Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

LIÊN QUAN NỒNG độ BRAIN NATRIURETIC PEPTIDE với một số đặc điểm và TRIỆU CHỨNG lâm SÀNG BỆNH NHÂN đợt cấp SUY TIM mạn TÍNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (156.47 KB, 5 trang )

Y học thực hành (857) - số 1/2013




136


LIÊN QUAN NồNG Độ BRAIN NATRIURETIC PEPTIDE VớI MộT Số ĐặC ĐIểM
Và TRIệU CHứNG LÂM SàNG BệNH NHÂN ĐợT CấP SUY TIM MạN TíNH

Lê Đức Quyền - Bệnh viện 175
Trần Quốc Việt - Trung tâm huấn luyện và nghiên cứu Y học quân sự phía Nam
Phạm Ngọc Huy Tuấn - Bệnh viện cấp cứu Trng vơng- Hồ Chí Minh
Lê Việt Thắng - Bệnh viện 103

TóM TắT
Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ peptide lợi
niệu (Brain Natriuretic Peptide-BNP) huyết thanh với
một số đặc điểm bệnh nhân và một số triệu chứng lâm
sàng của 114 bệnh nhân đợc chẩn đoán đợt cấp suy
tim mạn tính, kết quả cho thấy: số bệnh nhân tăng
BNP huyết thanh là 100%, nồng độ BNP huyết thanh
tơng quan thuận với nồng độ cholesterol máu, r=
0,31, p < 0,05. Có mối liên quan thuận khá chặt giữa
tăng BNP huyết thanh với mức độ nặng của suy tim với
p < 0,001.
Từ khóa: BNP huyết thanh, đợt cấp suy tim mạn
tính, khó thở

SUMMARY


Studying on relationship between serum Brain
Natriuretic Peptide (BNP) level with some features,
clinical symptoms of 114 patients diagnosed as chronic
acute heart failure, the results show that patients rate
of increased serum BNP is 100%, level of serum BNP
significantly correlates to serum cholesterol
concentration, r= 0,31, p < 0,05. A positive relation
between serum BNP with severe degree of heart
failure is detected, p< 0,001.
Keywords: serum BNP, chronic acute heart failure,
dyspnea


ĐặT VấN Đề
Suy tim là tình trạng tim không đủ khả năng cung
cấp máu, hoặc nhận máu theo nhu cầu cơ thể cả khi
nghỉ ngơi và khi gắng sức. Tần suất suy tim ngày càng
tăng cao trên thế giới và có khuynh hớng gia tăng
theo tuổi. Tại Hoa Kỳ, ngời ta ớc tính có khoảng 4,9
triệu bệnh nhân đợc điều trị suy tim, 550000 bệnh
nhân suy tim mới mắc hàng năm. Tại châu Âu, suy tim
chiếm tỷ lệ 0,4-2% dân số. Việt Nam, suy tim chiếm
50% bệnh nhân tim mạch nhập viện. Brain Natriuretic
Peptide (BNP) là một peptid có tác dụng sinh học làm
giãn mạch, tăng bài tiết natri qua nớc tiểu, nó đợc
phóng thích ra bởi các tâm thất khi các buồng tim này
giãn ra. Việc phóng thích BNP tỉ lệ thuận với sự gia
tăng thể tích và áp lực quá tải của tâm thất. BNP tăng
khi có suy tim phải hoặc suy tim trái, suy tim tâm thu
hoặc suy tim tâm trơng do bất kỳ nguyên nhân nào.

