Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè trên địa bàn huyện Đồng Hỷ thành phố Thái Nguyên.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (551.28 KB, 77 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


VÀNG VĂN LÍNH


Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CHÈ TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ TRẤN SÔNG CẦU HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2011 - 2013



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC




Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 – 2014





Thái Nguyên, năm 2014

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


VÀNG VĂN LÍNH


Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CHÈ TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ TRẤN SÔNG CẦU HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2011 - 2013



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC




Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Lớp : K42 - KTNN – N02
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Trần Bích Hồng




Thái Nguyên, năm 2014


LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian thực tập và nghiên cứu đến nay em đã hoàn thành
khóa luật tốt nghiệp đại học chuyên nghành kinh tế nông nghiêp với đề tài
“Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè trên địa bàn huyện đông hỷ thành
phố Thái Nguyên”
Em bày tỏ lời cảm ơn đến Th.s Trần Bích Hồng người đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian thực hiện báo cáo tốt nghiệp này.
Em vô cùng biết ơn các thầy cô trong bốn năm qua đã giảng dạy, hướng dẫn
truyền đạt tận tình những kiến thức chuyên ngành cho chúng em.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các chú các bác nơi
em thực tập, đã giúp đỡ em hoàn thành tốt nhiệm vụ trong suốt quá trình thực
tập tại phường.
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng báo cáo sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót. Em rất mong các thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên đánh giá góp ý
để bài báo cáo này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 06 tháng 06 năm 2014
Sinh viên


Vàng Văn Lính


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới 12
qua các thời kỳ từ 1962 - 2013. 12
Bảng 1.2: Sản lượng chè thế giới qua các năm từ 2007 - 2011. 13

Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng chè năm 2011 của một số nước trên
thế giới 15
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất, sản lượng của chè Việt Nam 18
Bảng 1.5: Số liệu xuất khẩu chè tháng 1 năm 2013 tăng cả lượng và giá trị . 21
Bảng: 1.6. diện tích, sản lượng, chè thái nguyên từ năm 20010 – 2013 26
Bảng 3.1 :Cơ cấu sử dụng đất của thị trấn qua các năm từ 2011- 2013 38
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế thị trấn Sông Cầu năm 2013 40
Bảng 3.3: Diện tích, năng suất, sản lượng chè tại thị trấn Sông Cầu từ năm
2011 – 2013 46
Bảng 3.4:Tổng thu từ trồng trọt của các hộ sản xuất chè thị trấn Sông Cầu 47
Biểu đồ 3.1: Tổng thu từ trồng trọt của các hộ trống chè trấn Sông Cầu
năm 2013. 48
Bảng 3.5: Tình hình nhân lực của hô kiêm trồng chè và hộ chuyên trồng chè
trong thị trấn 48
Bảng 3.6: Phương tiện sản xuất của hộ trồng chè 50
thị trấn Sông Cầu 51
Bảng 3.7: Tình hình sản xuất chè của hộ chuyên và hộ kiêm trong thị trấn 51
Bảng 3.8: Chi phí bình quân sản xuất chè của hộ chuyên và hộ kiêm trong thị
trấn Sông Cầu 53
Bảng 3.9: Hiệu qủa sản xuất chè tính trên 1ha của hộ nông dân trong thị trấn
Sông Cầu 55
Bảng 4.10 Hiệu quả sử dụng vốn của các hộ nông dân trong 56
thị trấn Sông Cầu 56
Bảng 3.11: Hiệu quả sử dụng lao động của các hộ nông dân trong thị trấn
Sông Cầu 57
Bảng 3.12: So sánh hiệu quả kinhh tế của cây chè với cây vải 58
Bảng 3.13. Lợi nhuận thu được từ sản xuất 1ha chè của hộ chuyên 59
và hộ kiêm trong thị trấn 59
Bảng 3.14 Một số khó khăn của các hộ nông dân sản xuất chè 60
DANH MỤC CÁC HÌNH


Hình 1.1: Giá chè tại tỉnh Thái Nguyên tháng 10/2012 29
Hình 1.2: Kênh tiêu thụ chè thành phố thái Nguyên 30
Hình 3.1: Kênh phân phối sản phẩm chè của các nông h 51
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn. 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở lý luận. 4
1.1.1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế. 4
1.1.2. Khái niệm về yếu tố đầu vào, đầu ra. 5
1.1.3. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè 6
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 11
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 11
1.2.1.1. Tình hình sản xuất chè và kinh doanh trên thế giới 11
1.2.1.2. Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới 15
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè tại Việt Nam 16
1.3.1. Tình hình sản xuất chè tại Việt Nam. 16
từ năm 2011 - 2013 18
1.3.2. Tình hình tiêu thụ chè tại Việt Nam. 19
1.3.3. Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè tại Việt Nam. 22
1.4. Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè tại Thái nguyên 24
1.4.1. Tình hình sản xuất chè tại Thái nguyên. 24
1.4.2. Chế biến, tiêu thụ chè ở Thái Nguyên. 28
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 33
2.1. Đối tượng nghiên cứu 33
2.2.2. Phạm vi về không gian nghiên cứu. 33
2.3. Nội dung nghiên cứu. 33
2.4.1. Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp. 33
2.4.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp. 33
2.4.3. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu. 34
2.4.4. Phương pháp so sánh. 34
2.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích. 35
2.5.1 . Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ. 35
2.5.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè 36
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của thị trấn Sông Cầu ,
huyện Đồng Hỷ. 37
3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên. 37
3.1.1.1. Vị trí địa lý. 37
3.1.1.2. Địa hình, thổ nhưỡng 37
3.1.1.3. Điều kiện khí hậu, thời tiết. 40
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 40
3.1.2.2. Đặc điểm xã hội của thị trấn Sông Cầu. 41
3.1.2.3. Cơ sở vật chất của thị trấn. 43
3.1.3. Những thuận lợi, khó khăn của thị trấn. 44
3.1.3.1. Thuận lợi. 44
3.1.3.2. Khó khăn 45
3.2. Thực trạng phát triển sản xuất chè thị trấn Sông Cầu - huyện Đồng Hỷ 45
3.2.1. Tình hình sản xuất chè của thị trấn Sông Cầu 45
3.2.2. Tình hình trồng và sản xuất chè của các nhóm hộ nghiên cứu 47
3.2.2.1. Tổng thu từ sản xuất trồng trọt của các nhóm hộ 47
3.2.2.2. Nguồn nhân lực của hộ 48
3.2.2.3.Phương tiện sản xuất của hộ. 49

