Tải bản đầy đủ (.pdf) (116 trang)

Tăng cường thông tin hữu ích trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.79 MB, 116 trang )

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH









TRỊNH THANH THANH



TĂNG CƯỜNG THÔNG TIN HỮU ÍCH TRÊN
BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BÁO CÁO TÀI
CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM







LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

















TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH









TRỊNH THANH THANH



TĂNG CƯỜNG THÔNG TIN HỮU ÍCH TRÊN
BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BÁO CÁO TÀI

CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM


Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60340301




LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ



Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HÀ XUÂN THẠCH










TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
MỤC LỤC


Trang

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Cơ sở lý luận 6
1.1 Các lý thuyết nền tảng 6
1.2 Thông tin trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính 8
1.2.1 Lược sử quá trình tạo nên thông tin trên BCKT về BCTC 8
1.2.2 Thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC 11
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC 12
1.2.4 Hình thức và các nội dung cơ bản của BCKT 13
1.3 Một vài nghiên cứu liên quan đến thông tin trên BCKT về BCTC trên thế giới
17
1.3.1 Các nghiên cứu liên quan đến thông tin trên BCKT 17
1.3.2 Các quan điểm tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT 19
Kết luận chương 1 24
Chương 2: Thực trạng thông tin trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính tại
các công ty niêm yết ở Việt Nam 25
2.1 Nội dung khảo sát thực trạng 25
2.1.1 Khảo sát các quy định pháp lý hiện hành liên quan đến BCKT về BCTC tại các
công ty niêm yết ở Việt Nam 25
2.1.2 Khảo sát thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết ở
Việt Nam 30
2.1.2.1 Thu thập và xử lý dữ liệu 30
2.1.2.2 Khảo sát thực trạng thông tin thông qua bảng câu hỏi 30
2.1.2.3 Khảo sát thực trạng thông tin thông qua các bài viết 46
2.2 Đánh giá chung thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty
niêm yết ở Việt Nam 49
2.2.1 Những vấn đề đã đạt được 49
2.2.2 Những tồn tại 49

2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại 52
Kết luận chương 2 53


Chương 3: Tăng cường thông tin hữu ích trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài
chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam 54
3.1 Quan điểm về giải pháp 54
3.2 Các kiến nghị và giải pháp để tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về
BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam 55
3.2.1 Đối với Bộ tài chính 55
3.2.2 Đối với công ty niêm yết 61
3.2.3 Đối với công ty kiểm toán 62
3.2.4 Đối với Hội nghề nghiệp kiểm toán 65
3.2.5 Đối với UBCKNN 66
3.2.6 Đối với người sử dụng BCKT 68
3.3 Những hạn chế của đề tài 68
Kết luận chương 3 70
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AAA The American Accounting Association (Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ)
AAII The American Association of Individual Investors (Hiệp hội các nhà đầu tư
cá nhân Hoa kỳ)
AARF Australian Accounting Research Foundation (Ban Chuẩn mực kiểm toán của
Liên đoàn nghiên cứu kế toán Úc)
AICPA American Institute of Certified Public Accountants (Hiệp hội các kiểm toán
viên công chứng Hoa Kỳ)
ASB Auditing Standards Board (Ban chuẩn mực kiểm toán)

AUP Statement of Auditing Practice (Thông lệ báo cáo kiểm toán được sửa đổi)
BBT Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết
BCKT Báo cáo kiểm toán
BCTC Báo cáo tài chính
CMKiT Chuẩn mực kiểm toán
CMKT Chuẩn mực kế toán
DVD Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông
FEE The Federation of European Accountants (Liên đoàn kế toán Châu Âu)
GAAP Generally Accepted Accounting Principles (Nguyên tắc kiểm toán được chấp
nhận rộng rãi)
HĐQT Hội đồng quản trị
IAPC International Auditing Practices Committee (Ủy ban thông lệ kiểm toán quốc
tế)
IFAC The International Federation of Accountants (Liên đoàn kế toán quốc tế)
ISA International Standard Accounting (Chuẩn mực kiểm toán quốc tế)
KSCL Kiểm soát chất lượng
KTĐL Kiểm toán độc lập
KTV Kiểm toán viên
NBA The Dutch Professional Accountancy Association (Hiệp hội kế toán nghề
nghiệp Hà Lan)
NĐT Nhà đầu tư
PCAOB Public Company Accounting Oversight Board (Ủy ban giám sát các công ty
niêm yết Hoa Kỳ)
SAP Statements of Auditing Practice (Thông lệ báo cáo kiểm toán)
SAS Statement on Auditing Standards (Chuẩn mực báo cáo kiểm toán)
SEC Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
TTCK Thị trường chứng khoán
UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước
US GAAS The United State Generally Accepted Accounting Principles (Nguyên tắc kế