Có nhiều nghiên cứu về BNP ở bệnh nhân suy tim, các
nghiên cứu đều khẳng định bệnh nhân suy tim có nồng
độ BNP tăng cao trong máu. Nghiên cứu về liên quan
nồng độ BNP huyết thanh và các biểu hiện lâm sàng
của bệnh nhân đợc chẩn đoán đợt cấp của suy tim
mạn tính còn cha nhiều. Chúng tôi đã thực hiện
nghiên cứu này với hai mục tiêu:
1. Khảo sát liên quan nồng độ BNP huyết thanh với
một số đặc điểm bệnh nhân đợc chẩn đoán đợt cấp
suy tim mạn tính.
2. Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ BNP huyết
thanh và một số triệu chứng lâm sàng bệnh nhân đợc
chẩn đoán đợt cấp suy tim mạn tính.
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1. Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu gồm 114 bệnh nhân đợc
chẩn đoán đợt cấp của suy tim mạn tính đợc khám và
theo dõi điều trị tại Viện Tim mạch- Thành phố Hồ Chí
Minh.
+ Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Bệnh nhân đợc chẩn đoán xác định suy tim do
các nguyên nhân khác nhau theo tiêu chuẩn
Framingham.
- Bệnh nhân đợc chẩn đoán đợt cấp suy tim mạn
tính.
- Bệnh nhân suy tim độ 2, 3, 4 do nhiều nguyên
nhân khác nhau nh: bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh
tim thiếu máu cục bộ, tăng huyết áp
- Các bệnh nhân đợc làm đầy đủ các xét nghiệm
theo mẫu nghiên cứu.

- Bệnh nhân đợc điều trị suy tim theo cùng phác
đồ điều trị
- Các bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn loại trừ:
- Loại trừ những bệnh nhân tại thời điểm nghiên cứu
nghi ngờ mắc bệnh ngoại khoa; viêm cấp
- Bệnh nhân kèm theo một trong các bệnh lý sau:
suy thận, xơ gan, cờng aldosterone nguyên phát,
chấn thơng lồng ngực, chấn thơng sọ não
- Bệnh nhân không làm đủ xét nghiệm theo yêu
cầu nghiên cứu.
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2. Phơng pháp nghiên cứu.
2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang
Y học thực hành (857) - số 1/2013



137

2.2. Phơng pháp nghiên cứu:
+ Các bệnh nhân khó thở do nguyên nhân suy tim
đợc khám lâm sàng tỉ mỉ, làm xét nghiệm BNP trong
máu, làm điện tâm đồ, x-quang tim phổi, siêu âm tim,
các xét nghiệm sinh hoá và huyết học, và tìm các yếu
tố nguy cơ; yếu tố làm suy tim nặng lên.
+ Chẩn đoán khó thở:
- Nhịp thở < 10 lần/phút hoặc > 20 lần/phút, cánh
mũi phập phồng, hõm ức lõm, co kéo cơ hô hấp phụ có

thể có các kiểu thở bất thờng kèm rối loạn tri giác, tím
tái, vã mồ hôi.
- Khó thở kịch phát về đêm xảy ra khi bệnh nhân
đang ngủ và nằm đầu thấp một thời gian.
- Khó thở khi gắng sức xảy ra khi hoạt động gắng
sức.
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim mạn theo
Framingham (1993).
* Tiêu chuẩn chính:
Khó thở kịch phát về đêm
Tĩnh mạch cổ nổi
Ran nổ ở 2 nền phổi
Tim to trên x-quang
Phù phổi cấp
Nhịp ngựa phi
Tăng áp tĩnh nạch trung ơng (> 16cmH
2
O)
Phản hồi gan tĩnh mạch cảnh dơng tính
* Tiêu chuẩn phụ:
Phù ngoại vi
Ho về đêm
Khó thở khi hoạt động thể lực
Gan to
Tràn dịch màng phổi
Dung tích sống giảm 1/3 so với ngời bình thờng
Nhịp tim nhanh (>120 lần/phút)
Chẩn đoán suy tim mạn tính phải có 3 tiêu chuẩn
trở lên: ít nhất 1 tiêu chuẩn chính và 2 tiêu chuẩn phụ,
hoặc 2 tiêu chuẩn chính.

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim mạn đợt cấp:
Bệnh nhân có tiền căn đợc chẩn đoán suy tim
mạn theo phân độ NYHA vào viện vì khó thở, tăng độ
suy tim.
+ Phân độ suy tim theo NYHA 1964 chia suy tim
làm 4 độ.

