Tải bản đầy đủ (.doc) (119 trang)

Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non huyện đông sơn, tỉnh thanh hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (542.47 KB, 119 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
LÊ THỊ MÙI
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON HUYỆN ĐÔNG SƠN,
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chon đề tài
Chúng ta đã biết, ngày nay phát triển giáo dục được thừa nhận như một
tiền đề quan trọng của sự phát triển tất cả các lĩnh vực của đất nước như chính
trị - kinh tế - an ninh - quốc phòng, xuất phát từ luận điểm: “Con người được
giáo dục tốt và biết tự giáo dục là động lực và mục tiêu của sự phát triển bền
vững của đất nước”. Giáo dục là một bộ phận hữu cơ, quan trọng nhất trong
chiến lược, qui hoạch, phát triển KT - XH, trong đó mục tiêu giáo dục phải
được xem là một trong những mục tiêu hàng đầu của sự phát triển “GD&ĐT
là chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai” (Nghị quyết TW4 - khoá 7). Để
phát triển xã hội, điều quan trọng hàng đầu là sự phát triển con người. Đảng ta
khẳng định: con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển. GD&ĐT có
chức năng phát triển xã hội chủ yếu thông qua phát triển con người mà con
người là giá trị cao nhất, giá trị sáng tạo mọi giá trị. Hiểu được tầm quan
trọng, nên Đảng và nhà nước ta nói chung và tỉnh Thanh Hoá nói riêng đến
nay cơ bản đã giải quyết được vấn đề thiếu GVMN. Tuy nhiên, ĐNGV vẫn
còn bất cập về cơ cấu, một số trường giáo viên trình độ tay nghề, năng lực sư
phạm của đội ngũ giáo viên không tương xứng với trình độ chuyên môn được
đào tạo và đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Đội ngũ GVMN hiện còn
gặp khá nhiều khó khăn, như điều kiện làm việc, CSVC, trang thiết bị dạy,
thời gian làm việc còn nhiều so với quy định, định biên số trẻ trên cô quá
đông nhưng giáo viên phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ. GDMN là


bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục Quốc dân, có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục trồng người, là nguồn
nhân lực cho tương lai của đất nước và phát triển nhân cách con người. Trong
thời đại hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhằm đáp
2
ứng nhu cầu của xã hội, hệ thống giáo dục đào tạo và định hướng nghề nghiệp
ở Việt Nam đang có nhiều đổi mới vượt bậc. Việc phát triển nguồn nhân lực
cao đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một chiến
lược quốc gia trong toàn bộ chiến lược phát triển GD&ĐT. Hệ thống giáo dục
nghề nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân
lực mà trọng tâm là việc nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn nhân lực.Vì
vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN là nhằm đổi mới và phát triển
GD&ĐT. Tại Đại hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định, mục tiêu
tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2011 - 2020 là: “Phấn
đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại;
chính trị - xã hội ổn định, đồng thuận, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng
lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, trước hết đòi hỏi chúng ta phải chú trọng
đến nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực đó phụ thuộc vào chất lượng giáo
dục của nền giáo dục Việt nam. Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng cộng sản Việt Nam
đã khẳng định: “Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu. Tập trung
nâng cao chất lượng giáo dục, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng
tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới căn bản nền giáo dục theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới
cơ chế quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”.
Đảng ta luôn xác định, trong phát triển giáo dục và đào tạo, đội ngũ giáo viên giữ vị
trí vô cùng quan trọng. Đội ngũ giáo viên là lực lượng tham gia trực tiếp và quyết
định chất lượng giáo dục. Vì vậy, các nghị quyết của Đảng luôn khẳng định và

nhận thức rõ vị trí, vai trò to lớn của đội ngũ giáo viên là yếu tố cơ bản mang tính
quyết định để hoàn thành mục tiêu phổ cập GDMN, đối với sự phát triển và đảm
3
bảo chất lượng đào tạo Chỉ thị số 40/2004/CT- TW, ngày 15/6/2004 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã nêu rõ: “Mục tiêu xây dựng đội ngũ
nhà giáo và CBQLGD được chuẩn hoá đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ
cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống, lương tâm, tay
nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có
hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực,
đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”.
Những năm gần đây, cùng với giáo dục cả nước nói chung, ngành giáo
GD&ĐT tỉnh Thanh Hoá nói riêng đang có những khởi sắc mới, xây dựng
ĐNGV và cán bộ quản lý GDMN đủ về số lượng, được đào tạo để giáo viên
đạt chuẩn, củng cố, mở rộng mạng lưới trường, lớp, bảo đảm nhu cầu gửi trẻ
tại các nhà trẻ, nhóm trẻ. CSVC các trường được nâng cấp, cải tạo và xây
mới, số trường lớp được xây dựng mới theo chuẩn quốc gia ngày càng tăng,
chất lượng GD&ĐT có tiến bộ rõ rệt. Song bên cạnh đó vẫn còn những mặt
tồn tại, yếu kém, bất cập cả về quy mô, cơ cấu và đặc biệt là hiệu quả
GD&ĐT chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi ngày càng cao về nguồn nhân lực
cho công cuộc hội nhập kinh tế, quốc tế. Vì vậy trong Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XV đã nêu rõ: “Phát huy truyền thống hiếu
học, cũng cố thành quả giáo dục đạt được, khắc phục những yếu kém trong
công tác quản lý giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT toàn diện”.
Nằm trong hệ thống GD&ĐT tạo chung của cả tỉnh nên GD&ĐT huyện
Đông Sơn cũng có đầy đủ những ưu điểm đã nêu trên. Bên cạnh những ưu
điểm đó, Giáo dục huyện Đông Sơn còn bộc lộ một số mặt hạn chế, yếu kém
cụ thể như sau:
- Chuyên môn nghiệp vụ còn yếu, còn nhiều bất cập về chất lượng, số
lượng và cơ cấu; chưa có sự đồng bộ, còn lạc hậu và chậm đổi mới, thiếu
động lực tự, chưa bắt kịp yêu cầu của đổi mới giáo dục.