toán được chấp nhận rộng rãi tại Mỹ)
Vinashin Tập đoàn kinh tế Vinashin
VSA Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1: Thống kê đối tượng khảo sát
Bảng 2.2: BCKT làm tăng độ tin cậy của BCTC
Bảng 2.3: Mục đích của BCKT được thể hiện rõ ràng trên BCKT
Bảng 2.4: BCKT chấp nhận toàn phần hàm ý rằng BCTC đã phản ánh trung thực

và hợp lý
Bảng 2.5: BCKT chấp nhận toàn phần đảm bảo rằng Công ty hoạt động liên tục
Bảng 2.6: KTV thì khách quan
Bảng 2.7: Trách nhiệm của KTV là đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên kết quả của cuộc
kiểm toán
Bảng 2.8: Trách nhiệm của KTV trong mối quan hệ với gian lận được thể hiện rõ ràng
trên BCKT
Bảng 2.9: BCKT giải thích rõ ràng các thủ tục kiểm toán chung được thực hiện bởi các
KTV
Bảng 2.10: BCKT hàm ý rằng BCTC được kiểm toán không còn sai sót nào
Bảng 2.11: Cơ sở của ý kiến kiểm toán được thể hiện rõ ràng trên BCKT
Bảng 2.12: BCKT trình bày rõ ràng tính xét đoán của KTV khi hình thành ý kiến kiểm
toán
Bảng 2.13: Đánh giá của KTV về tình trạng hoạt động liên tục
Bảng 2.14: Giải thích về mức trọng yếu thực tế mà KTV đã dựa vào để thực hiện các
thủ tục kiểm toán
Bảng 2.15: Đánh giá về chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ nên được trình bày
trên BCKT
Bảng 2.16: Trình bày các rủi ro có thể dẫn đến sai sót trọng yếu và cách thức của các

nhà quản lý để kiểm soát chúng



1




LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, vai trò của KTĐL ngày
càng thể hiện rõ nét hơn cùng với sự ra đời và lớn mạnh của thị trường chứng khoán.
KTĐL cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự hiểu biết về những
thông tin tài chính họ được cung cấp có được lập trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn
mực theo quy định hay không và các thông tin đó có trung thực và hợp lý hay không.
Giá trị của BCKT và nhu cầu cho dịch vụ kiểm toán phụ thuộc nhiều vào niềm tin của
công chúng đối với tính độc lập và chính trực của KTV. Tuy nhiên, người sử dụng
BCTC có thật sự hiểu biết được các thông tin trên BCKT hay không, các thông tin trên
BCKT có đủ để người sử dụng BCKT ra quyết định của mình hay không. Hay các
thông tin trên BCKT có hữu ích cho người sử dụng BCKT hay không.
Trong suốt thập kỷ qua trên thế giới đã xảy ra nhiều vụ bê bối lớn liên quan đến tài
chính, kiểm toán như vụ Enron, Worldcom Ở Việt Nam gần đây điển hình là trường
hợp của BBT, DVD cho thấy thông tin giữa KTV và nhà đầu tư đã không ngăn chặn
được các vụ bê bối này. Do đó, những thông tin thêm vào rõ ràng hơn, hiệu quả hơn sẽ
giúp cho nhà đầu tư và các đối tượng sử dụng BCKT về BCTC khác sẽ có nhiều thông
tin hơn để quyết định, tránh những quyết định sai lầm, hạn chế tổn thất lợi ích. Việc
hiểu sai lệch các thông tin trên BCKT về BCTC có thể dẫn đến sự đầu tư không như
dự kiến, phân phối nguồn lực không hợp lý làm mất niềm tin vào chức năng kiểm
toán.

Tác giả đã chọn chủ đề “Tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC tại các
công ty niêm yết ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu để đánh giá thực trạng thông tin
trên BCKT như thông tin về phương pháp kiểm toán, trách nhiệm của KTV, bản chất
của sự đảm bảo được cung cấp, ý kiến của KTV…và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
2




đến thông tin trên BCKT, từ đó nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm
tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC ở các công ty niêm yết ở Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu khái quát và hệ thống các vấn đề liên quan đến BCKT về BCTC và thông
tin trên BCKT, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC tại
các công ty niêm yết. Các nội dung này sẽ là cơ sở cho phần nghiên cứu thực trạng và
các nguyên nhân tồn tại.
Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC thông qua
khảo sát thực trạng nhận thức của người sử dụng đối với các thông tin trên BCKT
bằng bảng câu hỏi và các bài viết liên quan đến thông tin trên BCKT về BCTC của các
công ty niêm yết tại Việt Nam. Từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm tăng
cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt
Nam.
3. Tổng quan những nghiên cứu liên quan
Những nghiên cứu trước đây trên thế giới liên quan đến đề tài chủ yếu là các nghiên
cứu riêng lẻ, ngắn về thực trạng thông tin trên BCKT qua các giai đoạn phát triền. Tác
giả cũng trình bày tóm tắt một số nghiên cứu và quan điểm trên thế giới liên quan đến
thông tin trên BCKT về BCTC trong chương 1. Do nội dung khá dài nên tác giả đã
đưa một số tóm tắt nghiên cứu vào phụ lục để người đọc có thể tham khảo thêm.
Phần này tác giả tóm tắt nội dung một vài nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
mà tác giả tìm thấy được:

