Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

Pháp luật thi hành án dân sự, thực trạng và giải pháp, liên hệ thực tiễn ở tỉnh hải dương luận văn ths luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (800.31 KB, 111 trang )


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT






PHM VN HNG





Pháp luật thi hành án dân sự,
thực trạng và giải pháp, liên hệ thực tiễn
ở tỉnh Hải Dơng






LUN VN THC S LUT HC













H NI - 2014

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT





PHM VN HNG





Pháp luật thi hành án dân sự,
thực trạng và giải pháp, liên hệ thực tiễn
ở tỉnh Hải Dơng


Chuyờn ngnh: Lý lun lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01




LUN VN THC S LUT HC




Cỏn b hng dn khoa hc: TS. HONG VN T







H NI - 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan




Phạm Văn Hùng

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật thi hành án dân sự 8
1.1.1. Khái niệm pháp luật thi hành án dân sự 8
1.1.2. Đặc điểm, vai trò của pháp luật thi hành án dân sự 12
1.2. Nội dung cơ bản của pháp luật thi hành án dân sự 17
1.2.1. Những quy định về tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án, chấp hành viên 17
1.2.2. Những quy định về thủ tục thi hành án 18
1.3. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của pháp luật thi
hành án dân sự Việt Nam 22
1.3.1. Thời kỳ từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1993 22
1.3.2. Thời kỳ 1993-2004 và hiện nay 23
1.4. Khái quát pháp luật thi hành án dân sự một số nước trên thế
giới và kinh nghiệm cho Việt Nam 24
1.4.1. Tổ chức bộ máy và quy chế chấp hành viên thi hành án 24
1.4.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án, chấp hành viên 25
1.4.3. Quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình thi hành án 25
1.4.4. Về thời hiệu thi hành án 25
1.4.5. Về thủ tục thi hành án dân sự 25
1.5. Tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật thi hành án dân sự 29
1.5.1. Tiêu chí về mặt nội dung 29
1.5.2. Tiêu chí về mặt hình thức 29

Kết luận chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
HIỆN HÀNH, LIÊN HỆ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG 32
2.1. Những quy định về tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án, chấp
hành viên 32
2.1.1. Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự 32
2.1.2. Chấp hành viên 39
2.2. Những quy định về thủ tục thi hành án dân sự 43
2.2.1. Thủ tục thi hành án 43
2.2.2. Biện pháp bảo đảm thi hành án 57
2.2.3. Cưỡng chế thi hành án 59
2.2.4. Thi hành án trong một số trường hợp cụ thể 61
2.2.5. Khiếu nại, tố cáo và kháng nghị về thi hành án dân sự 68
2.3. Những mặt thuận lợi và hạn chế của một số thủ tục thi hành án
dân sự hiện hành 72
2.4. Liên hệ thực tiễn pháp luật thi hành án dân sự ở tỉnh Hải Dương 81
2.4.1. Hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương 81
2.4.2. Số lượng việc và tiền, tài sản thi hành án 82
2.4.3. Những kết quả đạt được, hạn chế trong việc thực hiện các quy định
của pháp luật thi hành án dân sự ở tỉnh Hải Dương 84
Kết luận chương 2 88
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN NAY 90
3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự 90
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự 92
3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự về nội dung 92
3.2.2. Nhóm các giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự về hình thức 94
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103


1
MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án là hoạt động làm cho các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi
hành của Toà án được thực hiện. Nếu như kết quả hoạt động xét xử là đưa ra phán
quyết (bản án, quyết định) trên cơ sở áp dụng các điều luật cụ thể để xem xét các
tình tiết xảy ra, thì kết quả của thi hành án làm cho các phán quyết đó được thực
hiện trong thực tế. Như vậy, thi hành án là hoạt động diễn ra ngay sau khi Tòa án đã
có phán quyết giải quyết các tranh chấp trong xã hội hoặc áp dụng các chế tài xử
phạt các hành vi phạm tội. Thi hành án dân sự là hoạt động do Cơ quan thi hành án
dân sự tiến hành theo những thủ tục, trình tự nhất định, nhằm đưa ra các bản án,
quyết định dân sự đã có hiệu lực thi hành của Toà án ra để thi hành, các bản án,
quyết định dân sự của Tòa án không phải chỉ bao gồm bản án, quyết định do Toà
dân sự tuyên về những vấn đề hoàn toàn nội dung dân sự như trả nợ, đòi nhà cho
thuê… mà còn về ly hôn, cấp dưỡng nuôi con… (án hôn nhân và gia đình), trả tiền
công lao động… (án lao động), phạt tiền do vi phạm hợp đồng… (án kinh tế), thanh
toán cho các chủ nợ có bảo đảm… (án về phá sản), bồi thường thiệt hại và các nghĩa
vụ khác (phần dân sự trong các bản án, quyết định hình sự, hành chính). Các bản án,
quyết định dân sự không chỉ bao gồm các bản án, quyết định của Toà án và Trọng
tài Việt Nam mà cả các bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài được công
nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Như vậy, thi hành án dân sự là một hoạt động có
phạm vi rất rộng, bên cạnh hoạt động thi hành án hình sự là hoạt động gắn liền với
việc thi hành các phán quyết của Toà án hình sự.
Trong tổ chức bộ máy nhà nước ta, thi hành án dân sự là lĩnh vực hoạt động
được chú trọng và là một nhiệm vụ của ngành Tư pháp. Pháp luật về thi hành án dân
sự đã hình thành như: Hiến pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng
hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự , đặc biệt là Luật Thi hành án dân sự 2008, Nghị

