Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (535.09 KB, 65 trang )



1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM




BI KIM CC



Tờn ti:
Nghiên cứu ảnh hởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp
tại phờng Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013


khóa luận tốt nghiệp đại học






H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : a chớnh Mụi trng
Khoa : Qun lý Ti nguyờn
Khoỏ hc : 2010-2014








Thỏi Nguyờn, nm 2014


2
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM




BI KIM CC



Tờn ti:
Nghiên cứu ảnh hởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp
tại phờng Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013




khóa luận tốt nghiệp đại học





H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : a chớnh Mụi trng
Lp : K42 - CMT - N01
Khoa : Qun lý Ti nguyờn
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn : ThS. Hong Hu Chin





Thỏi Nguyờn, nm 2014


i
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ
và chỉ bảo nhiệt tình của các Thầy, Cô giáo trong khoa Quản lý Tài nguyên -
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, các đoàn thể đã tạo điều kiện để em hoàn
thành tốt báo cáo tốt nghiệp này.
Trước hết em xin nói lời cảm ơn chân thành nhất tới Thầy giáo - ThS. Hoàng
Hữu Chiến đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập
cũng như thực hiện đề tài và hoàn thành báo cáo này.
Em xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, chỉ bảo ân cần của các Thầy, các Cô
giáo trong Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
trong suốt thời gian thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn UBND phường Đề Thám - thành phố Cao Bằng -
tỉnh Cao Bằng là đơn vị trực tiếp giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu làm đề tài

tại địa phương.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Em xin kính chúc các Thầy, các Cô giáo và các Cô, Chú luôn mạnh khỏe và
công tác tốt.
Thái Nguyên, ngày…tháng 05 năm 2014
SINH VIÊN THỰC HIỆN


Bùi Kim Cúc






ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các giai đoạn 19
Bảng 4.1. Tình hình biến động dân số của phường Đề Thám giai đoạn 2010 -2013 32
Bảng 4.2. Dự báo dân số, lao động phường Đề Thám đến năm 2020 33
Bảng 4.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của phường Đề Thám giai đoạn 2010 - 2013 34
Bảng 4.4. Sự biến động mục đích sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2015 37
Bảng 4.5. Kết quả giao đất ở phường Đề Thám giai đoạn 2010 - 2013 38
Bảng 4.6. Kết quả thu hồi đất ở phường Đề Thám giai đoạn 2010 - 2013 39
Bảng 4.7. Tình hình biến động đất đai của phường Đề Thám từ năm 2010 đến năm 2013 41
Bảng 4.8. Một số thông tin cơ bản về các chủ hộ 42
Bảng 4.9. Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau khi thu hồi 43
Bảng 4.10. Tình hình nghề nghiệp của hộ trước và sau đô thị hóa 44
Bảng 4.11. Thay đổi thu nhập của hộ qua quá trình đô thị hóa 45

Bảng 4.12. Tình hình sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai của hộ 46
Bảng 4.13. Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của đô thị hóa 47
Bảng 4.14. Ý kiến của các hộ điều tra về kế hoạch trong thời gian tới 48

DANH MỤC CÁC BIỂU
Trang
Biểu đồ 4.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phường Đề Thám giai đoạn 2010 - 2013 34
Biểu đồ 4.2. Cơ cấu sử dụng tiền bồi thường đất đai của hộ 46





iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ĐTH

Đô thị hóa
CNH

Công nghiệp hóa
HĐH

Hiện đại hóa
UBND

Ủy ban nhân dân
SDĐ


Sử dụng đất
TĐC

Tái định cư
KCN

Khu công nghiệp
TTCN

Tiểu thủ công nghiệp
GPMB

Giải phóng mặt bằng
CSHT

Cơ sở hạ tầng
QHSX

Quan hệ sản xuất
LLSX

Lực lượng sản xuất




iv

MỤC LỤC

Trang

Phần 1: MỞ ĐẦU 7
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 7
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 8
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 8
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 8
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
2.1. Căn cứ pháp lý 9
2.1.1. Các văn bản của Trung ương 9
2.1.2. Các văn bản của tỉnh Cao Bằng 9
2.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa 9
2.2.1. Khái niệm về đô thị 9
2.2.2. Phân loại và phân cấp quản lý đô thị 10
2.2.3. Chức năng của đô thị 11
2.2.4. Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội 11
2.3. Lý luận về đô thị hóa 12
2.3.1. Khái niệm về đô thị hóa 12
2.3.2. Tính tất yếu của đô thị hóa 13
2.3.3. Quan điểm của đô thị hóa 13
2.3.4. Các tiêu chí đánh giá mức độ và quá trình đô thị hóa 13
2.4. Đất đô thị và quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa 14
2.4.1. Quan niệm về đất đai đô thị 14
2.4.2. Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai
trong quá trình đô thị hóa 15
2.5. Thực tiễn đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam 18
2.5.1. Tình hình đô thị hóa trên thế giới 18
2.5.2. Thực tiễn đô thị hoá ở Việt Nam 20
2.6. Các công trình nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam 21
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23



v
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 23
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.3. Nội dung nghiên cứu 23
3.3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Đề Thám ảnh
hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp. 23
3.3.2. Ảnh hưởng của ĐTH đến sử dụng đất nông nghiệp 23
3.3.3. Ảnh hưởng của ĐTH đến đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp 23
3.3.4. Đánh giá chung tác động của ĐTH 24
3.3.5. Đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo đời sống của hộ nông dân mất đất nông
nghiệp, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại
phường Đề Thám - thành phố Cao Bằng - Cao Bằng. 24
3.4. Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 24
3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu 25
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 26
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 26
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội và thực trạng đô thị hoá 32
4.1.3. Đánh giá thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến
sự phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa của phường Đề Thám. 34
4.2. Ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến biến động diện tích đất nông nghiệp
tại phường Đề Thám 36
4.2.1. Thực trạng của quá trình chuyển mục đích sử dụng đất 36
4.2.2. Thực trạng của công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất 38
4.2.3. Sự biến động về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại Phường Đề Thám. . 40