- Xây dựng cơ chế kiểm toán chất lượng cho hoạt động KTĐL tại Việt Nam, luận
văn tiến sĩ kinh tế, Trần Khánh Lâm, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Luận
án đề xuất các quan điểm xây dựng cơ chế và giải pháp hoàn thiện cơ chế KSCL hoạt
3




động KTĐL tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn, dựa trên cơ sở lý luận và thực
tiễn của cơ chế KSCL của các quốc gia trên thế giới cũng như thực trạng KSCL của
Việt Nam.
- Hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty
niêm yết tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Nguyễn Đình Hùng, Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh: Nghiên cứu xác định các thành phần ảnh hưởng đến sự minh
bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán để làm
cơ sở đề xuất một hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố phù
hợp với các thông lệ thế giới và môi trường kinh doanh, pháp lý ở Việt Nam.
- Giải pháp nâng cao chất lượng BCKT về BCTC của các công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam, luận văn thạc sĩ kinh tế, Nguyễn Văn Hương, Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Với nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống hóa
được những lý thuyết trong và ngoài nước liên quan đến BCKT. Qua khảo sát tác giả
phản ánh thực tế BCKT về BCTC của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng
khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trong 2 năm 2007 và 2008. Đề tài đã chỉ
ra những tồn tại trong việc soạn thảo và phát hành BCKT về BCTC của các công ty
niêm yết, chỉ ra những tồn tại của VSA, trong đó có CMKiT BCTC, đưa ra một số
biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của BCKT về BCTC.
- Đánh giá VSA về BCKT và một số kiến nghị liên quan, luận văn thạc sĩ, Võ
Thị Như Nguyệt, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Nghiên cứu này giúp
người viết nhìn nhận được thực tế việc vận dụng và sự hiểu biết của các đối tượng liên
quan đối với VSA số 700 về BCKT thông qua khảo sát một số đối tượng liên quan đến

BCKT tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ việc tìm hiểu lý thuyết và tiếp cận thực tế,
người viết đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện VSA về BCKT.


4




4. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Ở Việt Nam, nhu cầu kiểm toán chủ yếu tập trung cho các doanh nghiệp bắt buộc phải
kiểm toán theo pháp luật Việt Nam. Có thể nhận thấy BCKT về BCTC của doanh
nghiệp niêm yết là phổ biến nhất, số liệu được công bố trên phương tiện thông tin đại
chúng để phục vụ chủ yếu cho các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp, các chủ
nợ…Nghiên cứu này sẽ giới hạn phạm vi đánh giá thực trạng thông tin trên BCKT về
BCTC tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Dựa trên các công trình nghiên cứu liên quan và mục đích của đề tài, tác giả xác định
đối tượng nghiên cứu của đề tài là thông tin trên BCKT về BCTC và các yếu tố tác
động đến thông tin trên BCKT về BCTC. Để làm rõ hơn đối tượng nghiên cứu, tác giả
sử dụng các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thông tin như thế nào là hữu ích? Thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại
các công ty niêm yết ở Việt Nam
- Các yếu tố nào tác động đến thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty
niêm yết?
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu định tính sẽ được áp dụng. Bên cạnh
đó, việc định lượng dữ liệu sẽ làm cho kết quả nghiên cứu rõ ràng hơn. Việc định
lượng sẽ giúp dễ dàng hơn cho việc tổng hợp, so sánh dữ liệu.

Bản chất của nghiên cứu này mang tính chất thăm dò nhiều hơn là mô tả hay giải
thích. Để xem xét các nhận định liên quan đến các thông tin trên BCKT thì phương
pháp khảo sát thực trạng là thích hợp.

5




5. Những đóng góp chính của luận văn
- Hệ thống các đặc tính chất lượng của thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến
thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết.
- Trình bày lược sử hình thành thông tin trên BCKT, hình thức và nội dung cơ
bản của BCKT chấp nhận toàn phần theo quy định của ISA.
- Nêu các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến đề tài để tham khảo và đánh giá.
- Đánh giá thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết và
các yếu tố tác động.
- Đề xuất các kiến nghị và giải pháp để tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT
về BCTC tại các công ty niêm yết.
KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng, biểu đồ, kết luận, tài
liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC của các công ty niêm yết ở Việt
Nam.
Chương 3: Tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC của các công ty niêm
yết ở Việt Nam.