+ Chẩn đoán nghiện rợu, nghiện thuốc lá: theo
tiêu chuẩn của ICD-10.
+ Chẩn đoán rối loạn lipid máu: theo khuyến cáo
của Hội tim mạch Việt Nam, 2008.
+ Chẩn đoán thừa cân béo phì dựa vào chỉ số khối
cơ thể BMI theo khuyến cáo của hội Đái tháo đờng
châu á - Thái bình dơng.
+ Xử lý số liệu bằng phần mềm Epi. info 6.0 và
SPSS với việc xác định: giá trị trung bình, so sánh giá
trị trung bình, tỷ lệ phần trăm. Vẽ đồ thị tơng quan
trên phần mềm Exel.
KếT QUả NGHIÊN CứU
Trong tổng số 114 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên
cứu có 58,8% bệnh nhân nữ, 42,2% bệnh nhân nam,
suy tim độ II chiếm 23,7%, độ III chiếm 64,9%, độ IV
chiếm 11,4%. Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 56,7
9,8 tuổi. Số bệnh nhân có nồng độ BNP huyết thanh
tăng hơn mức bình thờng là 100%.
1. Liên quan nồng độ BNP huyết thanh với một
số đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu.
Bảng 1: Biến đổi nồng độ BNP huyết thanh theo
giới tính và BMI
Các chỉ số BNP (pg/ml) p

Nam (n = 47) 2416,03 1627,07 GIớI
Nữ (n = 67) 1842,63 1648,21
>0,05
BMI 23 (n = 24)
1893,03 1427,26 BMI
BMI < 23 (n = 90) 2235,04 1824,06
> 0,05
Nhận xét:
+ Nồng độ BNP huyết thanh trung bình nhóm bệnh
nhân nam cao hơn nhóm nữ, tuy nhiên cha thấy sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê.
+ Nồng độ BNP huyết thanh trung bình nhóm
bệnh nhân có BMI 23 cao hơn nhóm bệnh nhân có
BMI < 23, tuy nhiên cha thấy sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê.
Bảng 2: Khảo sát nồng độ BNP liên quan dến
nghiên rợu và nghiện thuốc lá
Yếu tố n (%) BNP (pg/ml) p
Có 29 (25,43)
2118,16
1731,59 Nghiện
thuốc lá
Không 85 (74,57)
1964,35
1499,85
>0,05
Có 15 (13,15)
2269,53
1692,43
Nghiện rợu


Không 99 (86,85)
2050,17
1658,10
>0,05
Nhận xét:
+ Nồng độ BNP trung bình nhóm bệnh nhân nghiện
thuốc lá cao hơn nhóm bệnh nhân không nghiện thuốc
lá, tuy nhiên cha thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê giữa hai nhóm này.
+ Nhóm bệnh nhân nghiện rợu có nồng độ BNP
trung bình cao hơn nhóm không nghiên rợu, tuy nhiên
sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3: Khảo sát sự biến thiên nồng độ BNP theo
rối loạn lipid máu

Đặc điểm lipid máu n (%) BNP (pg/ml) p
Có tăng
96
(84,2)
2988,88
1681,98 Cholesterol
toàn phần
Không tăng
18
(15,8)
1974,16
1686,51
<0,05


Giảm
78
(68,4)
1059,85
927,48
HDL-C
Không giảm
36
(31,6)
2306,26
1589,50
>0,05

Có tăng 10 (8,8)

2139,14
1678,96
LDL-C
Không tăng
104
(91,2)
1853,96
1313,43
>0,05

Có tăng
23
(20,2)
2265,51
1666,68

Triglycerid
Không tăng
91
(79,8)
1841,22
1421,72
>0,05

Y học thực hành (857) - số 1/2013




138

Nhận xét:
+ Nồng độ BNP nhóm bệnh nhân có rối loạn
cholesterol toàn phần tăng cao hơn nhóm bệnh nhân
không có rối loạn có ý nghĩa thống kê.
+ Nhóm bệnh nhân có rối loạn HDL-C, LDL-C và
triglicerid có nồng độ BNP khác biệt không có ý nghĩa
thống kê so với nhóm không rối loạn với p > 0,05.


y = 513.71x - 75.21
r = 0.31, p < 0.05
0
1000
2000
3000

4000
5000
6000
7000
0 2 4 6 8

Biểu đồ 1: Tơng quan nồng độ BNP và cholesterol máu.


