Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

Nghiên cứu kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới của xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (532.35 KB, 76 trang )

I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM



PHAN HNG DIU


Tờn ti:
Nghiên cứu kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới của
xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

khóa luận tốt nghiệp ĐạI HọC






H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Phỏt trin nụng thụn
Lp : K42 - PTNT
Khoa : KT&PTNT
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn : PGS.TS. Dng Vn Sn







Thỏi Nguyờn, nm 2014
LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, Ban
chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, tôi đã tiến hành khóa luận tốt
nghiệp: “Nghiên cứu kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới của xã Vĩnh
Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang”.
Sau thời gian thực tập, nghiên cứu, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của
các thầy giáo, cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn Trường đại học
Nông lâm Thái Nguyên cũng như sự giúp đỡ và chỉ bảo của các bác, các chú,
các chị ở nơi thực tập, tôi đã hoàn thành khóa thực tập tốt nghiệp của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong
khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn Trường đại học Nông lâm Thái Nguyên
đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Dương Văn Sơn người
Thầy đã hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy Ban Nhân dân xã Vĩnh Phúc cũng như
bà con nông dân trong xã cùng các phòng ban của xã đã tạo mọi điều kiện cho
tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Do thời gian nghiên cứu cũng như trình độ bản thân còn hạn chế nên bản
khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong được sự
đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo để bản khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 01 tháng 06 năm 2014
Sinh viên



Phan Hồng Diệu

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Vĩnh Phúc năm 2013 27
Bảng 4.2. Kết quả thực hiện và chỉ tiêu phát triển kinh tế của xã Vĩnh Phúc
giai đoạn 2011-2013 29
Bảng 4.3. Kết quả sản xuất kinh tế hộ của xã Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2013 30
Bảng 4.4. Cơ cấu thu nhập theo ngành nghề của xã Vĩnh Phúc năm 2013 31
Bảng 4.5. Kết quả thực hiện và phát triển một số chỉ tiêu trồng trọt và chăn
nuôi của xã Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2013 32
Bảng 4.6. Diện tích, dân số, mật độ dân số của xã Vĩnh Phúc chia theo thôn
năm 2013 34
Bảng 4.7. Tình hình dân số và lao động của xã Vĩnh Phúc qua 3 năm 35
Bảng 4.8. Thông tin cơ bản về chủ hộ 41
Bảng 4. 9. Thông tin cơ bản về nhóm hộ 42
Bảng 4.10. Cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra (Đvt: %) 43
Bảng 4.11. Thực trạng cơ cấu đất đai của nông hộ (Đvt:%) 44
Bảng 4.12. Tình hình sử dụng vốn của nhóm hộ (Đvt: %) 45
Bảng 4.13. Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của nhóm hộ 47
Bảng 4.14. Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của nhóm hộ 48
Bảng 4.15. Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp của hộ 50
Bảng 4.16. Cơ cấu thu nhập và thu nhập bình quân của các hộ tại địa bàn
nghiên cứu 51





DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Cơ cấu kinh tế xã Vĩnh Phúc năm 2013(%) 31


Hình 4.2. Tình hình dân số và lao động của xã Vĩnh Phúc 36

giai đoạn 2011-2013 36





















DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa
PTNT Phát triển nông thôn
PGS-TS Phó giáo sư - Tiến sĩ

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
NTM Nông thôn mới
TW Trung ương
NQ/TW Nghị quyết trung ương
NQ/CP Nghị quyết chính phủ
TTLT Thông tư liên tịch
BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BKHĐT Bộ Kế hoạch - Đầu tư
BTC Bộ Tài chính
XDNTM Xây dựng nông thôn mới
KH/BCĐ Kế hoạch ban chỉ đạo
ĐVT Đơn vị tính
LĐNN Lao động nông nghiệp
BQ Bình quân
QĐ/UBND Quyết định uỷ ban nhân dân
TT Thông tư
HĐND Hội đồng nhân dân
LĐ Lao động


MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2. Mục tiêu chung 2

1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2


1.4. Ý nghĩa của đề tài 2

1.4.1. Ý nghĩa lý luận và khoa học 2

1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

2.1. Khái niệm và thuật ngữ liên quan 4

2.1.1.Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân 4

2.1.2. Khái niệm nông nghiệp, nông thôn 8

2.1.3. Khái niệm sinh kế 9

2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ 10

2.2. Thực tiễn phát triển kinh tế hộ hiện nay 13

2.2.1. Kinh nghiệm và tình hình phát triển kinh tế hộ ở các nước trên thế giới 13
2.2.2. Kinh nghiệm và tình hình phát triển kinh tế hộ ở Việt Nam 15