4
- Kiến thức pháp luật còn nhiều hạn chế, tư cách đạo đức lối sống chưa
thực sự gương mẫu.
- Kỹ năng giảng dạy, nghiên cứu tài liệu còn nhiều hạn chế, khả năng
sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy còn rất thấp, chưa
thật sự phổ biến.
Những mặt yếu kém của ĐNGV nói trên xuất phát từ nhiều nguyên
nhân, có những nguyên nhân xuất phát từ bản thân ĐNGV nhưng cũng có
những nguyên nhân xuất phát từ việc quản lý chất lượng giáo viên của các
cấp quản lý giáo dục. Triển khai xây dựng ĐNGV còn chậm so với tiến trình
đổi mới giáo dục. Cơ quan quản lý các cấp chưa quan tâm đúng mức, còn
buông lỏng trong công tác giáo dục chính trị, đạo đức. Công tác thanh tra,
kiểm tra, xử lý vi phạm chưa thật sự nghiêm. Các chế độ chính sách khen
thưởng cho giáo viên chưa thật sự thoả đáng, kịp thời, đời sống của giáo viên
còn gặp rất nhiều khó khăn mặc dù tất cả các GVMN trong tỉnh đã được
hưởng biên chế theo quyết định số 402/2012/QĐ - UBND ngày 09/02/2012
(Định biên số cháu/lớp/cô theo quyết định 1687/QĐ - UBND ngày 05/6/2012
quá đông nên quá vất vả).
Trước yêu cầu đổi mới căn bản giáo dục, nâng cao chất lượng giảng
dạy. Nên trong giai đoạn tiếp theo chúng ta cần phải nghiên cứu, quy hoạch
và có kế hoạch cụ thể đào tạo đội ngũ GVMN ngang tầm với nhiệm vụ đặt ra
của sự nghiệp giáo dục. Vì vậy để nhằm nâng cao đồng bộ chất lượng ĐNGV
chúng ta cần phải quan tâm đến chất lượng ĐNGV, đồng thời chúng ta cần
phải quan tâm hơn nữa về đời sống, tinh thần, vật chất, thời gian làm việc của
giáo viên để họ yên tâm công tác, tôi thiết nghĩ có được sự quan tâm đúng
mức, kịp thời như vậy thì hiệu quả GD&ĐT sẽ đạt được là rất cao.
Điều đó đặt ra cho giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục tỉnh
Thanh Hoá nói riêng những vấn đề: Đổi mới tư duy về giáo dục, đổi mới nội
5
dung và phương pháp giáo dục, giáo dục suốt đời và phổ cập CNTT, HĐH

giáo dục, học tập thường xuyên và học tập suốt đời.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên mầm non huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa” để
nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học, tính khả thi để nâng
cao chất lượng đội ngũ GVMN huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, từ đó đua
ra giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN trong giai đoạn hiện nay.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN huyện Đông
Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp có cơ sở khoa học và có
tính khả thi thì có thể nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN huyện Đông Sơn,
tỉnh Thanh Hóa.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
GVMN.
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
GVMN huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN
huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

6
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây

dựng cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực
tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Để xử lí các số liệu các kết quả nghiên cứu, trên cơ sở đó có nhận định,
đánh giá đúng đắn, chính xác các kết quả nghiên cứu.
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về mặt lí luận
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng ĐNGV nói
chung, đội ngũ GVMN nói riêng.
7.2. Về mặt thực tiễn
Làm rõ thực trạng chất lượng đội ngũ GVMN huyện Đông Sơn, tỉnh
Thanh Hóa, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
GVMN huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

7
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên mầm non.

- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
giáo viên mầm non huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
mầm non huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
8
Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin thì con người vừa
là điểm khởi đầu vừa là sự kết thúc, là trung tâm của sự biến đổi lịch sử, là
chủ thể chân chính của quá trình xã hội. Người thầy giáo trong đội ngũ nhà
giáo với tư cách là chủ thể trong đổi mới GD&ĐT yêu cầu cần phải giỏi về
chuyên môn, nghiệp vụ, tâm huyết với nghề, tận tụy với công việc, có sức
khoẻ và đạo đức tốt.
Trên phương diện nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục, các nhà xã
hội học, đặc biệt là giáo dục học đã có nhiều công lao to lớn trong việc nghiên
cứu, hoàn chỉnh hệ thống lý luận về công tác quản lý xã hội nói chung trong
đó có hệ thống lý luận về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên nói riêng.
Hiện nay các công trình nghiên cứu về phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên
là một trong những nội dung vô cùng quan trọng và không thể thiếu được
trong công tác QLGD.
Các nhà nghiên cứu QLGD của Liên Xô trước đây (ngày nay là Liên
bang Nga) cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất
nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội
ngũ giáo viên”.
V.A Xu-khôm-lin-xki (1984) đã khẳng định: “Một trong những giải
pháp hữu hiệu nhất để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là

phải bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, phát huy được tính sáng tạo trong lao động
của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết
lựa chọn giáo viên bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành
9
những giáo viên tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng những biện pháp khác
nhau”. Một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mà tác giả
quan tâm thường xuyên tổ chức hội thảo chuyên môn nghiệp vụ qua đó giáo
viên có điều kiện trao đổi và đúc rút kinh nghiệm, học hỏi đồng nghiệp, trau
rồi kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ, lý luận của
mình.
V.A Xu-khôm-lin-xki và Xvec-xle-rơ còn nhấn mạnh đến biện pháp dự
giờ, phân tích bài giảng, sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn… Trong cuốn “Vấn
đề quản lý và lãnh đạo nhà trường” V.A Xu-khôm-lin-xki đã nêu rất cụ thể
cách tiến hành dự giờ và phân tích bài giảng giúp cho thực hiện tốt và có hiệu
quả giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Do đó yêu cầu về cơ cấu
lại đội ngũ giáo viên để phù hợp và thích ứng với sự thay đổi trở thành áp lực
thường xuyên. Khi bàn về các điều kiện cơ bản nhất để phát triển giáo dục
như môi trường kinh tế giáo dục, chính sách và công cụ thể chế hóa giáo dục,
CSVC kỹ thuật và tài chính giáo dục, đội ngũ giáo viên và người học thì các
nhà nghiên cứu của nhiều nước đều khẳng định giáo viên là điều kiện cơ bản
nhất và quyết định sự phát triển của nền giáo dục. Chính vì thế mà nhiều quốc
gia đã đi vào cải cách giáo dục, phát triển giáo dục thường bắt đầu bằng con
đường phát triển ĐNGV.
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục, dựa trên cơ cở lý
luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà
xã hội học và đặc biệt các nhà giáo dục học đã tiếp cận hệ thống lý luận quản
lý giáo dục và quản lý nhà trường chủ yếu dựa vào nền tảng của lý luận giáo
dục học. Hầu hết các tác phẩm về giáo dục học của các tác giả trong nước
thường có một chương về quản lý trường học, các công trình tiêu biểu đều có

đề cập tới chất lượng ĐNGV. Vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV mầm non
10
đã có một số công trình nghiên cứu và cũng đã khẳng định chất lượng ĐNGV
là điều kiện quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục. Tuy nhiên chưa
có công trình nghiên cứu nào đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo một cách
toàn diện và sâu sắc. Mặc dầu các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được
một số giải pháp cơ bản, song còn chưa đầy đủ, chưa có tính hệ thống và
mang tính chiến lược để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Hiện nay,
nước ta đang trên đà phát triển CNH, HĐH tiến hành sự nghiệp đổi mới và
phát triển giáo dục. Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra cho giáo dục những cơ hội
và thách thức mới. Giáo dục ở nước ta nói chung và GDMN nói riêng đã đi
vào chiều sâu và được triển khai có bài bản trên quy mô lớn, trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. ĐNGV là người trực tiếp truyền đạt những kỹ năng
sống, kiến thức cho học sinh chính vì vậy hoạt động của giáo viên trong quá trình
giáo dục quyết định đến kết quả, quá trình học và hình thành nhân cách của học
sinh.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng công tác phát triển
giáo dục về mọi mặt và là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, phát
triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cả về chất lượng lẫn số
lượng. Nhận thấy rõ được tầm quan trọng của người thầy giáo trong quá trình phát
triển giáo dục, người thầy đào tạo ra những nhân lực có tài, có đức cho đất nước để
tạo điều kiện tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, thời gian qua, Đảng
và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều Chỉ thị, Nghị quyết đúng đắn, kịp thời, để chỉ đạo
tăng cường công tác xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học, nhà
nghiên cứu cụ thể như sau:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khóa
IX ) đã đề cập: “ Tập trung chỉ đạo để nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục và
đào tạo mà giải pháp then chốt là đổi mới và nâng cao năng lực quản lý Nhà
nước trong giáo dục và đào tạo” [13].
11

Sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Chính
phủ đã đề ra 8 giải pháp lớn để thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển giáo
dục 2011-2020 tiếp nối là: (1) Đổi mới quản lý giáo dục; (2) Phát triển đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; (3) Đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục; (4) Tăng nguồn lực
đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục; (5) Tăng cường gắn đào tạo với
sử dụng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu xã
hội; (6) Tăng cường hỗ trợ phát triển giáo dục đối với các vùng khó khăn, dân
tộc thiểu số và đối tượng chính sách xã hội; (7) Phát triển khoa học giáo dục;
(8) Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục; trong đó giải
pháp (1) là giải pháp đột phá và giải pháp (2) là giải pháp then chốt; Trong
mỗi giải pháp lớn đều có các chỉ tiêu cụ thể và chi tiết cần đạt được tương
ứng.
Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng về việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
CBQL giáo dục tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và
CBQL giáo dục là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
được chuẩn hóa, đảm báo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu; đặc
biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay
nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có
hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao nguồn nhân lực, đáp ứng đòi hỏi
ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [1].
- Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành TW Đảng khóa IX về tiếp tục thực
hiện Nghị quyết TW 2 khóa VIII nhấn mạnh xây dựng và triển khai chương
trình “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn
diện”. Báo cáo của Bộ chính trị tại Hội nghị lần thứ 6 BCH TW khóa IX nêu
rõ: “Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ CBQL đủ sức đủ tài cùng với đội
12
ngũ nhà giáo và toàn xã hội chấn hưng nền giáo dục nước nhà” và “Chú trọng
việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống của nhà giáo” [14].

- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI một lần nữa đã khắng định “Phát
triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục
Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội
nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ
giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [15]. Nội dung văn kiện "phần
IV- Định hướng phát triển KT-XH, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại
nền kinh tế” mục 9 đã nêu “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới
toàn diện và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”: Phát triển và nâng cao
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến
lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển ứng dụng khoa học, công nghệ,
cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh
quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. đặc biệt
coi trọng phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị
doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu
đàn. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ
và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề [15].
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành văn bản dưới luật như: Điều
lệ trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở Đây là những văn bản quy
phạm pháp luật chỉ đạo hoạt động thống nhất của hệ thống giáo dục quốc dân,
đồng thời giúp đội ngũ giáo viên thực hiện có hiệu quả công tác của mình và
cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi, đạt
được những kết quả khả quan như: Cẩm nang công tác GDMN giai đoạn 2010 -
2015, do Nguyễn Hà Thanh sưu tầm và tuyển soạn (2010), nhà xuất bản lao
động [18].
“Tiếp tục đổi mới công tác QL, nâng cao chất lượng CSGD trẻ” của
13
TS. Lê Minh Hà (2011), Vụ GDMN [16].
“Chương trình GDMN - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS.
Trần Thị Ngọc Châm [09].
“Hoạt động sáng kiến kinh nghiệm của trường MN” của TS. Nguyễn

Thị Thanh Hà (2011) [17].
Giáo trình nghề giáo viên mầm non của tác giả Hồ Lam Hồng [23].
Đặc biệt, một số tác giả chuyên ngành QLGD và CBQL giáo dục đã
nghiên cứu các giải pháp quản lý nâng cao chất lượng GDMN.
Tùy các mức độ khác nhau, tất cả các đề tài khoa học, các dự án nêu
trên đều đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên.
Đối với huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, ngoài những văn bản, chỉ thị, đề
án mang tính chủ trương, đường lới của huyện về các giải pháp nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên thì chưa có tác giả nào nghiên cứu vần đề này. Vậy làm thế nào
để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non huyện Đông Sơn, đó là điều hết
sức trăn trở cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc, từ đó chúng tôi quyết
định chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
mầm non huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá”.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giáo viên và đội ngũ giáo viên mầm non.
1.2.1.1. Giáo viên.
- Điều 70 luật giáo dục 2005, quy định đối với nhà giáo: “ Nhà giáo là
những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo
dục khác Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên”[28].
- Theo Từ điển tiếng Việt – NXB Khoa học xã hội – Hà Nội, định nghĩa:
Giáo viên (danh từ) là người dạy học ở bậc học phổ thông hoặc tương đương”
[40].
14
Từ đó, GVMN: Điều 29, điều 30, điều 31 của Điều lệ trường mầm non
quy định vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của GVMN như sau: Giáo viên là người
làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong trường [07].
1.2.1.2. Đội ngũ giáo viên mầm non.
Đội ngũ: Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học nêu khái niệm “Đội
ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức năng nghề nghiệp thành một