Nhận xét: Có mối tơng quan thuận mức độ vừa
giữa biến đổi nồng độ BNP và Cholesterol máu ở
nhóm bệnh nhân suy tim với hệ số tơng quan r =
0,31, p < 0,05.
2. Liên quan nồng độ BNP huyết thanh với một
số đặc điểm lâm sàng bệnh nhân đợc chẩn đoán
đợt cấp suy tim mạn tính:
Bảng 4: Mối liên quan nồng độ BNP với một số
triệu chứng cơ năng suy tim

Triệu chứng suy tim BNP (pg/ml) pANOVA
Gắng sức nặng
(n = 13)
282,70
151,76
Gắng sức nhẹ
(n = 76)
237,68
1511,42
Kịch phát về đêm
(n= 8)

2169,14
1542,38
Khó thở

Liên tục (n = 17)
3147,72
1939,86
<0,05
Có (n = 56)
2314,16
1755,7 Đau
ngực
Không (n = 58)
1850,51
1521,74
>0,05
Có (n = 59)
2315,13
1722,16
Ho về
đêm
Không (n = 55)
1820,33
1556,08
>0,05

Nhận xét:
+ Nồng độ BNP trung bình nhóm bệnh nhân có
mức độ khó thở nặng tăng cao hơn so với nhóm bệnh
nhân có khó thở vừa và nhẹ, sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê p< 0,05.
+ Nhóm bệnh nhân suy tim có đau ngực nồng độ
BNP huyết thanh tăng cao hơn nhóm suy tim không có
đau ngực cha có ý nghĩa thống kê.
+ Nhóm bệnh nhân suy tim có ho về đêm có nồng
độ BNP huyết thanh tăng cao hơn nhóm không có ho
về đêm, tuy nhiên cha thấy sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê.
Bảng 5: Sự biến đổi giữa nồng độ BNP theo mức
độ suy tim
Mức độ suy tim Nồng độ BNP trung bình (pg/ml)
Độ II (n = 27) 453,00 313,00
Độ III (n = 74) 2415,03 1489,30
Độ IV (n = 13) 3543,60 1781,15
Tổng (n = 114) 2079,04 1656,73
p (ANOVA) < 0,01
Nhận xét: Nồng độ BNP ở bệnh nhân suy tim mạn
tính tăng dần theo độ suy tim. Nhóm bệnh nhân suy
tim độ IV có nồng độ BNP trung bình cao nhất, cao
hơn nhóm suy tim độ III và độ II có ý nghĩa thống kê
với p < 0,01.
BàN LUậN
1. Liên quan nồng độ BNP với một số đặc điểm
bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn tính.
Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu này đều có
nồng độ BNP trên mức cho phép, điều này là hợp lý
bởi đối tợng chọn của chúng tôi là những bệnh nhân
có đợt cấp của suy tim mạn tính đã đợc chẩn đoán
xác định. Nồng độ BNP trong nghiên cứu tăng cao
2079,04 1656,73 pg/ml, biến thiên khoảng nồng độ

