Tải bản đầy đủ (.docx) (128 trang)

Biện pháp Quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong Quản lý giáo dục ở Quận Hồng Bàng Hải Phòng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (576.37 KB, 128 trang )

LỜI CẢM ƠN
Sau gần hai năm nghiên cứu và học tập tại Học viện Quản lý Giáo dục
đến nay tôi đã hoàn thành chương trình khóa học Thạc sỹ chuyên ngành Quản
lý giáo dục và hoàn thành luận văn ‘‘Biện pháp Quản lý hoạt động ứng dụng
công nghệ thông tin trong Quản lý giáo dục ở Quận Hồng Bàng Hải
Phòng’’ dưới sự hướng dẫn của tiến sĩ Phạm Quang Trình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến các thầy cô giáo đã
tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, đặc
biệt là sự giúp đỡ tận tình của tiến sỹ Phạm Quang Trình, giảng viên Học viện
Quản lý Giáo dục, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi làm luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, phòng Đào tạo Học viện
Quản lý giáo dục, Dự án phát triển giáo dục THCS II đã giúp đỡ, tạo điều
kiện cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại Học viện.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Sở GD&ĐT Hải Phòng; Quận ủy,
UBND quận Hồng Bàng; Lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT, lãnh đạo
các trường THCS trong quận Hồng Bàng cùng các bạn đồng nghiệp và gia
đình đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện tôi để tôi hoàn thành luận văn của
mình.
Do khả năng và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không
tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo,
các nhà khoa học và các đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn !
Hồng Bàng, tháng 11 năm 2011
TÁC GIẢ
Nguyễn Văn Quý
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu
thực sự của bản thân, được xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc,
quá trình học tập, nghiên cứu tại học viện để hình thành hướng nghiên cứu,
được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khảo sát tình hình
thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phạm Quang Trình. Các


số liệu, mô hình toán và những kết quả trong luận văn là trung thực, các kết
quả chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ
và công nhận bởi “Hội Đồng đánh giá luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý
Giáo dục”.
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Quý
2
2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNTT Công nghệ thông tin
CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông
CNH-HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CPĐT Chính phủ điện tử
LAN Local Area Network
WAN Wide Area Network
QL Quản lý
CBQL Cán bộ quản lý
GD Giáo dục
QLGD Quản lý giáo dục
GV Giáo viên
CNV Công nhân viên
HS Học sinh
TTQL Thông tin Quản lý
TT QLGD Thông tin Quản lý giáo dục
MN Mầm non
TH Tiểu học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
ĐH Đại học

CĐ Cao đẳng
TC Trung cấp
CSVC Cơ sở vật chất
CSDL Cơ sở dữ liệu
CSGD Cơ sở giáo dục
PGD&ĐT Phòng Giáo dục và Đào tạo
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
KH-CN Khoa học - công nghệ
KH-KT Khoa học - kỹ thuật
KT-XH Kinh tế - xã hội
PCGDTH Phổ cập giáo dục tiểu học
PCGDTHCS Phổ cập giáo dục trung học sở
PCTrH&N Phổ cập trung học và nghề
UBND Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
3
3
4
4
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thế kỷ XXI, thế kỷ của tri thức và tài năng, thế kỷ mà “tri thức là
quyền lực” (Alvin Tofffler), nhân loại đang đứng trước sự biến đổi nhanh
chóng và sâu sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, sự phát triển mạnh mẽ
của khoa học – công nghệ, sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá
trình hội nhập và toàn cầu hoá đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về
trình độ phát triển giữa các nước trở nên hiện thực và nhanh hơn, đã mở ra
cho các quốc gia đang phát triển những cơ hội và thách thức lớn.
Ngày nay, CNTT đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực kinh
tế, xã hội nói chung và trong giáo dục nói riêng. Về tầm quan trọng của