định 125/2013/NĐ-CP Sửa đổi nghị định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn luật Thi hành
án dân sự về thủ tục Thi hành án dân sự về tăng cường và nâng cao hiệu quả công

2
tác thi hành án dân sự. Những văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới về
tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; xác định rõ hơn địa vị pháp lý
của các chủ thể pháp luật đối với việc thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự.
Trên cơ sở đó, nhận thức của các chủ thể về pháp luật thi hành án dân sự được nâng
lên. Nhiều bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án (quyết định dân sự
trong bản án hình sự; bản án, quyết định dân sự, hành chính) đã được các cơ quan
thi hành án dân sự kịp thời đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật đạt kết quả
tương đối cao. Điều này, đã đảm bảo tính hiệu lực của các bản án, quyết định của
tòa án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của các tổ chức và
công dân; thể hiện tính nghiêm minh của các bản án, quyết định của tòa án nhân
danh Nhà nước, tạo lòng tin của nhân dân đối với Đảng với Nhà nước, góp phần
đảm bảo an ninh trật tự xã hội, giữ gìn kỷ cương, phép nước, thực hiện dân chủ,
công bằng xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Hải Dương là một tỉnh có số lượng án bàn giao và thụ lý hàng năm tương đối
lớn. Trong những năm qua, công tác thi hành án dân sự ở Hải Dương đã đạt được
những kết quả đáng ghi nhận; luôn hoàn thành tốt chỉ tiêu Quốc hội và Chính phủ
giao cho, nhiều vụ việc khó khăn, phức tạp, tồn đọng lâu năm đã được tổ chức thi
hành dứt điểm. Kết quả đạt được nói trên phản ánh sự cố gắng, nỗ lực của toàn
ngành tư pháp nói chung, cũng như đội ngũ cán bộ thi hành án dân sự nói riêng, sự
quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương; sự phối
hợp đồng bộ, chặt chẽ của các ngành hữu quan trong việc thi hành án dân sự.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, cũng như nhiều tỉnh trên cả
nước, thực trạng thi hành án dân sự ở Hải Dương vẫn còn bộc lộ nhiều vấn đề tồn
tại, yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới hiện
nay. Lượng án tồn đọng qua các năm còn rất lớn. Tình trạng trên có nhiều nguyên
nhân khác nhau như: pháp luật thi hành án dân sự hiện hành còn thiếu tính khả thi,

nhiều điểm còn chưa rõ ràng, bất cập; một số cán bộ thi hành án nhất là đội ngũ
Chấp hành viên còn thiếu trách nhiệm trong công việc, có thái độ hách dịch, vòi
vĩnh khiến cho quần chúng nhân bức xúc; ở một số nơi cấp ủy, chính quyền các cấp

3
chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện tổ chức, chỉ đạo
thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật;. Thực tế đó, đòi hỏi việc hoàn thiện
pháp luật thi hành án dân sự, đảm bảo cho các các quyết định và bản án dân sự có
hiệu lực pháp luật được thi hành trong thực tế trở nên cấp thiết.
Với những lý do trên tôi chọn đề tài: “Pháp luật thi hành án dân sự, thực
trạng và giải pháp, liên hệ thực tiễn ở tỉnh Hải Dương” làm luận văn thạc sĩ Luật
chuyên ngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở nước ta trong những năm gần đây, vấn đề pháp luật đang được đặt ra và là
nhiệm vụ cấp bách của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công
dân. Pháp luật đã được các học viện, các trường đại học nghiên cứu trong các giáo
trình như: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Đại học Tổng hợp
Hà Nội, 1993; Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Đại học Luật Hà Nội,
2004; Tài liệu học tập và nghiên cứu môn học lý luận chung về Nhà nước và pháp
luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Nhà nước và pháp luật, 2004;
Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Học viện Hành chính Quốc gia, 2001.
Nghiên cứu về pháp luật trên một số lĩnh vực cụ thể có các đề tài: Nghiên
cứu về thi hành án dân sự đã có một số đề tài: "Luận cứ khoa học của việc đổi mới
tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới" đề tài nghiên
cứu khoa học cấp nhà nước do Bộ Tư pháp chủ trì; Cục Quản lý Thi hành án dân sự
- Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: "Mô hình quản lý
thống nhất công tác thi hành án"; tác giả Nguyễn Quang Thái có công trình: "Đổi
mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam", (Luận văn thạc sĩ Luật
học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003); Tác giả Nguyễn Công Long
có công trình: "Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự", (Luận văn thạc sĩ

Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội); tác giả Nguyễn Thanh Thủy có công trình:
"Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự", (Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2001); Luận văn thạc sỹ luật học "Một số vấn đề về tổ chức và thi
hành án dân sự Việt Nam", của tác giả Trần Văn Quảng; tác giả Lê Xuân Hồng có

4
công trình: "Xã hội hóa một số nội dung thi hành án dân sự", (Luận văn thạc sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002); tác giả Bùi Xuân Khánh có công trình:”
Một số ý kiến về thủ tục thi hành án dân sự - kinh tế của Việt Nam từ cách tiếp cận
của Luật so sánh, tài liệu hội thảo: Đổi mới tư pháp dân sự trong điều kiện nền kinh
tế chuyển đổi”, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật; tác giả Lê Anh Tuấn có
công trình: "Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự Việt Nam", (Luận văn thạc sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004); tác giả Lê Xuân Hồng có công trình Xã
hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam (Luận văn Thạc sỹ luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội); tác giả Nguyễn Đức Nghĩa có công trình: "Cơ sở lý luận và thực tiễn
khắc phục án tồn đọng trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay", (Luận văn
thạc sỹ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005); Đề tài nghiêm
cứu cấp Bộ, Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại, Mã số 95-
98/114/DT. tác giả Hoàng Thế Anh có công trình "Giám sát thi hành án dân sự ở
Việt Nam hiện nay" (Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2005).
Những công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu những vấn đề chung
của pháp luật; thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội và
những công trình nghiên cứu về vấn đề mang tính tổng thể hoặc những khía cạnh,
phạm vi cụ thể khác nhau của thi hành án dân sự. Nhưng đến nay, chưa có công
trình nghiên cứu nào dưới góc độ lý luận và thực trạng pháp luật, lý giải các nguyên
nhân ảnh hưởng đến chất lượng pháp luật, đề ra các giải pháp đảm bảo pháp luật thi
hành án dân sự nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói riêng.
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu, các bài
viết, đồng thời bằng kinh nghiệm thực tiễn và những hiểu biết của mình, tác giả

trình bày trong luận văn cơ sở lý luận, nội dung pháp luật thi hành án dân sự,
đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật từ đó liên hệ trên địa bàn tỉnh Hải Dương,
đưa ra nhóm giải pháp đảm bảo hiệu lực các văn bản pháp luật đã ban hành trong
lĩnh vực thi hành án dân sự, đáp ứng vấn đề cấp bách của thực tiễn công tác thi
hành án dân sự.

5
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn nêu ra các giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật thi hành án dân sự ở nước ta nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích đã nêu trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:
- Một là, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật thi hành án dân sự;
- Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật thi hành án dân sự hiện
hành và liên hệ thực tiễn ở tỉnh Hải Dương hiện nay;
- Ba là, xác định quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân
sự trong thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật là hiện tượng rất rộng được nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu pháp luật
thi hành án dân sự, thực trạng và giải pháp. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn dưới
góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, thông qua thực tiễn của cơ quan Thi
hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; bám sát đường lối, chủ trương của
Đảng về pháp luật, về công tác thi hành án dân sự và chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020.

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng
của triết học Mác - Lênin theo quan điểm phát triển, toàn diện, lịch sử, cụ thể.
Ngoài ra luận văn còn kết hợp các phương pháp như: logic, phân tích, tổng hợp,
thống kê, khảo sát thực tiễn.