6




Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các lý thuyết giải thích về nhu cầu dịch vụ đảm bảo
Nhu cầu dịch vụ kiểm toán được khởi sự từ nhiều nhân tố, bao gồm: Khoảng cách
thông tin giữa người sử dụng BCTC và những người lập BCTC; sự xung đột lợi ích
giữa những người sử dụng BCTC với nhau; sự phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế và
những ảnh hưởng của thông tin trên BCTC trong việc ra quyết định kinh tế. Bởi vì
BCKT là trung gian thông tin giữa KTV và người sử dụng BCTC, do đó báo cáo này
phải có thể hiểu được, khách quan và được chấp nhận bởi những người sử dụng. Các
thông tin trên BCKT sẽ tác động đến các quyết định đầu tư, các quyết định tín dụng và
giá cổ phần. Phần này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về một số lý thuyết giải thích
về nhu cầu dịch vụ đảm bảo đang tồn tại. Các lý thuyết này giúp giải thích nhu cầu xã
hội về kiểm toán, thể hiện vai trò và mục đích của dịch vụ kiểm toán hay sự cần thiết
khách quan của kiểm toán. Theo Hayes và các tác giả (2005) thì có 4 nhóm lý thuyết
giải thích về nhu cầu dịch vụ đảm bảo:
- Lý thuyết người cảnh sát (Policeman Theory)
Lý thuyết này phổ biến cho đến những năm 1940. Dưới lý thuyết này, KTV được xem
như một người cảnh sát, sẽ tập trung vào việc tính toán chính xác số học và ngăn ngừa,
phát hiện gian lận. Tuy nhiên, lý thuyết này hạn chế trong việc giải thích sự trung thực
và hợp lý của BCTC.
- Lý thuyết tín dụng (Lending Credibility Theory)
Khi thị trường chứng khoán phát triển, sự tham gia ngày càng lớn mạnh của các cổ
đông vào các công ty dẫn đến nhu cầu thông tin tin cậy ngày càng cao do sự thiếu lòng
7





tin vào thông tin được cung cấp bởi các nhà quản lý. Đồng nghĩa với nhu cầu thông tin
được cung cấp bởi các nhà quản lý cần được kiểm toán.
- Lý thuyết cảm tính (Limperg’s Theory of Inspired Confidence)
Lý thuyết này được phát triển vào cuối những năm 1920 bởi giáo sư người Hà Lan
Theodore Limperg (Hayes và các cộng sự, 1999:36). Dưới lý thuyết này, thông tin
được kiểm toán bởi KTV sẽ cung cấp độ tin cậy cao hơn không chỉ mang lại lợi ích
cho cổ đông mà cho toàn xã hội. Ví dụ như trong trường hợp công ty bị phá sản không
chỉ ảnh hưởng đến cổ đông mà ảnh hưởng rất nhiều đến các đối tượng sử dụng BCTC
khác như các chủ nợ, các nhà cung cấp… Và tùy vào mức độ đảm bảo mà KTV cung
cấp các dịch vụ kiểm toán khác nhau, phù hợp với mong đợi của người sử dụng dịch
vụ kiểm toán. Lý thuyết niềm tin cảm tính kết nối nhu cầu của cộng đồng về tính đáng
tin cậy của thông tin tài chính với khả năng của những kỹ thuật kiểm toán để thỏa mãn
các nhu cầu này. Theo thuyết niềm tin cảm tính sự tồn tại của chức năng kiểm toán có
nguồn gốc từ niềm tin của cộng đồng vào sự hiệu quả của hoạt động kiểm toán, vào ý
kiến kiểm toán. Niềm tin này là điều kiện cho sự tồn tại của chức năng kiểm toán. Nếu
như niềm tin này mất đi, chức năng kiểm toán cũng sẽ không còn bởi nó không còn
hữu dụng. Liên quan đến đề tài, qua lý thuyết này có thể thấy được chức năng của
kiểm toán là nâng cao độ tin cậy của thông tin tài chính. Tuy nhiên, chức năng này chỉ
tồn tại khi cộng đồng còn tin tưởng, đặt niềm tin vào KTV, vào công ty kiểm toán.
- Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Theory)
Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người
quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người
quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức
các cổ đông của công ty. Các đặc tính tự nhiên của quan hệ ủy nhiệm dẫn đến giả thiết
rằng, các cổ đông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty
nhằm đảm bảo lợi ích của mình. Lý thuyết ủy nhiệm nhấn mạnh rằng các cổ đông cần

phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông
8




và người quản lý công ty, bằng cách thiết lập những cơ chế đãi ngộ (compensation
mechanisms) thích hợp cho các nhà quản trị và thiết lập cơ chế giám sát (supervisory
mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người
quản lý công ty. Theo lý thuyết này, vai trò của KTV là để giám sát mối quan hệ giữa
các nhà quản lý và các chủ sở hữu (principal_agent relationship), tránh sự bóp méo
thông tin được cung cấp bởi các nhà quản lý, cung cấp sự đảm bảo hợp lý, không có
sai sót trọng yếu hoặc thông tin không đầy đủ.
1.2 Thông tin trên BCKT về BCTC
1.2.1 Lược sử quá trình tạo nên thông tin trên BCKT về BCTC
Vào thời kỳ sơ khai (Luật công ty Anh 1856), BCTC chỉ bao gồm Bảng cân đối kế
toán, kiểm tra chủ yếu sổ sách kế toán, không có báo cáo chuẩn nên BCKT sẽ khác
nhau giữa các KTV và lạm dụng từ “ngoại trừ…”.
Một số sự kiện lớn xảy ra vào những năm 1930 như vụ kiện Ultramares, việc sụp đổ
thị trường chứng khoán Mỹ và sự ra đời của SEC. Có thể tóm tắt các sự kiện này như
sau: vào năm 1931, công ty Ultramares không có khả năng trả nợ, các chủ nợ của công
ty dựa vào BCTC đã được chứng nhận rồi sau đó kiện các KTV, họ cho rằng các KTV
đã phạm tội bất cẩn và trình bày gian dối. Sau khi điều tra vấn đề, tòa án liên bang Mỹ
kết luận rằng các KTV đã có bất cẩn trong quá trình kiểm toán. Tuy nhiên, KTV
không phải chịu trách nhiệm đối với các chủ nợ của công ty Ultramares vì điều sai lầm
vượt ra ngoài phạm vi của hợp đồng kiểm toán ban đầu. Tóa án cho rằng chỉ có người
ký hợp đồng với KTV về các dịch vụ kiểm toán mới có thể kiện nếu các dịch vụ đó
được cung cấp một cách bất cẩn. Vụ kiện này là cơ sở cho sự ra đời của cái gọi là “học
thuyết Ultramares”. Theo học thuyết này, những bất cẩn thông thường không đủ ràng
buộc trách nhiệm pháp lý của KTV với bên thứ ba vì không có quan hệ riêng theo hợp

đồng giữa bên thứ ba với KTV. Học thuyết cũng cho rằng chỉ khi có gian lận hoặc bất
9




cẩn nghiêm trọng thì KTV có thể chịu trách nhiệm đối với bên hưởng lợi thứ ba. Trong
khoảng thời gian này, mức tăng trưởng trong con số của những thành viên tham gia
vào thị trường chứng khoán dẫn đến việc chính phủ đã quyết định đưa ra những quy
luật cho thị trường chứng khoán nhằm bảo vệ đầu tư trong chứng khoán. Các quy luật
này bắt đầu ra đời vào năm 1934, khi đó xảy ra một vụ sụp đổ chứng khoán khổng lồ
Great Cash, Quốc hội đã thông qua các đạo luật giao dịch và đảm bảo. Từ đây đã hình
thành nên SEC. SEC nắm giữ các quy tắc được bắt đầu từ đạo luật và tiếp tục sửa đổi
bổ sung những sai sót, những quy định cho nhà đầu tư. Bao gồm cả việc giám sát thủ
tục của công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng và đảm bảo các thông tin liên quan
cho các nhà đầu tư tiềm năng. Ngoài ra SEC cũng giám sát các hoạt động hàng ngày
của sở giao dịch chứng khoán và đảm bảo an ninh giao dịch cho nhà đầu tư. Sau các sự
kiện này đã dẫn đến kết quả là BCKT chuẩn ra đời gồm hai đoạn.
Năm 1947, nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi tại Mỹ ra đời đã xác lập chuẩn
mực báo cáo. Năm 1948, SAP 24 ra đời đã điều chỉnh BCKT tiêu chuẩn với các từ
ngữ được sử dụng phù hợp với chuẩn mực đã xác lập. Tuy nhiên vẫn là báo cáo dạng
ngắn, gồm 2 đoạn.
Vào năm 1974, Liggio lần đầu tiên định nghĩa về “khoảng cách kỳ vọng” là khoảng
cách giữa mong đợi và thực tế. Vào năm 1978, Ủy ban Cohen đã báo cáo về khoảng
cách giữa mong đợi và thực tế về trách nhiệm của KTV đề cập những hành động cần
thiết của KTV để rút ngắn khoảng cách này. Năm 1988, SAS 58 ra đời hoàn thiện
BCKT tiêu chuẩn với đặc điểm là giải thích rõ hơn về công việc và trách nhiệm của
KTV cũng như những hạn chế tiềm tàng của KTV và hình thành báo cáo 3 đoạn. Vào
năm 1994, ISA 700 “BCKT về BCTC” ra đời sử dụng kiểu báo cáo dài tương tự SAS
58.

