Tải bản đầy đủ (.pdf) (118 trang)

Bài giảng khái lược văn hóa đông nam á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.07 MB, 118 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN VĂN VINH








BÀI GIẢNG
KHÁI LƯỢC VĂN HÓA
ĐÔNG NAM Á




















Hà Nội - 2013
2


3

LỜI GIỚI THIỆU

Châu Á Thái Bình Dương nói chung, và Đông Nam Á nói riêng hiện đã và đang là một
trong những khu vực năng động trên thế giới. Ngày càng có nhiều học giả quan tâm nghiên
cứu, số lượng các công trình đã công bố với số lượng lớn. Trong khoảng 4 thập kỷ trở lại đây,
cùng với sự trưởng thành của các ngành khoa học, nghiên cứu về Đông Nam Á đã đạt được
những tiến bộ nhận thức mới. Trên cơ sở đó, tập bài giảng Khái lược văn hóa Đông Nam Á
được biên soạn nhằm mục đích cung cấp cho người học những vấn đề chung nhất về văn hóa
khu vực, bổ trợ thêm kiến thức và sự hiểu biết của sinh viên
Trong khi biên soạn, chúng tôi không đi sâu vào văn hóa từng nước hay từng khu vực
nhỏ, cũng không chỉ bàn về một lĩnh vực cụ thể mà bao quát toàn bộ khu vực Đông Nam Á với
nhiều phương diện văn hóa, cả theo cấu trúc lẫn diễn trình lịch sử. Trên cơ sở đó tác giả cố
gắng kế thừa, tổng kết những thành tựu nghiên cứu Đông Nam Á của các học giả đi trước, đặc
biệt là thành quả của hơn 4 thập kỷ qua.
Nghiên cứu văn hóa Đông Nam Á nói riêng và các vấn đề lịch sử Đông Nam Á nói
chung còn có ý nghĩa thiết thực hơn trong bối cảnh, Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ vào khu
vực và thế giới.
Biên soạn tập bài giảng không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong người
đọc và bạn bè đồng nghiệp góp ý để chúng tôi bổ sung chỉnh sửa trong những lần tái bản sau.
Xuân Hòa, 2013
Tác giả

4


5

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN GỐC TỘC NGƯỜI 7
1.1. Điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á 7
1.2. Nguồn gốc các dân tộc ở Đông Nam Á 14
Câu hỏi ôn tập 16
CHƯƠNG II: TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á 17
2.1. Văn hóa Đông Nam Á thời kỳ tiền - sơ sử 18
2.2. Văn hóa Đông Nam Á từ buổi đầu lịch sử đến thế kỷ X 23
2.3. Văn hóa Đông Nam Á từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX 35
2.4. Văn hóa Đông Nam Á từ nửa sau thế kỷ XIX đến năm 1945 44
2.5. Văn Hóa Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay 54
Câu hỏi ôn tập 61
CHƯƠNG III: CÁC THÀNH TỐ CỦA VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á 62
3.1. Ngôn ngữ - chữ viết 62
3.2. Tín ngưỡng bản địa 68
3.3. Tôn giáo 72
3.4. Lễ hội - lễ tiết 83
3.5. Phong tục tập quán 87
3.6. Các trò chơi giải trí 95
3.7. Nhà cửa 96
3.8. Nghệ thuật tạo hình 99
3.9. Nghệ thuật biểu diễn 103
Câu hỏi ôn tập 108



6


7

CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN GỐC TỘC NGƯỜI

1.1. Điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á
Phải đến Chiến tranh thế giới thứ 2, khái niệm “Đông Nam Á” mới xuất hiện khi Bộ chỉ
huy liên quân Anh - Mỹ thiết lập Bộ chỉ huy đồng minh (Southeast Asia Command) nhằm
ngăn chặn sự bành trướng của quân đội Nhật Bản xuống khu vực Đông Nam của châu Á.
Trước đó, đầu thế kỷ XIX, Malte Brun (Pháp) và Leyden (Anh) lần đầu tiên đưa ra khái
niệm “Indo - Chine”: một khu vực địa - văn hoá nằm giữa hai trung tâm văn minh lớn là Trung
Hoa và Ấn Độ. Tuy nhiên, khái niệm đó chỉ bao gồm các nước ngày nay là Đông Nam Á lục
địa, còn các quốc đảo phía đông nam thì vẫn nằm ngoài quan niệm của các tác giả.
Trong lịch sử khu vực Đông Nam Á có nhiều tên gọi khác nhau. Trong thời kỳ giữa hai
cuộc chiến tranh thế giới, người Nhật đã dùng từ “Tonan Ajia” có nghĩa là “Đông Nam Á”
trong các sách địa lý phổ thông. Trước đây các sách địa lý Nhật Bản biên soạn từ thời Minh Trị
theo quan điểm địa lý châu Âu, đều dùng tên gọi cũ là “Nan’yo” (Nam Dương) để chỉ khu vực
bành trướng trên biển kéo dài đến phía nam Thái Bình Dương. Người Ấn Độ thì gọi Đông
Nam Á là những “Đảo vàng”, “Đất vàng”.
Trước thập niên 60, thế giới nói chung vẫn xem Đông Nam Á là vùng nước đọng của lịch
sử nhân loại, nơi mà các cơn lốc văn minh với văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ thậm chí Đông Âu
đi qua và thỉnh thoảng để lại dấu tích. Một quan điểm gần như chính thống của đại bộ phận học
giả phương Tây là văn hóa Đông Nam Á chỉ là sự pha trộn văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa, và
văn minh Đông Nam Á chẳng có phát kiến gì đáng kể.
Tuy nhiên, kể từ sau khi cuốn sách Địa đàng ở phương Đông - Lịch sử huy hoàng của
lục địa Đông Nam Á bị biến mất của Stephen Oppenheimer ra đời đã cho chúng ta một cách
nhìn mới. Qua những dữ kiện dồi dào được thu thập một cách công phu từ nhiều ngành nghiên

