Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

Giải pháp về điều hành chính sách tiền tệ trong thời gian tới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (188.61 KB, 25 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
***
Chính sách tiền tệ là trong các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của
một quốc gia. Thông qua chính sách tiền tệ, nhà nớc có thể kiểm soát và điều
tiết lĩnh vực tiền tệ ngân hàng nhằm đạt đợc những mục tiêu kinh tế vĩ mô
của mình. Việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ một cách đúng đắn
sẽ làm cho nền kinh tế tiền tệ hoạt động lành mạnh và đó là một yêu cầu cần
thiết và cấp bách để đa nền kinh tế phát triển.
Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam ra đời ngày 6-5-1951 đã đánh dấu một
bớc ngoặt quan trọng trong sự phát triển nền tiền tệ ngân hàng Việt Nam. Kể
từ đó cho đến nay Ngân hàng đã trải qua hơn 50 năm xây dựng và trởng
thành và hệ thống ngân hàng thực sự đổi mới và phát triển từ sau đại hội đảng
lần thứ 6. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21 ngành
ngân hàng đã có những bớc cải cách toàn diện và vững mạnh. Hệ thống các
công cụ chính sách tiền tệ do vậy cũng hình thành và phát triển cùng với quá
trình NHNN hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ theo pháp lệnh ngân
hàng với mục tiêu đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, ổn định sức mua đồng tiền,
góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Trong điều kiện thị trờng tiền tệ và thị
trờng tài chính cha phát triển chúng ta cha thể áp dụng các công cụ một cách
bài bản nh ở các nớc phát triển mà phải áp dụng một cách linh hoạt giữa việc
sử dụng các công cụ trực tiếp sẵn có nh lãi suất, tỷ giá, hạn mức tín dụng
đồng thời thiết lập và bớc đầu sử dụng các công cụ gián tiếp nh dự trữ bắt
buộc, tái cấp vốn và gần đây nhất là việc đa vào sử dụng nghiệp vụ thị trờng
mở. Các công cụ này đã thực sự phát huy tác dụng góp phần tạo nên những
thành tựu quan trọng trong hoạt động ngân hàng thời gian qua.
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng các công cụ trong thời gian qua là hết
sức cần thiết và quan trọng vì có xem xét đánh giá nhìn nhận những thành
tựu đạt đợc và những vấn đề còn tồn tại thì mới có các phơng hớng phát triển
và hoàn thiện.
Với lợng kiến thức còn hạn chế, bài viết chắn chắn còn nhiều sai sót.


Em kính mong thầy cô và các bạn cùng trao đổi và góp ý để bài viết đợc
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 15-9-2002.
Sinh viên.
Đặng Quỳnh Nga
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần i: Lý LUậN CHUNG Về CHíNH SáCH TIềN Tệ Và CáC
CÔNG Cụ CủA CHíNH SáCH TIềN Tệ.
I.Khái niệm chung về chính sách tiền tệ .
Trớc khi nghiên cứu về khái niệm chính sách tiền tệ chúng ta cần
hiểu rõ một số khái niệm sau.
Đầu tiên là khái niệm về tiền tệ: tiền tệ chính là bất cứ vật cái gì vật gì
đợc chấp nhận chung trong thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong
việc trả nợ.
Tiền tệ đợc coi là vật trung gian trong quá trình thanh toán. Tiền tệ đợc
gắn với những thay đổi trong các biến số kinh tế. Nó có một ảnh hởng quan
trọng đối với các chu trình lạm phát, kinh doanh và đối với lãi xuất. Các biến
số kinh tế này lại rất quan trọng đối với sức khỏe của nền kinh tế của một
quốc gia. Chính vì vậy những ngời hoạch định kinh tế của một quốc gia cần
phải chú trọng đến việc hoạch định một chính sách tiền tệ đúng đắn để đảm
bảo cho nền kinh tế phát triển lành mạnh.
Cơ quan chịu trách nhiệm trong việc hoạch định và thực thi chính sách
tiền tệ chính là ngân hàng trung ơng(NHTW). Sự ra đời của NHTW có nhiều
cách khác nhau song về bản chất NHTW ra đời là nhằm đáp ứng nhu cầu
quản lý của nhà nớc trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, tín dụng. NHTW là một
chế định công cộng có thể độc lập hoặc trực thuộc chính phủ, thực hiện chức
năng độc quyền phát hành tiền, chức năng ngân hàng của các ngân hàng và
chức năng ngân hàng của chính phủ, chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà
nớc về các hoạt động về tiền tệ, tín dụng cho mục tiêu phát triển và ổn định

