Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.31 MB, 80 trang )


1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


HOÀNG VĂN TÙNG


Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN
(PSEUDOTSUGA BREIFOLIA W.C CHENG & LK.FU, 1975) TẠI KHU
BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÁT ĐẠI SƠN, TỈNH HÀ GIANG



KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2010-2014









Thái Nguyên – 2014


2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


HOÀNG VĂN TÙNG


Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN
(PSEUDOTSUGA BREIFOLIA W.C CHENG & LK.FU, 1975) TẠI KHU
BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÁT ĐẠI SƠN, TỈNH HÀ GIANG



KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng


Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2010-2014

Giảng viên hướng dẫn: ThS. Lê Văn Phúc

Khoa L©m nghiÖp - Tr−êng §¹i häc N«ng L©m Th¸i Nguyªn






Thái Nguyên – 2014


3

LỜI CẢM ƠN
Ngày nay việc ứng dung khoa học kỹ thuật vào thực tế ngày càng mở
rộng, người cán bộ được đào tạo từ các trường đại học không chỉ giỏi về lý
thuyết mà còn phải giỏi về thực hành.
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo, thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không
thể thiếu đối với sinh viên các trường đại học. Thực tập tốt nghiệp có vai trò
rất quan trọng đối với sinh viên trước khi ra trường, vừa giúp sinh viên củng
cố lại kiến thức lý thuyết vận dụng nó vào thực tiễn sản xuất – kinh doanh.
Vừa tham gia công tác nghiên cứu khoa học và tích lũy kinh nghiệm thực tế
phục vụ cho công việc công tác sau này. Được sự đồng ý của khoa Lâm
nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga

brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát
Đại Sơn, tỉnh Hà Giang”.
Để hoàn thành đề tài này tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy
cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp và các bạn, đặc biệt là thấy giáo hướng dẫn
ThS. Lê Văn Phúc, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn huyện
Quản Bạ tỉnh Hà Giang. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
tất cả sự giúp đỡ quý báu đó.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức bản thân còn hạn chế
nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự chỉ bảo và
đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để khóa luận của tôi được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 5 năm 2014
Sinh viên


Hoàng Văn Tùng

4

MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2.Mục đích 2
1.3.Mục tiêu 2
1.4.Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.2. Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 5
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
2.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam 9
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 18
2.3.1. Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên rừng 18
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 27
3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 27
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 27
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu là: 27
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 27
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 27
3.3. Nội dung nghiên cứu 27
3.3.1. Đặc điểm sinh thái nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 27
3.3.2. Đặc điểm về thảm thực vật nơi có loài Thiết sam giả phân bố 27
3.3.3. Đặc điểm cấu trúc độ tàn che 28
3.3.4. Đặc điểm phân bố theo cấu trúc 28

5

3.3.5. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Thiết sam giả lá
ngắn 28
3.4. Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1. Phương pháp luận 28
3.4.2. Phương pháp kế thừa tài liệu có sẵn ở địa phương 28
3.4.3. Phương pháp ngoại nghiệp 28
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1. Đặc điểm sinh thái nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 36
4.1.1. Đặc điểm địa hình 36
4.1.2. Đặc điểm đất đai 39

4.1.3. Đặc điểm về khí hậu 40
4.2. Đặc điểm thảm thực vật nơi Thiết sam giả lá ngắn phân bố 42
4.2.1. Đặc điểm cấu trúc về tổ thành tầng cây cao 42
4.2.2. Đặc điểm lớp cây tái sinh 47
4.3. Đặc điểm cấu trúc độ tàn che và che phủ 52
4.3.1. Cấu trúc độ tàn che tầng cây cao 52
Bảng 4.8: Độ tàn che tầng cây cao 53
4.3.2. Cấu trúc độ che phủ của cây bụi thảm tươi 53
4.3.3. Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi 55
4.4. Đặc điểm phân bố theo cấu trúc 55
4.4.1. Phân bố số cây theo cấp kính của loài Thiết sam giả lá ngắn 56
4.4.2. Phân bố số cây theo cấp chiều cao 58
4.5. Đề xuất một số giải pháp phát triển và bảo tồn loài thiết sam giả lá ngắn 60
4.5.1. Quy hoạch đất đai hợp lý 60
4.5.2. Bảo vệ và khai thác hợp lý 61
4.5.3. Tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức người dân 61
4.5.4. Giải pháp nâng cao chất lượng cây tái sinh 62