4.3. Ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế hộ nông dân tại phường Đề Thám. 41
4.3.1. Đô thị hoá với kinh tế hộ nông dân mất đất nông nghiệp 41


vi

4.3.2. Đánh giá sự ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế - xã hội của các
hộ thông qua các câu hỏi định tính 47
4.3.3. Kế hoạch của hộ nông dân phường Đề Thám trong thời gian tới 48
4.4. Đánh giá chung tác động của đô thị hóa tới sử dụng đất nông nghiệp trên địa
bàn phường Đề Thám. 49
4.4.1. Tác động tích cực 49
4.4.2. Tác động tiêu cực 50
4.5. Định hướng phát triển đô thị và một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống
kinh tế hộ, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại
phường Đề Thám 51
4.5.1. Định hướng phát triển không gian đô thị phường Đề Thám tới năm 2020 51
4.5.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế mất đất nông nghiệp và đảm bảo
đời sống hộ nông dân bị mất đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá tại
phường Đề Thám 51
4.5.3. Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối
với đất đai trong quá trình đô thị hóa ở phường Đề Thám. 56
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1. Kết luận 59
5.2. Kiến nghị 59



Phần 1:
MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là
tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được đối với các ngành sản xuất
nông - lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nền
tảng cho sự sống của con người và nhiều sinh vật khác.
Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển của thế giới thì quá trình đô thị hoá
(ĐTH) đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới vấn đề sử dụng đất nói chung và sử dụng
đất nông nghiệp nói riêng. Hòa theo xu thế đó, tốc độ ĐTH cũng đã và đang phát triển
mạnh mẽ tại tỉnh Cao Bằng và ảnh hưởng tới quá trình sử dụng đất nông nghiệp.
Năm 2012, thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III chính thức trở
thành thành phố Cao Bằng. Tốc độ ĐTH diễn ra mạnh mẽ kể từ đây. Trong chiến
lược phát triển Thành phố, phường Đề Thám là nơi được chọn để tập trung phát
triển làm trung tâm hành chính của thành phố Cao Bằng với khu đô thị mới Km5.
ĐTH đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh
Cao Bằng nói chung và phường Đề Thám nói riêng. Quá trình ĐTH đã làm cho diện
tích đất nông nghiệp tại phường Đề Thám có những thay đổi đáng kể: diện tích đất
cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn bị thu hẹp dần nhường cho diện tích
đất khu đô thị tăng lên nhanh chóng, quan hệ kinh tế đất đô thị cũng được tiền tệ
hóa theo quy luật của kinh tế thị trường. Quan hệ sử dụng đất đô thị có những phát
sinh phức tạp mà nhiều khi đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước - đó là
tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, sự quá tải của hạ tầng kỹ
thuật đô thị; ô nhiễm môi trường; thiếu vốn đầu tư… Đặc biệt đô thị phát triển
không đúng định hướng, mục tiêu của Nhà nước do công tác xây dựng và quản lý
quy hoạch chưa tốt. Giá cả đất đô thị trên thị trường bất động sản có những biến
động rất phức tạp, gây ra những khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội. Do biến
động của quan hệ sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa, tình hình chính trị xã hội
cũng có những biểu hiện xấu như: khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn; tình
trạng khiếu kiện ngày càng gia tăng, đặc biệt khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai
chiếm tỷ lệ lớn…



Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban giám hiệu
Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên và với sự hướng dẫn trực tiếp của Thầy giáo - ThS. Hoàng
Hữu Chiến, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị
hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng,
tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013”
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đánh giá được những tác động và mức độ ảnh hưởng của quá trình ĐTH đến
sử dụng đất nông nghiệp, đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp và đề xuất
giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở địa phương theo các mục tiêu
của phát triển bền vững.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Đề Thám
ảnh hưởng đến sử dụng đất.
- Nêu lên được thực trạng của quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của quá
trình đô thị hóa đến biến động sử dụng đất nông nghiệp của phường Đề Thám.
- Đánh giá được ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế hộ nông dân
tại phường Đề Thám
- Đề ra được các giải pháp nâng cao đời sống kinh tế hộ nông dân, tăng cường vai
trò quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại phường Đề Thám.
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: là cơ hội cho bản thân củng
cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường, đồng thời là cơ hội cho bản thân tiếp cận
với vấn đề ĐTH.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: tìm ra những mặt hạn chế và tích cực của
quá trình ĐTH ảnh hưởng tới vấn đề sử dụng đất nông nghiệp, từ đó đề xuất ra
những giải pháp thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương góp phần
đẩy nhanh quá trình này trong thời gian tới.




Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Căn cứ pháp lý
2.1.1. Các văn bản của Trung ương
- Luật Đất đai 2003.
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ
hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ
về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư.
- Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ
về việc phân loại đô thị.
- Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30 tháng 09 năm 2009 của Bộ Xây
dựng quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07
tháng 05 năm 2009 của Chính phủ về phân loại đô thị
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình
tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
2.1.2. Các văn bản của tỉnh Cao Bằng
- Quyết định số 06/2013/QĐ-UBND ngày 21 tháng 05 năm 2013 của UBND
tỉnh Cao Bằng về việc sửa đổi, bổ sung quy định ban hành kèm theo Quyết định số
3336/2009/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2009 và Quyết định số 638/2011/QĐ-
UBND ngày 9 tháng 4 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
- Quyết định số 05/2013/QĐ-UBND ngày 21 tháng 05 năm 2013 của UBND tỉnh
Cao Bằng về việc ban hành bảng giá nhà ở và các công trình xây dựng gắn liền với đất

để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [9].
2.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa
2.2.1. Khái niệm về đô thị
Ở Việt Nam, theo Nghị đinh số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009
của Chính phủ, quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí, tiêu
chuẩn sau [3]:


Thứ nhất: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc
gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong
tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng
lãnh thổ nhất định.
Thứ hai: đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ 4000
người trở lên.
Thứ ba: Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng
loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập
trung của thị trấn.
Thứ tư: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội
thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
Thứ năm: Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ
tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:
- Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và
có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị;
- Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ
mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững.
Thứ sáu: Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải
theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các
tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần
của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp
với môi trường, cảnh quan thiên nhiên.

2.2.2. Phân loại và phân cấp quản lý đô thị
Theo điều 4 Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của
Chính phủ. Đô thị được phân thành 6 loại gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô
thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định công nhận.
1. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
2. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là
thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
3. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành,
nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.


4. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.
5. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây
dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn [3].
2.2.3. Chức năng của đô thị
Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng khác
nhau, nhìn chung đô thị có các chức năng chủ yếu sau [1]:
* Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị. Sự phát triển kinh
tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán. Chính
yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và
CSHT tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hoá. tập trung
sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra
bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị.
* Chức năng xã hội: chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với
tăng quy mô dân cư đô thị. Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại,… là những vấn đề
gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường. Chức năng xã hội ngày càng
nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y

tế, đi lại,… thay đổi.
* Chức năng văn hoá: ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giải trí và giáo dục
cao. Do đó, ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung
tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn.
* Chức năng quản lý: tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục
tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa nâng
cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính
đáng của cá nhân. Do đó, Nhà nước phải có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị.
2.2.4. Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn
hoá của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất
kỹ thuật và văn hoá [1].
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất
phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy CNH nhanh chóng. Đô thị tối ưu hoá việc sử dụng
năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị
trường linh hoạt có năng suất cao. Các đô thị tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản


phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và
nông thôn. Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nước.
Đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồng
nông thôn đi trên con đường tiến bộ văn minh.
2.3. Lý luận về đô thị hóa
2.3.1. Khái niệm về đô thị hóa
Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình ĐTH và đưa
ra không ít định nghĩa cùng với những định giá về quy mô, tầm quan trọng và dự
báo tương lai của quá trình này.
“Đô thị hóa (Urbanization) là quá trình tập trung dân số vào các đô thị và sự
hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị do yêu cầu công nghiệp hóa. Trong

quá trình này có sự biến đổi về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức
sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang
thành thị” [2].
“Đô thị hóa là thay đổi trật tự sắp xếp một vùng nông thôn theo các điều kiện
của thành phố. Đây là một trong những biện pháp biến nông thôn thành những nơi
làm việc hấp dẫn, có điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đáp
ứng những nhu cầu về nông sản phẩm cho xã hội, góp phần làm tăng GDP nhưng
điều này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, mỗi vùng” [2].
Tóm lại, ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong
nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện
sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở
hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật.
* Sự phát triển của đô thị hóa
Quá trình ĐTH thực chất cũng là một quá trình phát triển kinh tế xã hội, hơn
nữa nó còn là quá trình phát triển về văn hoá và không gian kiến trúc. Nó gắn liền
với tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới. Quá trình
ĐTH có thể theo hai xu hướng:
- ĐTH tập trung: là toàn bộ công nghiệp và dịch vụ công cộng tập trung vào các
thành phố lớn, hình thành và phát triển các đô thị lớn, khác biệt nhiều với nông thôn.
- ĐTH phân tán: là hình thái mạng lưới điểm dân cư có tầng bậc phát triển
cân đối công nghiệp và dịch vụ công cộng, bảo đảm cân bằng sinh thái, tạo điều
kiện làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân cư đô thị và nông thôn. Hình thành


mạng lưới đô thị vừa và nhỏ trên các vùng, có vai trò thúc đẩy phát triển nông thôn
giảm khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn.
2.3.2. Tính tất yếu của đô thị hóa
Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi chuyển
biến từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con đường CNH
thì đều gắn liền với ĐTH.