của cộng đồng.
Ngân hàng trung ơng với t cách là một cơ quan quan trọng trong bộ
máy quản lý của nhà nớc có nhiệm vụ xây dựng và thực thi một chính sách
tiền tệ đúng đắn nhằm đạt đợc những mục tiêu phát triển và ổn định.Vai trò
của NHTW là quản lý ở tầm vĩ mô đối với chính sách tiền tệ.
Vậy chính sách tiền tệ là gì?
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô mà
trong đó ngân hàng trung ơng thông qua các công cụ của mình thực hiện
việc kiểm soát và điều tiết khối lợng tiền cung ứng (hoặc lãi xuất) căn cứ
vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế nhằm đạt đợc các mục tiêu về giá cả,
sản lợng và công ăn việc làm.
Chính sách tiền tệ trong một khoảng thời gian nào đó của một quốc gia
có thể đợc xác định theo một trong hai hớng:
Chính sách tiền tệ mở rộng: đó là chính sách tăng tiền cung
ứng vào lu thông, dẫn đến trong lu thông thừa tiền. Trong trờng hợp khi nền
kinh tế có dấu hiệu suy thoái, NHTW sẽ hoạch định theo chính sách mở rộng
tiền tệ nhằm khuyến khích đầu t, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho
ngời lao động.
Chính sách tiền tệ thắt chặt: là chính sách thu hẹp lợng
tiền cung ứng dẫn đến khan hiếm tiền trong lu thông. Trong hợp nền kinh tế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có những dấu hiệu lạm pháp gia tăng thì NHTW sẽ hoạch định chính sách
tiền tệ thắt chặt nhằm hạn chế đầu t, kìm hãm sự tăng trởng quá mức của nền
kinh tế
Tóm lại, bằng việc thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng hay thắt chặt,
NHTW có thể tác động gián tiếp đến các mục tiêu kinh tế và việc chủ động
tạo ra các biến động về tiền tệ (xét cả về khối lợng và lãi suất) với một mục
tiêu xác định.
II. Hệ thống các mục tiêu của chính sách tiền tệ .
1. Mục tiêu cuối cùng.

Nh ta đã biết chính sách tiền tệ đợc đặt ra là nhằm đạt đợc các mục
mục tiêu kinh tế vĩ mô mà nhà nớc đặt ra. Vậy ta cần phải xem xét các mục
tiêu mà chính sách tiền tệ cần đạt đợc là gì? Đó chính là hàng loạt các mục
tiêu cuối cùng sau:
1.1 Mục tiêu ổn định giá cả.
Đây là mục tiêu hàng đầu và dài hạn của chính sách tiền tệ. Trong quá
trình thực nghiệm đã cho thấy để ổn định giá cả thì phải ổn định giá trị đồng
tiền. Đó là sự ổn định sức mua của đồng tiền. Để đạt đợc điều đó NHTW đã
đề ra mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định chỉ số giá cả (đặc biệt là chỉ
số hàng tiêu dùng).
Để thực hiện mục tiêu ổn định giá cả NHTW có nhiệm vụ ổn định giá
trị của đồng tiền bằng cách áp dụng nhiều biện pháp để điều chỉnh biến động
giá trong phạm vi mong muốn. Các NHTW thờng lợng hoá mục tiêu này
bằng tỷ lệ tăng của của chỉ số giá tiêu dùng xã hội.
ổn định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vĩ mô cũng nh
trong vi mô. ổn định giá cả giúp cho nhà nớc hoạch định đợc phơng hớng
phát triển kinh tế một cách có hiêụ quả hơn vì loại trừ đợc sự biến động của
giá cả. ổn định giá có nghĩa là kiềm chế đợc lạm phát, tạo môi trờng đầu t ổn
định góp phần thu hút vốn đầu t, khai thác triển để mọi nguồn lực xã hội,
thúc đẩy các doanh nghiệp cũng nh các cá nhân phát triển sản xuất đem lại
nguồn lợi cho mình cũng nh cho xã hội. đây là lợi có tầm quan trọng sống
còn đối với sự thịnh vợng kinh tế của xã hội. Ngoài ra chỉ số giá biến động
tăng hay giảm đều bất lợi cho nền kinh tế trong mọi lĩnh vực nh: sản xuất
trong nớc, xuất nhập khẩu hàng hoá, thu chi ngân sách, đời sống xã hội,
thông tin về các chỉ số không chính xác, di chuyển vốn không phù hợp làm
ảnh hởng đến hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính .
Do đó, đòi hỏi mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ phải là ổn
định giá và hầu hết chính sách tiền tệ các quốc gia đều đa ra mục tiêu này.
1.2 Mục tiêu tăng tr ởng kinh tế
Tăng trởng kinh tế là sự tăng thêm về qui mô sản lợng của nền kinh tế