CNTT, Hiến chương OKINAWA về xã hội thông tin toàn cầu đã chỉ rõ:
“ CNTT&TT là một trong các động lực chính tạo nên bộ mặt của thế kỷ 21.
Nó tác động sâu sắc đến cách thức chúng ta sống, học tập và làm việc; và
cách thức Nhà nước giao tiếp với dân chúng CNTT sẽ phục vụ cho mục tiêu
hỗ trợ lẫn nhau tạo nên sự phát triển kinh tế, mang lại thịnh vượng chung,
nuôi dưỡng các mối liên kết xã hội, hiện thực hoá tiềm năng của chúng ta
trong việc tăng cường dân chủ, tạo tính chất trong suốt cao hơn trong các hoạt
động Nhà nước, hỗ trợ phát triển quyền con người, tăng cường tính đa dạng
văn hoá và nuôi dưỡng hoà bình, ổn định thế giới ”. CNTT còn giúp cho việc
phổ biến các chính sách đến từng vùng, từng người dân tạo hiệu quả cho việc
tuyên truyền, tiếp thu những chính sách đó thông qua các phương tiện thông
tin đại chúng, tránh được những sai lầm không cần thiết khi thông qua nhiều
khâu trung gian. Trong công tác đối ngoại, công nghệ thông tin nhanh chóng
giúp các quốc gia hiểu nhau, xích lại gần nhau hơn, chuyển những xung đột từ
đối đầu thành đối thoại tạo cho thế giới và khu vực có một nền hoà bình mới.
5
5
Đối với công tác quản lý giáo dục công nghệ thông tin giúp quản lý
được khoa học và hiệu quả hơn, cụ thể là nhờ máy móc thiết bị và các phần
mềm chuyên dụng CNTT sẽ giúp việc quản lý được khoa học, chính xác, tiết
kiệm thời gian, sức người và sức của Cũng chính vì lẽ đó mà hiện nay đối
với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng mong muốn tạo cho mình
những điều kiện tốt nhất về khoa học kỹ thuật trong đó có lĩnh vực công nghệ
thông tin, mà ở đây chính là phát triển cơ sở hạ tầng để nâng công nghệ thông
tin lên tầm cao mới. Trong đó nhiệm vụ đặt ra là song song với việc đầu tư
cho cơ sở vật chất (máy móc thiết bị ) cần phải xây dựng đội ngũ những nhà
khoa học, những kỹ sư chuyên ngành, đội ngũ công nhân kỹ thuật, đội ngũ
thợ lành nghề, đội ngũ các cán bộ, giáo viên CNTT. Nói tóm lại, CNTT như
một làn gió mới góp phần chuyển hướng quản lý các hoạt động kinh tế - xã
hội của một quốc gia, một tổ chức, trong đó có quản lý giáo dục ngày một

hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục và đào tạo ngày càng có vai trò và vị
trí đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định tương lai của
dân tộc. Từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn khẳng định “cùng với khoa học
và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “khoa học và công
nghệ là động lực, giáo dục và đào tạo là nhân tố cơ bản để tạo ra động lực”
cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trước sự phát triển mạnh mẽ
của công nghệ thông tin Đảng và Chính phủ đã không ngừng chỉ đạo đầu tư
cho công nghệ thông tin.
Thực hiện các chủ trương của Nhà nước và của Sở Giáo dục - Đào tạo
Hải Phòng, quận Hồng Bàng trong những năm qua đã bước đầu ứng dụng
CNTT trong QLGD và đã mang lại những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, cũng
còn gặp nhiều khó khăn và bất cập, hiệu quả ứng dụng chưa cao do chưa có
biện pháp quản lý tổng thể, vì vậy cần phải có các biện pháp cụ thể, phù hợp
về việc Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong QLGD ở quận Hồng Bàng
6
6
trong thời gian tới, từ đó áp dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả ứng
dụng CNTT trong QLGD ở quận Hồng Bàng Hải Phòng góp phần nâng cao
hiệu quả quản lý từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Hiện nay trên thực tế,
vấn đề Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong QLGD ở quận Hồng Bàng
vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu, do vậy tác giả chọn đề tài “Biện
pháp Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong QLGD ở quận Hồng Bàng
Hải Phòng” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài nhằm đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý hoạt động ứng
dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo ở quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng.
III. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1. Khách thể

Hoạt động ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục.
2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục ở
quận Hồng Bàng Hải Phòng.
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu các Biện pháp được áp dụng, sẽ nâng cao hiệu quả việc quản lý
hoạt động ứng dụng CNTT trong QLGD ở quận Hồng Bàng Hải Phòng.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Tìm hiểu và hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ứng dụng
CNTT trong QLGD;
7
7
2. Đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong QLGD ở
quận Hồng Bàng Hải Phòng;
3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong QLGD
ở quận Hồng Bàng Hải Phòng.
VI. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu việc quản lý hoạt động ứng dụng CNTT
trong QLGD ở Phòng Giáo dục và Đào tạo và các trường THCS trong quận
Hồng Bàng Hải Phòng.
VII. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu về lý luận liên quan đến việc
ứng dụng CNTT và quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong QLGD.
2. Nhóm phương pháp thực tiễn
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, điều tra khảo sát, hội thảo để thu
thập thông tin về đánh giá thực trạng, tính cấp thiết và tính khả thi của các
biện pháp.
8
8

Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CNTT TRONG QLGD
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Quản lý và quản lý giáo dục
Quản lý
Khi nghiên cứu về lí luận QL, các nhà nghiên cứu lý luận cũng như
thực hành QL, với những cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra rất nhiều quan
niệm về QL. Ta có thể hiểu QL là một quá trình tác động có định hướng của
chủ thể QL đến khách thể QL nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các
cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của
môi trường.
Theo giáo trình khoa học quản lý - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh thì: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
Quản lý giáo dục