Trong lịch sử cận đại, ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình CNH
tư bản chủ nghĩa và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo
hướng HĐH: tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của
ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP. Nhìn chung, từ góc độ kinh tế,
ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự phát triển.
Như vậy, ĐTH là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm, tình hình
chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu và không
thể đảo ngược của sự phát triển xã hội. ĐTH là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và
trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới.
2.3.3. Quan điểm của đô thị hóa
CNH và cùng với nó là ĐTH trở thành xu thế chung của mọi quá trình
chuyển từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp. Vấn đề quan
trọng đặt ra là làm gì và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cực của ĐTH,
đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của nó. Điều này cũng đồng nghĩa với việc quá trình
ĐTH phải gắn liền với khái niệm “phát triển bền vững”.
Như vậy, ĐTH phải vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo
môi trường tự nhiên trong lành, sự công bằng và tiến bộ xã hội. Tuy rằng tăng
trưởng kinh tế là yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất của quá trình ĐTH song nó
vẫn chỉ là một nhân tố, một phương tiện hơn là một mục tiêu tối thượng. Mục tiêu
của ĐTH là phải không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần
của con người, tức là phát triển đô thị lấy con người làm trọng tâm [2].
2.3.4. Các tiêu chí đánh giá mức độ và quá trình đô thị hóa
Quá trình ĐTH sẽ được đánh giá thông qua một số tiêu chí sau:
1) Tốc độ tăng dân số cơ học: ĐTH gắn liền với tăng dân số khu vực thành
thị, tuỳ theo số lượng dân số kết hợp với CSHT của khu vực thành thị đó mà được
Nhà nước quy định cấp độ đô thị theo 5 loại từ loại 1 đến loại 5. Như vậy, có thể
thấy tốc độ tăng dân số cơ học là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ ĐTH.


2) Tỷ lệ dân số nông nghiệp/tổng dân số: chúng ta biết ĐTH gắn liền với

CNH do vậy số nhân khẩu, lao động sống bằng các nguồn thu chính từ nông nghiệp
và phi nông nghiệp sẽ giúp ta đánh giá được mức độ ĐTH của một địa phương,
thông thường với các khu đô thị lớn tỷ lệ dân số nông nghiệp/tổng số dân là rất nhỏ.
3) Cơ cấu thu nhập: một chỉ tiêu quan trọng khác để đánh giá mức độ ĐTH
đó là tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp trong tổng thu nhập của
một địa phương, thường quá trình ĐTH tăng sẽ kéo theo sự gia tăng của tỷ trọng thu
nhập của các ngành nghề phi nông nghiệp trong tổng thu nhập.
2.4. Đất đô thị và quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa
2.4.1. Quan niệm về đất đai đô thị
Đất đô thị là phần diện tích đất có giới hạn bao gồm đất liền, khu vực mặt
nước và khoảng không gian được sử dụng để quy hoạch xây dựng thành phố như:
xây dựng nhà ở, trụ sở cơ quan, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các cơ sở hạ tầng kỹ
thuật đô thị: xây dựng đường giao thông, mạng lưới điện chiếu sáng, điện sinh hoạt,
điện sản xuất, mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống cấp và thoát nước, quảng
trường và các công trình công cộng, sông ngòi, công viên và diện tích đất dùng cho
cây xanh môi trường, đất sử dụng cho mục đích an ninh quốc phòng và các mục
đích đa dạng khác.
Đất đô thị có thể phân thành hai loại:
- Đất đai thành phố: là đất nội thành, nội thị được sử dụng để xây dựng các
khu đô thị, các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các công trình đô thị khác.
- Khu quy hoạch phát triển đất đai thành phố: bao gồm diện tích đất nông
nghiệp, đất khu vực dân cư nông thôn lân cận ngoại ô thành phố và các loại đất
khác nằm trong quy hoạch dự kiến chuyển thành đất thành phố.
Theo quy định tại điều 1 nghị định số 91/NĐ-CP ngày 17/08/1994 của Chính
phủ về việc “ban hành điều lệ quản lý quy hoạch đô thị”, đô thị bao gồm các thành
phố, thị xã, thị trấn. Theo quy định này, đất đô thị là diện tích đất nằm trong ranh
giới hành chính của các thành phố, thị xã, thị trấn. Nghị định số 88/NĐ-CP ngày
07/08/1994 của Chính phủ về quản lý và sử dụng đất đô thị còn quy định: “Đất
ngoại thành, ngoại thị đã có quy hoạch, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê
duyệt để phát triển đô thị cũng được quản lý như đất đô thị”. Xét về góc độ kinh tế

chính trị, đất đô thị là loại đất chủ yếu được dùng để xây dựng và phát triển các
công trình đô thị, đó là loại đất đã chứa những khoản đầu tư lớn trong quá trình khai
thác đất đai thành thị, vì vậy có sức sản xuất cao, có giá trị sử dụng rất lớn. Xu


hướng phát triển và quy mô của đất đô thị liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ giữa
QHSX và LLSX, mà cốt lõi là chế độ sở hữu nói chung, trong đó có sở hữu đất đai
được, quy định bởi chế độ kinh tế chính trị xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, đất đô thị là loại đất mang lại địa tô chênh lệch cao cho chủ sở hữu
đất, trong khi phát triển đô thị là nhu cầu tất yếu của quá trình CNH-HĐH đất nước.
Khi nói về đất đô thị, C.Mác viết: “Thật ra người ta có thể tập trung một nền sản
xuất lớn trên một khoảng không gian nhỏ so với sự phân tán của thủ công nghiệp,
và chính đại công nghiệp đã làm như vậy” [2] và khi nền sản xuất đại công nghiệp
đã đạt đến giới hạn của việc sử dụng chiều cao không gian thì “việc mở rộng sản
xuất cũng đòi hỏi mở rộng diện tích đất đai” [2]. Đối với những đô thị như phường
Đề Thám, quá trình ĐTH diễn ra khá nhanh ở cả hai khu vực nhằm đáp ứng yêu cầu
của sự phát triển. Trong các khu vực đô thị cũ, quá trình ĐTH (sắp xếp và cải tạo đô
thị) nhằm HĐH đô thị, trên cơ sở cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị kết hợp
với phân bố lại quỹ đất và bố trí hợp lý các công trình đô thị. Đồng thời với việc
nâng cấp, HĐH các khu đô thị cũ là quá trình xây dựng các khu đô thị mới, quá
trình này đòi hỏi chuyển một diện tích đất từ các loại đất khác thành đất đô thị để
phát triển đô thị, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH. Tuy nhiên quá trình ĐTH không phải
là quá trình chuyển mục đích SDĐ của toàn bộ diện tích đất khác thành đất phi
nông nghiệp, một phần diện tích đất nông nghiệp vẫn được giữ lại nhằm đảm bảo
môi trường sinh thái cho đô thị và tạo ra không gian thẩm mỹ cho đô thị. Như vậy
QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH không chỉ đơn thuần là quản lý đất đô
thị mà còn bao gồm diện tích đất quy hoạch phát triển đô thị và diện tích đất nông
nghiệp trong đô thị. Tuy vậy, đến thời điểm hiện nay, chưa có văn bản quy định nào
đưa ra tiêu chuẩn về cơ cấu giữa đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp trong đô thị.
2.4.2. Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai

trong quá trình đô thị hóa
Do quá trình ĐTH, dân số đô thị tăng lên cùng với nhu cầu phát triển của các
ngành, các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; diện tích đất phải thu hồi, chuyển
mục đích sử dụng để xây dựng đô thị tăng lên làm phát sinh nhiều biến động phức
tạp trong quan hệ sử dụng đất đô thị. Nhà nước vừa thực hiện chức năng là đại diện
chủ sở hữu toàn dân về đất đai, vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước như tất
cả các Nhà nước khác trên thế giới, đồng thời với bản chất của Nhà nước XHCN,
Nhà nước còn có nhiệm vụ rất quan trọng là phục vụ và bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân. Do đó, quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình ĐTH không


chỉ nhằm mục tiêu phát triển đô thị mà còn phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu đời sống
của dân cư đô thị. Mặt khác trong quá trình ĐTH, quan hệ đất đai có nhiều biến
động mạnh về cả quyền chi phối, quyền quản lý và quyền sử dụng, do chức năng
đặc biệt quan trọng của đô thị là chức năng về kinh tế tác động. Vì vậy, trong quá
trình ĐTH vấn đề tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về đất đai là xuất phát từ
nhân tố khách quan do thực tiễn phát triển của đất nước đặt ra.
ĐTH là quá trình tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của mỗi quốc
gia. Nhân tố quan trọng và là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình ĐTH là trong quá
trình CNH, người dân ở các vùng quê đổ ra thành phố để mong kiếm được cơ hội
việc làm tốt hơn, thoát khỏi đói nghèo. Làn sóng người nhập cư ồ ạt đã khiến các
thành phố trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường sống và làm cho việc xây dựng
trong các đô thị trở nên lộn xộn, vô tổ chức, gây ra những khó khăn bức xúc trong
công tác quản lý của Nhà nước đối với đô thị.
Dân số đô thị là động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã
hội của đô thị. Ở nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) dân số là cơ sở để
phân loại đô thị trong công tác quản lý và xác định quy mô đất đai của đô thị. Quy
mô của đô thị được đánh giá qua số lượng dân số đô thị chứ không phải qua diện
tích đất đai đô thị. Dân số đô thị là cơ sở để xác định số lượng, diện tích nhà ở cần
xây dựng, hệ thống cơ sở hạ tầng kiến trúc cho đô thị cũng như việc hoạch định các

chính sách phát triển và kế hoạch đầu tư cho đô thị. Tuy vậy, tỷ lệ gia tăng dân số
đô thị ở các nước đang phát triển chưa phản ánh đúng tốc độ CNH, như trường hợp
của các nước phát triển ở châu Âu hoặc ở Mỹ, Nhật Bản. Ở các nước phát triển, tốc
độ tăng trưởng dân số đô thị do nhập cư từ nông thôn vào là không lớn, còn ở các
nước đang phát triển thì tỷ lệ này lại là chủ yếu, mà lý do chính là sức hấp dẫn từ sự
chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn. Ví dụ như ở Trung Quốc, thu
nhập quốc dân bình quân đầu người năm 1995 là 6.463 Nhân dân tệ thì ở các thành
phố lớn là 11.369 Nhân dân tệ.
So sánh tốc độ phát triển hiện nay của Mỹ và các nước phát triển khác trong
nhóm G8, tốc độ tăng trưởng của Mỹ vẫn đứng đầu và khá ổn định. Trong khi đó ở
các nước phát triển khác, kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến nay, tốc độ
phát triển dân số giảm dần và có nguy cơ không đáp ứng được lao động cho nhu cầu
sản xuất xã hội. Theo dự báo đến năm 2050 dân số của Mỹ sẽ tăng lên đến khoảng
550 triệu trong khi dân số châu Âu là 360 triệu vào thời điểm đó.