cứu khác nhau, tác giả đã đưa ra nhiều luận điểm đáng chú ý: Đông Nam Á là nơi phát triển
nông nghiệp sớm nhất, và có thể là quê hương của kỹ nghệ kim loại đầu tiên trên thế giới.
Những kĩ nghệ này được truyền bá đi khắp nơi trên thế giới qua làn sóng di cư vĩ đại xuất phát
từ Đông Nam Á. Những phát hiện này nói theo nhà khảo cổ học danh tiếng người Mỹ, Wihelm
G. Solheim II, đã làm cho người ta phải suy nghĩ lại vai trò, vị trí của người phương Tây trong
quá trình tiến hóa của văn hóa thế giới, vì có nhiều bằng chứng cho thấy một cách hùng hồn
rằng Đông Nam Á (chứ không phải Trung Quốc hay Ấn Độ) có thể là nơi đã đặt một số nền
tảng đầu tiên cho văn minh nhân loại.
Trước đây Đông Nam Á là một lục địa nhỏ chạy dài từ miền nam Trung Quốc và một
phần đất của Ấn Độ ngày nay đến gần châu Úc. Vào thời kỳ đó Nam Hải, vịnh Thái Lan, và
biển Java là một vùng đất khô nối liền các khu vực của lục địa. Nghĩa là vùng đất phía Nam
sông Dương Tử thuộc Trung Quốc ngày nay cũng được xem là một phần đất của Đông Nam Á
cổ. Sau kỷ Băng Hà chấm dứt khoảng 10.000 năm về trước, Đông Nam Á bị ngập bởi nước
biển. Những vùng đất thấp của lục địa trở thành đáy biển Đông ngày nay và những vùng đất
cao phía Nam lục địa nay là các quần đảo thuộc Nam Dương. Những vùng đất liền hiện nay
thuộc Việt Nam, Campuchia, Lào, Miến Điện, Thái Lan và Mã Lai. Địa đàng phương Đông bắt
đầu bằng một giả thiết rằng nền văn minh Đông Nam Á cổ hiện nay đang nằm dưới lòng biển.
8

Năm 1858, trong khi Pháp thiết lập ảnh hưởng ở Đông Nam Á, một học giả tên là Henri
Moubot tiến hành các cuộc thám hiểm vào vùng đất liền Đông Nam Á. Những ghi chép trong
cuộc hành trình được ông cho sắp xếp xuất bản vào năm 1864 (sau khi ông chết) làm cho thế
giới bắt đầu chú ý đến những di tích lịch sử quan trọng như đền Angcor phía bắc biển Hồ
(Tonle Sap), lúc đó đang bị bỏ hoang và bị cây cối bao phủ, nhưng qua kiến trúc hoành tráng
và nghệ thuật điêu khắc độc đáo nó nói lên sự thịnh vượng của một nền văn minh tiên tiến.
Song, Moubot chỉ ghi lại chi tiết và đề nghị nghiên cứu thêm, chứ không diễn dịch những điều
mắt thấy.
Năm 1898, trường Viễn Đông Bác Cổ được thành lập. Từ đó đã có rất nhiều cuộc nghiên
cứu về văn hóa, văn minh Đông Nam Á được tiến hành. Qua nghiên cứu các học giả trường
Viễn Đông Bác Cổ mới phát hiện ra một thành phố bị chôn vùi trong rừng, và Angkor từng thủ

đô của đế chế Khơme vào đầu thiên niên kỷ (khoảng 2000 năm về trước). Họ còn phát hiện
thêm rằng một nền văn minh rực rỡ khác, văn minh Chăm, cũng hiện hữu cùng thời với văn
minh Khmer.
Một trong những học giả danh tiếng thời đó là Georges Coede’s, giám đốc Viện Viễn
Đông Bác Cổ từ thập niên 1920 đến thập niên 1950. Coede’s và nhiều đồng nghiệp của ông
thời đó tin rằng văn minh nhân loại khởi nguồn từ Lưỡng Hà, đến Ai Cập, rồi lan sang Hi Lạp,
La Mã. Niên đại của các tượng đài tại Ấn Độ, Trung Quốc cho thấy hai nền văn minh phát
triển sau nền văn minh Lưỡng Hà. Coede’s suy rằng Đông Nam Á chỉ là hậu thân của hai nền
văn minh lớn Ấn Độ và Trung Quốc mà thôi, chỉ là các quốc gia “Ấn Độ hóa”. Năm 1960,
Coede’s còn viết, người Đông Nam Á “có vẻ thiếu thiên tư sáng tạo, và năng khiếu tiến bộ”.
Đến năm 1971, nhà sử học Anh, Grahame Clark vẫn đánh giá thấp văn minh Đông Nam
Á. Ông cho rằng người tiền sử Đông Nam Á chưa bao giờ thoát khỏi thời đại đồ đá để tiến lên
thời đại đồ đồng như các nền văn minh khác. Clark viết rằng không như văn minh Lưỡng Hà
hay Trung Hoa, “người Đông Nam Á vẫn tiếp tục sử dụng công cụ bằng đá cho đến thời đại
KiTo giáo”. Từ năm 1879, trước một số di vật được sản xuất bằng đồng, và một số đồ gốm
thuộc thời tiền sử được tìm thấy ở Đông Nam Á. Clark vẫn bác bỏ sự hiện hữu của văn minh
Đông Nam Á. Ông ta cho rằng đó chỉ là những phát hiện “khác thường” và tin rằng đó là
những công cụ của các nền văn hóa khác đem lại cho Việt Nam mà thôi.
Vào thập kỷ 1920, M. Colani đã bắt đầu khảo cứu các vùng duyên hải Việt Nam và qua
các di vật thu thập được, bà chứng minh rằng tại đây đã có cư dân sống từ thời đại đồ đá. Tiếp
đó bà tiến hành khai quật quanh vùng Hòa Bình và phát hiện một nền văn hóa săn bắt cá biệt
mà bà đặt tên là “Văn hóa Hòa Bình”. Sau này, qua bằng chứng về các công cụ săn bắt làm
bằng đá từ Văn hóa Hòa Bình được phát hiện tại nhiều nơi dọc theo bờ biển Nam Hải chạy dài
đến bán đảo Malai, các nhà khảo cổ kết luận Văn hóa Hòa Bình không phải xuất phát từ một
nhóm người mà từ một công nghệ đồ đá.
Thoạt đầu, những phát hiện của Colani có vẻ xác định những giả thiết của Grahame
Clark và Georges Coede’s rằng văn minh Đông Nam Á lạc hậu so với hai nền văn minh lớn Ấn
Độ, Trung Quốc, nhưng mặt khác Colani còn phát hiện đồ gốm từ văn hóa Hòa Bình có niên
đại 8000 năm về trước - tức là còn cổ hơn thời kỳ mà các nhà khảo cổ tin rằng cư dân Đông
Nam Á vẫn còn học cách làm gốm. Cho đến khi những trống đồng lớn có hoa văn tinh vi được