của bệnh nhân có nồng độ cao nhất và thấp nhất là rất
lớn. So sánh với các nghiên cứu khác trong nớc
chúng tôi thấy rằng, nồng độ BNP của chúng tôi cao
hơn rất nhiều so với nghiên cứu khác trong nớc.
Chúng tôi cho rằng kết quả này là hợp lý, do nhóm
bệnh nhân của chúng tôi đang ở đợt cấp của suy tim
mạn tính, do vậy nồng độ BNP tăng cao là điều dễ
hiểu. Nồng độ BNP liên quan đến một số đặc điểm
bệnh nhân:
BNP và giới tính: Kết quả nghiên cứu của một số
tác giả nớc ngoài cho thấy giới tính có tác liên quan
đến đến nồng độ BNP trong máu. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, nồng đô BNP trung bình ở nhóm bệnh
nhân nam là 2416 1627,07 pg/ml, nữ là 1842,63
1648,21pg/ml, tỷ lệ bệnh nhân nam có nồng độ BNP
huyết thanh cao gặp nhiều ở nam hơn nữ, tuy nhiên giá
trị trung bình cho thấy sự khác biệt cha có ý nghĩa
thống kê với p > 0,05. Điều này có thể giải thích rằng
do nồng độ BNP tăng rất cao trong suy tim và sự phân
bố tỷ lệ mức độ nặng của suy tim ở phân nhóm bệnh
giữa nam và nữ là đồng đều. Sự biến đổi nồng độ BNP
huyết thanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố bản thân bệnh
nhân và mức độ, giai đoạn nặng nhẹ của bệnh nhân
suy tim. Những bệnh nhân nữ có xu hớng có thời gian
sống dài hơn bệnh nhân nam, các yếu tố tác động làm
nặng lên quá trình suy tim của bệnh nhân ít hơn, chính
vì thế nhiều nghiên cứu cho thấy các biến đổi về các
chỉ tiêu sinh hóa máu và hình thái tim cho thấy bệnh
nhân nam suy tim mạn tính nặng nề hơn bệnh nhân nữ
suy tim mạn tính.

BNP và chỉ số khối cơ thể: Các nghiên cứu trên thế
giới đều khẳng định tỷ lệ tử vong do mạch máu ở ngời
Cholesterol
(mmol/l)

BNP huyết thanh (pg/ml)

Y học thực hành (857) - số 1/2013



139

béo phì cao hơn nhóm bệnh nhân có BMI bình thờng,
tỷ lệ bệnh nhân có biến cố mạch vành nhóm ngời béo
phì cũng cao nhóm ngời có BMI bình thờng. Thực tế,
bệnh nhân béo phì thờng hay đi kèm với các yếu tố
nguy cơ bệnh mạch vành khác nh ĐTĐ, hút thuốc lá,
uống rợuKết quả một số công trình nghiên cứu của
nớc ngoài cho thấy nồng độ BNP thấp có ý nghĩa ở
ngời quá cân và béo phì. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, nồng độ BNP trung bình nhóm bệnh nhân
có BMI 23 là 1893,03 1427, nhóm bệnh nhân có
BMI < 23 là 2235,04 1824,06 pg/L, tuy nhiên sự
khác biệt này cha có ý nghĩa thống kê. Lý giải cho
điều này chúng tôi cho rằng, với cỡ mẫu trong nghiên
cứu của chúng tôi là 114 bệnh nhân đợt cấp của suy
tim mạn tính. Tỷ lệ nhóm bệnh nhân có BMI 23 là
khoảng 20%, nh vậy nhóm bệnh nhân này ít hơn
nhiều so với nhóm bệnh nhân có BMI < 23, do vậy

chúng tôi cha tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê nh các tác giả khác.
BNP và tình trạng nghiện rợu, nghiện thuốc lá:
Nghiên cứu của chúng tôi có đến 25,43% bệnh nhân
có tiền sử nghiện thuốc lá, nghĩa là bệnh nhân mắc
bệnh suy tim đang nghiện thuốc lá vào viện là khá cao.
Điều đó ảnh hởng đến chất lợng điều trị và quản lý
bệnh nhân suy tim hiện nay cha đợc tốt và ý thức
chăm sóc sức khỏe của ngời dân cha cao. Chất
nicotin trong thuốc lá sẽ làm tăng nhịp tim, tăng huyết
áp, giảm dỡng khí nuôi tim, tăng huyết khối, gây tổn
thơng tế bào nội mạc mạch máu, làm xơ vữa động
mạchVới những ngời nghiện thuốc, tim phải cố gắng
làm việc nhiều hơn để đa máu đi nuôi cơ thể, tất cả
các yếu tố đó đều là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim
mạch. Với những bệnh nhân suy tim, vẫn còn nghiện
thuốc, sẽ làm cho tình trạng suy tim nặng lên. Chính vì
điều này, nồng độ BNP trong máu bệnh nhân có hút
thuốc cao hơn nhóm không hút thuốc. Rợu cũng là
một yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch. Uống nhiều và
uống rợu lâu năm có thể gây nên tăng triglyceride,
tăng huyết áp và béo phì, cuối cùng dễ gây suy tim và
tai biến mạch máu não. Tiền căn nghiện rợu chiếm
13,15% ở bệnh nhân suy tim, thờng gặp trong bệnh
cơ tim do rợu. Nồng độ BNP ở những bệnh nhân suy
tim có tiền sử nghiện rợu cao hơn nhóm bệnh nhân
suy tim không nghiện rợu trong nghiên cứu này là vấn
đề dễ giải thích.
BNP với rối loạn lipid máu: Nhóm bệnh nhân có rối
loạn cholesterol toàn phần chiếm 82,2%, nồng độ BNP