Ở nước ta tình hình biến động dân số cũng không nằm ngoài quy luật chung
của thế giới. Theo số liệu thống kê, vào năm 1930 cả nước có 17,6 triệu dân, đến
năm 1960 cả nước có 30,2 triệu dân, sau 25 năm dân số nước ta đã tăng gấp đôi: 60
triệu dân vào năm 1985. Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2005, dân số cả nước
đã là hơn 83 triệu người. Mức tăng trưởng dân số đô thị cũng có mức thay đổi đáng
kể. Nếu năm 1990 tỷ lệ tăng dân số đô thị là 2,8% thì năm 1998 con số này là
4,58% và năm 2005 đã đạt gần 5%. theo báo cáo của Bộ Xây dựng vào năm 1986,
dân số đô thị nước ta là 11,87 triệu người, đến năm 1999 dân số đô thị đã là 18 triệu
người, đến năm 2005 là hơn 23 triệu người, nâng tỷ lệ ĐTH từ 19,3% lên 25%.
Để tránh tình trạng đất đai bị chuyển mục đích sử dụng trái phép, sử dụng
không đúng quy hoạch, kế hoạch, nguồn tài nguyên đất đô thị bị lãng phí, cùng với
đó là tình trạng đô thị được xây dựng lộn xộn và tình trạng đói nghèo ở đô thị… Đòi
hỏi tăng cường vai trò của Nhà nước trong hoạt động quản lý đối với đất đai trong
quá trình ĐTH. Khi quy mô của đô thị tăng lên, các nguồn lực tài chính cần thiết để

xây dựng mới và duy trì hệ thống CSHT và dịch vụ đô thị là vô cùng lớn. Yêu cầu
các biện pháp chiến lược cũng như kế hoạch cụ thể để huy động có hiệu quả các
nguồn lực, phải hết sức năng động và sáng tạo. Điều đó đòi hỏi phải tăng cường vai
trò quản lý của Nhà nước đối với đất đô thị, nhằm khai thác hợp lý, có hiệu quả
nguồn lực đất đai đô thị với chức năng cung cấp vốn đầu tư cho sự phát triển của đô
thị. Nếu Nhà nước buông lỏng quản lý đất đai, tập trung quá cao dân số ở các thành
phố lớn và cực lớn (chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển), vấn đề nhà ở sẽ
không được giải quyết một cách đầy đủ. Đặc biệt các khu nhà dành cho người lao
động thường thiếu tổ chức, chắp vá, hình thức nghèo nàn, điều kiện sống không đầy
đủ, thiếu vệ sinh, môi trường sống đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Theo số liệu
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vào thời điểm tháng 8 năm 2005 cả nước có 135 KCN
đã được phê duyệt thành lập, trong đó có 81 KCN đang được vận hành với tổng
diện tích 17.705 ha. Theo quy hoạch được Chính phủ phê duyệt vào tháng 8/2005,
đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 cả nước có khoảng 80.000 ha đất dành
cho các khu công nghiệp. Vấn đề đặt ra cho hoạt động quản lý Nhà nước là cùng
với mở rộng diện tích các KCN, diện tích đất đô thị sẽ tăng lên với tốc độ và quy
mô rất lớn, đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trên mọi lĩnh vực.
trong đó đặc biệt quan trọng là quản lý đất đai đô thị, đáp ứng yêu cầu của dân cư
đô thị tăng lên rất nhanh trong quá trình CNH. Đồng thời tình trạng đầu cơ đất nảy
sinh đã làm cho giá đất tại các thành phố cao vọt (tạo ra những cơn sốt đất giả tạo)


gây thiệt hại rất lớn cho Nhà nước trong bồi thường GPMB. Mật độ xây dựng trong
các khu đô thị cao, các công trình kiến trúc cũng phải phát triển theo chiều cao, dẫn
tới khủng hoảng về xây dựng trong đô thị, đô thị sẽ thiếu đất trống để trồng cây
xanh và các công trình công cộng phúc lợi xã hội. Ở hầu hết các nước trên thế giới,
người ta đã phải tiến hành cải tạo hàng loạt các đô thị với chi phí rất lớn như: Pari
(Pháp), Băng Cốc (Thái Lan), Thượng Hải (Trung Quốc),… gây quá tải cho ngân
sách Nhà nước. Ở nước ta, tình trạng này cũng khá phổ biến ở hầu hết các thành
phố lớn, đặc biệt là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ảnh hưởng rất

lớn tới việc đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của cả nước, buộc Chính phủ và
Chính quyền các thành phố phải có nhiều biện pháp mạnh để ngăn chặn.
2.5. Thực tiễn đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam
Tiến trình ĐTH gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của lịch sử nhân loại. Quá
trình này vừa là sản phẩm của nền văn minh, vừa là động lực của những bước tiến
kì diệu mà nhân loại đã đạt được trong mấy thiên niên kỷ qua.
Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp truyền thống với thực tế ĐTH thấp
và chậm trong lịch sử đang bước vào thời kỳ mới của nền kinh tế thị trường, thời kỳ
CNH - HĐH, việc nghiên cứu tìm hiểu diễn biến của quá trình ĐTH trên thế giới
càng có ý nghĩa to lớn cả về mặt nhận thức, lý luận cũng như giá trị thực tiễn.
2.5.1. Tình hình đô thị hóa trên thế giới
Theo các nhà sử học, lịch sử loài người đã chứng kiến hai cuộc cách mạng đô thị.
Cuộc cách mạng đô thị lần thứ nhất diễn ra từ 8000 năm trước Công
Nguyên, vào thời kỳ đồ đá mới, khi lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện một khu
định cư kiểu đô thị. Đó là “thành phố” Jenricho, nằm ở phía bắc biển Chết, thuộc
vùng đất Ixrael ngày nay, với dân số khoảng 600 người - một thị trấn nhỏ, hết sức
nghèo nàn so với tiêu chuẩn hiện nay.
`Cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII ở châu Âu
và sau đó lan sang Bắc Mỹ. Là hệ quả tất yếu của quá trình CNH tư bản chủ nghĩa,
từ thời điểm này quá trình ĐTH đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong lịch sử
phát triển của nhân loại.
Ngày nay các nhà khoa học còn nói đến cuộc cách mạng đô thị lần thứ ba,
đang diễn ra trong các nước thuộc thế giới thứ 3, nơi mà hiện tại tỷ lệ dân số đô thị
chiếm khoảng 30% trong tổng dân số. Cuộc cách mạng đô thị lần thứ 3 dường như
là sự lặp lại cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai, song nó có những nét độc đáo của
những điều kiện không gian và thời gian mới.


