trường miệng thét loa”
trong Lều chõng; cảnh xôi thịt chốn đình trung trong Việc làng; chi tiết về bộ

râu một ông quan hay hành xử của một chị chàng con mọn trong Tắt đèn…
Tóm lại, dòng văn học hiện thực phê phán với nhiều cây bút tài năng đã
phơi trần tính chất “ba đào”, điên đảo của xã hội thực dân nửa phong kiến từ
các góc nhìn khác nhau. Trong đó, không thể phủ nhận vai trò của cái nhìn hài
hước, trào phúng. Cái hài trong văn xuôi hiện thực trước 1945 vừa tiếp thu, kế
thừa truyền thống cười từ truyện dân gian, vừa mang bản sắc hiện đại với
nhiều thủ pháp nghệ thuật đặc sắc.
Chúng tôi khá tỉ mỉ khi đề cập đến cái hài trong văn xuôi hiện thực giai
đoạn này, bởi nó sẽ tái xuất tân kỳ trong văn học thời kỳ đổi mới và sau đó
nữa, đánh dấu tính chất bước ngoặt của một thời đại xã hội mới.
1.2.2. Cái hài trong văn xuôi 1945 - 1975
Từ 1945 - 1975, văn học Việt Nam phát triển trong hoàn cảnh lịch sử
đặc biệt của đất nước: 30 năm chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ. Dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam, văn học tập
trung thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc. Những nguồn cảm hứng
lớn là yêu nước và căm thù giặc, tình đồng chí và tình quân dân. Nhân vật
trung tâm là người chiến sỹ. Văn học mang đậm khuynh hướng sử thi, thể
hiện chức năng tuyên truyền cổ động chính trị.
Diện mạo văn học kháng chiến được xây dựng bởi tên tuổi các nhà văn
- chiến sỹ của thời đại: Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn
Trung Thành, Nguyễn Thi, Nguyễn Khải… Họ say sưa ca hát non sông đất
nước, say sưa ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng với tư cách con người -
công dân nghiêm nghị, đầy lửa nhiệt tình.
Bởi vậy, tiếng cười hầu như vắng bóng trong văn học giai đoạn này.
Nếu có, đó thường là tiếng cười đả kích kẻ địch trong thơ trào phúng của Tú
24
Mỡ (Bút Chiến Đấu), Xích Điểu, Thợ Rèn… Văn xuôi hài hước đặc biệt
hiếm hoi. Thấp thoáng đâu đó nụ cười nhân hậu, cảm thông nhưng cũng rất
tinh quái trong văn Nguyễn Khải (ở những truyện như Đứa con nuôi, Mùa
lạc, Một trường hợp ly dị…); giọng diễu cợt thân tình, dân giã của Vũ Tú

Nam ở truyện Ông Bồng và một số truyện khác in trong tập Sống với thời
gian hai chiều
Có thể nói rằng ở giai đoạn 1945 - 1975, văn xuôi Việt Nam nói chung,
truyện ngắn Việt Nam nói riêng quá nghiêm nghị. Điều này hoàn toàn có thể
giải thích được và đáng cảm thông, nhưng dù sao sự thiếu vắng tiếng cười cần
được xem là một hiện tượng không tích cực. Hiện tượng đó làm cho sáng tác
trở nên đơn điệu, không nối mạch được với truyền thống cười rất phong phú
trong văn học Việt Nam, phần nào làm lụi tắt khả năng sáng tạo của một số
nhà văn có phong cách cười bẩm sinh như Nguyễn Công Hoan.
1.2.3. Cái hài trong văn xuôi 1975 - 2000
Trước 1986, khi cả đất nước đang phải loay hoay đối mặt với quá nhiều
vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống thời bình, thì văn học vẫn trên quán tính
sử thi, thưa thớt tiếng cười.
Từ 1986, văn học đã thực sự bước vào quỹ đạo đổi mới. Đổi mới toàn
diện và quyết liệt, nhưng nổi bật nhất là hoạt động lý luận, phê bình và sáng
tác. Sự đổi mới trong quan niệm về con người, về đời sống và về bản thân
văn học nghệ thuật đã mở ra trước mắt các nhà văn một bầu trời sáng tác
mới. Trong đó, văn xuôi là thể chủ đạo, xung kích. Theo nhà nghiên cứu văn
học hiện đại Lã Nguyên: “Giọng lu loa, sừng sộ, tiếng gầm gào cuộn réo
trong văn học thời đổi mới không thể cất lên thành tiếng hát. Cái vô lý, phi
lý, chất văn xuôi và vẻ đẹp của đời sống phồn tạp chỉ có thể hóa thân vào
tiếng cười trào tiếu, giễu nhại để văn học thế sự biến thành tiếng nói nghệ
thuật” [38].
25

×