trong từng thời kỳ nhất định. Tăng trởng kinh tế chính là điều kiện cần thiết
của quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nền kinh tế với tốc độ tăng
trởng ổn định là yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia. Nó cũng là một trong
những yếu tố quan trọng để đảm bảo cho sự ổn định của tiền tệ và ngợc lại
tiền tệ ổn định thì tăng trởng kinh tế mới bền vững.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nền kinh tế tăng trởng khi tỷ lệ tăng tổng sản phẩm quốc nội GDP lớn
hơn nhịp độ tăng dân số. Đó là tỷ lệ tăng trởng có đợc sau khi trừ đi tỷ lệ tăng
giá cùng thời kỳ. Tăng trởng kinh tế là nền tảng cho mọi sự ổn định, đảm bảo
cho các chính sách xã hội đợc thoả mãn, là căn cứ để ổn định tiền tệ trong n-
ớc, cải thiện tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị trí của
nền kinh tế trên thị trờng quốc tế.
1.3 Mục tiêu tạo công ăn việc làm.
Mục tiêu tăng trởng kinh tế có quan hệ vững chắc với mục tiêu tạo
công ăn việc làm. Mục tiêu việc làm là mục tiêu tất yếu, nhất là đối với các
quốc gia cha phát triển, năng suất lao động thấp, dân số tăng với tốc độ
cao.Mục tiêu của chính sách tiền tệ là tạo công ăn việc làm nhiều hơn nhằm
giảm thất nghiệp.
Chống thất nghiệp, tạo công ăn việc làm là rất cần thiết nhng nó chỉ
có thể đảm bảo một tỷ lệ nhất định, khó có thể xoá đợc thất nghiệp hoàn
toàn. Mỗi nớc đều có một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, việc giảm tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên cũng là một trong những mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Muốn đạt đợc mục tiêu này thì phải chống kết hợp với chống suy thoái, nhất
là suy thoái định kỳ và phải đạt đợc một mức tăng trởng kinh tế ổn định.
Trên đây là ba mục tiêu cuối cùng cơ bản nhất của chính sách tiền tệ
ngoài ra tuỳ vào đặt điểm phát triển kinh tế trong thời kỳ mà mỗi quốc gia
còn tập trung vào một số mục tiêu cụ thể khác nh ổn định thị trờng tài chính,
ổn định lãi xuất, ổn định thị trờng ngoại hối hay nh ở Việt Nam luật ngân
hàng nhà nớc đã đặt thêm mục tiêu ổn định hệ thống tổ chức tín dụng.
1.4 Mối quan hệ giữa các mục tiêu cuối cùng.