Vào năm 2005, ISA 700 được ban hành mới, tiếp tục bổ sung BCKT chuẩn, có hiệu
lực thi hành từ 31.12.2006, tập trung vào các BCKT trong trường hợp chấp nhận toàn
phần không có nhấn mạnh, các điều chỉnh được chuyển sang ISA 701 tập trung vào
10




các trường hợp ý kiến khác của KTV, ngoài ý kiến chấp nhận toàn phần không có
đoạn nhấn mạnh. ISA 700 (2005) sửa đổi các từ ngữ sử dụng và quy định rõ hơn một
số trường hợp như: BCKT phải đưa ra một ý kiến rõ ràng của KTV về BCTC, KTV
phải đánh giá các kết luận rút ra từ bằng chứng thu thập được làm cơ sở cho ý kiến của
mình về BCTC.
Các điều chỉnh mới đây nhất có hiệu lực từ các cuộc kiểm toán cho năm tài chính bắt
đầu từ 15.12.2009 trở về sau:
- ISA 700 “Hình thành ý kiến kiểm toán và BCKT về BCTC”
- ISA 705 “Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần”
- ISA 706 “Đoạn Vấn đề cần nhấn mạnh và Vấn đề khác trong BCKT về BCTC”
ISA 701 trước đây đã được thay thế bởi ISA 705 và ISA 706. ISA 705 quy định và
hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán đối với việc phát hành BCKT phù hợp với hoàn
cảnh thực tế, theo quy định và hướng dẫn của ISA 700 và trong trường hợp KTV kết
luận cần phải đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần. ISA
706 quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV trong việc đưa ra các thông tin bổ
sung trong BCKT, khi KTV xét thấy cần phải thu hút sự chú ý của người sử dụng đối
với các vấn đề được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC, mà các vấn đề đó là đặc
biệt quan trọng để người sử dụng hiểu được BCTC; hoặc thu hút sự chú ý của người sử
dụng đối với các vấn đề khác, ngoài các vấn đề được trình bày hoặc thuyết minh trong
BCTC, mà các vấn đề khác đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm
toán, về trách nhiệm của KTV hoặc về BCKT.




11




1.2.2 Thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC
Thông tin trên BCKT có vai trò quan trọng đối với các đối tượng sử dụng là do tính
hữu ích mà nó mang lại. Thông tin nói chung tự bản thân nó không có tính hữu ích thật
sự. Do vậy, chính những tính chất đặc trưng của thông tin mới làm cho nó trở nên hữu
ích qua việc thông tin phải được quan tâm, được tin cậy và sử dụng để mang lại lợi
ích. Các tính chất làm cho thông tin trên BCKT trở nên hữu ích xoay quanh ba tính
chất đặc trưng của thông tin là thích hợp, đầy đủ và có thể hiểu.
- Tính thích hợp: Tính thích hợp là tiêu chuẩn thể hiện chất lượng của thông tin,
bao gồm tính phù hợp và tính đáng tin cậy
 Tính phù hợp: Thông tin có thể giúp người sử dụng thiết lập được các dự báo về
kết quả của các sự kiện trong quá khứ, hiện tại hay tương lai, xác nhận hoặc hiệu chỉnh
các kỳ vọng.
 Tính đáng tin cậy: Tính đáng tin cậy rất quan trọng đối với thông tin. Thông tin
đáng tin cậy phải được người sử dụng đặt niềm tin vào đó để ra quyết định. Thông tin
trên BCKT được trình bày trên sự độc lập, chính trực, khách quan của KTV.
 Mặt khác thông tin thích hợp phải mang tính kịp thời, nghĩa là thông tin có
được cho người ra quyết định trước khi nó mất tác dụng.
- Tính đầy đủ: Là tiêu chuẩn đánh giá về số lượng thông tin. Số lượng thông tin
cần trình bày trên BCKT chịu ảnh hưởng bởi đánh giá của KTV đối với rủi ro có sai
sót trọng yếu và nhu cầu thông tin của người sử dụng.
- Tính có thể hiểu: Thông tin trên BCKT sẽ trở nên hữu ích hơn nếu người sử
dụng tiếp cận và tìm hiểu BCKT gặp nhiều thuận lợi do thông tin được trình bày phù
hợp với nhu cầu, phù hợp với khả năng và trình độ nhận thức. Để trở nên hữu ích thì