6

4.5.5 Hợp tác trong bảo tồn 62
4.5.6. Chính sách của nhà nước 63
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
5.1 Kết luận 64
5.2 Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66


7


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp 21

Bảng 2.2. Trữ lượng các loại rừng 22

Bảng 2.3: Dân số trong Khu bảo tồn 24

Bảng 4.1: Số lượng cây Thiết sam giả lá ngắn xuất hiện theo độ cao và độ
dốc 38

Bảng 4.2: Đặc điểm đất nơi loài Thiết sam gải lá ngắn phân bố 40

Bảng 4.3: Mật độ, tổ thành loài cây đi kèm với Thiết sam giả lá ngắn tại vị trí
đỉnh núi 43

Bảng 4.4: Mật độ, tổ thành loài cây đi kèm với Thiết sam giả lá ngắn tại vị trí
sườn 45

Bảng 4.5: Tổng hợp tổ thành loài cây tái sinh ở vị trí đỉnh núi 48

Bảng 4.6: Tổng hợp tổ thành loài cây tái sinh ở vị trí sườn 49

Bảng 4.7: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 51

Bảng 4.8: Độ tàn che tầng cây cao 53

Bảng 4.9: Độ che phủ cây bụi, thảm tươi 54

Bảng 4.10: Phân bố số cây theo cấp kính của thiết sam giả lá ngắn 56


Bảng 4.11: Phân bố số cây theo chiều cao của Thiết sam giả lá ngắn 58


8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1. Thân cây Thiết sam giả lá ngắn 15

Hình 2.2. Cành Thiết sam giả lá ngắn 16

Hình 2.3: Mặt trên lá Thiết sam giả lá ngắn 17
Hình 2.4: Mặt dưới lá Thiết sam giả lá ngắn 17
Hình 3.1: Xử lý các cây trên đường ranh giới ô đo đếm 30
Hình 4.1: Địa hình Thiết sam giả lá ngắn phân bố 36

Hình 4.2: Cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh 52
Hình 4.3: Đồ thị phân bố số cây theo cấp kính 57
Hình 4.4: Đồ thị phân bố số cây chiều cao 59

9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐDSH : Đa dạng sinh học
EX : Tuyệt chủng
EW : Tuyệt chủng trong tự nhiên
CR : Cực kỳ nguy cấp
EN : Nguy cấp
VU : Sắp nguy cấp

UBND : Ủy ban nhân dân
IUCN : Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên thiên nhiên
ÔTC : Ô tiêu chuẩn
ÔĐĐ : Ô đo đếm
D
1.3
: Đường kính ở vị trí 1,3 mét
D
1.3

: Đường kính trung bình ở vị trí 1,3 mét
H
vn
: Chiều cao vút ngọn
H
vn

: Chiều cao vút ngọn trung bình
GPS : Hệ thống định vị toàn cầu
LSNG : Lâm sản ngoài gỗ
TSGLN : Thiết sam giả lá ngắn

1

Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Rừng có ý nghĩa đặc biệt lớn, không chỉ cung cấp của cải cho nền kinh tế

của đất nước mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh
học, bảo vệ, cải thiện môi trường và cân bằng sinh thái. Vai trò của rừng là rất
to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng
ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng.
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giời có 11 triệu
ha rừng bị phá huỷ, riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hàng năm có 1,8
triệu ha rừng bị phá huỷ, tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt
đới. Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm
trọng. Năm 1943, độ che phủ của rừng là 43%, đến năm 1993 chỉ còn 26%.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi,
đốt nương làm rẫy [7].
Từ khi Chính phủ có chỉ thị 286/TTg (02/05/1997) về tăng cường các
biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, cấm khai thác rừng tự nhiên,
tốc độ phục hồi rừng đã trở nên khả quan hơn. Năm 2003 tổng diện tích rừng
nước đã là 12 triệu ha, tương đương với độ che phủ là 36,1%, trong đó rừng
tự nhiên có 10 triệu ha và rừng trồng có 2 triệu ha. Để đạt được kết quả như
trên, Chính phủ đã giao quyền sử dụng đất rừng cho các tổ chức, các cá nhân
và hộ gia đình trồng, chăm sóc và quản lý bảo vệ. Những chính sách này đã
góp phần tích cực trong việc làm tăng diện tích rừng, giảm diện tích đất trống
đồi trọc và rừng đã dần phục hồi trở lại. Có được kết quả đó là do những cơ
chế chính sách trên của Chính phủ đã bước đầu tạo được sự chuyển biến theo