3.2.2.5. Thực trạng tiêu thụ chè tại thị trấn Sông Cầu. 50
3.2.3. Phân tích hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn thị trấn Sông Cầu 51
3.2.3.1. Tình hình sản xuất chè của hộ. 51
3.2.3.2. Chi phí sản xuất chè của hộ. 53
3.2.4. So sánh hiệu quả kinh tế cây chè với cây ăn quả 57
3.2.5. Một số khó khăn của các hộ nông dân sản xuất chè trong thị trấn 60
3.2.6. Một số nhận xét về tình hình phát triển sản xuất chè của hộ nông dân. 60
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè 61
3.3.1. Giải pháp về giống 61
3.3.2. Quy hoạch vùng sản xuất chè 61
3.4. Nhóm giải pháp đối với người dân 64
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
1. Kết luận 67
2. Kiến nghị. 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69




1

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu S
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi nằm ở vùng trung du Bắc Bộ, có
diện tích tự nhiên là 3.541,1km
2
, chiếm 1,08% diện tích và 1,34% dân số cả
nước. Thái Nguyên là đầu mối giao lưu kinh tế giữa thủ đô Hà Nội với các

tỉnh phía Bắc có do đó vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế, văn hoá thị
trấn hội của đất nước. Đặc biệt Thái Nguyên có vị trí và điều kiện tự nhiên
thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây chè.
Chè là loại cây công nghiệp dài ngày được trồng nhiều ở các tỉnh
miền núi phía Bắc và miền Trung Tây Nguyên, đặc biệt là ở tỉnh Thái
Nguyên. Sản xuất chè trong nhiều năm qua đã đáp ứng được nhu cầu về chè
uống cho nhân dân, đồng thời còn xuất khẩu đạt kim ngạch hàng chục triệu
USD mỗi năm. Tuy có những thời điểm giá chè xuống thấp làm cho đời sống
người dân trồng chè gặp nhiều khó khăn, nhưng nhìn tổng thể cây chè vẫn là
cây giữ vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và
sự phát triển kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng, góp phần tạo việc làm
và bảo vệ môi sinh. Vì vậy, phát triển ngành chè là vấn đề đang được coi
trọng đối với phát triển kinh tế - thị trấn hội của tỉnh Thái Nguyên.Trước yêu
cầu phát triển kinh tế, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay, để tồn tại và phát triển vững chắc ngành chè phải có những giải
pháp mới phù hợp. Việc phân tích đánh giá thực trạng nhằm làm rõ những thành
tựu và hạn chế của ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên cũng như đề xuất một số
định hướng và giải pháp phát triển ngành chè là hết sức cần thiết.
Thị trấn Sông Cầu là một trong những thị trấn của huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên có diện tích chè lớn nhất của . Bên cạnh đó địa phương này còn
có nhiều tiềm năng, nguồn lực cho sản xuất và chế biến chè người dân trong
thị trấn đã có kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh chè, nguồn lao động rồi
dào. Vì thế cây chè đã trở thành cây trồng mũi nhọn của thị trấn nói riêng và
của tỉnh nói chung, góp phần nâng cao thu nhập tạo việc làm và la nguồn


2

kiếm sống của bà con nơi đây, các sản phẩm không chỉ tiêu thụ nội địa mà
còn xuất khẩu.

Tuy việc sản xuất và kinh doanh chè ở thị trấn Sông Cầu đã có bước
triển đáng kể trong những năm qua vẫn chưa sứng với tiềm năng đáng có của
địa phương, diện tích chè tăng lên nhưng sản lượng và chất lượng chè chưa
đáp ứng được nhu cầu của thị trường, việc sản xuất chế biến, tiêu thụ còn gặp
nhiều khó khăn. Đăc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO, sức ép và sự cạnh
tranh diễn ra quyết liệt.
Từ đó có những vấn đề cấp thiết được đạt ra là tình hình sản xuất, kinh
doanh chè của các hộ nông dân tại thị trấn sông Cầu huyên Đồng Hỷ tỉnh Thái
Nguyên như thế nào? Hiệu quả của cây chè mang lại cho các hộ trồng chè
như thế nào? Những mặt đạt được và hạn chế trong quá trình sản xuất kinh
doanh chè của hộ nông dân tại thị trấn? Cần có những định hướng và giải
pháp thiết thực nào để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất và kinh doanh
chè của các hộ dựa trên những tiềm năng vốn có của địa phương?
Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, từ nhu cầu thực tiễn nhận thấy giá trị
to lớn mà cây chè mang lại cho người dân trong thị trấn, tận dụng những điều
kiện thuật lợi của vùng, tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả
kinh tế sản xuất chè trên địa bàn Thị Trấn Sông Cầu huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013”.
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế sản xuất chè để đưa ra các gải pháp và
hướng sản xuất đạt hiệu quả, chất lượng cao. Từ đó cải thiện đời sống cho
người làm chè.
- Đánh giá được thực trạng việc sản xuất chè trên địa bàn Thị trấn.
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế sản xuất chè trên địa bàn Thị Trấn
Sông Cầu huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây chè,
nâng cao chất lượng sản phẩm nguồn đầu ra từ cây chè giúp cải thiện phần
nào đời sống của người dân.
Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của ngành chè ở
tỉnh Thái Nguyên trong trong giai đoạn hiện nay, đề tài xác định những