Sơ đồ: Mô hình quản lý giáo dục
Trong tác phẩm "Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện, quận"
P.V.Khuđôminxki đã viết: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau
đến tất cả các khâu của hệ thống (từ bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo
CÔNG CỤ
MỤC
TIÊU
KHÁCH THỂ
CHỦ THỂ
PHƯƠNG PHÁP
9
9
việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn

diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung
vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như các quy luật khách quan của quá trình
dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em".
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: "QLGD là hệ thống tác động có
mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận
hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng thực hiện được các tính chất
nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo
dục thế hệ trẻ đưa hệ GD đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về
chất".
Theo giáo sư Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát
là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công
tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.”
Tác giả Hồ Văn Liên cho rằng: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý
thức, có mục đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt
động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách có
hiệu quả nhất”.
Hiện nay, định nghĩa thế nào là quản lý giáo dục tuy chưa hoàn toàn
thống nhất với nhau, theo tôi quan điểm của giáo sư Nguyễn Ngọc Quang là
phù hợp nhất.
1.1.2. Công nghệ thông tin
- Thông tin:
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thông tin. Nhưng phần lớn đều hiểu
thông tin là tất cả những gì đem lại hiểu biết, nhận thức cho con người cũng
như các sinh vật khác. Thông tin tồn tại khách quan. Thông tin có thể được
tạo ra, truyền đi, lưu trữ, chọn lọc. Thông tin cũng có thể bị sai lạc, méo mó
do nhiều nguyên nhân khác nhau: bị xuyên tạc, cắt xén …
10
10
11
11

- Công nghệ thông tin:
Công nghệ thông tin là một tập hợp các phương pháp khoa học, các
phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và
viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên
thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con
người và xã hội.
1.1.3. Phần cứng, phần mềm
- Tất cả các thiết bị kỹ thuật tạo nên máy tính được gọi chung là phần
cứng.
Nói cách khác phần cứng là phần thiết bị của máy mà chúng ta có thể
nhìn thấy được.
Ví dụ: Màn hình, ổ cứng, ổ CD, DVD, bo mạch chủ, Ram …
Các thành phần chính của phần cứng:
+ Bộ xử lý trung tâm CPU (Central Processing Unit)
+ Các thanh ghi (Registers)
+ Bộ nhớ (Memory)
+ Bàn phím (Keyboard)
+ Thiết bị ra.
- Tất cả các chương trình chạy được trên máy tính được gọi là phần
mềm.
Ví dụ: Window 7, Microsoft Office, Unikey.
Phân loại phần mềm:
+ Phần mềm hệ thống: Là các chương trình dùng để khởi động máy
tính, tạo môi trường để chạy các phần mềm khác, các chương trình điều khiển
12
12
thiết bị, … Ngoài ra phần mềm hệ thống có chức năng quản lý các tài nguyên,
duy trì sự hoạt động của máy tính bằng các chương trình. Phần mềm hệ thống
quan trọng nhất là hệ điều hành.
+ Phần mềm ứng dụng: Là các chương trình giải quyết các vấn đề thực

tế.
Ví dụ: Các hệ soạn thảo, các hệ quản trị cơ sở dữ liệu,…
+ Ngôn ngữ lập trình: Là các chương trình dùng để soạn thảo các
chương trình, các phần mềm ứng dụng.
Ví dụ: PASCAL, Visual Basic, Foxpro, …
1.1.4. Mạng máy tính
- Mạng máy tính là thuật ngữ để chỉ nhiều máy tính được kết nối với
nhau để chia sẻ tài nguyên.
Mạng LAN (Local Area Network): kết nối những máy tính ở những
khoảng cách ngắn, sử dụng cáp và phần cứng đã cài đặt trên máy. Mạng LAN
thường dùng phổ biến trong các trường học, nội bộ các cơ quan.
Mạng WAN (Wide Area Network): kết nối nhiều máy tính ở những
khoảng cách lớn hơn và sử dụng các đường truyền tương tự như những thiết
bị sử dụng trong các hệ thống điện thoại.
Mạng Internet: là một liên mạng của vô số máy tính trên toàn thế giới,
nó khai thác được sức mạnh tổng hợp của tập thể các máy tính có mặt trên
mạng cộng tác với nhau. Mạng Internet, một trong những thành tựu vĩ đại
nhất của CNTT & TT, có khả năng đóng vai trò của một phương tiện hiệu quả
và cực kỳ thuận lợi để đem tri thức và nội dung GD&ĐT đến cho cộng đồng.
Nhờ có mạng chúng ta có thể được cung cấp các dịch vụ thư tín điện
tử, khai thác từ xa (chạy các chương trình nằm trên các hệ thống của mạng),
truyền thông tin, dữ liệu, tìm kiếm và trao đổi thông tin, sử dụng miễn phí
13
13
một số phần mềm. Mạng máy tính đảm bảo sự thống nhất cho các quá trình
xử lý thông tin giữa các cơ sở thuộc cùng một hệ thống; chia sẻ, sử dụng một
cách hữu hiệu các tài nguyên máy tính như bộ nhớ, dữ liệu. Có khi chỉ cần
một máy chủ với dung lượng ổ cứng lớn, còn các máy trạm không cần ổ cứng,
không cần có máy in riêng. Việc trao đổi thông tin giữa các máy tính trong
mạng được thực hiện một cách nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, đảm bảo an