Về mặt dài hạn không có mâu thuẫn giữa các mục tiêu của chính sách
tiền tệ nhng trong ngắn hạn các mục tiêu của chính sách tiền tệ có những
mục tiêu phù hợp nhng cũng có mục tiêu mâu thuẫn thậm chí là đối nghịch
nhau.Các mâu thuẫn đó đợc thể hiện nh sau:
Trớc hết là mâu thuẫn giữa mục tiêu ổn định giá cả và mục tiêu tạo
công ăn việc làm. Việc NHTW thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, giảm
lạm phát để đảm bảo giá trị của đồng tiền, điều đó đã dẫn đến lãi xuất tăng
lên, không khuyến khích đầu t và thất nghiệp có xu hớng tăng.Trong khi
muốn duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp thì phải khuyến khích đầu t, dẫn đến
thực thi chính sách tiền tệ mở rộng làm tăng giá.Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu
công ăn việc làm và mục tiêu ổn định giá cả còn đợc thể hiện do mức cung
tiền tệ tăng nhằm thoả mãn mức cầu tiền thực tế dẫn đến giá cả hàng hoá
cũng tăng theo. Để giảm tỷ lệ thất nghiệp, NHTW đã áp dụng biện pháp
khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá xuất khẩu bằng cách hạ giá đồng
nội tệ, tăng giá ngoại tệ dẫn đến giá cả hàng hoá tăng theo .
Thứ hai, mục tiêu giá cả và mục tiêu tăng trởng kinh tế chỉ có mâu
thuẫn trong ngắn hạn còn dài hạn chúng luôn phù hợp với nhau. Khi tăng tr-
ởng kinh tế là điều kiện để giá cả ổn định, ngợc lại giá cả ổn định sẽ tạo điều
kiện để kinh tế ổn định và tăng trởng.
Thất nghiệp và mục tiêu tăng trởng không có sự mâu thuẫn cả trong
ngắn hạn cũng nh trong dài hạn. Công ăn việc làm cao sẽ thúc đẩy kinh tế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phát triển và ngợc lại. Tuy nhiên mối quan hệ này tơng đối phức tạp, chúng
mâu thuẫn nhau trong ngắn hạn nhng lại bổ sung nhau trong dài hạn.
Điều cần nghiên cứu ở đây là chính sách tiền tệ phải tìm ra đợc các
giải pháp dung hoà từng mục tiêu trong từng giai đoạn phát triển cụ thể, để
vừa kiềm chế lạm phát, nền kinh tế tăng trởng và đạt đợc tỷ lệ việc làm cao.
2. Mục tiêu trung gian
Trong quá trình chỉ đạo chính sách tiền tệ NHTW không thể tác động
trực tiếp vào các mục tiêu cuối cùng vì vậy NHTW phải chọn các mục tiêu

trung gian để từ mục tiêu trung gian tác động đến mục tiêu cuối cùng.
Thông qua mục tiêu trung gian NHTW ảnh hởng đến tổng cầu, từ đó
tác động vào mục tiêu cuối cùng. Để trở thành mục tiêu trung gian cần đáp
ứng một số chỉ tiêu sau:
Mục tiêu đó phải đảm bảo tiêu chuẩn định lợng: có thể đa ra dấu
hiệu giúp NHTW biết đợc tác động của mình đúng hay sai để từ đó
đa ra những giải pháp phát huy hay khắc phục những hạn chế.
NHTW có thể kiểm soát đợc mục tiêu trung gian để điều chỉnh nó
cho phù hợp với định hớng của chính sách tiền tệ nhằm đạt đợc
mục tiêu cuối cùng.
Mục tiêu trung gian phải có liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối
cùng. Đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất của một mục tiêu trung
gian bởi lẽ mục tiêu trung gian chỉ có ý nghĩa khi nó có khả năng
ảnh hởng trực tiếp đến mục tiêu cuối cùng.
Các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ bao gồm:mức cung tiền
tệ (có thể là M1,M2,M3), lãi suất thị trờng trung và dài hạn có thể là một
mức lãi suất cụ thể, tỷ giá, khối lợng tín dụng . Hiện nay các nớc thờng sử
dụng mức cung cấp tiền tệ hoặc lãi suất thị trờng làm mục tiêu trung gian của
chính sách tiền tệ.
Với các mục tiêu trung gian nêu trên, NHTW không thể chủ động tác
động một cách hoàn toàn vì vậy NHTW phải lựa chọn các mục tiêu hoạt
động để chỉ đạo thờng xuyên và trực tiếp.
3. Mục tiêu hoạt động.
Mục tiêu hoạt động là chỉ tiêu đợc NHTW lựa chọn để sao cho khi
NHTW sử dụng các công cụ điều tiết thì nó ảnh hởng đến mục tiêu trung
gian. Để đợc lựa chọn là mục tiêu hoạt động thì các mục tiêu đó phải mang
tính định lợng, và có thể đo lờng đợc, chỉ tiêu đó phải hết sức nhạy cảm với
biến động của chính sách tiền tệ và phải tác động đến mục tiêu trung gian.
Các mục tiêu hoạt động bao gồm: Dự trữ của các ngân hàng thơng
mại (R) và lãi suất ngắn hạn trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng. Dự trữ của