trung bình 2988,88 1681,98 pg/ml, nhóm không có
rối loạn chiếm 15,8%, nồng độ BNP trung bình là
1059,85 927,48 pg/ml, nồng độ cholesterol toàn
phần tăng có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Chúng tôi
cũng đã tìm thấy mối tơng quan thuận mức độ vừa
giữa tăng cholesterone máu và tăng nồng độ BNP máu
với hệ số tơng quan r = 0,31, p < 0.05 (biểu đồ 1).
Điều cho thấy khi nồng độ cholesterol toàn phần trong
huyết thanh tăng cao thì nồng độ BNP cũng tăng theo.
Khi cholesterol trong máu tăng cao, thì nguy cơ bệnh
động mạch vành cũng tăng theo. Cholesterol sẽ làm
xơ vữa mạch máu, đặc biệt là động mạch, làm cản trở
lu thông của máu, hậu quả tim thiếu dinh dỡng, cuối
cùng có thể dẫn đến suy tim. Nhóm bệnh nhân có rối
loạn HDL-C, LDL-C và triglicerid có nồng độ BNP cao
hơn nhóm không có rối loạn, sự khác biệt này cha có
ý nghĩa thống kê. Chúng tôi cha tìm thấy sự khác biệt
về nồng độ BNP máu ở nhóm bệnh nhân có và không
có rối loạn các thành phần lipid máu còn lại trong
nghiên cứu này. Có thể cỡ mẫu và tỷ lệ bệnh nhân có
rối loạn cha đủ lớn gây ra các rối loạn này.
2. Liên quan giữa BNP và một số đặc điểm lâm
sàng bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn tính.
Liên quan nồng độ BNP với một số triệu chứng cơ
năng của suy tim: Suy tim là hội chứng lâm sàng phức
tạp do rối loạn chức năng hoặc tổn thơng thực thể cơ
tim dẫn đến suy giảm khả năng nhận máu hoặc bơm
máu của tâm thất. Biểu hiện lâm sàng chính của suy
tim là mệt, khó thở, khi tiến triển có thể dẫn đến phù
phổi, phù chi, triệu chứng này là những chìa khóa

nhằm để phát hiện sớm bệnh lý suy tim, thờng là
những lý do đa bệnh nhân đến khám. Nhng nhiều
bệnh nhân suy tim có rất ít triệu chứng lâm sàng hoặc
triệu chứng không rõ ràng, nhất là ngời cao tuổi. BNP
là một xét nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, BNP
đợc tiết ra khi áp lực các buồng tim tăng lên nhất là
tâm thất. Điều đó chỉ ra rằng có một mối tơng quan
với sự quá tải của tim. BNP là một yếu tố dự báo độc
lập đáng kể áp suất tăng cuối tâm trơng thất trái ở
bệnh nhân suy tim. Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi
nhận nồng độ BNP trung bình ở nhóm có triệu chứng
khó thở các mức độ khó thở khác nhau: khó thở khi
gắng sức nặng, khi gắng sức nhẹ, khó thở kịch phát về
đêm và khó thở liên tục lần lợt là 282,70 151,76;
2137,68 1511,42; 2169,14 1542,38; 3147,72
1939,86 pg/ml. Một điều dễ nhận thấy là, nồng độ BNP
tăng cao hơn giới hạn bình thờng ở tất cả các bệnh
nhân có mức độ khó thở khác nhau. Khó thở càng
nặng thì nồng độ BNP càng cao, sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê với p < 0,05. Điều này có thể một triệu
chứng khó thở riêng lẻ về lâm sàng nghĩ đến tình trạng
quá tải của tim và mức độ nặng của suy tim (ví dụ triệu
chứng khó thở đơn độc). Thực tế tập hợp các triệu
chứng này đều nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán của
Framingham, theo một số nghiên cứu cho thấy tiêu
chuẩn Framingham có độ nhạy cao nhng độ đặc hiệu
thấp. Triệu chứng hen tim, phù phổi cấp giữa nhóm có
và không triệu chứng, nồng độ BNP lần lợt là 2943,05
1795,73 và 2013,83 1636,38 pg/ml; giữa nhóm có
đau ngực và nhóm không đau ngực này lần lợc là