2.2.3. Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 16

2.2.4. Tình hình phát triển kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới của xã
Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 19

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 21


3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 21

3.2. Nội dung nghiên cứu 21

3.3. Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 22


3.3.1. Tiếp cận nghiên cứu 22

3.3.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 23

3.4. Phương pháp thu thập số liệu 23

3.4.1. Thu thập số liệu thứ cấp 23

3.4.2. Thu thập số liệu sơ cấp 23

3.5. Phương pháp phân tích xử lý số liệu 24

3.6. Phương pháp nghiên cứu chung 24

3.7. Hệ thống chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu đề tài 24

3.7.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ 24
3.7.2. Các chỉ tiêu phản ánh đời sống thu chi của nông hộ 25


3.7.3. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và các công thức tính 25

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu 26

4.1.1. Điều kiện tự nhiên 26

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 29

4.2. Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp và thu nhập về nông nghiệp
của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu 40

4.2.1. Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu 46

4.2.2. Thu nhập từ nông nghiệp của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu 47

4.3. Thực trạng phát triển sản xuất phi nông nghiệp và thu thập về phi nông
nghiệp của hộ tại địa bàn nghiên cứu 49

4.3.1. Thực trạng phát triển sản xuất phi nông nghiệp của hộ tại địa bàn
nghiên cứu 49

4.3.2. Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp của các hộ tại địa bàn nghiên
cứu 50

4.4. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong phát triển
kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới ở xã 51



4.4.1. Điểm mạnh 51

4.4.2. Điểm yếu 52

4.4.3. Cơ hội 52

4.4.4. Thách thức 53

4.5. Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế hộ 53

4.5.1. Phương hướng, nhiệm vụ năm 2014 53

4.5.2. Giải pháp phát triển kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới tại Xã
Vĩnh Phúc 54

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 57

5.1. Kết luận 57

5.2. Khuyến nghị 58

5.2.1. Đối với nhà nước 58

5.2.2. Đối với địa phương 59

5.2.3. Đối với hộ nông dân 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61



1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một chủ chương lớn của Đảng và
Nhà nước ta. Nông nghiệp, nông thôn có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng
trong chiến lược phát triển kinh tế của của đất nước, đặc biệt là trong quá
trình CNH, HĐH như hiện nay.
Kinh tế hộ có vị trí và vai trò to lớn, là đơn vị kinh tế tự chủ, là chủ thể
quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ, được coi trọng khuyến khích phát triển
trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo định hướng xã hội chủ
nghĩa và có sự quản lý của nhà nước.
Kinh tế hộ đã góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xã hội
như: Lương thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu, góp phần sử dụng đầy đủ
và có hiệu quả các yếu tố sản xuất như: Đất đai, lao động, vốn và tư liệu sản
xuất. Phát triển kinh tế hộ không những có vai trò to lớn về mặt kinh tế mà
còn có vai trò lớn về mặt xã hội vì việc gia tăng sản phẩm hàng hóa và hiệu
quả kinh tế trong nông nghiệp đã góp phần làm tăng thêm việc làm, nâng cao
thu nhập cho người dân nông thôn, cải thiện và nâng cao đời sống, là cơ sở
vững chắc để giải quyết các vấn đề xã hội.
Những vai trò của phát triển sản xuất và hoạt động tạo thu nhập kinh tế
hộ là rất lớn, tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay sản xuất của hộ vẫn là sản xuất
nhỏ, thuần nông, tiểu nông, phát triển còn ở trình độ thấp, chưa chuyển hẳn
sang sản xuất hàng hóa, điều này hạn chế nhiều đến sự phát triển chung của
kinh tế cả nước.
Bắc Quang là một huyện của Hà Giang, kinh tế còn nhiều khó khăn,
sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, sản xuất hàng hóa nhỏ, phổ biến ở

hầu hết tất cả các xã trong đó có xã Vĩnh Phúc. Phát triển sản xuất và thu
nhập của hộ đã từng bước có nhiều chuyển biến, nhưng ở các hộ vẫn chủ yếu
là sản xuất tự cung, tự cấp, tâm lý tiểu nông vẫn còn tồn tại, sản xuất theo