thông tin cần được trình bày sao cho người sử dụng có thể dễ dàng hiểu được.
12




Tuy nhiên, mức độ đầy đủ và có thể hiểu của thông tin phải được đặt trong mối quan
hệ đầy đủ của chi phí và lợi ích và cân đối giữa các tính chất.
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC
- Hệ thống CMKiT: CMKiT trở thành cơ sở lý luận của hoạt động kiểm toán và
là cơ sở để nâng cao chất lượng kiểm toán. CMKiT đặc biệt là CMKiT về BCKT có
ảnh hưởng đến BCKT được phát hành. Nội dung và hình thức của BCKT do KTV và
công ty kiểm toán phát hành chịu sự chi phối của CMKT.
- Sự tương tác giữa CMKiT và CMKT: Một ảnh hưởng khác dẫn đến các thay
đổi trên BCKT nữa là sự tương tác với các CMKT. Khi CMKT thay đổi thì CMKiT
cũng thay đổi theo. Ví dụ cho trường hợp này là sự phát triển của CMKT trong việc xử
lý sự thay đổi chính sách kế toán và tình huống chưa rõ ràng. Đối với sự thay đổi chính
sách kế toán, theo SAS 2 (1974) thì KTV phải nhận xét rằng việc áp dụng chính sách
kế toán có nhất quán không và sự thay đổi chính sách kế toán sẽ dẫn đến một ý kiến
ngoại trừ mặc dù các khai báo cần thiết đã thực hiện. Sau đó theo SAS 58 (1988), nếu
doanh nghiệp đã thỏa mãn ba điều kiện (chính sách mới được áp dụng bởi chuẩn mực,
xử lý đúng ảnh hưởng của sự thay đổi và người quản lý giải trình được về sự thay đổi)
thì ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ được đưa ra cùng với đoạn nhấn mạnh.
- Quy định liên quan đến công bố thông tin đối với các công ty niêm yết: Đối với
thị trường chứng khoán thì yêu cầu về minh bạch thông tin tài chính mang tính sống
còn. Ngoài hệ thống CMKT, CMKiT còn có các quy định về công bố thông tin. Với
các quy định chặt chẽ, hoàn thiện sẽ gia tăng tính minh bạch thông tin thông qua gia
tăng tính kịp thời, đầy đủ và dễ hiểu của thông tin.
- Nhận thức không đầy đủ của người sử dụng BCKT đối với sự phức tạp của các
thuật ngữ chuyên môn trên BCKT.



13




1.2.4 Hình thức và các nội dung cơ bản của BCKT
Nội dung của phần này sẽ trình bày về hình thức và các nội dung cơ bản của một
BCKT tiêu chuẩn căn cứ vào ISA 700 “Hình thành ý kiến kiểm toán và BCKT về
BCTC”, có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 12 năm 2009, phiên bản mới nhất của
ISA 700. Chuẩn mực quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV trong việc đưa ra ý
kiến kiểm toán về BCTC. Chuẩn mực này được áp dụng cho cuộc kiểm toán một bộ
BCTC đầy đủ cho mục đích chung. Theo ISA 700, hình thức và nội dung của một
BCKT tiêu chuẩn như sau:
Tiêu đề
BCKT phải có tiêu đề chỉ rõ đó là BCKT độc lập.
Địa chỉ
BCKT phải chỉ rõ người nhận BCKT tùy theo từng cuộc kiểm toán
Đoạn mở đầu
Bao gồm:
a) Nêu rõ tên đơn vị có BCTC được kiểm toán;
b) Nêu rõ rằng BCTC đã được kiểm toán;
c) Nêu rõ tiêu đề của từng báo cáo cấu thành bộ BCTC;
d) Tham chiếu đến phần tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và các thuyết
minh khác; và
e) Nêu rõ ngày kết thúc kỳ kế toán hoặc kỳ kế toán của từng báo cáo cấu thành bộ
BCTC
;


Trách nhiệm của Ban giám đốc đối với BCTC
Mục này trong BCKT mô tả trách nhiệm của những người chịu trách nhiệm lập và
trình bày BCTC tại đơn vị được kiểm toán. BCKT không nhất thiết phải đề cập một
14