phát hiện tại Đông Sơn cho thấy một công nghệ luyện kim khí khá hoàn chỉnh từ thời tiền sử
đã hình thành.
9

Năm 1932, nhà nhân chủng học người Áo Robert Heine-Geldern đề ra một giả thuyết
giải thích những sự thật trên như sau: Đông Nam Á là vùng đã kinh qua nhiều “làn sóng văn
hóa” và một làn sóng di cư liên tục đem đến cho Đông Nam Á những kỹ thuật hiện đại. Ông tin
rằng những cái rìu mang hình lưỡi vòm hay những người thợ làm ra chúng chắc chắn phải xuất
phát từ miền Bắc Trung Quốc. Còn đối với trống đồng Đông Sơn thì Heine-Geldern đề ra giả
thuyết rằng đó là thành quả của một làn sóng văn hóa khác, lần này thì xuất phát từ người
Đông Âu, những người theo ông di cư về phía Nam vào khoảng 1000 năm TCN và đến Đông
Nam Á vào khoảng 500 năm sau đó. Mặc dù giả thiết của Hein-Geldern, ngày nay ai đọc qua
cũng phải lắc đầu về sự thiếu khoa học và phi lý của nó, cực kỳ sơ sài nhưng được chấp nhận
như là cách giải thích khoa học nhất thời đó.
Nhiều bằng chứng sau đó đã cho thấy giả thuyết “làn sóng văn hóa” của Heine-Geldern
không thể đứng vững được. Năm 1930, học giả người Hà Lan là F.D.K.Bosch tái thẩm định
những văn bia được khắc trên những đền đài Nam Dương, và ông khám phá rằng các văn bia
này không hề đề cập đến sự xâm nhập hay chinh phục của người Ấn Độ. Những ảnh hưởng của
Ấn Độ trong ngôn ngữ và biểu tượng thường thấy ở các vương quốc trong lục địa hơn là trong
các vùng duyên hải. Nếu ảnh hưởng của Ấn Độ đến Đông Nam Á có thật thì nó phải biểu hiện
ở các vùng duyên hải hơn là các vùng trong đất liền. Do đó, phát hiện cho thấy cách diễn giải
của Heine-Geldern cần phải xem xét lại.
Ngoài ra, giới thực vật học cũng đã thu thập nhiều bằng chứng cho thấy giả thiết của
Hein-Gelder thiếu căn cứ khoa học. Các nhà thực vật học nghiên cứu nguồn gốc cây cỏ, cây ăn
quả từng suy luận rằng Đông Nam Á là quê hương của một số loài thực vật như cây lúa, khoai
mỡ, khoai nước, cây mía, cây chuối. Năm 1952, nhà địa lý học người Mỹ Carl Sauer, qua quan
sát khí hậu và nhiều giống cây trồng đưa ra ý kiến rằng Đông Nam Á có thể là nơi phát sinh
nền nông nghiệp trên thế giới. Nhưng chưa có bằng chứng khoa học.
Năm 1965, Chester Gorman, học trò của Wilhelm Solheim II, quyết chí đến Thái Lan
truy tìm những di chỉ về nông nghiệp thời đại đồ đá làm bằng chứng cho giả thiết của Sauer.

Ông đã được người dân dẫn đường đến 1 hang đá vôi, và ông đặt tên cho nó là Động Linh Hồn.
Gorman ước đoán động này đã được con người sử dụng khoảng 10.000 TCN. Tại đây còn phát
hiện thấy rìu và dao có niên đại 7000 TCN (niên đại này còn cổ hơn các cây rìu được tìm thấy
ở Trung Quốc đến 2000 năm. Trước đó người ta vẫn tin rằng những công cụ như thế do Trung
Quốc “xuất cảng” sang Đông Nam Á khoảng 3000 TCN). Sau 3 năm phân tích và khám phá về
Động Linh Hồn, Gorman quay lại Thái Lan vào năm 1972 để khai quật các hang động xung
quanh. Ông tìm thấy hai hang động khác, và có thể kết luận rằng một quá trình định cư tại đây
khoảng 10.000 TCN - 1000 SCN.
Năm 1966, hai học trò khác của Solheim II là Donn Bayard, tiến hành khai quật ở nghĩa
trang Non Nok Tha (Thái Lan).
Từ những phát hiện ở Động Linh Hồn và nghĩa trang Non Nok Tha, Wilhein Solheim II,
không ngần ngại tuyên bố rằng Đông Nam Á là cái nôi đầu tiên của văn minh nhân
loại.[Nhưng những kết quả này ít được phổ biến rộng rãi].
Kế thừa các thành quả nghiên cứu của các học giả tiền bối, trong tác phẩm Địa đàng
phương Đông, Oppenheimer lần đầu tiên, đặt Đông Nam Á vào trung tâm của các nguồn gốc
văn hóa và văn minh thế giới. Oppenheimer chứng minh rằng khoảng 9000 năm đến 10.000
10