các ngân hàng thơng mại ảnh hởng trực tiếp đến lợng tiền cung ứng vì thay
đổi dự trữ ảnh hởng đến vốn khả dụng của ngân hàng thơng mại do đó ảnh h-
ởng dến mức cung ứng tiền. Lãi suất ngắn hạn trên thị trờng tiền tệ liên ngân
hàng ảnh hởng trực tiếp đến lãi suất thị trờng, từ đó tác động ứng.
III. Các công cụ của chính sách tiền tệ .
1. Công cụ trực tiếp : là công cụ tác động trực tiếp vào khối lợng tiền
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trong lu thông ( hoặc các mức lãi suất trong và dài hạn ). Nó bao gồm:
1.1 Lãi suất tiền gửi và cho vay .
Ngân hàng trung ơngcó thể quy định khung lãi suất tiền gửi và cho
vay trên thị trờng nhng thông qua cơ chế điều chỉnh cung cầu tiền tệ. Nếu lãi
xuất tiền gửi cao sẽ thu hút đợc nhiều tiền gửi làm tăng nguồn vốn vay, ngợc
lại sẽ làm giảm khả năng mở rộng kinh doanh tín dụng. Khi muốn tăng khối
lợng cho vay, NHTW giảm mức lãi xuất cho vay để kích thích các nhà dầu t
vay vốn, khi cần hạn chế đầu t NHTW ấn định mức lãi suất cao.
Việc ấn định lãi xuất tiền gửi và cho vay có những u điểm sau: nó
hạn chế đợc hiệu ứng do mất tính cạnh tranh khi việc cấp giấy phép
hoạt động ngân hàng là hạn chế. Hạn chế đợc việc cho vay có thể
không nhằm đúng vào đối tợng có nhu cầu vay nếu thông tin về ng-
ời vay sơ sài, hoặc giám sát kém hiệu lực. Ngoài ra nó còn giúp cho
ngân hàng lựa chọn những dự án cộng tác tốt để cho vay.
Tuy nhiên nó cũng có một số hạn chế sau: việc phân phối nguồn
vốn không dựa trên cơ chế cung cầu giá quy định trần có thể lẩn
tránh đợc bằng cách chuyển tiền gửi sang các tài sản có lãi suất tiền
tệ hoặc hàng hoá. Trần hoặc sàn có thể mất tính khuyến khích đối
với ngân hàng và tăng hoạt động cho vay, cho vay qua các thể chế
khác. Ngoài ra biện pháp này làm cho các NHTW mất tính chủ
động và linh hoạt trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác nó để dẫn
đến tình trạng ứ đọng vốn ở ngân hàng nhng lại thiếu vốn đầu t,
tính linh hoạt của thị trờng tiền tệ bị suy giảm. Ngày nay biện pháp

này ít đợc sử dụng ở các nớc theo cơ chế thị trờng bởi trong cơ chế
thị trờng lãi suất rất nhạy cảm với đầu t, nó phải đợc vận động theo
quan hệ cung cầu vốn trên thị trờng.
1.2Hạn mức tín dụng.
Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp một cách trực
tiếp mang tính hành chính của ngân hàng trung ơng để khống chế mức
tăng khối lợng tín dụng của các hệ thống tài chính tín dụng cung ứng cho
nền kinh tế đảm bảo mức tăng trởng tổng phơng tiện thanh toán theo mục
tiêu đề ra.
Hạn mức tín dụng là mức d nợ tối đa mà ngân hàng trung ơng buộc
các tổ chức tín dụng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Mức d nợ này đợc quy định cho từng tổ chức tín dụng căn cứ vào đặc
điểm kinh doanh của từng tổ chức tín dụng và định hớng cơ cấu đầu t tín
dụng cho nền kinh tế, tổng d nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế
trong khoảng thời gian nhất định. Khi sử dụng hạn mức tín dụng là khống
chế d nợ tín dụng của các ngân hàng thơng mại từ đó nó quyết định đến lợng
tiền cung ứng trong nền kinh tế vì mỗi khoản cho vay cấu thành d nợ tín dụng
của các ngân hàng thơng mại thì tơng đơng với nó là một lợng ngồn vốn tiền
gửi huy động từ đó ảnh hởng đến tỷ trọng vốn tín dụng so với lợng tiền cung
ứng. Khi NHTW tăng mức tín dụng cho nền kinh tế, tăng khả năng tạo tiền
qua hệ thống ngân hàng do đó làm tăng lợng tiền cung ứng và ngợc lại.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hạn mức tín dụng có u điểm là kiểm soát đợc tín dụng của các
ngân hàng nếu chú ý kiểm soát tiền dự trữ tại NHTW. Công cụ này
phát huy hiệu quả trong trờng hợp lạm pháp cao do khống chế trực
tiếp và ngay lập tức lợng tiền cung ứng. Nó là công cụ cứu cánh của
NHTW trong việc điều tiết lợng tiền cung ứng.
Tuy nhiên nó có nhợc điểm là làm sai lệch việc phân phối nguồn
vốn ngân hàng. Nó mang tính chủ quan kém linh hoạt và không thể
thay đổi thờng xuyên. việc quy định hạn mức tín dụng có thể han