6
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp độ luận
văn thạc sĩ Luật, nghiên cứu về cơ sở lý luận và pháp luật thi hành án dân sự ở tỉnh
Hải Dương. Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa
học của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật thi hành án dân sự ở Việt
Nam nói chung và Hải Dương nói riêng.
- Đánh giá đúng thực trạng pháp luật thi hành án dân sự hiện hành và liên hệ
thực tiễn ở tỉnh Hải Dương, trong đó làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế
trong việc thực thi pháp luật thi hành án dân sự.
- Đưa ra một số quan điểm và đề xuất các giải pháp có tính khả thi cao nhằm
hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Thông qua việc làm rõ thực trạng pháp luật thi hành án dân sự hiện hành và
liên hệ thực tiễn tỉnh Hải Dương - kết quả đã đạt được và những hạn chế, bất cập,
luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về pháp luật, thi hành án dân sự, từ đó
nâng cao nhận thức của xã hội đối với việc thực hiện pháp luật thi hành án dân sự ở
nước ta nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng.
Khẳng định, củng cố nhận thức về vị trí, vai trò và ý nghĩa của pháp
luật về thi hành án dân sự trong việc phát huy tính tích cực, chủ động trong
thực hiện pháp luật thi hành án dân sự của các cơ quan bảo vệ pháp luật, nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức và công dân đối với công tác
thi hành án dân sự.

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề
lý luận của pháp luật thi hành án dân sự, do đó làm phong phú thêm lý luận chung
về Nhà nước và pháp luật. Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho cấp ủy và
chính quyền của tỉnh Hải Dương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác thi hành án
dân sự. Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
trong việc nghiên cứu và chỉ đạo các hoạt động về thi hành án dân sự. Đối với các

7
cơ quan có liên quan đến thi hành án dân sự, luận văn có thể là tài liệu tham khảo
trong việc thực hiện trách nhiệm của mình theo qui định của pháp luật, trong việc
phối hợp phối hợp hoạt động thi hành án dân sự.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn gồm
3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về pháp luật thi hành án dân sự.
Chương 2: Thực trạng pháp luật thi hành án dân sự hiện hành, liên hệ thực
tiễn tỉnh Hải Dương.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự
hiện nay.

8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật thi hành án dân sự
1.1.1. Khái niệm pháp luật thi hành án dân sự
Học thuyết Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật lần đầu tiên trong lịch sử
đã lý giải một cách đúng đắn, khoa học về bản chất của pháp luật và những mối
quan hệ của nó với các hiện tượng xã hội khác nhau trong xã hội có giai cấp, pháp

luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Pháp luật:
Là hệ thống các quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước bảo đảm
thức hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì
xã hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị [47, tr.139].
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự chung (qui phạm
pháp luật) thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân,
được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục,
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa [47, tr.143].
Pháp luật thi hành án dân sự là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để làm sáng tỏ khái niệm pháp luật thi
hành án dân sự, trước hết cần làm rõ một số khái niệm có liên quan đến khái niệm
pháp luật thi hành án dân sự như: khái niệm thi hành, khái niệm tư pháp, khái niệm
thi hành án và khái niệm thi hành án dân sự.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là "Thực hiện điều đã chính thức quyết
định" [53, tr.1559]. Theo từ điển Luật học thì thi hành án là "giai đoạn kết thúc
trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho
phán quyết của toà án nhất định có hiệu lực pháp luật" [36, tr.464].
Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của
Tòa án trên thực tế. Bản án, quyết định của Tòa án được hiểu là là văn bản pháp lý

9
của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong
vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính. Việc
thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có hiệu quả, một mặt bảo đảm thực hiện
quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và công dân đối với
phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là Tòa án, mặt khác nó là biện pháp
hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công
dân bị xâm hại.
Khái niệm tư pháp hiểu theo nghĩa rộng, là một hệ thống các thiết chế, các

tổ chức bảo vệ pháp luật, duy trì, bảo đảm công lý, công bằng xã hội, trong đó
hoạt động xét xử của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Tòa án giữ vai trò, vị trí
quan trọng, là khâu trung tâm. Vì vậy, khi nói tới Tòa án là nói tới biểu tượng điển
hình của việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, là nơi biểu hiện rực rỡ nhất bản
chất của pháp luật.
Khái niệm tư pháp hiểu theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động xét xử của Tòa án,
thông qua những thủ tục tố tụng nhất định, đối với những vụ việc vi phạm pháp
luật, tranh chấp của các chủ thể trong đời sống xã hội, nhằm bảo vệ pháp luật, duy
trì, bảo đảm công lý, công bằng xã hội. Vì vậy, toàn bộ các hoạt động điều tra, truy
tố và các hoạt động bổ trợ tư pháp (Giám định, Luật sư, Công chứng, Hộ tịch, Tư
vấn pháp luật ) đều nhằm phục vụ cho quá trình làm sáng tỏ chân lý, tìm ra sự thật
của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, để trên cơ sở đó, Tòa án đưa ra phán quyết
theo qui định của pháp luật. Kết thúc giai đoạn xét xử, Tòa án quyết định những vấn
đề thuộc về nội dung vụ án, xác định trách nhiệm pháp lý và chế tài thích hợp cho
từng đối tượng cụ thể, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan,
tổ chức và của công dân. Các bản án và quyết định xét xử của Tòa án không những
nhân danh Nhà nước mà còn thể hiện quyền lực tối cao của pháp quyền có hiệu lực
thi hành, chính vì vậy, Điều 136 của Hiến pháp 1992 đã nêu rõ: "Các bản án và
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân tôn trọng, những người
và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" [34, tr.36]. Tuy nhiên, các bản