lực lượng” tuy nhiên khái niệm đội ngũ sử dụng rộng rãi trong các tổ chức
như đội ngũ cán bộ công nhân viên, đội ngũ cán bộ khoa học, đội ngũ thợ cơ
khí… Khái niệm đội ngũ được xuất phát từ thuật ngữ quân sự, đó là tổ chức
gồm có nhiều người tập hợp thành một lực lượng hoàn chỉnh. Vì vậy, đội ngũ
có thể được hiểu là tập hợp một số người có cùng chức năng, nhiệm vụ và
nghề nghiệp. Tuy các quan niệm về đội ngũ có khác nhau nhưng chúng đều
thống nhất ở chỗ đội ngũ là tập hợp một số người thành một lực lượng, thực
hiện một hay một số chức năng, nhiệm vụ nhất định để đem về kết quả cụ thể
nào đó.
Đội ngũ giáo viên mầm non: Đội ngũ GVMN là tập thể giáo viên làm
nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ
thực hiện chương trình giáo dục mầm non. Đội ngũ GVMN là một bộ phận
rất quan trọng trong một tập thể sư phạm của trường mầm non; là lực lượng
chủ yếu để tổ chức quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục học sinh. Trong
nhà trường, chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục học sinh đạt hiệu quả
cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ giáo viên.
1.2.2. Chất lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non.
1.2.2.1. Chất lượng
Theo từ điển Tiếng Việt, chất lượng là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị
của một con người, một sự việc, sự vật” [20; tr.01], hoặc là “cái tạo nên bản
chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” [ 20; tr.01].
15
Theo TCVN ISO 8402: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một
thực thể (đối tượng), tạo cho thực thể đó có khả năng thoả mãn những nhu
cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”. Vậy chất lượng là một khái niệm mang
tính tương đối, mỗi vị trí khác nhau người ta thường đánh giá chất lượng ở
các khía cạnh khác nhau.
1.2.2.2. Chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non.
Chất lượng ĐNGV mầm non có rất nhiều định nghĩa phổ biến như sau:
Chất lượng giáo dục mầm non được thể hiện với đặc trưng sản phẩm là con

người có thể hiểu là các phẩm chất, giá trị nhân cách, năng lực sống và hoà
nhập với đời sống xã hội, giá trị sức lao động năng lực hành nghề của người
giáo viên tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng bậc học ngành học trong
hệ thống giáo dục quốc dân.
- Chất lượng đội ngũ GV được thể hiện cụ thể ở những mặt như sau:
+ Về phẩm chất
+ Trình độ
+ Năng lực của giáo viên
- Số lượng cơ cấu đội ngũ.
1.2.3. Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
mầm non
1.2.3.1.Giải pháp
Theo Từ điển tiếng Việt, “giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn
đề cụ thể” [ 39; tr 387].
Còn theo Nguyễn Văn Đạm, “giải pháp là toàn bộ những ý nghĩ có hệ
thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục
một khó khăn” [12; tr 325].
Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt nó với một
số khái niệm tương tự như phương pháp, biện pháp. Điểm giống nhau của
16
các khái niệm là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một
công việc, một vấn đề. Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn
mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn
mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc
có mục đích.
Theo Nguyễn Văn Đạm, phương pháp được hiểu là trình tự cần theo
trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đích
nhất định” [12; tr 325].
Giải pháp có nghĩa là chỉ , vạch ra con đường để đi tới được cái “đích”
mình cần đến hay mục tiêu mong đợi,giải pháp tốt thì đến đích nhanh an toàn

giải pháp không phù hợp có thể không đến được đích mà ta mong muốn
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái
niệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này
là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó
khăn nhất định. Trong một giải pháp có thể bao gồm nhiều biện pháp.
1.2.3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV là hệ thống các cách thức đổi
mới tổ chức, điều khiển hoạt động nâng cao chất lượng ĐNGV nhằm làm cho
hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn.
Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV thực chất là
đưa ra các cách thức đổi mới tổ chức, điều khiển hoạt động nâng cao chất
lượng ĐNGV nói chung, đội ngũ GVMN nói riêng.
1.3. Người giáo viên mầm non trong bối cảnh hiện nay
1.3.1. Vị trí, vai trò của người giáo viên mầm non
1.3.1.1. Vị trí của người giáo viên mầm non
Theo Mạnh Tử đứng trên quan điểm xã hội học, bản chất con người:
“Nhân chi sơ, tính bản thiện. Tính tương cận, tập tương viễn”. Nghĩa là, con
17
người khi mới sinh ra bản chất vốn lương thiện, nhưng khi lớn lên, do môi
trường sống khác nhau mà tính cách cũng khác nhau.
Tuân Tử thì dựa trên quan điểm tiến hóa, không đồng ý với ý kiến trên
ông cho rằng: “Nhân chi sơ, tính bản ác. Lý tính hậu, lai tập đắc.” ý là con
người lúc mới sinh ra còn mang những đặc điểm của động vật nên bản chất
hung dữ và độc ác, nhưng lớn lên do được học tập mà có lý trí, biết được
đúng sai, phải trái. Tuy quan điểm về con người có chỗ khác nhau nhưng học
thuyết của hai nhà Đại Nho gia lại cùng gặp nhau ở một điểm, đó là họ cùng
khẳng định ví thế vô cùng to lớn của giáo dục trong việc hình thành nhân cách
con người.
Từ những quan điểm đó ta nhận thấy giáo dục không chỉ là việc cung
cấp, bồi dưỡng tri thức, kĩ năng hay nâng cao năng lực con người, mà hơn hết