3

phương hướng phát triển và các giải pháp phát triển ngành chè ở tỉnh Thái
Nguyên trong những năm tới.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học.
- Hoàn thiện các kiến thức đã học trong nhà trường cho bản thân, đồng
thời học hỏi các kiến thức thực tế.
- Củng cố những kiến thức đã được học để áp dụng vào thực tế và nâng
cao hiểu biết của bản thân về địa phương, về phương thức sản xuất của họ.
- Biết được cách thu thập và xử lí thông tin của sinh viên trong quá
trình nghiên cứu.
- Rèn luyện các kỹ năng thu thập xử lý số liệu, viết báo cáo.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn.
- Học hỏi các kiến thức thực tế đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp
cho việc nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè tại địa phương.
- Đề tài mang tính khả thi, có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ
UBND thị trấn Sông Cầu, và cơ quan liên quan trong việc phát triển kinh tế
thị trấn hội và làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khóa sau.


















4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở lý luận.
1.1.1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh sử dụng nguồn nhân lực, vật
lực để đạt được hiệu quả cao nhất hay nói cách khác hiệu quả kinh tế là một
phạm trù phản ánh chất lượng của một hoạt động kinh tế. Nâng cao chất
lượng một hoạt động kinh tế là tăng cường lợi dụng các nguồn lực có sẵn
trong một hoạt động kinh tế, đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất thị trấn
hội, do nhu cầu vật chất ngày càng cao.
* Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt
động kinh tế được xác định bằng công thức:
Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được – Chi phí bỏ ra.
(H) = (Q) - (C)
Quan điểm này không còn phù hợp nữa, vì nếu cùng một kết quả sản
xuất như nhau nhưng khác nhau về chi phí sản xuất sẽ khác nhau về hiệu quả.
Không phản ánh đúng mục tiêu của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận và
tối thiểu hóa chi phí.
* Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ tăng

trưởng sản xuất hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả cao khi nhịp độ tăng
trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả kinh tế có nghĩa là không lãng phí.
Một nền kinh tế là có hiệu quả khi nó nằm trên giới hạn năng lực sản
xuất đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của kinh tế, sự chênh lệch
giữa sản lượng tiềm năng thực tế (sản lượng cao nhất có thể đạt được trong
điều kiện toàn dụng công nhân) và sản lượng thực tế là sản lượng tiềm năng
mà thị trấn hội không dùng được phần bị lãng phí.
* Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh tế là mức độ thỏa mãn yêu cầu của
quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế chủ nghĩa thị trấn hội, cho rằng quỹ tiêu
dùng là đại diện cho mức sống nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của
nền sản xuất thị trấn hội.


5

* Quan điểm thứ tư: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết
quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản
xuất kinh doanh về chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó.
* Quan điểm thứ năm: hiệu quả của một quá trình nào đó, theo định
nghĩa chung là mối quan hệ tỷ lệ giữa hiệu quả (theo mục đích) với các chi
phí sử dụng (nguồn lực) để đạt được kết quả đó.
Tóm lại: Từ các quan điểm trên chúng tôi thấy rằng. Hiệu quả kinh tế là
thể hiện hiệu quả so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí nguồn lực bỏ ra.
Khi kết quả đạt được chỉ bằng chi phí bỏ ra là lãng phí nguồn lực, khi sử dụng
tiết kiệm một nguồn lực để đạt một kết quả nhất định là hiệu quả kinh tế cũng
khác nhau vẫn phải dựa trên nguyên tắc so sánh giữa kết quả đạt được với chi
phí nguồn lực bỏ ra.
1.1.2. Khái niệm về yếu tố đầu vào, đầu ra.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát
triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và mức

độ chi phí các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu
kinh doanh. Nó là thước đo trở nên ngày càng quan trọng của sự tăng trưởng
kinh tế là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
* Đối với các yếu tố đầu vào:
Các yếu tố đầu vào trong các hoạt động sản xuất của người dân bao
gồm tất cả các chi phí về tài chính, thời gian, công lao động… (chi phí giống,
chi phí phân bón, chi phí marketing…)
Do các tư liệu sản xuất tham gia vào quy trình sản xuất không đồng
nhất có thể lại rất khó xác định giá trị nào đào thải và chi phí sửa chữa nên
việc tính toán khấu hao và phân bổ chi phí để xác định các chỉ tiêu hiệu quả
có tính chất tương đối.
Do sự biến đổi không ngừng của thị trường nên việc xác định chi phí cố
định là không chính xác mà chỉ có tính tương đối.
Một số yếu tố đâu vào rất khó lượng hóa (thông tin, tuyên truyền, cơ sở
hạ tầng…) nên không thể tính toán một cách chính xác.


6

* Đối với yếu tố đầu ra:
Yếu tố đầu ra của hoạt động sản xuất của người dân chính là kết quả
của quá trình sản xuất đó là các sản phẩm nông nghiệp, những lợi ích từ hoạt
động sản xuất kinh tế.
Phần lớn những kết quả sản xuất ra là có thể lượng hóa được một cách
cụ thể nhưng vẫn có những yếu tố không thể lượng hóa được: Bảo vệ môi
trường, năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất khả năng tạo việc làm.
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản suất kinh doanh là phải đạt
được hiệu quả tối đa chi phí và chi phí tối thiểu ở đây được hiểu theo nghĩa rộng
chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực bao gồm cả chi phí cơ hội,

cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương hướng
kinh doanh tối đa nhất, các mặt hàng sản suất có hiệu quả cao hơn.
1.1.3. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, có vị trí quan
trọng trong đời sống sinh hoạt, kinh tế và văn hoá của con người. Tuy nhiên
chè là cây trồng đòi hỏi kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc tới thu
hoạch và bảo quản, chế biến. Để sản xuất chè phát triển một cánh bền vững
cần quan tâm chú trọng từ đầu vào tới đầu ra của sản phẩm. Nếu coi cây chè
là cây trồng mũi nhọn thì cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để
nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè góp phần tăng thu nhập cải thiện
đời sống người dân trồng chè.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè
a. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất chính, ảnh hưởng trực tiếp tới năng xuất, chất
lượng chè thành phẩm. Muốn chè có chất lượng cao thì đất trồng chè phải có
độ cao nhất định. Tại một số vùng đất trồng chè thường có độ cao từ 500m
đến 800m so với mặt nước biển. Chè được trồng tại các vùng đất cao có
hương vị ngon hơn chất lượng cao hơn so với chè được trồng tại các vùng đất
thấp. Chè được trồng và phát triển chủ yếu ở vùng đất dốc, đồi núi, ở những
vùng núi cao chè có chất lượng tốt hơn, hương vị thơm ngon hơn ở vùng thấp.
Độ dốc đất trồng chè không quá 30
0
, đất càng dốc thì xói mòn càng lớn, đất


7

nghèo dinh dưỡng chè không sống được lâu. Bình thường một cây chè có đủ
dinh dưỡng sẽ sống được khoảng từ 30 đến 50 năm. Chè là một loại cây lấy

gỗ, dễ ăn sâu vì vậy tầng đất phải dày tối thiểu 50 cm. Cây chè ưa các loại đất
thịt, đất pha cát vì đây là loại đất dễ hút nước nhưng cũng dễ thoát nước do
chè là loại cây cần ẩm nhưng sợ úng. Độ chua pH thích hợp cho cây chè phát
triển bình thường là 4,5 - 5,5. Nếu độ pH dưới 3, lá chè màu xanh thẫm, có
cây bị chết. Nếu độ pH 7,5 chè ít lá, màu lá vàng cằn, không cho năng xuất và
chất lượng tốt. Trồng chè tại những vùng đất kiềm, trung tính cây sẽ bị chết
dần. Để chè phát triển tốt và cho năng xuất cao thì phải trồng những vùng đất
giàu mùn, có độ sâu, chua và thoát nước. (Lê Tất Khương, 2006) [7].
+ Điều kiện về khí hậu
Theo các tài liệu nghiên cứu thì yêu cầu tổng lượng nước mưa bình
quân trong một năm đối với cây chè khoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều
trong các tháng. Bình quân lượng mưa của các tháng trong thời kỳ chè sinh
trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100 mm, nếu nhỏ hơn 100 mm chè sinh
trưởng không tốt. Độ ẩm không khí từ 70-90%, độ ẩm đất từ 70-80%, độ dốc
đất trồng chè không quá 30°. Ở nước ta chè thu hoạch nhiều vào tháng 5 đến
tháng 10 trong năm.
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng của cây chè.
Chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ xuống dưới 10°C và trên 40°C. Nhiệt độ
thích hợp cho việc sinh trưởng là từ 22 đến 28°C. Mùa đông cây chè ngừng
sinh trưởng mùa xuân phát triển trở lại. Tuy nhiên các giống chè khác nhau
thì sự chống chọi với thời tiết cũng khác nhau.
Cây chè vốn là cây ưa các vùng sinh thái ẩm ướt, các vùng cận nhiệt
đới. Điều chú ý là cây chè lá nhỏ ưa sáng hơn chè lá to.
b. Nhóm nhân tố kinh tế kỹ thuật
+ Giống chè
Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè
nguyên liệu và chè thành phẩm. Có thể nói giống là tiền đề năng suất, chất
lượng chè thời kỳ dài 30- 40 năm thu hoạch, nên cần được hết sức coi trọng.
Giống chè là giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được điều
kiện sống khắc nghiệt và sâu bệnh. Nguyên liệu phù hợp chế biến các mặt



8

hàng có hiệu quả kinh tế cao. Cùng với giống tốt trong sản xuất kinh doanh
chè cần có một số cơ cấu giống hợp lý, việc chọn tạo giống chè là rất quan
trọng trong công tác giống. Ở Việt Nam đã chọn, tạo được nhiều giống chè tốt
bằng phương pháp chọn lọc cá thể như: PH1, TRI777, 1A, TH3, . Đây là
một số giống chè khá tốt, tập trung được nhiều ưu điểm, cho năng suất và
chất lượng búp cao, đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều, trồng trên
diện tích rộng, bổ sung cơ cấu giống vùng và thay thế dần giống cũ trên
các nương chè cằn cỗi.
Bên cạnh đặc tính của các giống chè, phương pháp nhân giống cũng
ảnh hưởng trực tiếp tới chè nguyên liệu. Hiện nay có 2 phương pháp được áp
dụng chủ yếu là trồng bằng hạt và trồng bằng cành giâm. Đặc biệt phương
pháp trồng chè cành đến nay đã được phổ biến, áp dụng rộng rãi và dần dần
trở thành biện pháp chủ yếu trên thế giới cũng như ở Việt Nam (Lê Tất
Khương, 2006) [7]
+ Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
Cùng với việc tạo ra giống mới thì việc áp dụng những tiến độ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất là rất quan trọng.
- Tủ cỏ rác và tưới nước: Tủ cỏ rác tăng năng suất chè 30-50% do giữ
được ẩm, tăng lượng mùn và các chất dinh dưỡng dễ tiêu trong đất. Chè cũng
là cây trồng rất cần nước, nếu cung cấp nước thường xuyên thì năng suất chè
nguyên liệu sẽ tăng từ 25-40%.
- Đốn chè: Là biện pháp kỹ thuật cần thiết để nâng cao năng suất, chất
lượng chè. Kết quả nghiên cứu ở Inđônêxia cho thấy hàm lượng cafein của
nguyên liệu chè đốn cao hơn nguyên liệu chè chưa đốn. Ngoài phương pháp
đốn, thời vụ đốn cũng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng chè. Thường tiến
hành đốn vào thời kỳ cây chè ngừng sinh trưởng, không ra búp từ giữa tháng