2
hình thức trang trại còn ít, đã có sự chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa
nhưng còn chưa phổ biến và chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của xã.
Trong xây dựng nông thôn mới thì việc phát triển sản xuất và thu nhập trong
kinh tế hộ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần cải thiện đời sống
của hộ và thay đổi bộ mặt nông thôn ở xã nói riêng, cả huyện và cả tỉnh nói
chung. Phát triển kinh tế hộ cũng là vấn đề được các cấp, các ngành ở địa
phương quan tâm đặc biệt để góp phần phát triển kinh tế của xã nhanh, bền
vững, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của xã Vĩnh Phúc, đặc biệt là trong
xây dựng nông thôn mới hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới của xã Vĩnh Phúc,
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang".
1.2. Mục tiêu chung
Đánh giá được thực trạng phát triển kinh tế hộ tại xã, từ đó đề xuất giải
pháp nhằm phát triển kinh tế hộ của xã trong xây dựng NTM.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã có liên quan đến
phát triển kinh tế hộ;
- Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp và thu nhập của hộ trên
địa bàn nghiên cứu;
- Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất phi nông nghiệp và thu nhập
của hộ tại địa bàn nghiên cứu;
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong phát triển
kinh tế hộ nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở địa bàn nghiên cứu;
- Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế hộ nông thôn trong xây dựng

nông thôn mới tại địa phương.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa lý luận và khoa học
- Củng cố lý thuyết, hệ thống hóa những khái niệm, thuật ngữ liên quan
đến vấn đề phát triển kinh tế của hộ;
- Xác định được những yếu tố ảnh hưởng, tác động tích cực và tiêu cực
đến phát triển kinh tế hộ như: Các nguồn lực, các chương trình, dự án,…

3
- Xác định những khó khăn, thuận lợi trong việc đầu tư phát triển sản
xuất, phát triển kinh tế của hộ;
- Kết quả nghiên cứu đề tài được coi là một tài liệu tham khảo cho sinh
viên, cán bộ nghiên cứu, các cấp chính quyền địa phương.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp chính
quyền địa phương, các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyết định và
hướng đi mới về phát triển kinh tế hộ, đáp ứng và hoàn thành tốt theo các tiêu
chí trong XDNTM;
- Giúp phát huy những mặt tích cực, hạn chế những thiếu sót và tồn tại
trong các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung và
phát triển kinh tế hộ;
- Đưa ra những giải pháp tốt nhất để phát triển kinh tế hộ bền vững theo
hướng sản xuất hàng hóa, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo cho người dân.

4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1. Khái niệm và thuật ngữ liên quan
2.1.1.Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân

2.1.1.1.Khái niệm hộ
Có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về hộ, có thể hiểu hộ theo
định nghĩa sau:
"Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội, có liên quan đến sản xuất, tái sản
xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác" (Thảo luận quốc tế lần thứ
4 về Quản lý nông trại tại Hà Lan, 1980)[8].
Giáo sư T.G.Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu Châu á thuộc
trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, khi khảo sát “kinh tế hộ trong
quá trình phát triển” ở một số nước Châu á đã nêu lên rằng: “Ở các nước
Châu á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết
tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một
mâm cơm và có chung một ngân quỹ”.
Raul Iturna, Giáo sư trường Đại học Tổng hợp Liobon khi nghiên cứu
cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nước Châu á đã chứng
minh: “Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật
thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân
họ và cộng đồng”.
* Hộ có 4 chức năng cơ bản đó là:
- Chức năng kinh tế
- Chức năng tiêu dùng
- Chức năng tái sinh sản nguồn nhân lực
- Chức năng giáo dục đào tạo.
2.1.1.2. Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa
rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Theo Ellis - 1988 thì "hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các
phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản

5
xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản

được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với
một trình độ hoàn chỉnh không cao".
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo
nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế
xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn". Theo Đào
Thế Tuấn (1997)[11] cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động
nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn”. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc,
trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là
những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp
hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm
đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn
sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp".
Hộ nông dân có những đặc điểm chính đó là:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất
vừa là một đơn vị tiêu dùng.
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ
tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn. Trình độ này quyết định quan hệ
giữa hộ nông dân với thị trường.
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt
động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau.
 Chúng ta cần quan tâm đến nông dân vì nông dân là lực lượng đông
đảo, chủ yếu, năng động và nhạy cảm, là nguồn cung cấp nhân lực, lương
thực, thực phẩm và tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp và các ngành khác.
2.1.1.3. Kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân là thực thể kinh tế văn hóa xã hội chủ yếu ở nông thôn, vì
vậy cần phải hệ thống lý thuyết về phát triển kinh tế hộ nông dân làm nền
tảng cho việc phân tích, đánh giá và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế
nông thôn.
Theo Tchayanov (1924), luận điểm cơ bản nhất của Tchayanov là coi