10
án và quyết định của Tòa án muốn trở thành hiện thực trong cuộc sống thì phải
thông qua hoạt động thi hành án.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm thi hành án như sau: Thi hành
án là hoạt động tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo
trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định của Tòa án hoặc
các quyết định khác theo qui định của pháp luật, được thực hiện trên thực tế, nhằm
bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức,

bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Dưới góc độ lý luận, thi hành án dân sự hiện nay còn có hai quan điểm khác
nhau về nghĩa hẹp và nghĩa rộng của khái niệm "dân sự"
Quan điểm thứ nhất cho rằng, khái niệm "dân sự" trong thi hành án dân sự
được hiểu là những bản án, quyết định liên quan đến quan hệ tài sản và nhân thân
phi tài sản như bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các loại hợp
đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại án khác có tính chất dân sự.
Quan điểm thứ hai cho rằng, khái niệm "dân sự" ở đây phải được hiểu theo
nghĩa rộng, đó không chỉ bao gồm các bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp
đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại án khác có
tính chất dân sự của Tòa án, mà còn bao gồm các bản án, quyết định khác do pháp
luật qui định.
Chúng tôi đồng tình với quan điểm này, bởi lẽ, theo quy định của pháp luật
hiện hành, nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự
khác nhau nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục
thi hành án dân sự như đã nêu.
Vì vậy, phạm vi của thi hành án dân sự phải được hiểu theo nghĩa rộng bao
gồm: bản án, quyết định về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; quyết
định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự về bồi thường thiệt hại; quyết định
về tài sản và quyền tài sản trong bản án, quyết định hành chính; bản án, quyết định
dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài được Tòa án
Việt Nam công nhận và cho thi hành ở Việt Nam. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp

11
với pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới: việc tổ chức thi hành các bản án có
nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (luật dân sự, kinh doanh, thương mại, lao
động), được thực hiện theo một thủ tục chung mà không có sự tách bạch căn bản
việc thi hành án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại hay lao động.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm thi hành án dân sự như sau:
Thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp do cơ quan thi hành án, chấp hành viên

tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định dân
sự của Tòa án hoặc các quyết định khác theo qui định của pháp luật, được thực
hiện trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Để điều chỉnh hoạt động thi hành án dân sự, hay nói cách khác các quan hệ
phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự cần có pháp luật điều chỉnh. Pháp luật
thi hành án dân sự được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các văn bản quy
phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thầm quyền ban hành có chứa đựng các
quy phạm pháp luật thi hành án dân sự từ Hiến pháp 1992, Bộ luật Hình sự 1999,
Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Tố tụng hình sự 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004,
Luật Thi hành án dân sự 2008, Nghị Quyết thi hành luật Thi hành án dân sự, Nghị
định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi
hành án dân sự, Nghị định 110/2013/NĐ –CP quy định xử phạt hành chính trong
lĩnh vực Thi hành án dân sự, Nghị định 125/2013/NĐ-CP Sửa đổi nghị định
58/2009/NĐ-CP hướng dẫn luật Thi hành án dân sự về thủ tục Thi hành án dân sự
đều được coi là pháp luật thi hành án dân sự.
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật thi hành án dân sự tuy còn
những tồn tại nhất định, nhưng pháp luật thi hành án dân sự đã chuyển hoá được vai
trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực của chính quyền, ý chí của nhân dân và đồng thuận
của xã hội để tạo ra những chuyển biến tích cực về thi hành án dân sự.
Hệ thống văn bản pháp luật về thi hành án dân sự, cùng với pháp luật nói
chung đã xây dựng được cơ chế quản lý thống nhất về thi hành án dân sự, hệ thống
cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự độc lập với cơ quan

12
xét xử để có điều kiện tập trung cho việc thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Cơ quan thi hành án dân sự
không chỉ được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Toà án, mà còn thi
hành quyết định của cơ quan, tổ chức khác, như Trọng tài kinh tế Nhà nước các cấp,
Trọng tài thương mại.