toàn dữ liệu.
Do nhận thức được tầm quan trọng của thông tin, các cơ quan, doanh
nghiệp đều tìm mọi cơ hội và biện pháp để xây dựng và hoàn thiện các hệ
thống thông tin nội bộ của mình. Hệ thống này bao gồm một cơ sở hạ tầng
truyền thông máy tính và một tập hợp các chương trình ứng dụng nhằm tin
học hoá các hoạt động tác nghiệp của đơn vị. Hệ thống thông tin đó phải luôn
chính xác, tin cậy, hiệu quả, thông suốt và đảm bảo an toàn, an ninh trong mọi
tình huống. Hệ thống phải có khả năng truyền thông với thế giới bên ngoài
qua mạng toàn cầu Internet khi cần thiết. Để đạt được nhiều mục tiêu như vậy
thì cần phải có sự thiết kế tổng thể mạng thông tin dựa trên các yêu cầu nhiều
mặt của đơn vị. Từ đó khái niệm mạng Intranet xuất hiện và ngày càng thu
hút sự quan tâm của những người sử dụng và các nhà cung cấp.
Mạng Intranet, một dạng rút gọn hơn của công nghệ Internet, có thể
thực hiện được các chức năng thông tin nói trên dành cho một nhóm xác định
đối tượng sử dụng, chẳng hạn các tổ chức, cơ quan, trường học tại một địa
bàn nhất định (tỉnh, thành phố) hay theo một phân cấp nhất định (ngành dọc).
Trong ngành giáo dục, mạng Intranet của Sở GD&ĐT là mạng liên kết các
máy tính của các phòng ban cơ quan Sở với các máy tính ở các trường THPT,
THCN, các phòng giáo dục, các đơn vị trực thuộc… sử dụng công nghệ
Internet. Mạng Intranet của Sở GD&ĐT đáp ứng được quản lý của Sở, phục
vụ cho Dạy - Học - Đánh giá, tư vấn hướng nghiệp, nhu cầu thông tin giáo
14
14
dục cho các cấp quản lý, giáo viên, học sinh cũng như mọi tầng lớp nhân dân.
Vì vậy mạng Intranet của Sở GD&ĐT còn gọi là mạng TT QLGD.
- Trang Web là trang tin điện tử trên mạng Internet. Nội dung thông tin
được diễn tả một các sinh động trong một trang bằng nhiều phương tiện khác
nhau (multimedia: đa phương tiện) gồm văn bản, đồ hoạ, ảnh tĩnh, ảnh hoạt
hình, phim, âm thanh, tiếng nói… Các loại hình thông tin trên trang web được
viết bằng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (html: hyper text maked language)

để đánh dấu và kết nối. Mỗi trang web được đánh dấu bằng một địa chỉ để
phân biệt với các trang khác và giúp mọi người truy cập đến, kết nối đến.
- Website hay bảng tin điện tử là tập hợp các trang web được liên kết lại
với nhau xuất phát từ trang gốc (Home page). Để dễ hiểu và dễ dùng, chúng
ta dùng thuật ngữ bảng web với nghĩa là bảng dán các trang tin thông báo,
bảng báo tường… của mỗi đơn vị, trong đó trang gốc bao giờ cũng là trang
ghi tên tờ báo tường, tên đơn vị…
Mỗi web site có một địa chỉ và đó cũng là địa chỉ của trang gốc.
- Trình duyệt web là phần mềm hiển thị lên màn hình giúp ta đọc được
trang web, nghĩa là nó phiên dịch các chương trình viết bằng ngôn ngữ html
thành các dạng tự nhiên (ảnh, âm thanh, đồ hoạ…) để con người có thể nghe,
nhìn thấy được.
Có thể tra cứu thông tin trên web từ mọi nơi, mọi lúc. Khác với phát
thanh và phát hình, giao tiếp giữa người sử dụng và bảng web thường là giao
tiếp tương tác hai chiều, có thể hỏi- đáp, nên sức truyền tải thông tin và phạm
vi ứng dụng của nó mạnh hơn gấp bội. Một trong những ứng dụng phổ biến
của web là tạo ra các bài giảng, các nguồn tư liệu dạy và học phong phú sinh
động, rất thích hợp với giáo dục thường xuyên với ý nghĩa là học suốt đời,
học mềm dẻo, linh hoạt.
1.1.5. Email
15
15
Là việc thực hiện chuyển nhận thư điện tử thông qua máy tính được kết
nối với Internet. Nó được thực hiện một cách nhanh chóng, tiện lợi, giá thành
rẻ, không phải đến bưu điện, điều kiện bảo mật rất an toàn. Việc trao đổi
thông tin qua Email còn được kèm theo bức thư là các files văn bản với nội
dung khá lớn, các loại dữ liệu với dung lượng tuỳ theo dịch vụ mà người dùng
đăng ký.
Thư điện tử có thể thực hiện được khi người gửi và người nhận có địa
chỉ hộp thư (EmailBox) đã được thiết lập trên mạng.