Như vậy, theo thời gian, có thể hình dung ĐTH trên thế giới là một quá trình
lịch sử xuyên suốt ba cuộc cách mạng đô thị này. Những hiện tượng nổi bật của quá

trình ĐTH là: dòng di cư mạnh mẽ từ nông thôn vào thành thị khiến cho tỷ lệ dân
đô thị tăng nhanh, số lượng các đô thị ngày một nhiều, các đô thị lớn lên, phình to
ra, đời sống xã hội dần mang tính đô thị hơn là nông thôn.
ĐTH là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngày một tăng,
đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển. Theo các chuyên gia nghiên cứu về ĐTH
thì trong tiến trình ĐTH từ nửa sau thế kỷ XX có chung một đặc điểm là: ở giai
đoạn đầu, tỷ lệ dân số đô thị trên tổng dân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị
nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển.
Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỷ lệ dân số đô thị
toàn thế giới từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17,8% lên đến
40,5% trong khi khu vực phát triển là từ 54,99% đến 76,1%.
Hiện tại tỷ lệ ĐTH ở châu Á là 35%, châu Âu 75%, châu Phi 45%, Bắc Mỹ
90% và 80% ở Mỹ La Tinh. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong 1/4 thế kỷ tới,
việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà phần lớn thuộc các nước
kém phát triển. Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống ở các đô thị [2].
Bảng 2.1. Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các giai đoạn
Đơn vị tính: %
Năm

Khu vực
1950 1970 1990 2000
Toàn thế giới 29,7 36,7 43,7 47,4
Khu vực phát triển 55,0 66,7 73,7 76,1
Khu vực kém phát triển 77,8 25,1 34,7 40,5
Khu vực kém phát triển nhất 7,1 12,7 20,1 25,4
(Nguồn: World Urbanzation prospect: 1996, New York 1997)
Theo “dân số và tiến trình đô thị hoá động thái phát triển và triển vọng” của
phó tiến sĩ Trần Cao Sơn, số lượng các tụ điểm được coi là lớn nhất các thành phố
có số dân 10 triệu trở lên cũng tăng lên nhanh chóng. Năm 1950 chỉ có New York
(Mỹ) đạt mức độ này nhưng 20 năm sau (1970) có thêm Tokyo (Nhật Bản) và

Thượng Hải (Trung Quốc), con số này còn tăng lên 13 thành phố vào năm [2].
Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH-HĐH.
Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc sống


con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo
vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô tiêu hao nhiên
liệu, năng lượng,… Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu
người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm 2025.
Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:
- Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra thành thị trong đó yêu cầu nhất thiết
phải nâng cao mức sống nông thôn.
- Khi tập trung quá tải cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì
đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hoà dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và
nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ, xây dựng CSHT, có cơ sở xã hội thoả đáng…
2.5.2. Thực tiễn đô thị hoá ở Việt Nam
Là một trong những nước nghèo (tính theo GDP bình quân đầu người) trong
số các nước phát triển, Việt Nam không thoát khỏi những đặc trưng có tính quy luật
của quá trình ĐTH quá tải. Hơn nữa còn có những “đặc thù Việt Nam”. Ta có thể
điểm sơ lược qua quá trình ĐTH ở Việt Nam qua các thời kỳ sau:
* Thời kỳ trước đổi mới
Trong giai đoạn này, quá trình ĐTH hầu như không có biến động, phản ánh
nền kinh tế còn trì trệ.
* Thời kỳ từ sau đổi mới
Dưới tác động của công cụ đổi mới, cải tổ nền kinh tế theo định hướng thị
trường thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu lao động, nghề nghiệp cũng như
khuôn mẫu của đời sống đô thị đã và đang diễn ra những biến đổi quan trọng.
Quá trình ĐTH đã có những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt trong những năm
gần đây tình hình CNH đang diễn ra mạnh mẽ. Tốc độ ĐTH ở Việt Nam đang diễn ra
khá nhanh: 18,5% (năm 1989), 20,5% (năm 1997), 23,65% (năm 1999) và 25% (năm

2004 [1]. Về số lượng đô thị, năm 1990, cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến
năm 2000 đã có 703 đô thị, trong đó: 2 đô thị có quy mô dân số trên 3 triệu người, 15 đô
thị quy mô dân số từ 25 vạn đến 3 triệu người, 74 đô thị có quy mô dân số từ 5 vạn đến
25 vạn người và các đô thị còn lại có quy mô dân số dưới 5 vạn [2].
Tuy vậy ĐTH ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới.
ĐTH cũng làm nảy sinh những mặt tiêu cực sau:
- Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông
nghiệp. Theo Hội Nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp,