mục tiêu chính quan trọng nhất của giáo dục không gì khác chính là “dạy cách
làm người”, giúp con người bồi dưỡng tâm hồn và rèn giũa nhân cách, hoàn
thiện bản thân, có như vậy con người mới có thể phát triển tàn diện được.
Mục tiêu ấy của giáo dục không phải có thể hoàn thành một cách nhanh
chóng trong một sớm một chiều mà nó là cả một quá trình dài thưc hiện theo
những cấp độ khác nhau, từ khi trẻ được sinh ra cho đến hết cập học phổ
thông hoặc cao hơn nữa. Trong đó tập trung chủ yếu ở các cấp học Mầm Non,
Tiểu học và Phổ Thông cơ sở và tất nhiên khâu quan trọng nhất, cũng là nền
tảng cho việc hình thành những kĩ năng đầu tiên với cuộc sống, tạo dựng
những nền tảng căn sơ cho nhân cách sau này của trẻ chính là ở trường Mầm
Non cơ sở. Và cũng chính bởi vậy mà chưa khi nào người thầy, người cô hay
người quản lý lại chiếm một vị trí, đóng một vai trò quan trọng trong sự
nghiệp giáo dục như lúc này. Bởi lẽ đây là thời kỳ quan trọng nhất của trẻ khi
các em mới chập chững làm quen với xã hội bên ngoài sự bao bọc của gia
18
đình. Đây cũng là thời kỳ tiên quyết giúp trẻ chuẩn bị những hành trang đầu
tiên để bước vào đời sau này.
Người giáo viên, quản lý trong công tác nuôi dạy trẻ như đã nói không
thể hiểu theo một nghĩa thông thường. Họ là những người gánh trên vai trách
nhiệm nặng nề nuôi dạy những mầm non tương lai của đất nước. Người
GVMN không đơn giản là một người thầy mà còn là một người cha người mẹ
lo toan cho lũ con nhỏ từng bữa cơm, giấc ngủ. Họ thực sự trở thành một ẩm
thực gia khi phải tính toán sao cho mỗi bữa cơm của trẻ thật đảm bảo vệ sinh
và dinh dưỡng. Khi trẻ khóc họ là những người mẹ hiền vỗ về, an ủi động
viên. Đôi khi họ hóa thân thành những cô tiên trong truyện cổ tích mang đến
cho các con nhỏ của mình tình yêu thương và tấm lòng nhân ái, những lúc
như vậy họ thật chẳng khác gì những diễn viên tài năng mà có khi còn hơn thế
nữa. Các diễn viên diễn theo kịch bản còn họ, họ diễn bằng tình yêu thương
dành cho lũ con nhỏ của mình. Có lúc họ lại trở thành những họa sĩ tài năng
hay những ca sĩ có chất giọng mượt mà, những vũ công múa những điệu múa

dân gian uyển chuyển. Tất cả những con người ấy đều tồn tại trong một
GVMN, có thể trong mắt mọi người không tài năng nào của họ có thể trở
thành chuyên nghiệp, nhưng đối với trẻ đó là chuẩn mực tuyệt vời nhất để
chúng noi gương và học tập, bắt chước theo. Chính điều đó đã khẳng định vai
trò của những người quản lý, những GVMN với sự nghiệp giáo dục nói chung
và công tác chăm sóc nuôi dạy trẻ nói riêng.
Là người con của dân tộc Việt Nam, ai cũng hiểu và tôn vinh tầm quan
trọng, vị trí của người giáo viên, đặc biệt là người GVMN. Người công an
trên mặt trận phòng chống tội phạm, người lính thì ở trên mặt trận tiền tuyến,
còn người giáo viên lại là người chiến sỹ ở mặt trận tư tưởng văn hoá truyền
đạt cho học sinh về truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, nhân cách
văn hoá đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và dạy cho các em những tri thức
19
khoa học, kỹ năng sống tự lập, kỹ năng phát triển nghề nghiệp bước vào đời
với những bước đi tự tin, vững chãi. Là nền tảng đầu tiên trong hệ thống giáo
dục. Mục tiêu của GDMN là chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ 0 - 6 tuổi giúp
trẻ phát triển toàn diện về 5 lĩnh vực: Thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm kĩ
năng xã hội, thẩm mĩ. Hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, và
chuẩn bị những tâm thế tốt nhất cho trẻ trước khi bước vào học trường phổ
thông. Hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lý, năng lực
phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa
tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho
việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học suốt đời.
1.3.1.2. Vai trò của người giáo viên mầm non
Trong bối cảnh hiện nay, giáo viên là người trực tiếp tổ chức quá trình
dạy học trên lớp và quá trình giáo dục theo nội dung chương trình của Bộ
GD&ĐT với phương pháp sư phạm nhằm đạt mục tiêu giáo dục của các cấp
học và của nhà trường, đồng thời người giáo viên là lực lượng quyết định đến
chất lượng giáo dục. GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và