6
kinh tế hộ nông dân là một phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã
hội. Mỗi phương thức sản xuất có những quy luật phát triển riêng của nó, và
trong mỗi chế độ, nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành. Mục
tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc
nào, trồng trọt, chăn nuôi hay ngành nghề đó là kết quả chung của lao động
gia đình.
Dandekar (1970) cho rằng có hai kiểu nông dân, một kiểu sản xuất
hàng hóa, chỉ đầu tư lao động đến lúc lãi bằng tiền lương và một kiểu tự túc,
chủ yếu đầu tư lao động nhằm tăng sản lượng đủ sống.
Nhiều công trình nghiên cứu (Vergopoulos - 1978), Taussig - 1978 cho
thấy nông trại nhỏ gia đình hiệu quả hơn nông trại lớn tư bản chủ nghĩa, và
chính hình thức sản xuất này có lợi cho chủ nghĩa tư bản hơn vì khai thác
được cao nhất thặng dư lao động ở nông thôn và giữ được giá nông sản thấp.
Hayami và Kikuchi (1981) nghiên cứu sự thay đổi của kinh tế nông
thôn Đông Nam Á và thấy rằng, áp lực dân số trên ruộng đất ngày càng tăng,
lãi do đầu tư thêm lao động ngày càng giảm mặc dù có cải tiến kỹ thuật,
nhưng giá ruộng đất (địa tô) ngày càng tăng.
V.I.Lênin cho rằng: “Cải tạo tiểu nông không phải là tước đoạt của họ
mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau
một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính
họ”. Khi phân tích kết cấu xã hội nông dân nước Nga, V.I.Lênin đã lưu ý, hộ nông
dân khai thác triệt để năng lực sản xuất đáp ứng những nhu cầu đa dạng của gia
đình và xã hội. Ông đã chỉ ra “năng lực tự quyết định của quá trình sản xuất của
hộ nông dân trong nền kinh tế tự cung tự cấp, là mầm mống của những chiều
hướng phát triển hàng hóa khác nhau, chính nó sẽ tự phá vỡ các quan hệ khép kín
của hộ dẫn đến những quá trình sự vỡ kết cấu kinh tế”.
Tóm lại, có thể thấy kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ
trong nông nghiệp. Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan,

lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu
quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong
mọi chế độ kinh tế xã hội.

7
2.1.1.4. Phân loại hộ nông dân

Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động
- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường
Loại này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là sản phẩm cần thiết để
tiêu dùng trong chính gia đình họ. Để có đủ sản phẩm lao động trong nông hộ
phải làm cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp, tự túc
sự hoạt động của hộ phụ thuộc vào:
+ Khả năng mở rộng diện tích đất đai
+ Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập
+ Có thị trường vật tư để họ mua nhằm lấy lãi
+ Có thị trường sản phẩm để họ trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.
- Hộ bắt đầu có phản ứng với thị trường
Loại hộ này còn gọi là "nửa tự cấp", nó không giống như loại doanh
nghiệp khác là phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường, vì các yếu tố tự cấp còn lại
nhiều và vấn quyết định cách thức sản xuất của các hộ, ở đây cũng có phản
ứng với giá cả, với thị trường nhưng ở mức độ thấp.
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa là chủ yếu
Loại này mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ và họ có phản
ứng gay gắt với các thị trường vốn, ruộng đất, lao động,

Theo tính chất của ngành sản xuất
- Hộ thuần nông: Là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp.
- Nông hộ kiêm: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ
công nghiệp.

- Nông hộ chuyên: Là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí,
mộc, nề, rèn, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, may, dệt,
làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp.
- Nông hộ buôn bán: Có quầy hàng riêng, bán hàng ở chợ, nơi đông
dân cư.
Các loại nông hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện
cho phép. Vì vậy xây dựng công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng
sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại dịch vụ,

8
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh
thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hóa. Từ đó làm cho lao động
nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hay làm lao động phi
nông nghiệp tăng lên.

Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ bao gồm
+ Hộ giàu
+ Hộ khá
+ Hộ trung bình
+ Hộ nghèo
+ Hộ đói.
Sự phân biệt này thường dựa vào quy định chung hoặc quy định của
từng địa phương.