năm về trước, một số dân Đông Nam Á đã là những nhà canh tác nông nghiệp chuyên nghiệp,
không chỉ là những người sống bằng những nghề săn bắt ban sơ như giới khảo cổ học phương
Tây mô tả. Vào khoảng 8000 năm trước đây, mực nước biển tăng một cách đột ngột và gây ra
trận đại hồng thủy, và trận lụt vĩ đại đã làm cho những nhà nông nghiệp đầu tiên trên thế giới
này phải tản cư đi các vùng đất khác để mưu sinh. Trong quá trình di cư đến các vùng đất mới,
họ đem theo ngôn ngữ, truyền thuyết, quan niệm tôn giáo, kinh nghiệm thiên văn, yêu thuật và
đẳng cấp xã hội đến vùng đất mới. Ngày nay các dấu vết cuộc di dân vẫn còn trên các quần đảo
Melanesia, Polynesia, và Micronesia, dân chúng những nơi này nói ngữ hệ Nam Đảo có nguồn
gốc từ Đông Nam Á. Theo Oppenheimer, những “người tị nạn” này có thể là những hạt giống
cho những nền văn minh lớn khác mà sau này được phát triển ở Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập và
Địa Trung Hải.
Những kết luận của Oppenheimer phù hợp với hàng loạt nghiên cứu di truyền học học

mới được công bố gần đây. Ví dụ, như qua phân tích AND, các nhà khoa học Mỹ đã có thể tái
xây dựng quá trình di cư thời tiền sử. Con người hiện đại di dân ra khỏi châu Phi và đến châu
Á vào khoảng 100.000 năm trước đây. Có thể trong đợt thiên di đầu tiên họ đến vùng Trung
Đông, nhưng không thể định cư được vì thời tiết khắc nghiệt, sau đó có thể họ phải làm thêm
một hành trình thứ hai từ Trung Đông đến tận vùng Đông Nam Á. Cũng có thể họ đi thẳng từ
Đông Phi, dọc theo đường bờ biển Arập ngày nay băng ngang qua Ấn Độ và đến định cư ở
Đông Nam Á. Từ Đông Nam Á, họ lại di cư một lần nữa, một nhóm đi về hướng Nam ra châu
Úc và Tân Guinea, nhóm hai đi về hướng bắc đến Trung Quốc và Nhật Bản và cuộc di dân này
xảy ra vào khoảng 55.000 năm trước đây. Điều này cũng phù hợp với các dữ kiện di truyền học
gần đây cho thấy người Trung Hoa ngày nay nhất là người Trung Hoa ở phía Nam Trung Quốc
rất gần gũi và có tổ tiên ở vùng Đông Nam Á.
Những phát hiện mới về Đông Nam Á có một tác động rất lớn đối với Việt Nam chúng
ta. Nếu thế kỷ XX là thế kỷ của ý thức hệ, thì thế kỷ XXI là thế kỷ của văn hóa. Suốt 100 năm
tranh chấp dai dẳng trong thế kỷ XX, người ta phân biệt các quốc gia qua chủ nghĩa, và cao
điểm của sự phân biệt đó là cuộc “chiến tranh Lạnh”. Trong tương lai các quốc gia trên thế giới
có thể sẽ quy tụ với nhau thành nhiều nhóm dựa trên văn hóa và tôn giáo. Trong thế kỷ XXI,
người ta sẽ hỏi “Anh là ai” thay vì “Anh thuộc phe nào” giống như trong thời Chiến tranh
Lạnh. Tức là một sự chuyển biến về nhận dạng từ phe phái sang diện mạo. Câu trả lời trước
tiên là dựa vào diện mạo văn hóa, bởi vì văn hóa gắn liền với con người trong thế giới hiện đại.
Cuốn sách Địa đàng ở phương Đông sẽ trả lời cho câu hỏi đó.
Con người luôn luôn gắn bó với tự nhiên. Con người sinh ra và lớn lên trong tự nhiên. Tự
nhiên nuôi dưỡng chở che con người. Không có tự nhiên, con người không thể tồn tại được bởi
thức ăn, nước uống, không khí…Tóm lại, tất cả những thứ không thể thiếu được đối với con
người, đều lấy từ tự nhiên. Chính vì thế mối quan hệ giữa con người và tự nhiên cũng là một
mặt cơ bản của đời sống văn hóa. Có thể nói rằng điều kiện tự nhiên, môi trường tự nhiên của
một khu vực chắc chắn có một ảnh hưởng nhất định đến đời sống văn hóa của những con
người sống trong khu vực đó. Đây là lý do giải thích vì sao trước khi đi vào các mặt khác của
đời sống văn hóa, chúng tôi lại bắt đầu từ môi trường tự nhiên của nó.
1. Trên bản đồ thế giới, Đông Nam Á nằm trong phạm vi từ khoảng 92° đến 140° kinh
đông và từ khoảng 28° vĩ bắc chạy qua xích đạo đến khoảng 15° vĩ nam. Tổng diện tích của

Đông Nam Á khoảng trên 4 triệu km2. Đông Nam Á bao gồm quần thể các đảo, bán đảo, quần
11