cách cụ thể đến “Ban Giám đốc” mà sẽ sử dụng thuật ngữ thích hợp, tùy thuộc vào
từng trường hợp.
BCKT phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm của Ban Giám đốc (hay một
thuật ngữ thích hợp khác)”.
BCKT phải mô tả trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc lập và trình bày BCTC,
trong đó giải thích thêm rằng Ban Giám đốc chịu trách nhiệm lập và trình bày BCTC
theo khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng, và chịu trách nhiệm về
KSNB mà Ban Giám đốc xác định là cần thiết để đảm bảo cho việc lập và trình bày
BCTC không có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn.
Trong trường hợp BCTC được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, phần giải thích
về trách nhiệm của Ban Giám đốc đối với BCTC trong BCKT phải đề cập đến “trách
nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý BCTC của Công ty”.
Trách nhiệm của KTV
BCKT phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm của KTV”.
BCKT phải nêu rõ trách nhiệm của KTV là đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên kết quả
cuộc kiểm toán.
BCKT phải nêu rõ rằng công việc kiểm toán đã được tiến hành theo các ISA. BCKT
cũng phải giải thích rằng các chuẩn mực đó yêu cầu KTV phải tuân thủ chuẩn mực và
các quy định về đạo đức nghề nghiệp, phải lập kế hoạch và thực hiện cuộc kiểm toán
để đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc BCTC có còn sai sót trọng yếu hay không.
BCKT phải mô tả về cuộc kiểm toán bằng cách nêu rõ:
(a) Công việc kiểm toán bao gồm thực hiện các thủ tục để thu thập các bằng chứng

kiểm toán về các số liệu và thuyết minh trên BCTC;
(b) Các thủ tục kiểm toán được lựa chọn dựa trên xét đoán của KTV, bao gồm đánh
giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong BCTC, do gian lận hoặc nhầm lẫn. Khi thực hiện
đánh giá rủi ro, KTV xem xét KSNB của đơn vị liên quan đến việc lập và trình bày
BCTC trung thực, hợp lý nhằm thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp với tình hình
15




thực tế, tuy nhiên không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của KSNB của
đơn vị. Trong trường hợp KTV cũng có trách nhiệm đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của
KSNB cùng với việc kiểm toán BCTC, KTV sẽ bỏ đi đoạn nói rằng việc KTV xem xét
KSNB không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của KSNB của đơn vị;
(c) Công việc kiểm toán cũng bao gồm việc đánh giá tính thích hợp của các chính
sách kế toán được áp dụng và tính hợp lý của các ước tính kế toán của Ban Giám đốc
cũng như đánh giá việc trình bày tổng thể BCTC.
Trong trường hợp BCTC được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, phần mô tả về
cuộc kiểm toán trong BCKT phải đề cập đến “trách nhiệm lập và trình bày trung thực
và hợp lý các BCTC của đơn vị”.
BCKT phải nêu rõ liệu KTV có tin tưởng rằng các bằng chứng kiểm toán mà KTV đã
thu thập được là đầy đủ và thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán hay không.
Ý kiến của KTV
Khi đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đối với BCTC được lập theo khuôn khổ về tuân
thủ, ý kiến kiểm toán phải nêu rõ là BCTC đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu,
tuân thủ khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng.
Nếu khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng được đề cập đến trong ý kiến
kiểm toán không phải là chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế do Uỷ ban CMKT
Quốc tế ban hành thì ý kiến kiểm toán phải chỉ rõ nước ban hành ra khuôn khổ về lập
và trình bày BCTC đó.

Căn cứ vào ISA hiện hành, mục tiêu của KTV là đưa ra ý kiến kiểm toán về BCTC
trên cơ sở đánh giá các kết luận rút ra từ bằng chứng kiểm toán thu thập được và trình
bày ý kiến kiểm toán một cách rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến
đó. Tính trọng yếu là sự cân nhắc chủ yếu khi KTV hình thành ý kiến kiểm toán.
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính
chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng
16




BCTC. Đánh giá tính trọng yếu phụ thuộc vào xét đoán của KTV, đây là một việc thật
sự khó khăn. Theo ISA’s phân biệt bốn loại ý kiến kiểm toán:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần: Là ý kiến được đưa ra khi KTV kết luận rằng
BCTC đã được lập trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình
bày BCTC được áp dụng.
Trong dạng ý kiến chấp nhận toàn phần có thêm dạng ý kiến chấp nhận toàn phần có
đoạn nhấn mạnh hoặc đoạn vấn đề khác khi muốn lưu ý người đọc BCTC về một vấn
đề không ảnh hưởng đến ý kiến của KTV.
- Ý kiến kiểm toán ngoại trừ: Dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích
hợp đã thu thập được, KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh
hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC; hoặc KTV không thể thu thập
được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán,
nhưng KTV kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát
hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC.
- Ý kiến kiểm toán trái ngược: khi dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ,
thích hợp đã thu thập được, KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại,
có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đối với BCTC.
- Từ chối đưa ra ý kiến: khi KTV không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng
kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán và KTV kết luận rằng những

ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu
và lan tỏa đối với BCTC.
Các trách nhiệm báo cáo khác
Trong BCKT về BCTC, nếu KTV nêu thêm các trách nhiệm báo cáo khác ngoài trách
nhiệm của KTV là báo cáo về BCTC, các trách nhiệm báo cáo khác này phải được nêu
trong một phần riêng trong BCKT.

×