Căn cứ vào tính chất ổn định của tình trạng ăn ở và canh tác
+ Hộ du canh, du cư
+ Hộ định canh, du cư
+ Hộ định cư, du canh
+ Hộ định canh, định cư.
Sự phân loại này còn tồn tại ở các huyện vùng cao phía Bắc,

Tây Nguyên
Trong khoá luận này để đơn giản hơn cho phân loại hộ theo thu nhập,
tôi chia thành 3 nhóm như sau: (Theo tiêu chuẩn phân loại hộ theo thu nhập
của huyện Bắc Quang).
Nhóm 1: Hộ có thu nhập lớn hơn 800.000 đồng/tháng (hộ không nghèo)
Nhóm 2: Hộ có thu nhập từ dưới 800.000 đồng/tháng và lớn hơn
600.000 đồng/tháng (hộ trung bình)
Nhóm 3: Hộ có thu nhập từ dưới 600.000 đồng/tháng (hộ nghèo)
2.1.2. Khái niệm nông nghiệp, nông thôn
2.1.2.1. Khái niệm nông nghiệp
Là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và
sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi
đàn gia súc. Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người

9
nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách
cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng
và vật nuôi.
2.1.2.2. Khái niệm nông thôn
Là vùng lãnh thổ mà người dân chủ yếu là hoạt động sản xuất nông
nghiệp. Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều khía cạnh về kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội, Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn
liền với địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng
chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, vừa có
những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn.
Trong giai đoạn hiện nay thì xây dựng NTM các tiêu chí là rất quan
trọng. Việc XDNTM nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế nông thôn nói
riêng, cả nước nói chung trong giai đoạn mới. Từ khi đất nước ta thực hiện
đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông thôn, nông dân nước
ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên nhiều thành tựu đạt được

chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của vùng, đất nước, nông nghiệp
phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học,
công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Nông nghiệp, nông thôn
phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng còn yếu kém, môi trường ô nhiễm.
Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn
cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn phát sinh
nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Không thể có một nước công nghiệp nếu nông
nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp. Vì vậy,
XDNTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước; đồng thời góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho người dân nông thôn.
2.1.3. Khái niệm sinh kế
Phát triển kinh tế hộ và hoạt động sinh kế có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế. Theo một số tác giả, sinh kế bao
gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa

10
hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…) cùng các hoạt động cần
thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người (Scoones, 1998).
Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể
hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Hoạt động nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt (Lúa, ngô, khoai, sắn, lạc,
cây ăn quả, rau màu,…); chăn nuôi (Lợn, gà, trâu, bò, cá,…) và lâm nghiệp
(trồng cây keo, bạch đàn, mỡ, rừng,…)
Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch vụ,
buôn bán và các ngành nghề khác.
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ
2.1.4.1. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai

Đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế hộ và ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp. Những hộ có vị trí gần
đường giao thông, gần trung tâm các khu công nghiệp, gần các cơ sở chế biến
nông sản, gần nơi tiêu thụ sản phẩm thì sẽ có điều kiện thuận lợi và phát triển
kinh tế hộ được tốt hơn.
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất chủ yếu của hộ, đất đai là tư liệu sản
xuất đặc biệt và không thay thế trong quá trình sản xuất. Vì thế, quy mô đất đai,
địa hình và tính chất nông hóa thổ nhưỡng có liên quan chặt chẽ tới từng loại nông
sản phẩm, số lượng, chất lượng, giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được.
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái
Có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp. Điều kiện
thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ, có mối liên quan chặt chẽ
tới sự hình thành và sử dụng đất. Ở những nơi thời tiết, khí hậu thuận lợi sẽ hạn chế
những bất lợi và rủi ro trong sản xuất, có cơ hội để phát triển kinh tế hộ tốt hơn.
Môi trường sinh thái cũng là nhân tố có ảnh hưởng đến phát triển kinh
tế của hộ, nhất là nguồn nước. Vì những loại cây trồng và vật nuôi tồn tại theo
quy luật sinh học, nếu môi trường thuận lợi thì cây trồng, gia súc sẽ sinh
trưởng phát triển tốt, hạn chế bệnh, còn ngược lại sẽ ảnh hưởng tới năng suất,
sản lượng cây trồng, gia súc.

11
2.1.4.2. Nhóm yếu tố về kinh tế, tổ chức và quản lý
Đây là nhóm yếu tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu
có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và kinh tế hộ nói riêng.
- Trình độ học vấn và kỹ năng lao động
Người lao động phải trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu
những tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản
xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng
thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao. Điều này
ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ.