2527,53 1947,83 và 2047,89 1641,04 pg/ml. Nồng
độ BNP ở nhóm bệnh nhân ho về đêm và nhóm không
ho về đêm: 2315,13 1722,16 và 1820,33 1556,08.
Nồng độ BNP ở nhóm bệnh nhân đau ngực và không
đau ngực: 2315,13 1722,16 và 1820,33 1556,08.
Mặc dù nhóm có triệu chứng trên thì nồng độ BNP tăng
hơn nhóm không có triệu chứng nhng tất cả đều
không có ý nghĩa về mặt thống kê, nghĩa là không có
sự khác biệt giữa tăng nồng độ BNP và sự xuất hiện
Y học thực hành (857) - số 1/2013




140

triệu chứng. Điều này có thể giải thích do cỡ mẫu
chúng tôi còn nhỏ, cũng có thể một triệu chứng riêng lẻ
về lâm sàng không đánh giá đầy đủ tình trạng quá tải
của tim đối với các triệu chứng này.
Liên quan nồng độ BNP với mức độ suy tim: Trong
nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ BNP trong huyết
thanh và mức độ nặng của suy tim theo phân độ
NYHA có sự tơng quan với nhau. Nồng độ BNP trung
bình trong huyết thanh bệnh nhân suy tim, NYHA II là:
453,00 313,00 pg/ml, NYHA III là: 2415,03 1489,30
pg/ml và NYHA IV là: 3543,60 1781,15 pg/ml. Bằng
phơng pháp phân tích ANOVA một biến so sánh
trùng của các nhóm cho thấy nồng độ BNP trung bình
giữa các nhóm khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0.05.

Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với một số nghiên
cứu trong nớc khác và một số nghiên cứu của nớc
ngoài, các tác giả này cũng nhận thấy giữa nồng độ
BNP trong huyết thanh và mức độ của suy tim theo
NYHA có một mối liên quan chặt chẽ với nhau. Điều
này khẳng định rằng khi bệnh nhân suy tim càng nặng
thì nồng độ BNP trong huyết thanh càng cao.
KếT LUậN
Qua nghiên cứu mối liên quan nồng độ BNP với
một số đặc điểm bệnh nhân, một số triệu chứng lâm
sàng của 114 bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn tính,
chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
+ Tăng nồng độ BNP liên quan đến một số đặc
điểm bệnh nhân: Nồng độ BNP huyết thanh tơng
quan thuận với nồng độ cholesterol máu, r= 0,31, p <
0,05. Cha thấy liên quan giữa tăng BNP huyết thanh
với giới, BMI, có hoặc không nghiện thuốc lá và nghiện
rợu, và bệnh nhân có hoặc không có rối loạn
triglycerid, HDL-C, LDL-C.
+ Tăng nồng độ BNP huyết thanh liên quan đến
một số triệu chứng lâm sàng bệnh nhân đợt cấp suy
tim mạn tính: Có mối liên quan thuận khá chặt với mức
độ nặng của suy tim với p < 0,001, mức độ suy tim
càng nặng nồng độ BNP huyết thanh càng tăng. Trong
ba triệu chứng khó thở, đau ngực, ho về đêm, tăng
BNP huyết thanh chỉ liên quan có ý nghĩa đến triệu
chứng khó thở.
TàI LIệU THAM KHảO
1. Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Thị Dụ, Khảo sát sự
thay đổi nồng độ B - type Natriuretic Peptide (BNP) huyết