Hiện nay, Luật Thi hành án dân sự 2008 đã ban hành nhằm khắc phục những
bất hợp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trong công tác thi hành án dân
sự Luật Thi hành án dân sự xây dựng trên cơ sở quán triệt quan điểm chỉ đạo điều
chỉnh toàn diện các lĩnh vực về thi hành án, tạo cơ chế bảo đảm nhiệm vụ quản lý
nhà nước về thi hành án dân sự tập trung vào một đầu mối là Bộ Tư pháp nhưng
không tách rời sự quản lý, chỉ đạo của cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương,
đồng thời xã hội hoá một phần công tác thi hành án là cơ sở pháp lý để tiếp tục tăng
cường, nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác thi hành án nói riêng và ngành Tư
pháp nói chung.
Như vậy có thể rút ra khái niệm pháp luật thi hành án dân sự như sau: Pháp
luật thi hành án dân sự là hệ thống các quy tắc xử sự chung (qui phạm pháp luật)
thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo
dục, thuyết phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi
hành án dân sự
1.1.2. Đặc điểm, vai trò của pháp luật thi hành án dân sự
1.1.2.1. Đặc điểm của pháp luật thi hành án dân sự
Hiện nay trong các văn bản pháp lý về pháp luật thi hành án vẫn chưa có
điều luật nào khái niệm cụ thể về thi hành án dân sự. Chính vì vậy cũng phát sinh
những ý kiến khác nhau về tính chất đặc trưng của thi hành án dân sự:
Có ý kiến cho rằng "thi hành án dân sự là tổng hợp các hành vi tố tụng thực
hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy
định". Theo ý kiến này, thì có thể coi đây là một giai đoạn kết thúc quá trình tố tụng
dân sự. Có ý kiến lại cho rằng: Thi hành án là tố tụng hành chính vì các cơ quan

13
thực hiện việc thi hành án thuộc Chính phủ không phải thuộc tòa án, việc giải quyết
khiếu nại, kháng nghị trong thi hành án đã khác hẳn về hình thức, thủ tục so với
việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân sự. Nhưng trên cơ sở bản
chất của hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất tư pháp đặt dưới

sự chỉ đạo, tổ chức và quản lý của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước cho thấy:
Thứ nhất, cơ sở của hoạt động thi hành án là các bản án, quyết định dân sự
của Tòa án; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là cơ quan tư
pháp (theo nghĩa rộng).
Thứ hai, thi hành án và giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ với nhau.
Nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt
lý, thì việc thi hành án sẽ dễ dàng, nhanh chóng và ngược lại.
Xuất phát từ sự phân tích trên, trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện
hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự có thể khái niệm mang tính bao quát:
thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp, là giai đoạn cuối cùng của quá
trình tố tụng do các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp quản lý và thực hiện nhằm
thi hành trên thực tế các bản án, quyết định về dân sự của Toà án có hiệu lực pháp
luật. Từ khái niệm trên, có thế thấy thi hành án dân sự có những đặc điểm sau:
- Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính tài sản. Bản chất của các quan
hệ dân sự là quan hệ mang tính tài sản chính vì thế mà quá trình thi hành án dân sự
cũng mang tính tài sản.
- Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính định đoạt: Xuất phát từ quyền tự
định đoạt của các chủ thể trong luật dân sự. Chủ thể có quyền được yêu cầu chủ thể
khác thực hiện những hành vi nhất định hoặc không thực hiện những hành vi nhất
định để đáp ứng lợi ích.
- Thi hành án dân sự còn là hoạt động mang tính thỏa thuận: Pháp luật công
nhận sự thỏa thuận tự nguyện của người thi hành án và người phải thi hành án về
việc chấp hành quyết định của Tòa án, nếu sự thỏa thuận đó không trái pháp luật và
đạo đức xã hội.
- Thi hành án dân sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước nhằm bảo

14
đảm hiệu lực thực tế của các bản án, quyết định của Tòa án, được sử dụng các biện
pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
- Hoạt động thi hành án dân sự phải tuân thủ những trình tự, thủ tục chặt chẽ

do pháp luật quy định.
- Trong quá trình thi hành án dân sự chấp hành viên, cán bộ thi hành án độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật.
1.1.2.2. Vai trò của pháp luật thi hành án dân sự
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân là một trong những điều kiện đảm bảo sự thành công của
sự nghiệp đổi mới, bởi vì việc yêu cầu tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và pháp
luật, việc thực hiện nghiêm chỉnh những qui định Hiến pháp và pháp luật của các cơ
quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân là yêu cầu bắt buộc của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức vấn đề này, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định:
“Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức,
mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật” [13, tr.132]. Quan
điểm, tư tưởng trên của Đảng ta đã được thể chế hoá trong Hiến pháp năm 1992 và
được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 năm 2001 của Quốc hội.
Điều 12 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) qui định: Nhà nước quản
lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các
cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi
công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật [34, tr.17].
Vai trò pháp luật thi hành án dân sự thể hiện như sau:
- Một là., bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân
Pháp luật thi hành án dân sự là một quá trình hoạt động có mục đích nhằm