- Vốn
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là
điều kiện đảm bảo cho các hộ về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng như
thuê nhân công để tiến hành sản xuất. Vốn là điều kiện không thể thiếu, là yếu
tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm.
- Công cụ sản xuất
Trong quá trình sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng,
công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện pháp
kỹ thuật sản xuất. Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất cao cần phải sử dụng
hệ thống công cụ phù hợp. Ngày nay, với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ
sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả cao
cho các hộ trong sản xuất. Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng
lên, chất lượng sản phẩm tốt hơn, do đó công cụ lao động có ảnh hưởng rất
lớn đến kết quả và hiệu quả sản xuất của hộ.
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: Đường
giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết bị nông
nghiệp đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế của hộ. Thực
tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển thì sản xuất phát triển, thu nhập
tăng, đời sống của hộ cũng được cải thiện và nâng cao.
- Thị trường
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì với số lượng
bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm như thế nào? Trong cơ chế

12
thị trường các hộ hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị trường cần
trong điều kiện sản xuất của họ, từ đó kinh tế hộ mới có điều kiện phát triển.
- Hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong mối quan hệ sản xuất
kinh doanh
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về sản phẩm hàng hóa, các hộ phải

liên kết hợp tác với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và tiêu thụ
sản phẩm. Nhờ có các hình thức liên kết hợp tác mà các hộ có điều kiện áp
dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến và công nghệ mới vào sản xuất
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, năng suất lao động.
2.1.4.3. Nhóm yếu tố về khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật canh tác
Do điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của mỗi vùng khác nhau, yêu cầu
về giống cây con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau.
Trong nông nghiệp tập quán kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa
phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát
triển kinh tế của hộ.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ
Sản xuất của hộ không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật, vì
nó đã tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt.
Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy
móc, thời tiết, khí hậu kết hợp với nhau tạo ra sản phẩm nông nghiệp. Như
vậy, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp có tác dụng
thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển.
2.1.4.4. Nhóm yếu tố thuộc về quản lý vĩ mô của nhà nước
Nhóm yếu tố này gồm các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà
nước như: Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá
nông sản, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, các chính sách này
có tác động lớn tới phát triển kinh tế hộ và là công cụ đắc lực để nhà nước can
thiệp có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp.
Tóm lại các yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế hộ,
trong sản xuất các hộ cần chú ý đến những yếu tố này để sản xuất có hiệu quả,
bền vững, thoát khỏi kinh tế tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa lớn.

13
2.2. Thực tiễn phát triển kinh tế hộ hiện nay

2.2.1. Kinh nghiệm và tình hình phát triển kinh tế hộ ở các nước trên thế giới
Trên thế giới, kinh tế hộ cũng được chú trọng phát triển theo hướng
phát triển kinh tế hàng hóa, tạo thu nhập cao.
2.2.1.1. Kinh tế nông hộ ở các nước Châu Á
- Thái Lan: một nước trong khu vực Đông Nam châu Á, Chính phủ
Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa từ một nước lạc hậu trở thành
nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Một số chính sách có liên quan đến
việc phát triển kinh tế vùng núi ban hành (từ 1950 đến năm 1980). Thứ nhất:
xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Mạng lưới đường bộ bổ sung cho
mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập các vùng ở xa (Bắc, Đông Bắc, Nam, ),
đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng. Thứ hai: chính sách mở rộng diện tích
canh tác và đa dạng hoá sản phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía,
bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi phía Đông Bắc. Thứ ba: đẩy mạnh công
nghiệp hóa chế biên nông sản để xuất khẩu như ngô, sắn sang các thị trường
châu Âu và Nhật Bản. Thứ tư: thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và
chính sách thay thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước
cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân
vay tiền với lãi suất thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản
phẩm với giá định trước cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng
núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Hàng năm có 95% sản
lượng cao su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra. Song trong quá
trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: đó là việc mất cân bằng
sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai. Kinh tế
vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành
thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo mùa vụ ngày càng gia tăng.
- Đài Loan: ý thức được xuất phát điểm của mình có vị trí quan trọng là
nông nghiệp nhưng ở trình độ thấp, nên ngay từ đầu Đài Loan đã coi trọng và
chú ý đầu tư cho nông nghiệp. Trong những năm 1950 đến 1960 chủ trương
"Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp".
Từ năm 1951 đã có chương trình cải cách ruộng đất theo 3 bước: giảm tô, giải

phóng đất công, bán đất cho tá điền, thực hiện người cày có ruộng (1953 - 1954).