2

hướng xã hội hoá nghề rừng, làm cho rừng có chủ và người dân đã chủ động
tham gia quản lý bảo vệ phát triển rừng.
Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được thành lập theo Quyết định số
2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của UBND tỉnh Hà Giang. Khu bảo tồn thiên
nhiên Bát Đại Sơn là nơi lưu giữ những nguồn gen động thực vật có giá trị,
trong đó có loài Thiết sam giả lá ngắn.

Loài Thiết sam giả lá ngắn được đề nghị loài bổ sung vào danh lục các
loài quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006 nghiêm cấm khai
thác và sử dụng với mục đích thương mại. Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt
Nam 2007 và danh lục đỏ IUCN[2]
Để tìm hiểu về hiện trạng phân bố và một số đặc điểm lâm học của loài
này tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố
loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu,
1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang”.
Nghiên cứu thành công đề tài này sẽ góp phần thiết thực vào việc cung
cấp những thông tin cơ bản về đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, của loài,
từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn và phát triển loài không những ở khu vực
Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang mà còn áp dụng cho
những nơi có điều kiện tự nhiên tương tự.
1.2. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn từ đó
đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ loài Thiết sam giả lá ngắn và bảo vệ
nguồn gen các loài thực vật quý hiếm còn tồn tại trong Khu bảo tồn.
1.3. Mục tiêu
Xác định hiện trạng phân bố tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn ở
Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Xác định một số đặc điểm về sinh thái nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn
phân bố.

3

1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Quá trình thực hiện đề tài giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống lại kiến
thức và có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế. Sinh viên
được làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài

cụ thể. Sinh viên có điều kiện học hỏi những kiến thức thực tiễn từ cán bộ
quản lý và chuyên môn tại địa phương nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng
cho mình để thực hiện tốt công việc sau này.
Kết quả thực hiện đề tài có thể làm cơ sở cho giảng viên, sinh viên tiếp
tục nghiên cứu khoa học chuyên sâu về loài Thiết sam giả lá ngắn
(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975).
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm phân bố của loài là cơ sở giúp các nhà
quản lý Khu bảo tồn và các nhà khoa học xây dựng kế hoạch bảo tồn loài cây
này trên địa bàn có hiệu quả và hợp lý.

4

Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Việt Nam có 3/4 diện tích là đồi núi và đa phần dân số sống ở nông
thôn, canh tác nông nghiệp, như vậy cũng có thể nói đa phần sống trong và
gần rừng. Điều kiện kinh tế Việt Nam còn khó khăn cho nên đời sống của
nhân dân phụ thuộc nhiều vào rừng, họ khai thác các sản phẩm từ rừng phục
vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của họ. Trong một thời gian dài họ tác
động mạnh vào rừng khiến cho diện tích rừng Việt Nam suy giảm rất nhiều,
các loài động thực vật có giá trị ngày càng trở nên quý hiếm, và có nguy cơ
tuyệt chủng. Nhất với những loài có giới hạn phân bố hẹp, một trong nhưng
loài như thế có loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng
& L.K.Fu, 1975), hiện số lượng của loài này còn ít mà giới hạn phân bố của
chúng lại rất hẹp chính vì thế cần phải có ngay những biện pháp để bảo tồn để
bảo vệ loài khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
Dựa theo tiêu chuẩn đánh giá các loài vật của International Union for
Conservation of Nature, chính phủ Việt Nam đã công bố các tiêu chuẩn đánh

giá tình trạng các loài trong sách đỏ Việt Nam. Các loài được xếp vào 9 bậc
theo tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of
decline), khích thước quần thể (population zize), phạm vi phân bố (area of
geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố
(degree of population and distribution fragmentation).
+ Tuyệt chủng (EX): Một loài hoặc dưới loài được coi là tuyệt chủng
khi có những bằng chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết.
+ Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW): Một loài hoặc dưới loài được
coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh

5

đã biết và sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa,
năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử đều không ghi nhận được cá thể nào.
+ Cực kỳ nguy cấp (CR): Một loài hoặc nòi được coi là cực kì nguy
cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong
tương lai rất gần.
+ Nguy cấp (EN): Một loài bị coi là nguy cấp khi nó phải đối mặt với
nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng
thấp hơn mức cực kỳ nguy cấp.
+ Sắp nguy cấp (VU): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài
hoặc nòi bị đánh giá là sắp nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc cực kì
nguy cấp (CR) và nguy cấp (EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng
trong tự nhiên cao trong tương lai không xa.
+ Sắp bị đe dọa (NT): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài
hoặc nòi bị đánh giá sắp bị đe dọa khi nó sắp phải đối mặt với nguy cơ tuyệt
chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa.
+ Ít quan tâm (LC): Least Concern.
+ Thiếu dữ liệu (DD): Data Deficient.
+ Chưa được đánh giá (NE): Not Evaluated.

Năm 2000, Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được thành lập theo
quyết định số 2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của UBND tỉnh Hà Giang, tạo
cơ sở cho việc bảo tồn các loài vật quý hiếm trong đó có loài Thiết sam giả lá
ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu,1975).
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Đặc điểm cấu trúc phân bố rừng

tự nhiên đã được nhiều nhà khoa học
trên thế giới tiến hành nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở khoa học và lí luận
phục vụ cho công tác kinh doanh rừng.

6

2.2.1.1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật
trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có
thể cùng sinh sống trong một khoảng không gian nhất định trong một giai
đoạn phát triển của rừng. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các
mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần
trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường. Cấu trúc rừng bao gồm cấu
trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi.
• Cơ sở sinh thái về cấu rừng
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái
học, sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho
hiệu quả sản xuất cao. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia ra làm 3
dạng cấu trúc là: cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc thời gian.
Cấu trúc của thảm thực vật là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa
thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Trên quan điểm
sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên

trong của hệ sinh thái rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật và theo
trật tự của quần xã. Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt
đới đã được P. W. Richards (1952), G. N. Baur (1964), E. P. Odum (1971)…
tiến hành. Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô
tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng. Công trình nghiên
cứu của R. Catinot (1965) [3], J. Plaudy (1987) [13] đã biểu diễn cấu trúc
hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông
qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến.
• Mô tả về hình thái cấu trúc rừng
Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành
phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều thẳng đứng. Phương pháp

7

vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do P.W. Richards (1952) [25] đề xướng và
sử dụng lần đầu tiên ở Guam đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để
nghiên cứu cấu trúc tầng thứ của rừng. Tuy nhiên phương pháp này có nhược
điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo chiều thẳng đứng của các loài
cây gỗ trong diện tích có hạn. Cusen (1953) đã khắc phục bằng cách vẽ một
số giải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều. P. W.
Richards (1959, 1968, 1970) [26] đã phân biệt tổ thành rừng mưa nhiệt đới
làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây
đơn giản. Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3
tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ
lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài
thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây. Hiện nay, nhiều hệ thống phân loại
thảm thực vật rừng đã dựa vào các đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ
ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng suất thảm thực vật. Ngay từ đầu thế kỷ
19, Humboldt và Grinsebach đã sử dụng dạng sinh trưởng của các loài cây ưu
thế và kiểu môi trường sống của chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật.

Phương pháp của Humboldt và Grinsebach được các nhà sinh thái học Đan
Mạch (Warming, 1094; Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển. Raunkiaer
(1934) đã phân chia các loài cây hình thành thảm thực vật thành các dạng
sống và các phổ sinh học (phổ sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong
quần xã có các dạng sống khác nhau). Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học cho
rằng phân loại hình thái, các phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn
các dạng sinh trưởng của Humboldt và Grinsebach. Trong các loại rừng dựa
theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái
bên ngoài của thảm thực vật được sử dụng nhiều nhất. Như vậy, hầu hết các
tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những nhận xét mang tính
định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa

8

phản ánh được sự phân tầng của rừng tự nhiên nhiệt đới. Tóm lại, trên thế giới
các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt
đới nói riêng rất phong phú, có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem
lại hiệu quả cao trong bảo vệ rừng.
2.2.1.2. Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính
đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ
cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như: Dưới tán
rừng, lỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy. Vai
trò lịch sử của lớp cây tái sinh là thay thế thế hệ cây già cỗi. Vì vậy, tái sinh
rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của
rừng chủ yếu là tầng cây gỗ. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu
quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi,
chất lượng cây con, đặc điểm phân bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ
thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm
(Mibbre-ad, 1930 ; Richards, 1952 ; Baur G.N, 1964 ; Rollet, 1969). Do tính

phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây có giá trị nên
trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định. Quá
trình tái sinh tự nhiên ở rừng tự nhiên vô cùng phức tạp và còn ít được quan
tâm nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng
mưa chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng ít
nhiều đã bị biến đổi. J.Van Steenis (1956) [27] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái
sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài
cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng. Vấn đề tái sinh rừng
nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu qủa các cách xử lý lâm sinh liên
quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng. Từ đó các nhà
lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh. Nội

9

dung hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được G. N. Baur
(1976) [1] tổng kết trong tác phẩm cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng.
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy
mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) với diện tích ô đo đếm
thông thường từ 1 đến 4 m
2
. Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của
thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương
pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi. Đặc biệt, sự vận
dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững.
2.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.2.1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tập trung vào các đặc
điểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên, rừng trồng nhằm phục vụ cho việc
kinh doanh rừng lâu dài và ổn định, nhiều tác giả đã đi sâu vào mô phỏng các

cấu trúc rừng từ đơn giản đến phức tạp bằng các mô hình. Trần Ngũ Phương
(1970) [10] đã đề cập tới một hệ thống phân loại, trong đó rất chú ý tới việc
nghiên cứu quy luật diễn thế rừng. Thái Văn Trừng (1978) [18] khi nghiên
cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình
cấu trúc tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và
tầng cỏ quyết. Vũ Đình Phương (1987) [13] đã đưa ra phương pháp phân chia
rừng phục vụ cho công tác điều chế với phân chia theo lô và dựa vào 5 nhân
tố: Nhóm sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng,
khả năng tái tạo rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm về địa hình,
thổ nhưỡng với một bảng mã hiệu dùng để tra trong qúa trình phân chia. Đối
với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000) [20] dựa
vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc điểm cấu
trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên

10

yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành
5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là 14
quần hệ). Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung thêm
nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng từ bậc
quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973). Khi
nghiên cứu cấu trúc, việc mô hình hoá quy luật phân bố số cây theo đường
kính và theo chiều cao được chú ý nhiều hơn. Đây là quy luật cơ bản nhất
trong các quy luật kết cấu lâm phần. Biết được quy luật phân bố, có thể xác
định được số cây tương ứng từng cỡ kính hay từng cỡ chiều cao, làm cơ sở
xác định trữ lượng lâm phần Nguyễn Văn Trương (1983) [21] khi nghiên cứu
cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân
tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới. Từ những kết quả nghiên cứu của
các tác giả đi trước, Vũ Đình Phương (1987) [13] đã nhận định, việc xác định
tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng

chỉ trong trường hợp rừng có sự phân tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát
triển ổn định mới sử dụng phương pháp định lượng để xác định giới hạn của
các tầng cây. Các tác giả Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh (2001) [14] thử
nghiệm phương pháp nghiên cứu một số quy luật cấu trúc, sinh trưởng phục
vụ điều chế rừng lá rộng, hỗn loại thường xanh ở Kon Hà Nừng - Gia Lai cho
rằng đa số loài cây có cấu trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc
tương ứng của lâm phần, đồng thời cấu trúc của loài cũng có những biến
động. Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng thì việc mô hình hoá cấu trúc
đường kính (D1.3) được nhiều người quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng
theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình của
các tác giả như Đồng Sĩ Hiền (1974) [4] dùng hàm Meyer và hệ đường cong
Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự
nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam. Đặng Kim