1.1.6. Chính phủ điện tử
Có nhiều cách định nghĩa về Chính phủ điện tử, tuỳ vào góc nhìn của
người định nghĩa. Ở đây xin nêu ra hai cách định nghĩa hay được nói đến:
- CPĐT là khái niệm về việc các cơ quan chính phủ sử dụng CNTT
như: mạng diện rộng, Internet, các phương tiện di động để quan hệ với công
dân, giới doanh nghiệp và bản thân các cơ quan chính phủ.
- CPĐT là việc cung cấp thông tin và các dịch vụ chính phủ qua
Internet hay các phương tiện điện tử.
Có hai nhóm công việc chính khi đề cập đến chính CPĐT là:
Các dịch vụ chính phủ trực tuyến: Trước đây các cơ quan chính phủ
cung cấp dịch vụ cho dân chúng tại trụ sở của mình, thì nay, nhờ CNTT và
viễn thông, các trung tâm dịch vụ trực tuyến được thiết lập, hoặc ngay trong
trụ sở của chính phủ hoặc gần với dân qua các cổng thông tin cho công dân
(Citizen Portal) từ các trung tâm này người dân nhận được thông tin, có thể
hỏi đáp pháp luật, được phục vụ (giải quyết) các việc trong cuộc sống hàng
ngày, như công chứng, đăng ký lập doanh nghiệp, đăng ký nhân khẩu, sang
tên trước bạ mà không phải đến chờ đợi tại trụ sở các cơ quan trên như
trước đây.
16
16
Tác nghiệp chính phủ: Là việc số hoá, hay điện tử hoá bản thân các
hoạt động trong chính phủ, giữa các cơ quan chính phủ khác cấp và cùng cấp.
ở đây người ta nói đến cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý của bộ máy cũng như
nhân viên chính phủ, việc quản lý lưu trữ công văn tài liệu trên nền công nghệ
Web, các biểu báo thống kê điện tử, việc sử dụng mạng máy tính và Internet
để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và các tác nghiệp của bản thân bộ
máy chính phủ.
Nhìn ở góc độ này, về mặt tác động xã hội, CPĐT tác động lên các mối
quan hệ giữa chính phủ và công dân, giữa chính phủ và giới doanh nghiệp và
bản thân các cơ quan chính phủ với nhau.

Mục tiêu và lợi ích của CPĐT
Dù định nghĩa theo cách nào thì mục tiêu và lợi ích của CPĐT cũng là:
Tăng cường năng lực điều hành nhà nước của chính phủ, mang lại thuận lợi
cho dân chúng, tăng cường sự minh bạch (Transparency), giảm tham nhũng,
giảm chi phí chính phủ, tăng thu nhập quốc dân.
1.2. Lợi thế của quản lý bằng CNTT so với quản lý truyền thống
Quản lý giáo dục hiện nay ở một số đơn vị, một số mảng có thể nói còn
khá vất vả: thu thập, tìm kiếm thông tin bằng thủ công, mang tính mệnh lệnh
giấy tờ hành chính.
Năm 2002, nhờ có sự hợp tác giữa Bộ GD&ĐT và Công ty VDC bắt
đầu chính thức đưa thông báo kết quả điểm tuyển sinh đại học lên mạng
Internet, lên trang Web của Bộ GD&ĐT và của VDC. Nhiều trường THPT,
THCS, Tiểu học có thể công bố điểm học tập hàng ngày của học sinh lên
mạng hoặc thực hiện việc tra cứu điểm qua điện thoại. Nhân dân có thể xem
các thông tin về GD&ĐT, xem kết quả học tập của con em mình qua mạng
Internet, TT QLGD được cập nhật chính xác và nhanh chóng.
17
17
Trong xu thế hội nhập với thế giới của Việt Nam, mọi thành phần, mọi
tổ chức, ngành nghề đều cần có phương thức quản lý tiên tiến trong đó có
công nghệ thông tin. Việc quản lý giáo dục bằng CNTT đem lại lợi ích to lớn:
tiện lợi, nhanh chóng, chính xác, tăng độ bảo mật, tránh phình to bộ máy hành
chính. Chúng ta sẽ không phải tra cứu nhiều hồ sơ để tìm kiếm thông tin. Với
sự hỗ trợ của công nghệ chữ ký điện tử, người học có thể được in bản xác
nhận kết quả học tập thông qua mạng, mọi đơn vị, tổ chức có thể tra cứu
thông tin một cách nhanh nhất. Học sinh khi mới vào trường phải được đưa
vào quản lý hồ sơ, quá trình học tập, rèn luyện trên máy vi tính của trường và
chuyển lên Sở, lên Bộ, quản lý học sinh trên sổ điểm điện tử, học bạ điện tử.
Việc làm này ngày càng có nhiều trường phổ thông trên khắp các địa phương
trong cả nước hưởng ứng tích cực.