khu đô thị, CSHT, mỗi năm Việt Nam có gần 200 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển
mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm [2].
- Dân số đô thị tăng nhanh đã làm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bị quá tải,
đặc biệt là tình trạng yếu kém của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý
chất thải rắn…
- Tốc độ phát triển quá nhanh của đô thị đã vượt khả năng điều hành của
Chính quyền địa phương.
- Vấn đề đói nghèo và thất nghiệp đang diễn ra ở các đô thị. Sự thiếu hiểu
biết của người dân kéo theo sự mất an toàn xã hội.
Trước những thách thức trên, quá trình ĐTH đã được Chính phủ quan tâm
kịp thời. Ngày 23 tháng 1 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Định
hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020” trong quyết định số
10/1998/QĐ - TTg, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển các đô
thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng [2].
2.6. Các công trình nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các hình thái đô thị và quá trình ĐTH
trên thế giới và khu vực.
Từ cuối thế kỷ XIX, Cerda - kỹ sư người Catalan vẽ quy hoạch thành phố
Barcelone, đặt ra thuật ngữ “urbanisacion” (sau này đã có trong tiếng Pháp:
“urbanization” - ĐTH). Ông tin rằng ĐTH là một kế hoạch và tồn tại nhiều nguyên

lý cơ bản chi phối sự kiến thiết một đô thị. Ông cũng ý thức về tầm quan trọng của
việc quản lý thành phố một cách toàn diện với sự huy động kế hoạch về nhiều lĩnh
vực của quản lý đô thị [2]. Trong nửa đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu khoa học
đã có những quyết định khác nhau về các mô hình đô thị. Năm 1925, nhà xã hội học
Ernest Burgess (Mỹ) đã đem ra “mô hình làn sóng điện”. Theo mô hình này thì
thành phố chỉ có một trung tâm và 5 vùng đồng tâm. Đặc điểm chung của mô hình
đô thị này là tất cả các lĩnh vực đều có xu hướng mở rộng. “Mô hình thành phố đa
cực” được hai nhà địa lý Marris và Ullman đưa ra vào năm 1945. Mô hình chủ yếu
tính đổi các dạng đô thị mới phát sinh do sự phát triển của phương tiện giao thông
[2]. Vào năm 1939, “mô hình phát triển theo khu vực” do chuyên gia địa chính
Hamer Hoyt đưa ra chủ yếu tính đến các dạng đô thị phát triển với sự HĐH các quá
trình giao thông và nhiều thành phần phát triển theo kiểu khu phố. Có thể nói đây là
hệ thống hoàn chỉnh nhất vì nó đã tính đến các trục giao thông lớn.


Có nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình phát triển đô thị. Francois
Perrous với quan điểm “thuyết kinh tế chủ đạo” hay còn gọi là “thuyết về các cực
tăng trưởng”. Ông cho rằng chỉ ở trung tâm đô thị của hai vùng có sự phát triển các
ngành công nghiệp, có sức bành chướng mạnh mới có khả năng tăng trưởng lớn
nhất. Nông nghiệp trọng tâm đô thị ấy là những cực tăng trưởng. Đây chính là quan
điểm phát triển đô thị lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm. Tuy nhiên, theo nghiên
cứu của David C. Korkn cần phát triển đô thị lấy con người làm trung tâm. Ông cho
rằng “phát triển là một tiến trình quá trình qua đó các thành viên của xã hội tăng
được khả năng cá nhân và định chế của mình để huy động các nguồn lực, tạo ra
những thành quả bền vững và được phân phối công bằng nhằm cải thiện chất lượng
cuộc sống phù hợp với cuộc sống của họ” [2].
Trong những năm gần đây các ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng đã
có những công trình nghiên cứu về ĐTH ở Việt Nam. Đó là các nghiên cứu về “tác
động kinh tế xã hội và môi trường của quá trình ĐTH đối với các vùng nông thôn
xung quanh các đô thị lớn”, nghiên cứu “tri thức, thái độ hành vi ứng xử của cộng

đồng đối với vấn đề rác thải, môi trường đô thị…” [2].
Những đề tài nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan
liên quan đến việc hoạch định cuộc sống, kế hoạch và quá trình phát triển đô thị nói
riêng và cuộc sống, quan hệ phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Tháng 11/2004,
Bộ Xây dựng đã tổ chức các hội nghị nhằm trao đổi chiến lược phát triển đô thị gắn
với xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam, đây là một chiến lược quan trọng mà Việt
Nam đang tích cực triển khai thực hiện [2].









Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề về lý luận và thực tiễn về đô thị, ĐTH và ảnh hưởng của nó
tới phát triển kinh tế xã hội của phường Đề Thám.
- Quá trình ĐTH tại phường Đề Thám.
- Những vấn đề liên quan đến ĐTH.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: nghiên cứu trên địa bàn phường Đề Thám - thành phố
Cao Bằng - Cao Bằng.
- Phạm vi thời gian: năm 2010 và tiến trình ĐTH tại phường Đề Thám đến
năm 2013.

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: địa bàn phường Đề Thám - thành phố Cao Bằng -
Cao Bằng.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 05 năm 2014
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Đề Thám ảnh
hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp.
- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên của phường Đề Thám - thành phố Cao
Bằng - Cao Bằng.
- Đặc điểm về tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng ĐTH tại phường Đề Thám.
- Đánh giá tiềm năng, cơ hội và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội đến sự phát triển kinh tế - xã hội và ĐTH của phường Đề Thám.
3.3.2. Ảnh hưởng của ĐTH đến sử dụng đất nông nghiệp
- Ảnh hưởng của đô thị hóa đến biến động diện tích đất nông nghiệp:
+ Thực trạng của quá trình chuyển mục đích sử dụng đất.
+ Thực trạng của công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất.
+ Vấn đề chuyển mục đích sử dụng giữa các loại đất trong quá trình ĐTH.
3.3.3. Ảnh hưởng của ĐTH đến đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp
- Ảnh hưởng của ĐTH tới đời sống kinh tế - xã hội của hộ gia đình:
+ Ảnh hưởng của ĐTH tới biến động đất đai của hộ.

×