thẩm mỹ cho trẻ em. Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình
chăm sóc GDMN sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của
trẻ. Do vậy, phát triển GDMN, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là
yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất
nước.
Chức năng của người giáo viên nói chung và người GVMN nói riêng
gồm có 3 chức năng sau:
- Chức năng của một nhà sư phạm: Đây là chức năng cơ bản vì chức
năng này thể hiện ở phương pháp dạy học và giáo dục học sinh của người
giáo viên. Vì vậy để thực hiện tốt chức năng này thì người giáo viên phải biết
20
tổ chức đúng đắn quá trình nhận thức, quá trình hình thành những phẩm chất
và năng lực cần thiết cho học sinh.
- Chức năng của một nhà khoa học: Nghiên cứu nội dung, phương pháp
trong quá trình dạy học và đúc rút được kinh nghiệm, đề xuất được những
sáng kiến hay nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
- Chức năng của nhà hoạt động xã hội: Người giáo viên không những
phải tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội mà người giáo viên còn phải
biết tổ chức cho các cháu tham gia các hoạt động xã hội.
GVMN xuất hiện ngay từ giai đoạn sơ khai của nền giáo dục nước nhà,
ở bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử GVMN cũng là bộ phận đông đảo nhất, gần
gũi, gắn bó mật thiết với nhân dân. Trong tâm trí mọi lứa tuổi thì cộng đồng
dân cư, hình ảnh người thầy để lại dấu ấn sâu đậm thường là hình ảnh người
giáo viên thuở khai trí con đường học vấn, sự nghiệp của chúng ta.
Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền
móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ của trẻ em. Khi chúng ta nói đến
yếu tố hàng đầu quyết định đến chất lượng giáo dục là chúng ta đang nói đến
đội ngũ giáo viên. Nhận thấy GDMN là bậc học đặt nền tảng cho hệ thống
giáo dục quốc dân, người giáo viên đây không chỉ truyền đạt kiến thức cơ
bản, tổng hợp cho học sinh mà còn là người định hướng, hình thành các giá trị

tài trí, đạo đức, hình thành nhân cách, tạo kỹ năng sống cho thế hệ trẻ trước
khi bước vào đời. Lời nói, hành động, cuộc sống lao động sư phạm của người
GVMN có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của các em học
sinh.
Từ đó chúng ta có thể xác định được vai trò của GVMN:
+ GVMN là nhân tố quan trọng trong việc phát triển bậc mầm non trở
thành bậc nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, tạo điều kiện cơ bản nâng
21
cao dân trí và trang bị những cơ sở ban đầu hết sức quan trọng trong việc hình
thành và phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam trong tương lai.
+ GVMN giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát
triển nhân cách trẻ, quyết định sự phát triển đúng hướng của trẻ, ấn tượng đẹp
về người GVMN mãi giữ trong ký ức của các trẻ. Trẻ mầm non tiềm ẩn nhiều
khả năng phát triển, song do chưa có kinh nghiệm chọn lọc về cuộc sống nên
trẻ tiếp thu không chọn lọc được cái gì tốt, cái gì xấu trong xã hội. GVMN là
người có uy tín, là “thần tượng” đối với trẻ. Lời cô là sự thuyết phục, cử chỉ
của cô là mẫu mực, cuộc sống lao động của cô là tấm gương với các em.
+ Để phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý học và nét truyền thống từ
xưa đến nay, mỗi lớp mầm non chủ yếu có một giáo viên làm chức năng “Ông
thầy tổng thể” tương ứng với cả một ê kíp giáo viên bậc học khác. Do đặc thù
của ngành học mầm non như vậy, nên GVMN là nhân tố quyết định về chất
lượng của mỗi lớp mầm non của từng học sinh mầm non. Vì vậy, GVMN
phải được tuyển chọn, sàng lọc, đào tạo bồi dưỡng theo tiêu chuẩn đạo đức,
tác phong chuyên môn, nghiệp vụ do Nhà nước quy định.
1.3.2. Yêu cầu về phẩm chất, năng lực đối với người giáo viên mầm
non.
1.3.2.1 Yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.
- Nhận thức tư tưởng chính trị, thực hiện trách nhiệm của một công dân,
một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc:
Tham gia học tập, nghiên cứu các Nghị Quyết của Đảng, chủ trương