Trong các cơ sở giáo dục tất cả các công việc quản lý cần thiết và có
thể ứng dụng tin học thì sẽ dần được tin học hoá. Như quản lý tuyển sinh,
quản lý xét tốt nghiệp, quản lý dạy học, thời khoá biểu, quản lý tài chính, tài
sản, quản lý CSVC thiết bị, quản lý thư viện, quản lý cán bộ công chức, viên
chức, giáo viên, quản lý công văn, thi đua khen thưởng
Phương thức trao đổi thông tin giữa các cấp quản lý, giữa các thành
phần, giữa giáo dục với xã hội sẽ thay đổi và được thực hiện qua mạng, hạn
chế việc trao đổi bằng con đường tem thư, đối thoại trực tiếp.
Ứng dụng CNTT trong QLGD là một con đường đúng và ngày càng
triển khai mạnh mẽ ở các đơn vị giáo dục.
1.3. Vai trò của CNTT đối với quản lý giáo dục
- Chúng ta bước vào thế kỷ 21 với xu thế nổi bật là toàn cầu hoá, đặc
biệt là về công nghệ với ưu thế của công nghệ cao: công nghệ sinh học (công
nghệ gen, tế bào, vi sinh…), công nghệ vật liệu (công nghệ vật liệu composit,
vật liệu siêu dẫn…), công nghệ năng lượng (năng lượng mặt trời, năng lượng
18
18
nguyên tử… ), công nghệ thông tin. Trong các công nghệ trên thì CNTT là
công nghệ phát triển nhanh nhất và giữ vai trò công cụ chủ yếu, phổ biến để
làm việc, để thu thập, lưu trữ, truyền và xử lý thông tin; để nghiên cứu triển
khai các thành tựu của các công nghệ nói trên vào sản xuất và đời sống.
- Một số quốc gia phát triển đã bắt đầu chuyển từ văn minh công
nghiệp sang văn minh thông tin. Các quốc gia đang phát triển tích cực áp
dụng những tiến bộ mới của KH-CN, đặc biệt là CNTT để phát triển và hội
nhập. CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển,
cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời
sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại.
- CNTT đã trở thành một yếu tố then chốt làm thay đổi các hoạt động
kinh tế và xã hội của con người, trong đó có giáo dục.
- Ứng dụng và phát triển CNTT trong GD&ĐT sẽ tạo ra một bước

chuyển cơ bản về dạy học cũng như về quản lý.
Từ xưa đến nay, lĩnh vực quản lý mà nội dung cơ bản là sự điều khiển,
chủ yếu do con người đảm nhận, có sự hỗ trợ phần nào của các máy móc
trong các công việc phụ, nên hiệu quả rất thấp. Ngày nay, nhờ có hệ thống
điều khiển tự động, thông qua CNTT, phương thức quản lý đã thay đổi góp
phần đưa năng suất và chất lượng công việc tăng vọt. Lĩnh vực quản lý lại bao
trùm lên tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, dù trình độ nền kinh tế cao
hay thấp, nên CNTT đã đem lại một cuộc cách mạng hết sức rộng rãi trên
phạm vi toàn thế giới. Vì thế, có nhà nghiên cứu coi thời đại ngày nay là thời
đại cách mạng quản lý, mà công cụ trực tiếp là công nghệ thông tin.
Ứng dụng và phát triển CNTT trong GD&ĐT sẽ tạo ra một bước
chuyển cơ bản trong quá trình cập nhật kịp thời và thường xuyên các văn bản
chỉ đạo như các Quyết định, Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư, Điều lệ…, tình
hình giáo dục và đào tạo, tri thức, tiến bộ khoa học và công nghệ trong nội
19
19
dung chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp quản lý, giảng dạy để nâng
cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh nhằm nâng cao chất
lượng dạy học.
CNTT giữ một vị trí quan trọng trong GD&ĐT với những lý do chủ
yếu sau:
+ Kiến thức bản về CNTT, kỹ năng sử dụng máy vi tính trở thành
không thể thiếu của học vấn phổ thông.
+ Những yếu tố của CNTT&TT có thể góp phần phát triển con người.
+ Máy vi tính, với tư cách là một công cụ của CNTT&TT, một tiến bộ
KH-KT mũi nhọn của thời đại, cũng cần được sử dụng trong quá trình dạy
học để cải tiến phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
+ CNTT&TT là công cụ cho mọi cuộc đổi mới giáo dục, cho mọi
ngành học, bậc học.
+ CNTT&TT đã đem đến một tài nguyên giáo dục cho tất cả mọi