11

Vui (2002) [24], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy
để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ
tỉnh Thái Nguyên, đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ 1 -2 tuổi (hiện
trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ và họ Hoà thảo
(Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loài), sau đó đến họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae)
mỗi họ có 4 loài. Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), họ Cam
(Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô
tiêu chuẩn cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ che phủ thấp
nhất 75 - 80%, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi. Như vậy, có nhiều tác
giả trong nước cũng như nước ngoài đều cho rằng việc phân chia loại hình
rừng ở Việt Nam là rất cần thiết đối với nghiên cứu cũng như trong sản xuất.
Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các phương pháp phân chia khác

nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng cần
quan tâm.
2.2.2.2. Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Vấn đề tái sinh đã được Viện điều tra quy hoạch rừng tiến hành nghiên
cứu từ những năm 60 (thế kỷ XX) tại địa bàn một số tỉnh Quảng Ninh, Yên
Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình các kết quả
nghiên cứu bước đầu đã được Nguyễn Vạn Thường (1991) [18] tổng kết và
kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng miền Bắc Việt
Nam. Hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên
tục, không mang tính chất chu kỳ. Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều,
số cây mạ có h < 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp kích
thước khác. Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng
phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh. Những loài cây gỗ

12

cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn
vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên.
Trần Ngũ Phương (1970) [11] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới
mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động
của con người khai thác hoặc làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết
quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta để thảm
thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi,
trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình
tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần
giống rừng khí hậu ban đầu”.
Nguyễn Văn Trương (1983) [21] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lớp
cây tái sinh với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới tán rừng.
Phùng Ngọc Lan (1984) [8] khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai
thác rừng đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường

Hữu Lũng, Lạng Sơn. Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh
hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm.
Phạm Đình Tam (2001) [16] đã làm sáng tỏ hiện tượng tái sinh lỗ trống
ở rừng thứ sinh Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo tác giả, số lượng cây tái sinh xuất
hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau. Lỗ trống càng lớn, cây tái sinh
càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán. Từ đó tác giả đề xuất phương thức
khai thác chọn, tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng khu vực này. Trong một
công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên
rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông Hiếu, Yên Bái và
Lạng Sơn).
Vũ Tiến Hinh (1991) [5] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại
Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ
số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan

13

chặt chẽ với nhau. Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì hệ số
tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy.
Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn tại Lâm trường
Hương Sơn - Hà Tĩnh, Trần Cẩm Tú (1998) [18] cho rằng áp dụng phương
thức xúc tiến tái sinh tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đáp ứng
mục tiêu sử dụng tài nguyên rừng bền vững. Tuy nhiên, các biện pháp kỹ
thuật tác động phải có tác dụng thúc đẩy cây tái sinh mục đích sinh trưởng và
phát triển tốt, khai thác rừng phải đồng nghĩa với tái sinh rừng và phải chú
trọng điều tiết tầng tán của rừng; đảm bảo cây tái sinh phân bố đều trên toàn
bộ diện tích rừng; trước khi khai thác, cần thực hiện các biện pháp mở tán
rừng, chặt gieo giống, phát dọn dây leo cây bụi và sau khai thác phải tiến
hành dọn vệ sinh rừng.
Thái Văn Trừng (2000) [20], khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng
Việt Nam, đã kết luận: Ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển

quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng. Nếu các điều kiện khác
của môi trường như: Đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì
tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế
một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những
phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường.
Trần Ngũ Phương (2000) [12], khi nghiên cứu các quy luật phát triển
rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh
của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng
trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu
chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và
sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung
gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này

14

sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế
thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”.

2.2.2.3.

Những nghiên cứu về cấu trúc và phân bố cây là kim quý hiếm.
 Nghiên cứu về phân bố cây là kim
Gần đây, loài Pơ Mu cũng được nghiên cứu tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên
Xuân Liên, được Bùi Thị Huyền (2010) [7] khẳng định: Cây Pơ Mu phân bố
rải rác ở độ cao trên 800 m so mực nước biển và thường mọc cùng với các
loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Vù hương (Cinnamomum balansae),
Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia), Chẹo tía (Engelhardtia
chrysolepis), Phân mã (Archidendron balasae) và Sơn ta (Toxicodendron
succedanea). Loài Pơ Mu tái sinh kém ngoài tự nhiên, mật độ tái sinh rất thấp,
chỉ với 178 cây/ ha. Tại Khu bao tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, Phạm Tùng