đảo, các vịnh và biển chạy dài suốt từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương. Xét về mặt địa lý -
hành chính, Đông Nam Á bao gồm 10 quốc gia: Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia,
Singapore, Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào và Việt Nam, trong đó 5 nước nằm trên quần
đảo Mã Lai và 5 nước nằm trên bán đảo Trung Ấn. Tính đến năm 1994, dân số Đông Nam Á
lên tới 478 triệu người. Nước đông dân nhất là Indonesia (192 triệu người), sau đó đến Việt
Nam, Philippines, Thái Lan, Myanmar, Malaysia. Nước có dân số ít nhất là Brunei (300
nghìn), rồi Singapo (hơn 3 triệu).
2. Đặc điểm nổi bật nhất của khí hậu Đông Nam Á là tính chất gió mùa nóng và ẩm. Khu
vực được mệnh danh là “Châu Á gió mùa” này mỗi năm thường có hai mùa tương đối rõ rệt:
mùa khô mát, mùa mưa nóng và ẩm. Có thể nói Đông Nam Á là nơi có độ ẩm cao nhất thế
giới. Khí hậu biển cũng là một đặc điểm quan trọng đối với tuyệt đại đa số các quốc gia Đông
Nam Á. Trên quả địa cầu, đường xích đạo chạy qua ba nơi: khu vực sông Amazon, khu vực
sông Cônggô và Đông Nam Á. Hai khu vực trên nằm trong lục địa, chỉ có Đông Nam Á là nằm
trên biển. Đường bờ biển của Đông Nam Á rất dài. Đây cũng chính là nguyên nhân gây ra mưa
nhiều và khiến cho lượng hơi nước luôn luôn dư thừa trên đất liền.
1
Biển và gió mùa, khí hậu
nóng và ẩm đã biến Đông Nam Á thành thiên đường của thế giới thực vật. Trên thế giới, hiếm
có một khu vực rộng lớn nào mà thảm thực vật lại trở nên vô cùng trù phú và xanh tốt như ở
đây. Với lượng mưa lớn (1500 đến 3000mm/năm), lượng bức xạ mặt trời phong phú (trên
100kcal.m²/năm), độ ẩm (trên 80%) và nhiệt độ cao (từ 20° - 27°C).
2
Đông Nam Á đã tạo ra
những cánh rừng nhiệt đới bao la với đủ các loại thảo mộc quý hiếm và có giá trị kinh tế cao,
đặc biệt là các loại cây gia vị và hương liệu như hồ tiêu, sa nhân, quế, hồi, trầm hương,…
Những cây công nghiệp như cao su, dừa, cọ, cũng đóng góp một vai trò đáng kể trong nền
kinh tế của Đông Nam Á: 80% cao su tự nhiên, 75% dầu cọ, 73% cùi dừa của thế giới là từ

Đông Nam.
3
Cũng nhờ có điều kiện khí hậu thuận lợi như thế mà Đông Nam Á đã trở thành
khu vực được mệnh danh là quê hương của cây lúa nước - cây lương thực số một của nhân
loại. Không phải ngẫu nhiên mà hai trong số ba nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới lại nằm
ở khu vực này. Rừng Đông Nam Á còn lưu giữ được nhiều loài động vật quý mang tính nhiệt
đới đặc trưng như voi, tê giác, bò tót… Đặc biệt, Đông Nam Á còn được coi là một “viện bảo
tàng chim thú” - Thiên đường của các nhà động vật học. Chim ở đây có giá trị lớn về nhiều
mặt: kinh tế, khoa học, sản xuất, văn hóa-xã hội,…
4

Tóm lại, điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều và có gió mùa là hằng số tự nhiên của văn hóa
Đông Nam Á, và chính nó đã góp phần tạo nên đặc trưng của văn hóa Đông Nam Á - nền văn
minh thực vật hay văn minh lúa nước.
3. Ở Đông Nam Á có sự đối lập khá rõ giữa khu vực lục địa - bán đảo Trung Ấn - với
khu vực hải đảo. Khu vực lục địa, ngoài địa hình núi, còn có những đồng bằng phù sa màu mỡ
nổi tiếng như đồng bằng châu thổ sông Hồng (Việt Nam), đồng bằng sông MeKông
(Campuchia, Việt Nam), đồng bằng sông Menam (Thái Lan), đồng bằng sông Irawadi, Salusen
(Myanmar). So với khu vực lục địa, đồng bằng ở hải đảo thường nhỏ, hẹp. Ngay ở bang
Kedad, nơi được coi là vựa lúa của Malaysia, mặc dù cũng có những cánh đồng “thẳng cánh cò


1
Sakurai Yumio, 1996, tr.38.
2
Xin xem Đan Thanh, Nguyễn Giang Tiến, 1996, tr.70.
3
Phan Ngọc Liên (chủ biên), 1997, tr.15.
4
Đan Thanh, Nguyễn Giang Tiến, 1996, tr.73.

12

bay” song với không thể so sánh được với những cánh đồng ở Thái Bình, Hưng Yên ở Việt
Nam. Tuy nhiên, so với khu vực lục địa, rừng ở các nước hải đảo lại có phần trù phú hơn.
4. Đông Nam Á có mạng lưới sông ngòi dày đặc. Đây là một nguồn lợi lớn về kinh tế,
trước hết là về mặt giao thông vận tải. Các sông lớn có giá trị kinh tế cao phần lớn đều nằm ở
bán đảo Trung Ấn: sông Mêcông (dài 4500 km, đoạn chảy vào khu vực Đông Nam Á dài 2600
km), sông Hồng, sông Saluen (3200 km), sông Irawadi (2150 km), sông Menam (1200 km).
Các sông ở khu vực hải đảo thường ngắn, dốc và có giá trị thủy điện cao. Nhìn chung, các sông
ở Đông Nam Á nhiều nước, dòng chảy trên mặt có lưu lượng lớn, hàm lượng phù sa cao, tạo
nên các vùng châu thổ rộng lớn màu mỡ. Trữ năng thủy điện của các con sông ở vùng này cũng
thật đáng kể: Indonesia 20 triệu kw, Việt Nam 20 triệu kw, Lào 12,4 triệu kw, Thái Lan 8 triệu
kw, Campuchia 5,4 triệu kw, Philippines 2,8 triệu kw, Myanmar 2 triệu kw,…
5
Hệ thống sông
ngòi dày đặc chính là một trong những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cuộc sống của người
dân Đông Nam Á ngay từ buổi đầu tiền sử của họ.
5. Đông Nam Á là vùng khá giàu có về khoáng sản: sắt, niken, đồng, thiếc, kẽm, chì,
vonfram,… Thiếc ở Đông Nam Á chiếm 705 trữ lượng thế giới (khoảng 3,6 triệu tấn) và có
hàm lượng cao. Malaysia đứng hàng đầu (1,5 triệu tấn), sau đó là Indonesia (gần 1 triệu tấn).
Đồng có ở tất cả các nước nhưng nhiều nhất là Philippines với trữ lượng 6 triệu tấn, rồi
đến Indonesia (gần 1 triệu tấn), Malaysia (80 vạn tấn). Quặng mănggan trữ lượng chung 25
triệu tấn, trong đó Indonesia 10 triệu, Thái Lan 7 triệu tấn. Quặng sắt: Indonesia 1,7 tỉ tấn,
Philippines, Lào gần 1 tỉ tấn.
6