người, làm cho vai trò vị trí của giáo viên thay đổi, người học có thể phát huy
tính tích cực, tự truy cập vào nguồn tài nguyên học tập vô cùng phong phú
trên mạng Internet để thực hiện những tiêu chí mới: học mọi lúc, học mọi nơi,
học mọi thứ, học một cách mở và mềm dẻo suốt đời cho mọi loại hình giáo
dục chính quy hay không chính quy, ngoại khoá.
CNTT Làm thay đổi cung cách điều hành và QLGD, hỗ trợ công cuộc
cải cách hành chính để làm việc hiệu quả hơn (kinh tế, thời gian, thông tin, tri
thức) và quản lý quá trình học tập.
Tóm lại, vai trò của CNTT đối với GD&ĐT rất to lớn. CNTT&TT vừa
là phương tiện, vừa là mục đích của GD&ĐT. Vì tính ưu việt, nó được sử
dụng rộng rãi đến mức khó có thể thiếu được trong việc thu thập, xử lý, trao
đổi, lưu trữ, tra cứu và sử dụng thông tin quản lý. Với tính ưu việt của việc
20
20
ứng dụng CNTT trong quản lý, ngày nay đã có một ngành khoa học được gọi
là MIS, được nghiên cứu về khoa học thu thập, phân tích và xử lý hệ thống
thông tin quản lý cho các ngành kinh tế- xã hội, trong đó có giáo dục.
1.4. Ứng dụng CNTT trong QL giáo dục
1.4.1. Ý nghĩa, tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong QLGD
- Giảm chi phí về thời gian, nhân lực;
- Tăng hiệu quả;
- Đáp ứng thông tin nhanh, kịp thời, chính xác, dễ chia sẻ tài nguyên;
- Dễ bảo mật và lưu giữ lâu dài.
1.4.2. Hệ thống thông tin QLGD (MIS- Management Information System)
Để ứng dụng công nghệ thông tin cho từng ngành, cần phải thiết kế một
hệ thống thông tin quản lý thích hợp (MIS: Management Information
System). Hệ thống này bao gồm các lĩnh vực thông tin quản lý cần thiết cho
từng ngành KT-XH khác nhau. Mỗi lĩnh vực thông tin của từng ngành lại cần
được thiết kế với một hệ thống các thông số cần thiết cho việc quản lý ngành,
nói một cách khác, đó là những loại thông tin cần được quản lý. Nếu thiếu

những thông tin này thì các nhà quản lý không thể xây dựng chiến lược phát
triển ngành hoặc cơ sở đào tạo cũng như để kịp thời ra các quyết định để xử
lý các tình huống đột xuất xảy ra.
Đối với giáo dục và đào tạo, để quản lý hệ thống thông tin quản lý cần
có thông tin về các lĩnh vực cơ bản sau đây:
- Thông tin quản lý nhân sự;
- Thông tin quản lý CSVC, thư viện, thiết bị;
- Thông tin quản lý về tài chính;
- Thông tin quản lý hành chính;
21
21
- Thông tin quản lý chuyên môn;
- Thông tin quản lý học sinh;
- Thông tin quản lý phổ cập giáo dục;
- Thông tin quản lý thanh tra ;
- Thông tin quản lý về thi đua khen thưởng.
Nếu thiếu các thông tin này thì không thể quản lý được hệ thống giáo
dục.
1.4.3. Các phần mềm QLGD
Mỗi loại thông tin cần có những phần mềm thích hợp để thu thập, xử
lý, lưu trữ, trao đổi trong quá trình quản lý. Tương ứng với các lĩnh vực thông
tin nêu trên, cần có các phần mềm sau đây:
- Quản lý nhân sự;
- Quản lý CSVC, thiết bị;
- Quản lý hư viện;
- Quản lý tài chính;
- Quản lý văn bản đi đến;
- Quản lý chuyên môn;
- Quản lý học sinh;
- Quản lý phổ cập giáo dục;