14
Theo đạo luật cải cách ruộng đất của Đài Loan, địa chủ chỉ được giữ lại 3ha
nếu là ruộng thấp và 6ha nếu là ruộng cao, số còn lại Nhà nước mua và bán lại cho
tá điền với giá thấp và được trả dần, trả góp. Chính sách phát triển nông nghiệp
của Đài Loan trong thời kỳ này đã làm cho nông dân phấn khởi, lực lượng sản
xuất trong nông thôn được giải phóng, sản xuất đã tăng với tốc độ nhanh.
- Indonexia: Ngay từ kế hoạch 5 năm 1969 - 1974, việc di dân đã thành
công với sự tài trợ của Ngân hàng thế giới, ở đó mỗi hộ di cư đều được trợ
cấp bởi Chính phủ như tiền cước vận chuyển đi quê mới, một căn nhà 2
buồng, 0,5ha đất thổ cư và 2ha đất canh tác (1ha cây lâu năm và 1ha cây hàng
năm), một năm lương thực khi đến khu định cư mới. Được chăm sóc y tế,
giáo dục, được vay vốn với lãi suất ưu đãi, vay đầu tư cho cây nông nghiệp,
khi đến kỳ thu hoạch mới trả nợ. Hiện nay ở Indonexia có 80.000 - 100.000
hộ đến các vùng kinh tế mới, chi phí bình quân/hộ từ 5.000 - 7.000USD.
Ở các nước Châu Á, chế độ phong kiến kéo dài nên kinh tế nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa diễn ra chậm hơn. Mỗi nước có sự cải
cách về ruộng đất, tăng cường vốn, kỹ thuật cho phát triển nông nghiệp, nên
sự phát triển ở các nước cũng có những bước tiến khác nhau nhưng hầu hết là
theo xu hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp.
2.2.1.2. Nền nông nghiệp trang trại một số nước Châu Âu
- Anh: Từ cuối thế kỷ XVII cuộc Cách mạng Tư sản đã phá bỏ triệt để
chế độ bãi chăn thả công và các cơ chế có lợi cho nông dân nghèo, nên đã
thúc đẩy quá trình tập trung hóa ruộng đất và tập trung hóa các nông trại nhỏ.
Tuy vậy sang giữa thế kỷ XIX chế độ bãi chăn thả công và nông trại nhỏ
chiếm một tỷ lệ cao. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, diện tích nông trại bình
quân lên đến 36ha nông trại nhỏ dưới 5ha chiếm 1/3.
- Pháp: Chính sách ruộng đất của Cách mạng Tư sản thuận lợi cho việc
phát triển nông trại nhỏ, quá trình rút lao động ra thành thị không nhanh như ở

Anh, vì vậy trong thế kỷ XIX xu hướng tăng dần nông trại nhỏ là phổ biến. Năm
1982 nông dân chiếm 27% dân số nông thôn. Các nông trại nhỏ đều có thu nhập
phi nông nghiệp cao hơn thu nhập nông nghiệp, năm 1980 có 29% số nông trại có
hoạt động phi nông nghiệp, 2/3 số nông trại có nguồn thu nhập ngoài nông nghiệp.