Trữ lượng dầu mỏ ở Đông Nam Á khá lớn, tạo thành một vành đai dọc bờ biển Sarawak,
Sabah (Malaysia), Brunei cho đến tận Nam Việt Nam.
6. Đông Nam Á có một vị trí đặc biệt quan trọng trên đường giao lưu quốc tế. Nó “nằm
trọn” giữa hai đại dương lớn: Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Eo Malacca, có người ví

như kênh đào Su-ê, nối biển Đông với biển Andaman thuộc Ấn Độ Dương, trở thành cửa ngõ
trên tuyến đường hàng hải quốc tế, nối liền Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên) với
Tây Âu và châu Phi. Đông Nam Á nằm gần hai quốc gia lớn nhất phương Đông: Trung Quốc
và Ấn Độ. Qua đường biển, các nước Đông Nam Á còn nằm gần siêu cường quốc kinh tế Nhật
Bản. “Chỗ đứng” như vậy làm cho Đông Nam Á từ xa xưa đã trở thành một khu vực quan
trọng, có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế lẫn quân sự. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người
đã coi Đông Nam Á như là một “hành lang” hay một “chiếc cầu nối Đông - Tây”.
Chỉ số duyên hải (ISCL) = [Tổng diện tích tự nhiên/ Tổng diện tích chiều dài đường bờ
biển] của Đông Nam Á là 5, tức là bình quân 1 km bờ biển chỉ che phủ 5 km2 đất liền. Trong
khi đó Trung Quốc là 500. Thậm chí Nhật Bản, được coi là đảo quốc con số này cũng là 20.
Đường bờ biển dài còn là cánh cửa mở rộng cho Đông Nam Á bước vào mạng lưới trao đổi
quốc tế. Giáo sư Sakurai Yumio có một nhận xét rất thú vị rằng trên quả địa cầu có ba đại
dương chính tạo thành biên giới phân chia đất liền thành các lục địa mà mỗi lục địa có thể coi
là một thế giới (World). Trước thế kỷ XVI, các nhà hàng hải không có một con đường biển nào
nối thông Thái Bình Dương với Đại Tây Dương cũng như Ấn Độ Dương với Đại Tây Dương.
Trong khi đó ở Đông Nam Á có một số kênh nối thông Ấn Độ Dương với Thái Binh Dương,


5
Đan Thanh, Nguyễn Giang Tiến, 1996, tr.72.
6
Đan Thanh, Nguyễn Giang Tiến, 1996, tr.74.
13

chẳng hạn như eo biển Malacca, vùng Sulu và Lombok. Vì vậy mà Đông Nam Á có điều kiện
chủ động đón nhận các luồng giao lưu văn minh nhờ vào vị trí địa lý có tính chất cửa ngõ quốc
tế.
7

So với chiều dài đường bờ biển thì dân số của Đông Nam Á không lớn. Nhìn chung khí

hậu nhiệt đới nóng ẩm tạo ra cho thảm thực vật một môi trường thích hợp nhưng đồng thời
cũng đặt ra cho cuộc sống con người những điều kiện khắc nghiệt như vấn đề những dịch bệnh
chết người, sự khan hiếm thức ăn giàu dinh dưỡng… Do vậy chỉ số dân số tính theo tương
quan với chiều dài bờ biển Đông Nam Á là 40, trong khi đó của Trung Quốc là 570. Hla Mynt,
một nhà kinh tế học người Mianma đã phân chia các nước chậm phát triển ở châu Á vào những
năm 60 thành hai nhóm nước: Những nước “hướng ngoại” và những nước “hướng nội”. Trong
những nước hướng nội thì Ấn Độ và Trung Quốc thể hiện ra ở đặc điểm nhà nước trung ương
có quyền kiểm soát toàn bộ những hoạt động kinh tế nhằm điều chỉnh và phân phối trong nội
bộ dân mình những nguồn lợi tài nguyên hạn chế. Đặc trưng này hình thành có thể do tác động
của tình trạng dân số quá đông và nguồn tài nguyên có thể xuất khẩu không nhiều. Như một kết
quả tự nhiên, những nước này phải xây dựng một bộ máy nhà nước có chức năng tự cung, tự
cấp và hoạt động theo cách nhìn hướng nội. Những quốc gia “hướng ngoại” thường có lãnh thổ
nhỏ và dân số không đông nhưng lại có nguồn xuất khẩu lớn. Các nước Đông Nam Á (trừ Bắc
Việt Nam và Java) thuộc loại này. Dù những phân tích trên đây của Hla Mynt đưa ra trong điều
kiện của những năm 60, nhưng cảm nhận về mặt sinh thái của ông cũng gợi ra rằng điều kiện ít
dân và giàu tài nguyên thiên nhiên của Đông Nam Á là một nhân tố khiến vùng này trong lịch
sử thường thi hành các chính sách theo lối nhìn hướng ngoại.
Dựa vào các tài liệu khảo cổ, các nhà khoa học cho biết việc đi lại bằng thuyền, việc
đóng bè mảng và thuyền đi biển ở Đông Nam Á có từ rất sớm. Theo Solhemim, khoảng 8000-
9000 năm trước đây, kỹ thuật đi biển đã xuất hiện ở Sulu, giữa Mindanao, Borneo và Selebor.
8