- Quản lý tthanh tra;
- Quản lý thi đua khen thưởng.
Hệ thống thông tin quản lý giáo dục nhằm giúp cho việc thu thập, lưu
trữ, trao đổi và phổ biến các thông tin về quản lý giáo dục một cách thống
nhất, có hệ thống và tạo điều kiện cho việc quản lý giáo dục được thực hiện
22
22
một cách thuận lợi, nhẹ nhàng và có hiệu quả. Hệ thống thông tin về quản lý
văn bản hồ sơ công việc, thu thập và tổng hợp báo cáo, phổ cập giáo dục, hệ
thống thông tin về quản lý nhân sự, quản lý học sinh, quản lý tài chính, cơ sở
vật chất, thư viện, hệ thống thư tín điện tử, hệ thống cơ sở dữ liệu về thanh
tra, thi đua khen thưởng đều có thể thực hiện trên các phần mềm.
Ứng dụng CNTT để triển khai thực hiện cải cách hành chính và Chính
phủ điện tử, thực hiện việc chuyển phát công văn, tài liệu qua mạng; giúp cho
việc xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục và thống kê giáo dục thông
qua việc tích hợp cơ sở dữ liệu từ các cơ sở giáo dục đến các cấp quản lý giáo
dục. Các sở giáo dục và đào tạo khai thác và sử dụng kết quả phân tích dữ liệu
thi, xét tốt nghiệp. CNTT được ứng dụng một cách toàn diện vào tất cả các
khâu của hoạt động quản lý giáo dục.
1.5. Một số văn bản về ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục
Hiến chương OKINAWA về xã hội thông tin toàn cầu đã chỉ rõ:
“ CNTT và truyền thông là một trong các động lực chính tạo nên bộ mặt của
thế kỷ 21. Nó tác động sâu sắc đến cách thức chúng ta sống, học tập và làm
việc; và cách thức Nhà nước giao tiếp với dân chúng “. CNTT còn giúp cho
việc phổ biến các chính sách đến từng vùng, từng người dân tạo hiệu quả cho
việc tuyên truyền, ngược lại việc tiếp thu những chính sách đó thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng sẽ tránh được những sai lầm không cần thiết
khi thông qua nhiều khâu trung gian. Đối với công tác quản lý giáo dục công
nghệ thông tin giúp quản lý được khoa học và hiệu quả hơn, cụ thể là nhờ
máy móc thiết bị và các phần mềm chuyên dụng CNTT sẽ giúp việc quản lý

được khoa học, chính xác, tiết kiệm thời gian, sức người và sức của Cũng
chính vì lẽ đó mà hiện nay đối với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng
mong muốn tạo cho mình những điều kiện tốt nhất về khoa học kỹ thuật trong
đó có lĩnh vực công nghệ thông tin, mà ở đây chính là phát triển cơ sở hạ tầng
23
23
để nâng công nghệ thông tin lên tầm cao mới. Trong đó nhiệm vụ đặt ra là
song song với việc đầu tư cho cơ sở vật chất (máy móc thiết bị ) cần phải xây
dựng đội ngũ những nhà khoa học, những kỹ sư chuyên ngành, đội ngũ công
nhân kỹ thuật, đội ngũ thợ lành nghề, đội ngũ các cán bộ, giáo viên CNTT.
Nói tóm lại, CNTT như một làn gió mới góp phần chuyển hướng quản lý các
hoạt động kinh tế - xã hội của một quốc gia, một tổ chức, trong đó có quản lý
giáo dục ngày một hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh hiện nay giáo dục và đào tạo ngày càng có vai trò và vị
trí đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định tương lai của
dân tộc. Từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn khẳng định “cùng với khoa học
và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “khoa học và công
nghệ là động lực, giáo dục và đào tạo là nhân tố cơ bản để tạo ra động lực”
cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trước sự phát triển mạnh mẽ
của công nghệ thông tin, Đảng và Chính phủ đã không ngừng chỉ đạo đầu tư
cho công nghệ thông tin, Bộ Chính trị đã có chỉ thị 58-CT/TW ngày
17/10/2000 về đẩy mạnh và ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27 tháng
8 năm 2010 phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông
tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 trong đó có
nêu Mục tiêu tổng quát đến năm 2015:
- Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển
Chính phủ điện tử.
- Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong hoạt động nội bộ của các

cơ quan nhà nước, hướng tới nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí hoạt
động.
- Cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, trên diện rộng
24
24
cho người dân và doanh nghiệp, làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước
minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.
Định hướng đến năm 2020:
- Tích hợp các hệ thống thông tin, tạo lập được môi trường mạng rộng
khắp phục vụ đa số các hoạt động của các cơ quan nhà nước. Hầu hết các giao
dịch của các cơ quan nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi
lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau.
- Hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến mức độ 3 và 4, đáp
ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi,
dựa trên nhiều phương tiện khác nhau.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ thị số 55/2008/CT- BGDĐT ngày 30
tháng 9 năm 2008 về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ
thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 trong đó có nêu: Công
nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học
tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và
chất lượng giáo dục. Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT
trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển
CNTT của đất nước. Để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo
dục và đào tạo, tăng cường giảng dạy và đào tạo về CNTT, Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cấp quản lý, các cơ sở giáo dục trong toàn
ngành triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2008-
2012:
- Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức ở các cấp quản
lý giáo dục, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục về vai trò, vị trí và sự cần
thiết của CNTT trong giáo dục. Thủ trưởng các cấp quản lý giáo dục, các cơ

sở giáo dục trực tiếp chỉ đạo, tổ chức triển khai các biện pháp để đẩy mạnh
ứng dụng CNTT vào công tác chuyên môn và quản lý. Phổ biến rộng rãi và
25
25

×