Lâm (2012) [10] khẳng định Thông bắc đỏ phân bố tự nhiên từ độ cao 1000 –
1500m. Chúng thường phân bố trong các kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm
á nhiệt đới và kiểu rừng ín thường xanh trên núi đá vôi. Loài Bách vàng phân
bố trong rừng nhiệt đới gió mùa vùng núi đá vôi. Gặp chủ yếu ở trạng thái
rừng IIIA1. Thường mọc trên các đỉnh núi có độ cao khoảng 1200 – 1400m
so với mực nước biển, độ cao phân bố nhiều nhất ở độ cao ở khoảng 1310 –
1350m. Loài Thông bắc đỏ phân bố trong rừng nhiệt đới gió mùa vùng núi đá
vôi. Gặp chủ yếu ở trạng thái rừng IIIA1. Thường mọc trên các đỉnh núi có độ
cao khoảng 1200 – 1330m Hà Thanh Tiến (2012) [22].
Tô Văn Thảo (2003) [23] khi nghiên cứu loài Bách vàng ở Khu bao tồn
Bát Đại Sơn, đã kết luận Bách vàng phân bố rải rác, tự nhiên trên một số đỉnh
hoặc gần đỉnh núi thuộc Khu bảo tồn Bát Đại sơn ở độ cao 1050m đến 1330m
so với mặt nước biển. Tổng số cá thể Bách vàng phát hiện là 347 cá thể, trong
đó có 41 cá thể tái sinh, có một đỉnh phân bố khá tập trung với 75 cá thể
trưởng thành, đó là đỉnh Háng Tống Chống (H’mông) thuộc xã Cán Tỷ độ cao

15

1160 m so với mực nước biển, tọa độ địa lý (23
0
05’ 805 độ vĩ bắc, 105
0

01’054 độ kinh đông).
Nghiên cứu về loài Thiết sam giả lá ngắn
• Đặc điểm hình thái cây Thiết sam giả lá ngắn Đặc điểm rễ, thân,
cành, lá.
Đặc điểm về rễ: Cây Thiết sam giả lá ngắn phân bố trên núi đá vôi, về
cơ bản không mọc trên đất mà mọc trên tầng thảm mục. Do đó rễ cây Thiết
sam giả lá ngắn thuộc hệ rễ cọc gồm một rễ lớn ăn sâu vào các kẽ đá, sau đó

phân nhánh thành nhiều rễ nhỏ hơn. Do sống trên núi đá vôi nên các rễ phải len lỏi
vào các kẽ đá vì thế rễ cọc chưa chắc phải là rễ có đường kính lớn nhất.
- Đặc điểm thân cây: Đường kính thân của cây Thiết sam giả lá ngắn có
thể lên đến khoảng 40 – 50 cm, do đặc điểm sống trên núi cao nên chiều cao
thân cây hạn chế chỉ khoảng 20 m trở xuống. Thân tròn, thẳng không có bạnh
vè, vỏ màu nâu xám, nứt dọc, gỗ lõi màu nâu đỏ, gỗ giác màu nâu nhạt, thẳng
thớ, có mùi thơm.











Hình 2.1. Thân cây Thiết sam giả lá ngắn

16

Đặc điểm cành: Cành mọc nghiêng xung quanh thân, trên cành chính
mọc ra các cành phụ so le nhau, cành phụ ban đầu chứa lá non, sau khi già
phát triển thành cành, mới nhìn thì tưởng đấy là cuống lá nhưng thực sự đó là
cành phụ cấp hai.












Hình 2.2. Cành Thiết sam giả lá ngắn

Đặc điểm về lá:

Lá trưởng thành xếp hình xoắn ốc, thành 2 hàng, dạng
dải với đầu tù, gân giữa lõm vào ở mặt trên, 2 dải lỗ khí phân biệt ở mặt dưới,
xoắn ở gốc. Cây non lá có thể dài tới 5,5cm, rộng 5mm, dạng dải hoặc hơi
cong lưỡi liềm với đầu nhọn, hai dải lỗ khí phân biệt.

×