“kĩ thuật hàng hải cổ đại đạt đến đỉnh cao vào khoảng thế kỉ V TCN khi những hình thuyền với
cỡ dáng to lớn, kiểu cong mũi, cong lái được khắc trên nhiều trống đồng Đông Sơn. Các thư
tịch cổ Trung Quốc từ thế kỷ III cũng xác nhận rằng các sư tăng Trung Hoa sang Ấn Độ thời
bấy giờ đều đi trên những thuyền được gọi là Côn Luân, bản dài đến 50 mét, trọng tải đến 600
trăm tấn, có thể chở hàng trăm người, có buồm lớn, buồm con… của các nước thương nghiệp
Đông Nam Á”.
9


Từ thế kỷ II, việc buôn bán bằng đường biển ở Đông Nam Á trở nên rất tấp nập. Nhiều
thuyền buôn nước ngoài đã lui lại tới khu vực này để mua gia vị, hương liệu. Cũng từ đó, bằng
đường biển, nhiều người phương Tây đã có mặt ở đây với tư cách là những nhà truyền đạo, nhà
địa lý, nhà ngoại giao hay nhà du hành. Ngày nay, Đông Nam Á đã thực sự trở thành một trong
những điểm giao lưu quốc tế quan trọng bậc nhất của thế giới.
7. Trên đây là những thuận lợi, những điểm mạnh về điều kiện tự nhiên của Đông Nam
Á. Nhưng ở bất kỳ nơi nào trên trái đất, bên cạnh những điều kiện thuận lợi cũng không thể
không gặp những khó khăn, trở ngại do thiên nhiên gây ra. Các nước như Indonesia,
Philippines thường có động đất, núi lửa, hàng năm gây thiệt hại không ít người và của. Nạn hạn
hán, lụt lội, sâu bệnh, bão gió,… cũng thường xảy ra ở nhiều nơi. Ngoài ra, mặc dù cũng có


7
Sakurai Yumio, 1996, tr.38-39.
8
Cao Xuân Phổ, 1994.
9
Ý của tác giả Pelliot P. Dẫn theo: Phan Ngọc Liên (chủ biên), 1997, tr.6.

14

nhiều đồng bằng nhưng nhìn chung, so với các đồng bằng ở vùng châu thổ sông Hằng, sông Ấn
thì đồng bằng Đông Nam Á vẫn thuộc loại nhỏ, do đó phần nào có ảnh hưởng đến quy mô sản
xuất lớn.
8. Ngoài ra có thể nhận thấy Việc không có được một quốc gia giữ vai trò trung tâm,
không có được một nền văn minh có ảnh hưởng bao trùm khu vực, không có được một hệ tư
tưởng hay tôn giáo lớn giữ vị trí chi phối đời sống văn hóa - xã hội là một trong những đặc
trưng dị biệt, cho thấy sự phong phú, sắc thái đa dạng nhưng cũng thể hiện “sự thiếu vắng”,
tầm mức, tính chưa phát triển hoàn chỉnh của văn hóa Đông Nam Á.
Phải chăng tính đa dạng, phong phú của môi trường tự nhiên và các yếu tố nhân văn

Đông Nam Á đã kiềm tỏa sức vươn lên của một trung tâm văn minh lớn [Karl Marx: Một thiên
nhiên quá ư hòa phóng sẽ dắt tay người ta đi qua lịch sử như dắt tay những đứa trẻ mới tập
đi….] hay trong tiến trình lịch sử, đã có những dạng thức thức phát triển trội vượt, những đế
chế lớn mang tính khu vực nhưng cuối cùng vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nội
sinh và ngoại sinh, các đế chế đó cũng bị suy thoái và tan vỡ để trở về trạng thái cổ sơ của 1
Đông Nam Á với nhiều dạng thức và tầng nấc phát triển khác nhau.
****
Nhìn một cách tổng thể, thiên nhiên Đông Nam Á khá thuận lợi cho cuộc sống của con
người, nhất là cho cuộc sống của con người trong buổi đầu lịch sử nhân loại. “Không gian sinh
tồn ở đây tuy nhỏ, hẹp nhưng lại rất phong phú, đa dạng: con người có thể khai thác ở thiên
nhiên đủ loại thức ăn đề sinh tồn… Những mùa mưa ổn định với khí hậu không quá gay gắt về
cả nhiệt độ và lượng mưa, địa bàn sinh tụ nhỏ nhưng hết sức phong phú, đa dạng kết hợp rừng-
suối, đồi-ruộng, có biển, có đồng bằng, đã tạo nên những không gian lý tưởng cho cuộc sống
của con người thời cổ. Điều đó giải thích vì sao, từ rất cổ xưa, con người đã đến đây sinh
sống”.
10

1.2. Nguồn gốc các dân tộc ở Đông Nam Á
Đông Nam Á được các nhà khoa học coi là một trong những cái nôi của nhân loại.
“Ngay từ buổi đầu bình minh của lịch sử - Ja.V.Chesnov viết - Đông Nam Á đã là một trong
những cái nôi hình thành loài người. Đây chính là địa bàn hình thành đầu tiên của đại chủng
phương nam”.
11
Người ta đã tìm được những dấu vết khảo cổ học thể hiện quá trình chuyển
biến từ vượn thành người ở khu vực này, chẳng hạn dấu vết hóa thạch vượn bậc cao ở
Pondaung (Myanmar) có niên đại 40 triệu năm và vượn khổng lồ (Meganthropus
paleojavanicus) ở Java (Indonesia) sống cách đây khoảng 5 triệu năm. Cũng tại Indonesia, trên
đảo Java, các nhà khảo cổ học còn phát hiện được nhiều mảnh sọ, hàm dưới và hàm trên hóa
thạch của dạng người mà giới khoa học gọi là Pitekantrov có niên đại cách đây khoảng 2 triệu
năm. Đó là dấu vết xưa nhất về giống người cổ tại khu vực Đông Nam Á. Những dấu tích của

một số dạng Pitekantrov muộn hơn, sống trong thời gian cách đây khoảng từ 500.000 đến
900.000 năm, cũng được phát hiện tại Java. Những kết quả khai quật ở hàng loạt địa điểm khác
nhau ở Đông Nam Á như Patdtan (Indonesia), Tampan (Malaysia), Kabaloan (Philippinnes),
Anyath (Myanmar), Pingnoi (Thái Lan), hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn, Việt