chế việc cho vay, vay của ngân hàng để chuyển sang các thể chế
khác. Nó khó thực hiện nếu có quá nhiều ngân hàng và có nguồn
vốn nớc ngoài vào. Ngoài ra nó còn làm giảm khả năng cạnh tranh
của các ngân hàng thơng mại.
NHTW chỉ sử dụng công cụ này khống chế lợng tiền cung ứng trong
điều kiện nền kinh tế không sử dụng đợc các công cụ gián tiếp.
1.3. Tỷ giá.
Tỷ giá đợc coi là một mục tiêu trung gian nhng ở Việt Nam nó đợc coi
là một công cụ chính sách tiền tệ.
Tỷ giá hối đoái là tơng quan giá trị trao đổi giữa hai đồng tiền, hay
chính là giá cả của đồng tiền này đợc biểu hiện bằng đồng tiền khác.
Tỷ giá có vai trò hết sức quan trọng. Nó tác động đến giá cả tơng đối
của hàng hoá trong nớc và hàng hoá nớc ngoài. Khi đồng tiền của một nớc
tăng giá (tăng trị giá so với đồng tiền khác) thì hàng hoá của nớc đó tại nớc
ngoài trở thành rẻ hơn (giá nội địa tại hai nớc giữ nguyên) và ngợc lại. Ngoài
ra tỷ giá còn có vai trò kích thích và điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu.
Thông qua tỷ giá có thể xác định mức độ lỗ lãi, hiệu quả kinh tế trong hoạt
động kinh tế đối ngoại, nhà nớc có thể kích thích tác động điều chỉnh cơ cấu
xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ. Tỷ giá còn có vai trò điều tiết thu nhập
trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
Các nhân tố tác động đến tỷ giá trong dài hạn là mức giá cả tơng đối,
thuế quan, sự a thích hàng nội so với hàng ngoại, năng suất lao động. Trong
ngắn hạn, tỷ giá bị tác động bởi sự chênh lệch mức thu nhập kỳ vọng giữa
tiền gửi ngoại tệ và tiền gửi nội tệ. Mức tỷ giá cân bằng sẽ thay đổi khi lãi
suất của hai đồng tiền thay đổi tơng đốivà khi mức tỷ giá kỳ vọng thay đôỉ.
Tỷ giá là một công cụ rất dễ biến động và ảnh hởng rất lớn đến tình
hình xuất nhập khẩu chính vì vậy mà cần có sự can thiệp của NHTW để ổn
định tỷ giá. NHTW can thiệp vào tỷ giá một cách trực tiếp trên thị trờng
ngoại hối trong chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý NHTW thực hiện can thiệp tỷ
giá khi nó có xu hớng biến động quá mức thông qua việc tác động đến quan

hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trờng.
Ưu điểm của tỷ giá là nó ổn định sự tơng quan giữa nội tệ và ngoại
tệ góp phần thúc đấy xuất khẩu kiểm soát nhập khẩu, cải thiện cán
cân thanh toán quốc tế.
Hạn chế của tỷ giá là nó luôn biến động, đợc coi là một yếu tố của
trên thị trờng nên phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của thị trờng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.Công cụ gián tiếp.
Công cụ gián tiếp là những công cụ tác động vào mục tiêu trung gian
thông qua việc điều chỉnh mục tiêu hoạt động.
2.1 Dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại NHTW để
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Nó đợc xác định bằng tỷ lệ % nhất
định trên tổn số d tiền gửi tuỳ theo tính chất và thời hạn mà các tổ chức tín
dụng huy động đợc. Tỷ lệ này gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Những thay đổi trong dự trữ bắt buộc tác động đến cung ứng tiền tệ
bằng cách gây ra thay đổi số nhân cung ứng tiền tệ.một sự tăng lên trong dự
trữ bắt buộc làm giảm số tiền gửi đợc nâng đỡ bởi một mức nhất định của cơ
số tiền tệ và dẫn đến thu hẹp cung ứng tiền tệ. Mặt khác một sự giảm xuống
của dự trữ bắt buộc dẫn đến một sự tăng lên của cung ứng tiền tệ bởi vì có thể
tạo thêm tiền gửi gấp nhiều lần.
Ưu điểm của dự trữ bắt buộc là nó có thể tác động đến tất cả các
ngân hàng nh nhau và có tác dụng đầy quyền lực đến cung ứng
tiền. Nó tác động lên cầu đối với dự trữ nên có thể dự đoán đợc cầu
dự trữ. Tăng yêu cầu dự trữ làm thay đổi d thừa thanh khoản.
Nhợc điểm của dự trữ bắt buộc: dự trữ bắt buộc cao là thuế đánh
vào các ngân hàng, do đó có thể làm tăng chênh lệch lãi suất
chovay-lãi suất tiền gửi. Công cụ này không thuận tiện cho việc
quản lývốn khả dụng và cho việc đạt mục tiêu chính sách tiền tệ vì
ngân hàng thụ động trong việc sử dụng.Vì vậy công cụ này thờng

đợc sử dụng kết hợp với các công cụ khác nhằm điều chỉnh vốn khả
dụng cho các ngân hàng khi cần thiết.
2.2 Chính sách tái chiết khấu.
Chính sách tái chiết khấu đợc thể hiện thông qua việc NHTW cung
ứng vốn tín dụng cho các tổ chức tín dụng. Chính sách tái chiết khấu đợc
thực hiện thông qua cửa sổ tái chiết khấu. NHTW áp dụng lãi suất tái chiết
khấu và quy định các điều kiện để tái chiết khấu cho các tổ chức tín dụng.
Công cụ của chính sách tái chiết khấu là lãi suất tái chiết khấu. Đó là
lãi suất mà NHTW áp dụng để chiết khấu lại các giấy tờ có giá của các ngân
hàng thơng mại. Lãi suất tái chiết khấu tác động vào giá tín dụng nên khi lãi
suất tái chiết khấu tăng sẽ tác động vào mặt bằng giá vốn đầu vào của ngân
hàng thơng mại gây áp lực và lãi suất của nền kinh tế sẽ tăng theo dẫn đến
thu hẹp khả năng cho vay của các ngân hàng thơng mại dẫn đến hệ số tạo
tiền giảm và ngợc lại.
Đi kèm với lãi suất tái chiết khấu là hạn mức tái chiết khấu, là quy
định mức cho vay tối đa trên cơ sở lãi suất đã quy định để gây ảnh hởng
nguồn vốn mà các ngân hàng thơng mại vay. Ngoài ra còn các tiêu chuẩn về
thời hạn chủng loại giấy tờ có giá và uy tín của các tổ chức tín dụng.
Ưu điểm của chính sách tái chiết khấu là công cụ linh hoạt nó có
hiệu ứng thông báo mạnh có tác động đến nền kinh tế. NHTW với
Website: Email : Tel : 0918.775.368
t cách là ngời cho vay cuối cùng đợc coi là cái van toàn cho toàn bộ
hệ thống
Hạn chế của chính sách này là nó sẽ không phát huy hiệu quả trong
trờng hợp khi các điều kiện tái chiết khấu không đảm bảo. NHTW
không chủ động trong việc chi phối số tiền tái chiết khấu. Công cụ
này chỉ có ý nghĩa tác động một chiều.
ở việt Nam tái chiết khấu nằm trong chính sách tái cấp vốn và nó là
một trong ba hình thức của tái cấp vốn.
2.3 Nghiệp vụ thị tr ờng mở.