15
- Hà Lan: Quy mô đất canh tác bình quân một nông trại là 10ha, họ sử
dụng lao động gia đình là chủ yếu, chỉ thuê 1-2 lao động những lúc mùa vụ
căng thẳng, nông trại có đủ công cụ máy móc cần thiết, có 17% số trang trại
nuôi từ 50-200 con lợn và chiếm 43,7% đàn lợn của cả nước, một lao động
nông nghiệp nuôi được 112 người. Quy mô bình quân đất canh tác của một
nông trại là 31,7ha, 87% số trang trại sử dụng lao động gia đình là chủ yếu,
khoảng 13% số trang trại có thuê từ 1 đến 2 lao động, một lao động nông
nghiệp nuôi được 160 người.
* Từ thực tế phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số nước với trình độ
phát triển và chế độ chính sách khác nhau cho thấy:
- Ở các nước phát triển, trong giai đoạn đầu có số lượng nông trại lớn
với quy mô nhỏ. Theo bước tiến của công nghiệp hóa, số lượng nông trại
giảm dần, quy mô nông trại tăng lên. Nông sản phẩm hàng hóa tăng lên nhanh
chóng. Do đó, đã thúc đẩy những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, về cơ giới hóa,
điện khí hóa và ngày này là tin học hóa đang ngày càng xâm nhập nông
nghiệp, nông thôn.
- Ở các nước đang phát triển, kinh tế nông nghiệp gia đình ở dạng kinh
tế nông hộ tự cấp, tự túc còn chiếm một bộ phận quan trọng. Bộ phận kinh tế
nông hộ chuyển sang kinh tế nông trại sản xuất hàng hóa ngày một nhiều. Sự
chuyển dịch này là một bước đi tất yếu, một quy luật khách quan. Bước đi
nhanh hay chậm là tùy thuộc vào trình độ dân trí, tiến bộ khoa học kỹ thuật,
thể chế nhà nước và các chính sách khuyến khích có hiệu lực.
2.2.2. Kinh nghiệm và tình hình phát triển kinh tế hộ ở Việt Nam
Nền văn minh nông nghiệp đã trải qua hàng vạn năm, qua mỗi giai

đoạn có bước phát triển mới. Từ nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp, cho
đến nay nông nghiệp đã có bước phát triển mới, vì vậy kinh tế hộ cũng có
hướng phát triển mới. Đã xuất hiện các mô hình kinh tế trang trại từ quy mô
hộ đến các trang trại có quy mô lớn, các nông hộ hợp tác với nhau sản xuất
hàng hóa, dịch vụ với quy mô đa dạng và nhiều loại sản phẩm hàng hóa thuộc
nhiều lĩnh vực: Sản xuất, dịch vụ, cung cầu, Việc cải tiến kỹ thuật, chuyên
môn hóa trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất theo hướng hàng hóa, đa dạng

16
hóa sản phẩm nông nghiệp là xu thế phát triển chung của kinh tế hộ, theo tiến
trình CNH, HĐH đất nước.
Trong những năm qua, kinh tế hộ đã và đang được các cấp các ngành
quan tâm đặc biệt, nhất là trong quá trình XDNTM hiện nay, nó góp phần làm
nền tảng và sự thành công trong XDNTM, trong tiêu chí về hạ tầng kinh tế xã
hội và trong kinh tế, tổ chức sản xuất.
Ở các tỉnh chú trọng phát triển kinh tế hộ dựa theo những lợi thế nhất
định về vùng, vị trí địa lý và tiềm năng thị trường, nhu cầu thực tế. Mỗi tỉnh
có chiến lược phát triển riêng dựa trên những thuận lợi và khó khăn của từng
tỉnh và theo định hướng cả nhà nước. Kinh tế hộ luôn giữ những vai trò quan
trọng nhất định không chỉ đối với mỗi hộ mà còn góp phần ổn định nền kinh
tế của cả nước.
Trước đây sản xuất của hộ chủ yếu là mang tính tự cung, tự cấp rất ít
đáp ứng nhu cầu thị trường, hiện nay cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế,
đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới (WTO), thì kinh tế
hộ cũng có những bước phát triển mới, là nền sản xuất hàng hóa theo nhu cầu
thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.2.3. Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp. Việt Nam là nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư sống ở nông
thôn. Phát triển nông nghiệp nông thôn đã và đang là lĩnh vực được quan tâm

hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu
XDNTM là: "Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công
bằng, văn minh, có cơ cấu hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hại tầng
kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại".
Quán triệt nghị quyết đại hội X, Hội nghị TW lần thứ 7 (khóa X) ra
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn
diện quan điểm của Đảng ta về XDNTM. Nghị quyết khẳng định nông
nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước. Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông

17
thôn không chỉ là nhiệm vụ của nông dân ở khu vực nông thôn mà còn là
nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Xây dựng nông thôn mới là
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với
phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xây dựng giai cấp
nông dân, củng cố liên minh công nhân, nông dân, trí thức vững mạnh; không
ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa
các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông
dân được đào tạo, có trình độ phát triển cao, đóng vai trò làm chủ NTM.
Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị
quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính
phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức,
hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông
thôn mới là: Xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng
văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với
phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ.

Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM là chương trình
mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta khẳng định xây dựng nông
thôn mới là một nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế xã
hội của đất nước. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phương
hướng, nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: Tiếp tục triển
khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng
theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy
nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam.
Ngày 6/7/2012, tại Thành phố Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên), Văn
phòng điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM phối

×