12 đến cuối tháng 1 hàng năm nhưng tập trung chủ yếu vào tháng 1.
- Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp
kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất và chất lượng chè búp.
Chè là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rất đa dạng,
nó có thể sống nơi đất rất màu mỡ cũng có thể sống ở nơi đất cằn cỗi mà vẫn
có thể cho năng suất nhất định. Tuy nhiên muốn nâng cao được năng suất,


9

chất lượng thì cần phải bón phân đầy đủ. Bón phân cho chè là biện pháp kinh
tế kỹ thuật cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng cho chè, nhưng biện
pháp này cũng có những tác dụng ngược. Bởi nếu bón phân không hợp lý sẽ
làm cho năng suất và chất lượng không tăng lên được, thậm chí còn bị giảm
xuống. Nếu bón đạm với hàm lượng quá cao hoặc bón các loại phân theo tỷ lệ
không hợp lý sẽ làm giảm chất Tanin hoà tan của chè, làm tăng hợp chất Nitơ
dẫn tới giảm chất lượng chè. Vì vậy bón phân cần phải bón đúng cách, đúng
lúc, đúng đối tượng và cần cân đối các yếu tố dinh dưỡng chủ yếu như: Đạm,
lân, kali sao cho phù hợp.
c. Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế xã hội
+ Thị trường.
Thị trường là yếu tố quan trọng quyết định tới sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất
kinh doanh và mỗi cá nhân đều phải trả lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là:
sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất cái
gì được đặt lên hàng đầu đòi hỏi người sản xuất phải trả lời cho được. Để trả
lời câu hỏi này buộc người sản xuất phải tìm kiếm thị trường có khả năng
thanh toán đối với hàng hoá mà hoá mà họ sẽ sản xuất ra, giá cả có phù hợp
hay không. Thị trường đóng vai trò là khâu trung gian nối giữa người sản xuất
và người tiêu dùng.

Khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn phương
thức tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu được là
tối đa. Còn việc giải quyết vấn đề sản xuất cho ai, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ
được thị trường, xác định rõ được khách hàng, giá cả và phương thức tiêu thụ.
Muốn vậy phải xem xét quy luật cung cầu trên thị trường. Ngành chè
có ưu thế hơn một số ngành khác, bởi sản phẩm của nó được sử dụng khá phổ
thông ở trong nước cũng như quốc tế. Nhu cầu về mặt hàng này khá lớn và
tương đối ổn định. Hơn nữa chè không phải là sản phẩm tươi sống, sau khi
chế biến có thể bảo quản lâu dài, chè mang tính thời vụ cũng ít gắt gao hơn
các loại cây ăn quả. Chính nhờ những ưu điểm trên đã tạo ra thị trường khá ổn


10

định và khá vững chắc, là điều kiện, là nền tảng để kích thích, thúc đẩy sự
phát triển của ngành chè.
+ Giá cả.
Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung, người trồng chè nói
riêng thì sự quan tâm hàng đầu là giá chè (giá chè búp tươi và chè búp khô)
trên thị trường; giá cả không ổn định ảnh hưởng tới tâm lý người trồng chè.
Có thể nói sự biến động của thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống
của người sản xuất nói chung, cũng như người làm chè, ngành chè nói riêng.
Do đó việc ổn định giá cả, mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức
cần thiết cho sự phát triển lâu dài của ngành chè.
+ Nguồn lao động.
Nhân tố lao động luôn là yếu tố quyết định trong việc sản xuất, trong
sản xuất chè cũng vậy, yếu tố con người mang lại năng suất, sản lượng, chất
lượng cho chè.
Lao động hiện nay hết sức dồi dào tại các vùng nông thôn. Người nông
dân chăm chỉ, cần cù, chịu khó, luôn cố gắng có được cuộc sống tốt hơn. Việc

tận dụng nguồn lao động tại địa phương có nhiều lợi ích do người lao động có
nhiều kinh nghiệm trong việc sản xuất, thu hoạch. Tuy nhiên lao động trong
nông nghiệp đông đảo về số lượng nhưng cơ bản vẫn là lao động thủ công,
năng suất lao động thấp, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và kiến thức kinh
doanh theo cơ chế thị trường còn hạn chế.
+ Hệ thống cơ sở chế biến chè.
Sau khi hái được chè nguyên liệu (chè búp tươi) người dân sẽ tiến hành
chế biến, từ chè búp tươi tạo ra chè thành phẩm, sau đó mới đem đi tiêu thụ
trên thị trường.
Ngoài yêu cầu về chất lượng chè nguyên liệu, thì công tác tổ chức, chế
biến, quy trình chế biến cũng ảnh hưởng tới chất lượng chè thành phẩm. Hạch
toán được giá thành từ đó quyết định được mức giá bán trên thị trường sao
cho phù hợp. Hiện nay ngành chè Việt Nam đang có những bước tiến đáng kể
trong khâu chế biến, nhiều công ty, doanh nghiệp được thành lập, hay chuyển
đổi thành các công ty cổ phần tham gia liên kết với nước ngoài đưa vào sử