15
làm cho các bản án, quyết định dân sự của Tòa án và các quyết định khác theo quy
định của pháp luật được thực hiện trên thực tế. Mọi hành vi thi hành án chậm, thi

hành không đúng với nội dung của bản án, quyết định hoặc để án tồn đọng , về
thực chất đều xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân. Vì vậy, thực hiện pháp luật nghiêm chỉnh pháp luật thi hành án dân
sự không những bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, mà còn bảo đảm bảo
đảm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
- Hai là, bảo đảm, giữ gìn bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam của dân, do dân và vì dân
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. pháp luật nói chung và pháp luật về
thi hành án dân sự nói riêng là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các qui
phạm pháp luật thi hành án dân sự được thực thi trên thực tế do đó các bản án và
quyết định có hiệu lực pháp luật về dân sự phải được thực thi. Vấn đề tổ chức thi
hành án dân sự cũng phải được thực hiện theo thủ tục, trình tự pháp luật qui định.
Các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan thi hành án nói riêng, các tổ chức và công
dân phải có trách nhiệm trong việc thực hiện tốt các các quy phạm pháp luật thi
hành án dân sự góp phần bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật và nâng cao ý thức
pháp luật của nhân dân, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân
sự. Qua đó làm cho tính thượng tôn pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân được nâng cao.
- Ba là, góp phần ổn định xã hội, ổn định nền kinh tế
Pháp luật thi hành án làm cho những phán quyết của Tòa án trở thành hiện
thực. Nếu không được tổ chức thi hành, thì toàn bộ kết quả của cả quá trình tố tụng
trước đó trở nên vô nghĩa, dẫn đến kỷ cương phép nước bị coi thường. Thông qua
thực hiện pháp luật thi hành án dân sự, các mối quan hệ xã hội bị xâm hại được khôi
phục lại tình trạng ban đầu, trật tự pháp luật được lập lại. Bản án có hiệu lực pháp
luật được thi hành một cách triệt để sẽ có tác động đến ý thức chấp hành pháp luật
của người được thi hành án, người phải thi hành án nói riêng và nhân dân nói
chung, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân, làm cho mọi
người hiểu và làm theo pháp luật.

16

Nội dung của các bản án dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà
nước của các tổ chức cá nhân bị xâm phạm. Nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ bồi thường
tài sản; tài sản có ý nghĩa rất to lớn đối với đời sống, sinh hoạt và sản xuất kinh
doanh của các đương sự do đó quá trình giải quyết một vụ án sẽ chỉ được coi là kết
thúc khi bản án, quyết định của Tòa án được thực thi đầy đủ và kịp thời, đúng như ý
kiến của PGS.TS Trần Đình Hảo:
Các đương sự khi tham gia tố tụng kinh tế - dân sự không chỉ quan
tâm đến kết quả xét xử là bản án hoặc quyết định của Tòa án; ý nguyện
và lợi ích của họ còn là ở chỗ: quyền và lợi ích hợp pháp của họ được
công nhận và bảo đảm thi hành trên thực tế bằng sự cưỡng chế của Nhà
nước trong trường hợp cần thiết [18, tr.23].
Nếu bản án, quyết định của Toà án chỉ nằm trên giấy không được thực thi
trên thực tế, thì không những thể hiện pháp luật không nghiêm, còn ảnh hưởng trực
tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân, dẫn đến việc
khiếu nại, tố cáo gay gắt, bức xúc kéo dài của đương sự. Vì vậy, việc thực hiện tốt
pháp luật thi hành án dân sự được góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, ổn định
nền kinh tế tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
- Bốn là, Đẩy mạnh hội nhập quốc tế
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra một cách sâu rộng ở
nước ta trong những năm trở lại đây. Trong quá trình hội nhập, không ít trường hợp
thi hành án dân sự nói chung, án tồn đọng nói riêng có liên quan đến yếu tố nước
ngoài. Thi hành án dân sự có vai trò trong việc bảo vệ các quan hệ dân sự, kinh tế,
thương mại trong điều kiện hội nhập; tạo niềm tin và thúc đẩy sự phát triển các quan
hệ quốc tế ngày càng sâu rộng. Vì vậy, để góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, trong lĩnh vực thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành có hiệu quả,
dứt điểm các bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài, các bản án, quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt
Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam góp phần đẩy mạnh hội nhập kinh tế
quốc tế. Đây vừa là yêu cầu, vừa là một trong những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng
của các cơ quan thi hành án nước ta.