tơng ở bệnh nhân suy tim do tăng huyết áp ", Tạp chí
Tim mạch học (37) 2004, tr. 31 38.
2. Phạm Thắng, Tạ Mạnh Cờng, Phan Thanh Nhung,
Nghiên cứu nồng độ B-type Natriuretic Peptide huyết
tơng của bệnh nhân suy tim mạn tính. Y học Việt Nam,
số 1, 2010, trang 51-56.
3. DAO Q. et al, "Utility of B-type natriuretic peptide in
the diagnosis ofcongestive heartfailure in an urgent care
setting ", J Am Coll Cardio (37) 2001, pp. 379-385.
4. HORWICH TB et al, B-type natriuretic Peptide
levels in obese patients with advanced heart failure, J
Am Coll Cardiol, 47(1) 2006:85-90.
5. KENNETH D. et al, ESC guidelines for the
diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure
2008, European heart journal, (29) 2008: 2388-2442.
6. MAISEL AS. et al, "B-type natriuretic peptide (BNP)
levels: diagnostic and therapeutic potential", Rev
Cardiovasc Med (Suppl 2) 2002, pp. S13-S 18.
7. WIECZOREK SJ et al, "A rapid B-type natriuretic
peptide assay accurately diagnoses left ventricular
dysfunction and heart failure- A multicenter evaluation",
Am Heart J (144) 2002, pp. 834-839.

KIếN THứC Về BệNH LÂY TRUYềN QUA ĐƯờNG TìNH DụC Và HIV/AIDS
CủA Vị THàNH NIÊN TạI MộT Số Xã CủA HUYệN KIếN XƯƠNG, TỉNH THáI BìNH

Nguyễn Đức Thanh - Đại học Y Thái Bình

Tóm tắt
Điều tra mô tả cắt ngang 300 vị thành niên về kiến

thức về bệnh lây truyền qua đờng tình dục và
HIV/AIDS của vị thành niên trên địa bàn huyện Kiến
Xơng-Thái Bình năm 2012 cho thấy: Phần lớn VTN
cho rằng nguyên nhân gây bệnh LTQĐTD do sinh hoạt
tình dục với ngời mắc bệnh mà không dùng bao cao
su (63,0%). Tỷ lệ lớn nhất VTN biết hậu quả bệnh
LTQĐTD là làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV (66,3%);
còn có 23,3% số VTN đợc hỏi không biết hậu quả
nào của bệnh LTQĐTD. Tỷ lệ VTN biết lây nhiễm HIV
qua đờng tình dục, đờng máu và mẹ truyền cho con
chiếm tỷ lệ cao (trên 90%). Còn tới 16% số VTN có
nhận đinh sai rằng có thể nhận biết ngời nhiễm HIV
thông qua hình dáng bề ngoài và lối sống của họ. Tỷ lệ
VTN biết cách phòng lây nhiễm HIV cha cao, cao
nhất là tỷ lệ biết không dùng chung bơm kim tiêm mới
chỉ chiếm 69,7%; còn tới 9% số VTN không biết cách
nào để phòng lây nhiễm HIV.
Từ khóa: Vị thành niên, kiến thức, bệnh lây
LTQĐTD, HIV/AIDS.
Summary
The cross-sectional descriptive survey on 300
adolescents on their status of access to information
about STDs and HIV/AIDS was conducted in Kien
Xuong district Thaibinh province shows that: The
cause of STIs via having sex with STI infected persons
without using condom was reported by most of
adolescents (63.0%). The consequence of STIS
mentioned by the highest rate of adolescents was that
it increases the risk of HIV infection (66.3%); 23.3% of
adolescents still did not know any consequences of

STIs. The rate of adolescents knowing the HIV

×