11

dụng những dây chuyền hiện đại, công suất lớn đã đáp ứng được phần nào
yêu cầu của quá trình sản xuất chè.
Một hình thức chế biến khác cũng đang được chú ý và áp dụng khá phổ
biến là cách chế biến thủ công, nông hộ mà Thái Nguyên là một ví dụ tiêu
biểu. Ở các hộ nông dân trồng chè, việc sản xuất chè nguyên liệu và khâu chế
biến luôn gắn liền với nhau. Với hình thức này các hộ trồng chè cố gắng phát
huy cao độ những kỹ thuật cá nhân vừa có tính truyền thống, gia truyền vừa
có tính khoa học để chế biến ra sản phẩm tốt nhất. Thực tế cho thấy, hầu hết
sản phẩm chè chế biến từ các hộ gia đình có chất lượng cao hơn hẳn so với
chế biến tại các nhà máy. Như vậy việc xây dựng các cơ sở chế biến chè, từ
nhỏ tới lớn, từ chế biến thủ công tới chế biến công nghiệp là yêu cầu hết

sức cấp bách và có ý nghĩa rất lớn quyết định tới sự phát triển của ngành
chè nói chung.
+ Hệ thống cơ sở vĩ mô của doanh nghiệp.
Thành tựu về kinh tế của Việt Nam hơn 10 năm qua là do nhiều nhân tố
tác động, trong đó phải kể đến sự đóng góp tích cực của đổi mới quản lý kinh
tế vĩ mô. Sự đổi mới này được diễn ra trong tất cả các ngành, các lĩnh vực sản
xuất. Ngành chè cũng như các ngành sản xuất khác, muốn mở rộng quy mô và
chất lượng trong sản xuất kinh doanh, nhất thiết phải có hệ thống chính sách
kinh tế thích hợp nhằm tạo dựng mối quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố với
nhau để tạo hiệu quả kinh doanh cao nhất. Kết quả sản xuất phụ thuộc rất
nhiều vào chính sách kinh tế, một chính sách kinh tế không phù hợp sẽ kìm
hãm phát triển của ngành, ngược lại một chính sách thích hợp sẽ kích thích
sản xuất phát triển.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
1.2.1.1. Tình hình sản xuất chè và kinh doanh trên thế giới
Thị trường chè 10 năm qua đã phát triển rất mạnh và sẽ còn tiếp tục
phát triển hơn nữa. Trong năm 2010, lượng chè sản xuất trên toàn thế giới đã
vượt qua con số 4 triệu tấn để đạt mức 4.468.812 tấn. Trung Quốc trở thành
nhà sản xuất chè số một trên thế giới vào năm 2006, Ấn Độ xếp thứ hai,
Kenya xếp thứ ba và tiếp theo sau là Srilanka đứng thứ tư và Việt Nam đứng


12

thứ 5. Mặc dù biến đổi khí hậu có ảnh hưởng rất lớn, và trong lịch sử đã xảy
ra đợt hạn hán nghiêm trọng nhất kể từ những năm 60 – tuy nhiên người ta
vẫn đang cố gắng để đạt được sản lượng chè cao và thúc đẩy sản xuất phát
triển. Giá cả đã ổn định trong vòng hơn 3 năm qua chính là yếu tố kích thích
sản xuất phát triển, đặc biệt là đối với những nước hiện đang có diện tích chè

phù hợp, chủ yếu là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam.
Việc sản xuất gia tăng hơn 36% trong suốt 10 năm qua là điều chưa
từng thấy. Sản phẩm chè của Trung Quốc chiếm 35% thị phần chè của thế
giới, tiếp theo là Ấn Độ với 23%, Kenya với 10%, Srilanka 8%m và Việt
Nam 4%. Nhìn vào thị phần thì Châu Á chiếm 83% sản lượng chè thế
giới, tiếp theo là Châu phi chiếm 15% và Nam Mỹ chiếm 2,4% (Hiệp Hội
Chè Việt Nam)[2].
Trong vài thập kỷ gần đây, sản lượng chè ở các nước tăng cao. Sản
lượng đạt trên 200 nghìn tấn gồm 4 nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya,
Srilanka. Sản lượng đạt trên 100 nghìn tấn gồm 2 nước: Indonesia và Thổ
Nhĩ Kỳ. Trên 20 nghìn tấn có 9 nước, trong đó có Việt Nam (Hiệp Hội
Chè Việt Nam)[2].
Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới qua các thời kỳ được thể
hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới
qua các thời kỳ từ 1962 - 2013.
STT Năm
Diện tích
(1000 ha)
Năng su
ất
(tạ khô/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
1 1962 1.379,87 7,16 987,35
2 1971 1.737,15 7,53 1.308,42
3 1981 2.384,66 7,91 1.885,91
4 1991 2.265,88 11,32 2.564,55
5 2001 2.394,44 12,94 3.100,07
6 2011 3.256,76 14,34 4.668,99

7 2012 3.374,85 14,68 4.869.0
8 2013 4.086,45 15,01 5.012,0
(Nguồn: Theo FAO Start Citation, 2013)


13

Qua thống kê về diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới trong 50
năm từ năm 1962 – 2011 cho thấy:
- Diện tích chè thế giới tăng nhanh trong 20 năm, từ năm 1962 – 1981
tăng 1.004,79 nghìn ha. Nhưng tới năm 1991 diện tích chè giảm xuống 118,78
nghìn ha so với năm 1981 và chỉ đạt 2.265,88 nghìn ha. Sau đó diện tích chè
tăng trở lại và tăng nhanh, năm 2011 đạt 3.256,76 nghìn ha và năm 2013 diện
tích trồng chè là 4.086,45 nghìn ha.
- Cùng với đó năng suất chè của thế giới tăng nhanh qua các năm từ
7,16 tạ khô/ha (năm 1962) lên tới 15.01 tạ chè khô/ha (năm 2013
- Do đó sản lượng chè của thế giới cũng tăng nhanh, trong 51 năm đã
tăng 4024.65 nghìn tấn, từ 987,35nghìn tấn(năm 1962) lên tới
5.012,0 nghìn tấn(năm 2011).
Qua theo dõi sản lượng chè thế giới và các khu vực trồng chè từ năm
2007 đến năm 2011, diễn biến sản lượng chè được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.2: Sản lượng chè thế giới qua các năm từ 2007 - 2011.
(ĐVT: 1000 tấn)