17
- Năm là, tạo khuôn khổ pháp lý, trật tự, kỷ cương cho hoạt động thi hành án
dân sự
Nguyên tắc pháp chế là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đối với pháp
luật thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nói riêng, Điều 106 Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 qui định: "Bản án, quyết định của Toà
án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng;
cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" [35, tr 132]; Luật
Thi hành án dân sự 2008 quy định cụ thể:
Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ
chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm
vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án [33, Điều 4].
Như vậy, việc thực hiện pháp luật thi hành án dân sự không những bảo đảm tính
nghiêm minh của pháp luật, mà còn tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1.2. Nội dung cơ bản của pháp luật thi hành án dân sự
1.2.1. Những quy định về tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án, chấp hành viên
Vấn đề về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự có ý nghĩa rất quan
trọng, quyết định hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, nên việc quy định
nguyên tắc về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự trong Luật, nhất là phân
định rõ cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự trong hệ
thống tổ chức là cần thiết, tạo cơ sở cho Chính phủ quy định cụ thể mô hình tổ chức
cơ quan thi hành án dân sự.
Điều 13 Luật thi hành án dân sự quy định hệ thống tổ chức thi hành án dân
sự bao gồm:
1. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự:
- Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp
- Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng

2. Cơ quan thi hành án dân sự:

18
- Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh).
- Cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện).
- Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (sau đây gọi chung
là cơ quan thi hành án cấp quân khu).
Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi
hành án dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan thi hành án
dân sự.
Ngoài ra còn được quy định chi tiết trong một số các văn bản khác
như nghị định, thông tư, quyết định… [33, tr.14].
Điều 17 Luật thi hành án dân sự quy định về Chấp hành viên
1. Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành
các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp hành
viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và
Chấp hành viên cao cấp.
2. Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.
3. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp
hành viên [33].
1.2.2. Những quy định về thủ tục thi hành án
1.2.2.1. Những quy định chung
- Một số từ ngữ cơ bản trong Luật thi hành án dân sự
- Việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan
- Thoả thuận thi hành án
- Quyền yêu cầu thi hành án
- Tiếng nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân sự

- Tự nguyện và cưỡng chế thi hành án
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

19
- Trách nhiệm phối hợp trong thi hành án dân sự, giám sát và kiểm sát việc
thi hành án dân sự.
1.2.2.2. Thủ tục thi hành án
- Trách nhiệm hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án, cấp, chuyển giao bản
án, quyết định; thủ tục nhận bản án, quyết định
- Thời hiệu yêu cầu thi hành án; đơn yêu cầu thi hành án; thủ tục gửi, nhận,
từ chối đơn yêu cầu thi hành án
- Thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự
- Thông báo về thi hành án
- Xác minh điều kiện thi hành án
- Thời hạn tự nguyện thi hành án và căn cứ cưỡng chế thi hành án
- Hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, trả đơn yêu cầu, uỷ thác, kết thúc thi hành án,
xác nhận kết quả thi hành án
- Miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà
nước; về bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án.
1.2.2.3. Biện pháp bảo đảm thi hành án
- Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:
- Phong tỏa tài khoản
- Tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự
- Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện
trạng tài sản
1.2.2.4. Cưỡng chế thi hành án dân sự
- Quy định chung về cưỡng chế thi hành án
+ Căn cứ cưỡng chế thi hành án
+ Biện pháp cưỡng chế thi hành án
+ Kế hoạch cưỡng chế thi hành án

+ Chi phí cưỡng chế thi hành án
+ Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung;
+ Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp.

20
- Cưỡng chế thi hành đối với tài sản là tiền
+ Khấu trừ tiền trong tài khoản
+ Chấm dứt phong tỏa tài khoản
+ Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
+ Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án
+ Thu tiền của người phải thi hành án đang giữ
+ Thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
- Cưỡng chế đối với tài sản là giấy tờ có giá
+ Thu giữ giấy tờ có giá
+ Bán giấy tờ có giá
- Cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ
+ Kê biên, sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ
+ Định giá quyền sở hữu trí tuệ
+ Bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ
- Cưỡng chế đối với tài sản là vật
+ Tài sản không được kê biên
+ Thực hiện việc kê biên
+ Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu
hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm
+ Kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
+ Kê biên vốn góp
+ Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói
+ Kê biên tài sản gắn liền với đất
+ Kê biên nhà ở
+ Kê biên phương tiện giao thông

+ Kê biên hoa lợi
+ Định giá, định giá lại tài sản kê biên
+ Giao tài sản để thi hành án
+ Bán tài sản đã kê biên

×