chính sách của Nhà nước.
Yêu nghề, tận tụy với nghề, sẵn sàng khắc phục khó khăn để hoàn thành
tốt nhiệm vụ.
Giáo dục trẻ yêu thương, lễ phép với người lớn tuổi, thân thiện với bạn
bè và biết yêu quê hương.
22
Tham gia đầy đủ các hoạt động để xây dựng quê hương đất nước góp
phần phát triển đời sống kinh tế, văn hoá cộng đồng.
- Chấp hành pháp luật, chính sách của nhà nước:
Chấp hành các quy định của pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước. Thực hiện các quy định của địa phương. Vận động gia đình và
mọi người xung quanh chấp hành tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của
Nhà nước, các quy định của địa phương.
- Chấp hành tốt các quy định của ngành, của Nhà trường:
Tham gia đóng góp xây dựng và thực hiện nội quy hoạt động của nhà
trường.
Thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công.
Chấp hành kỷ luật lao động, chịu trách nhiệm về chất lượng chăm sóc,
giáo dục trẻ ở lớp mình phụ trách.
- Có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo,
có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp.
Sống trung thực, lành mạnh, giản dị, gương mẫu, được người dân tín
nhiệm và trẻ yêu quý.
Luôn tự học phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị,
chuyên môn, nghiệp vụ, thường xuyên rèn luyện sức khoẻ.
Không có các biểu hiện tiêu cực trong cuộc sống, trong công tác chăm
sóc, giáo dục trẻ.
Không vi phạm về các hành vi nhà giáo không được làm.
- Trung thực trong công tác, đoàn kết hòa nhã trong quan hệ với đồng
nghiệp, tận tình trong công tác chăm sóc trẻ.

Trung thực trong báo cáo kết quả chăm sóc, giáo dục trẻ và trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ được phân công.
23
Đoàn kết với mọi thành viên trong trường, có tinh thần hợp tác với đồng
nghiệp trong các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ.
Có thái độ đúng mực và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cha mẹ trẻ.
Chăm sóc, giáo dục trẻ bằng tình thương yêu, sự công bằng và trách
nhiệm của nhà giáo.
1.3.2.2. Yêu cầu về trình độ, kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ:
- Yêu cầu về trình độ tào tạo:
- Yêu cầu về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ.
Hiểu biết về đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi mầm non, Trẻ khuyết tật, mục
tiêu, nội dung chương trình GDMN.
- Kiến thức về chăm sóc sức khoẻ cho trẻ lứa tuổi mầm non.
Hiểu biết về an toàn, phòng tránh và sử lý ban đầu các tệ nạn thường
gặp ở trẻ. Có kiến thức về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và giáo dục kỹ
năng tự phục vụ cho trẻ. Hiểu biết về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm,
giáo dục dinh dưỡng cho trẻ.
Các kiến thức về chuyên ngành như: Phát triển thể chất, phát triển
nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mỹ, phát triển tình cảm xã
hội
- Kiến thức về phương pháp giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non …
Thực hiện tốt các chuyên đề trong năm do trường và phòng mở.
Tích cực dự giờ, rút kinh nghiệm, có đánh giá, nhận xét xếp loại cho đồng
nghiệp.
- Kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế văn hoá xã hội và giáo dục
của địa phương nơi công tác.
Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục.
Thực hiện tốt các cuộc vận động do ngành phát động: Cuộc vận động
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Cuộc vận động hai

24
không với 4 nội dung, Cuộc vận động mỗi thầy cô giáo là tấm gương tự học
và sáng tạo. Và phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện học sinh
tích cực.
Phối kết hợp tốt với các ban ngành đoàn thể để làm tốt công tác giáo dục
tại xã nhà.
Tích cực nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giảng
dạy và xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn cho trẻ.
1.3.2.3. Yêu cầu về kỹ năng sư phạm:
- Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ.
Ngay từ đầu năm học phải xây dựng kế hoạch đầy đủ như kế hoạch năm
học, kế hoạch kì, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần thể hiện mục tiêu và nội dung
chăm sóc, giáo dục phù hợp với đặc điểm của nhà trường. Từ đó có những
biện pháp cụ thể với từng mảng nội dung đó.
Xây dựng mạng nội dung, mạng hoạt động theo từng chủ đề của từng khối
lớp.
- Kỹ năng tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho trẻ.
Biết tổ chức môi trường nhóm lớp đảm bảo vệ sinh và an toàn cho trẻ.
Biết tổ chức giấc ngủ, bữa ăn, đảm bảo vệ sinh, an toàn cho trẻ.
Biết phòng tránh và xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp đối với
trẻ.
Làm tốt công tác tuyên truyền với các bậc cha mẹ học sinh về công tác
chăm sóc giáo dục trẻ.
- Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục.
Lên kế hoạch cụ thể về chuyên môn, về thực hiện các chuyên đề.
Biết tổ chức các hoạt động theo đúng các chủ đề theo hướng tích hợp,
phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ.
25

×