Năm

Châu lục, nước

2007 2008 2009 2010 2011
Thế giới 3.979,14


4.206,90

4.244,83

4.547,82

4.668,99

Châu phi 579,74

546,96

524,89

614,92

582,10

Châu Mỹ 84,24

92,52

83,89

100,48

107.84

Châu Âu 221,56


210,58

215,13

239,05

225,03

Châu Á 3.307,01

3.558,98

3.627,69

3.826,86

3.973,58

Trung Quốc 1.183,00

1.274,98

1.375,78

1.467,47

1.640,31

Ấn Độ 973,00


987,00

972,70

991,18

966,73

Kenya 369,60

345,80

314,20

399,01

377,91

Sri lanka 305,22

318,70

290,00

331,40

327,50

Việt Nam 164,00


173,50

185,70

198,47

206,60

(Nguồn: Theo FAO Start Citation, 2013)


14

Bảng số liệu trên cho thấy sản lượng chè của thế giới liên tục tăng qua
các năm. Tăng từ 3.979,14 nghìn tấn năm 2007 lên tới 4.668,99 nghìn tấn
năm 2011.
- Năm 2007 sản lượng chè của Châu Á đạt 3.307,01 nghìn tấn cao nhất
so với các châu lục và các nước. Sản lượng chè của thế giới đạt 3.979,14
nghìn tấn, như vậy ta thấy sản lượng chè của Châu Á chiếm 83,1% sản lượng
chè thế giới. Tiếp theo là Trung Quốc đạt 1.183,00 nghìn tấn, đứng thứ 2 sau
Châu Á. Ấn Độ đạt 973,00 nghìn tấn, đứng thứ 3 sau Châu Á và Trung Quốc.
Tiếp theo với sản lượng chè giảm dần là Châu Phi, Kenya, Sir lanka, châu âu,
Việt Nam và Châu Mỹ. Sản lượng chè của Việt Nam chỉ đạt 164 nghìn tấn,
thấp hơn so với các nước trong khu vực và các nước khác.
- Năm 2008 sản lượng chè của thế giới đạt 4.206,90 nghìn tấn, tăng
227,76 nghìn tấn so với năm 2007. Sản lượng chè của Châu Á vẫn đạt cao
nhất so với các châu lục và các nước. Tiếp theo đó là Ấn Độ, Châu Phi,
Kenya, Sir lanka, Châu Âu, Việt Nam và Châu Mỹ. Hầu hết sản lượng của
các nước và các châu lục đều tăng, song bên cạnh đó có Châu Phi, Châu Âu,

Kenya có sản lượng chè giảm so với năm 2007.
- Năm 2009, 2010 sản lượng chè cũng không có biến đổi nhiều so với 2
năm trước đó, Châu Á và Trung Quốc vẫn đạt sản lượng cao nhất so với các
châu lục và các nước sản xuất chè. Sản lượng chè của Việt Nam cũng tăng
qua các năm và đạt 198,47 nghìn tấn năm 2010.
- Năm 2012 sản lượng chè của thế giới tăng và đạt 4.668,99 nghìn tấn.
Nhìn chung, từ năm 2007- 2010 sản lượng chè của thế giới liên tục tăng qua
các năm. Sản lượng chè của Châu Á luôn đạt cao nhất trong các châu lục và
các nước. Tiếp đó là Trung Quốc cũng đạt sản lượng cao. Sản lượng chè của
Việt Nam liên tục tăng qua các năm. Năm 2007 đạt 164 nghìn tấn và tới năm
2012 đạt 206,60 nghìn tấn, tăng 42,6 nghìn tấn. Nhưng vẫn là nước có sản
lượng chè thấp so với các nước trồng chè trong khu vực và trên thế giới.
Qua bảng trên cho thấy sản lượng chè của thế giới tăng qua các năm,
do nhu cầu và lợi nhuận của chè tăng. Trồng chè đem lại hiệu quả kinh tế cao
cho người dân. Vì thế chè là cây trồng ngày được chú trọng trên thế giới.


15

Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng chè năm 2011 của một số nước
trên thế giới
STT Tên nước
Diện tích
(1000
ha)
Năng suất
(tạ khô/ha)
Sản lượng khô

(1000 tấn)

1 Trung Quốc 1.514,00

10,83

16.403,1

2 Ấn Độ 580,00

16,67

966,73

3 Kenya 187,86

20,12

377,91

4 Việt Nam

114,80

18,00

206,60

5 Indonesia

122,70


11,61

142,40

6 Brazil 2,29

15,37

3,52

7 Nhật Bản 46,20

20,57

95,01

8 Thế giới 3.256,76

14,35

4.668,99

(Nguồn: Theo FAO Start Citation, 2013)
Bảng trên cho thấy Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế
giới, đạt 1.514,00 nghìn ha. Sau Trung Quốc là Ấn Độ đạt 580 nghìn tấn. Việt
Nam có diện tích chè đứng thứ 4 trên thế giới và cũng đứng thứ tư trong bảng
trên, đạt 114,80 nghìn tấn. Brazil là nước có diện tích chè chè thấp nhất và đạt
2,29 nghìn ha. Tuy năng xuất chè của Trung Quốc thấp nhưng diện tích nhiều
nên sản lượng chè vẫn đạt mức cao trên thế giới.
1.2.1.2. Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới

Theo số liệu năm 2011, những thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với sản
phẩm chè xanh và chè đen là: Thị trường Nga (đã nhập khẩu trên 174.000 tấn,
Pakistan nhập khẩu 126.170 tấn, Hy Lạp nhập khẩu 81.700 tấn, Iran nhập
khẩu 62.000 tấn, và Morocco nhập khẩu 58.000 tấn).
Ngoài ra còn có các chi nhánh bán lẻ ở thị trường Mỹ và Canada với
tổng số lượng chè nhập khẩu lên tới 144.000 tấn, Vương quốc Anh là 126.000
tấn, và EU với tổng số lượng chè nhập khẩu là 128.000 tấn. Sự hồi sinh của
văn hóa chè ở Trung Quốc, Hồng Kông và Singapore là không thể không
nhắc đến, cũng như là cộng đồng người do thái và người Trung Quốc ở hải
ngoại sẵn sàng trả những mức giá xa xỉ để có được mấy kilôgam chè. Chúng
ta cũng nên tính đến thị trường tiêu thụ đặc biệt đó là Nhật Bản, Đài Loan và
Hàn Quốc nơi có văn hóa uống chè truyền thống nhưng lại không thể mở rộng


16

được diện tích canh tác loại cây trồng này. Tất cả những yếu tố trên kết
hợp lại tạo nên những trị trường chè với giá trị gia tăng cao(Hiệp Hội
Chè Việt Nam)[4].
Tại thị trường Mỹ, mặc dù kinh tế đang trong thời kỳ suy giảm nhưng
nhu cầu tiêu thụ chè không những không giảm mà còn tăng mạnh. Người tiêu
dùng Mỹ đã hạn chế mua những đồ uống đắt tiền như cà phê, nước trái cây,
nước ngọt mà thay vào đó là tiêu dùng các sản phẩm rẻ hơn như chè, đặc
biệt là những loại chè có chất lượng trung bình.
Tại thị trường châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng
nhu cầu tiêu dùng chè. Ngay từ những tháng đầu năm 2009, tại các thị trường
này, người dân đã có xu hướng chuyển từ các đồ uống khác sang tiêu dùng
các sản phẩm từ chè như các loại chè truyền thống, chè uống liền, chè chế
biến đặc biệt. Như tại Nga (một trong những nước tiêu thụ chè lớn trên thế
giới), với mức tiêu thụ trung bình khoảng hơn 1 kilôgam chè/người/năm.

Trong giai đoạn 2009-2010, nhập khẩu chè đen của Nga sẽ tăng từ
223.600 tấn lên 315.200 tấn, mức tăng trung bình hàng năm là 3%. Tuy nhiên,
mức tiêu thụ chè đen (loại chè chiếm gần 80% mức tiêu thụ hàng năm) sẽ
trong xu hướng suy giảm. Tỷ lệ chè xanh, chè hoa quả, chè làm từ các loại
cây thảo mộc sẽ có xu hướng gia tăng.
Các thị trường khác như Ai Cập, Iran, Iraq nhu cầu tiêu dùng chè
cũng tăng.
Như vậy, có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang
chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống
liền và chè chế biến đặc biệt trong khi tại các nước Tây Á và Châu Á vẫn
thích dùng các sản phẩm chè truyền thống.(www.vinanet.com.vn)[15].
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè tại Việt Nam.
1.3.1. Tình hình sản xuất chè tại Việt Nam.
Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nóng ẩm, đất nước trải dài từ bắc
vào nam với 2/3 là diện tích đồi núi, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây chè
sinh trưởng và phát triển. Trong những năm gần đây Chính phủ và các địa
phương, các tổ chức quốc tế có nhiều cơ chế chính sách phát triển cây chè.
Cây chè được gọi là cây xóa đói giảm nghèo và tiến lên làm giàu cho nhiều hộ


17

nông dân. Do đó diện, tích năng xuất, sản lượngđã không ngừng tăng. Song
song với việc tăng trưởng diệ tích. Nhiều tiến bộ khoa học về trồng trọt, giống
chế biến, được áp dụng vào sản xuất
Hiện với khoảng 120 ngàn ha trồng chè, Việt Nam đã đứng vào hàng
thứ 5 về diện tích trong các nước trồng chè, và với khoảng hơn 80.000 tấn chè
xuất khẩu, Việt Nam xếp thứ 8 về khối lượng trong các nước xuất khẩu chè
trên thế giới.
Theo Tổng công ty chè Việt Nam, đến nay cả nước đã có 34 địa

phương trồng chè và trên 600 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chè với hơn
2.000 thương hiệu khác nhau. Đặc biệt, ngành chè đã thiết lập được nhiều
vùng chè chất lượng cao như: Lâm Đồng, Lạng Sơn, Sơn La, Lào Cai, Cao
Bằng Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho phép khảo
nghiệm khu vực hoá trên diện rộng 7 giống chè chất lượng cao như: Bát Tiên,
Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Keo Am Tích tại các vùng chè chủ lực
.

Ngành chè đến nay đã có lịch sử phát triển hơn 90 năm (1918 - 2013).
Được coi là một trong những ngành sản xuất có mầm mống công nghiệp sớm
nhất ở nước ta trong số các ngành chế biến công nghiệp dài ngày. Ở Việt Nam
cây chè có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó thuộc nhóm
ngành kinh tế mũi nhọn. Do đó phát triển trồng chè ở nước ta không những
phát huy được vai trò kinh tế của hộ gia đình, lợi thế của từng vùng mà còn
góp phần to lớn trong việc sử dụng có hiệu quả đất đai, lao động nông nghiệp
nông thôn, thúc đẩy sản xuất phát triển. góp phần nâng cao đời sống vật chất,
văn hoá tinh thần người dân. Chính điều đó càng khẳng định việc đầu tư sản
xuất phát triển ngành chè là một hướng đi đúng của các địa phương, các công
ty, các cơ sở sản xuất kinh doanh trên cả nước. Những năm gần đây có nhiều
cơ chế chính sách đầu tư ưu tiên phát triển ngành chè. Cây chè được coi là
cây trồng xóa đói giảm nghèo và tiến lên làm giàu của nhiều hộ nông dân.
Trong giai đoạn này diện tích, năng suất, sản lượng chè tăng nhanh
điều này thể hiện qua bảng sau:

×