Nghiệp vụ thị trờng mở đợc NHTW các nớc sử dụng nh là một công cụ
gián tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ thoong qua việc làm thay đổi vốn
khả dụng của hệ thống ngân hàng từ đó gián tiếp làm thay đổi lợng tiền cơ
bản theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Hoạt động thị trờng mở là việc NHTW tiến hành mua bán các trái
phiếu do kho bạc hay do chính phủ phát hành và trái phiếu NHTW mà thôi.
Sử dĩ nh vậy , theo Miskin là nhằm tránh mâu thuẫn quyền lợi và tiêu cực nên
NHTW không thực hiện việc mua bán các chứng khoán do khu vực t nhân
phát hành trong thị trờng mở. đây cũng là quan điểm chính thống đợc thừa
nhân rộng rãi trên thế giới về hoạt động thị trờng mở.
Ưu điểm của nghiệp vụ thị trờng mở là thị trờng mở đợc tiến hành
liên tục , tạo ra sự linh hoạt thuận lợi cho việc phát triển tiền tệ, nó
có tác dụng tức thời.
Nhợc điểm của công cụ này là nó yêu cầu phải có nột thị trờng thứ
cấp phát triển và NHTW phải có một khối lợng lớn tài sản chứng
khoán.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần ii: hiệu quả sử dụng công cụ chính sách tiền tệ
ở việt nam thập kỷ 90 và những năm đầu thế kỷ 21
Ngày 6-5-1951 ngân hàng quốc gia Việt Nam nay là ngân hàng nhà n-
ớc Việt Nam (NHNN) đợc thành lập. NHNN Việt Nam ra đời thực sự là một
bớc ngoặt lịch sử trong sự phát triển nền tiền tệ ngân hàng Việt Nam. Từ
đó cho đến nay lịch sử phát triển của NHNN Việt Nam đợc đánh dấu bằng 4
dấu mốc lịch sử sau:
Từ 6-5-1951 đến 1987: hệ thống ngân hàng một cấp. Chức năng
chủ yếu của NHNN lúc bấy giờ là phát hành giấy bạc và quản lý kho bạc,
thực hiện chính sách tín dụng và quản lý tiền tệ.việc thực hiện hệ thống ngân
hàng một cấp không thể hiện một cách rõ ràng 2 chức năng chủ yếu chức
năng kinh doanh và chức năng quản lý nhà nớc các hoạt động ngân hàng,

không phát huy hiệu quả vai trò quản lý của NHNN và không đạt đợc những
mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính vì vậy đến năm1988 hệ thống ngân hàng đợc phân chia
thành hệ thống ngân hàng hai cấp(nghị dịnh53 ngày 26-3-1988)bao gồm
NHNN và các ngân hàng chuyên doanh.NHNN lúc này hoạt động với t cách
độc quyền, là cơ quan quản lý nhà nớc về tiền tệ, tín dụng và là cơ quan dự
trữ ngoại hối của nhà nớc. NHNN đã thực sự trở thành một NHTW.
5-1990 pháp lệnh NHNN ra đời thực sự đánh dấu bớc đổi mới
căn bản trong hoạt động của NHNN.
12-12-1997 luật NHNN Việt Nam ra đời tạo ra khuôn khổ pháp
lý choviệc tiếp tục đổi mới hoạt động ngân hàng trong giai đoạn mới.
Cùng với sự ra đời của 2 pháp lệnh ngân hàng và luật ngân hàng nhà
nớc là sự ra đời của các công cụ chính sách tiền tệ. Chúng ra đời đánh dấu
tiến trình phát triển và hoàn thiện của NHNN trong việc hoạch định và thực
thi chính sách tiền tệ nhằm đạt đợc những mục tiêu kinh tế vĩ mô.
I.Sự ra đời và phát triển của các công cụ chính sách tiền tệ.
1. Hạn mức tín dụng.
Theo khuyến nghị của IMF và xuất phát từ thực tế cha thể áp dụng
đồng bộ các công cụ gián tiếp, 6 tháng cuối năm 1994 NHNN bắt đầu áp
dụng hạn mắc tín dụng và coi đó là một công cụ của chính sách tiền tệ. Đối t-
ợng áp dụng bớc đầu là 4 ngân hàng thơng mại quốc doanh vì 4 ngân hàng
này chiếm hơn 90% tổng d nợ cho vay đối với nền kinh tế. Kết quả đã khống
chế đợc tổng mức cho vay ngắn hạn cả năm 1994 tăng 24%so với cuối năm
1993
Năm 1995, mức tăng tín dụng đối với nền kinh tế cả năm là 37.2% gấp
1,66 lần hạn mức tín dụng cho phép.
Năm 1996 hạn mức tín dụng dự kiến dụ kiến tăng 21%-25% nhng tổng
tín dụng đối với nền kinh tế tăng 40% gấp 2 lần hạn mức tín dụng.
Điều này cho thấy sự điều hành công cụ này cha có hiệu lực cao và
nhu cầu vốn cho nền kinh tế là rất lớn.

×