10
Phan Ngọc Liên (chủ biên), 1997, tr.16.
11
Dẫn theo Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.60.
15

Nam), núi Quan Yên (Xuân Lộc), núi Đọ (Thanh Hóa), Hang Giòn - Dầu Giây (Đồng Nai),…
đã tìm thấy di cốt và những công cụ đồ đá của người tối cổ Đông Nam Á.
Những dấu vết về giai đoạn Neandectan trong thời trung kì đồ đá cũ còn được lưu giữ lại
ở Việt Nam, Indonesia,… chẳng hạn, răng người ở hang Thẩm Òm (Nghệ Tĩnh), hang Hùm
(Lào Cai) có niên đại khoảng 10 vạn năm, di cốt người cổ trên bờ sông Solo ở Java.
Tại hang Niah (Sarawak, Malaysia) người ta đã phát hiện ra xương sọ của một người
sống cách đây khoảng 396.000 năm. Và tại hang Tabon (Philippines) cũng tìm được chỏm sọ
của Người tinh khôn (Homo Sapiens) có niên đại 30.500 năm. Điều này, đúng như các tác giả
của cuốn “Lược sử Đông Nam Á” nhận xét: “cho thấy quá trình chuyển biến từ vượn thành
người ở Đông Nam Á là liên tục và trực tiếp, đồng thời đây cũng là niên đại Homo Sapiens
sớm nhất hiện nay trên thế giới”.
12

Tại Việt Nam, các nhà khảo cổ học đã tìm ra dấu vết hóa thạch của Người tinh khôn
(Homo Sapiens) ở Lạng Sơn, Ninh Bình. Đồng thời các mảnh di cốt này là nền văn hóa Sơn Vi
thuộc hậu kỳ đá cũ, được phân bố suốt từ Lào Cai đến Bình Trị Thiên. Người Sơn Vi sống chủ
yếu trên các đồi, gò của vùng trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và các hang động núi đá vôi. Kĩ
nghệ đá tương đương còn có ở nhiều nơi khác thuộc Đông Nam Á như Maros, Puso

(Sulawesi), Sungs Mas (Sumatra), Tabon, Espinoza (Philippines),…
Cùng với sự có mặt của Người tinh khôn là sự xuất hiện của các tộc người Đông Nam Á.
Vào thời đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm về trước) có một dòng người thuộc chủng
Mongoloid từ vùng lục địa châu Á (Tây Tạng) di cư về hướng Đông Nam và dừng lại ở khu
vực mà nay gọi là bán đảo Trung Ấn. Tại đây đã diễn ra sự hợp chủng giữa họ với cư dân
Melanesien (còn gọi là Mã Lai cổ) với nước da ngăm đen, tóc quăn dợn sóng, tầm vóc thấp. Từ
đây lan tỏa ra, người Indonesien cư trú trên toàn bộ địa bàn Đông Nam Á cổ đại. Đó là một
vùng rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử, phía tây tới bang Assam của Ấn Độ, phía đông tới
vùng quần đảo Philippines và phía nam tới các hải đảo Indonesia.
13
Chủng Indonesia chính là
những người mà Nguyễn Đình Khoa gọi là tiền Đông Nam Á. Từ chủng này, trải qua hàng
nghìn năm lịch sử, lại được phân thành hai chủng mới là Austroasiatique và Austronesien.
Chủng Austroasiatique được hình thành vào cuối thời đá mới, đầu thời đại đồ đồng. Khu vực
cư trú của họ là vùng nam Trung Hoa và bắc bán đảo Trung Ấn (từ nam sông Dương Tử đến
lưu vực sông Hồng Hà). Chủng Austroasiatique là kết quả của sự hợp chủng giữa Indonesien
(tiền Đông Nam Á) với Mogoloid. Với chủng Austroasiatique, các nét đặc trưng Mongoloid lại
càng nổi trội, vì vậy nó được coi là ngành Mongoloid phương nam. Về sau, Bách Việt đã được
sinh ra từ chủng này. Chủng Austronesien được hình thành ở phía nam, dọc theo dải Trường
Sơn và tiếp về phía hải đảo. Đó là những tộc người nói ngôn ngữ Nam Đảo hiện nay. Đây cũng
chính là “tổ tiên” của các dân tộc Chăm (Chàm), Raglai. Êđê, Giarai, Churu,… ở Việt Nam.
Bức tranh về các dân tộc ở Đông Nam Á ngày nay cực kỳ đa dạng song, xét về nguồn gốc, hầu
hết chúng đều bắt nguồn từ một gốc chung, đó là chủng Indonesien. Chính điều đó đã tạo nên
tính thống nhất trong sự đa dạng của con người và văn hóa Đông Nam Á.



12
Phan Ngọc Liên (chủ biên), 1997, tr.17.
13

Nguyễn Đình Khoa, 1976, tr.160; Đinh Gia Khánh, 1993, tr.40; Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.61; và các tác giả khác.
16

CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích đặc điểm của các yếu tố về điều kiện tự nhiên, sinh thái, nhân văn, lịch sử của
khu vực Đông Nam Á?
2. Yếu tố biển có vai trò như thế nào đối với sự hình thành văn hóa Đông Nam Á?

17

CHƯƠNG II: TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á

Như trên đã nói, từ xa xưa, Đông Nam Á đã được coi như một khu vực địa lý quan trọng.
Tuy nhiên, mãi đến những năm đầu thế kỉ XX, người ta vẫn chưa nhận thức được là có một
khu vực văn hóa Đông Nam Á thống nhất. Đúng như giáo sư Đinh Gia Khánh đã nhận xét:
“Khi xem xét văn minh của châu Á, ngoài các nền văn minh Lưỡng Hà và Ba Tư, thì trước kia
các nhà khoa học phương Tây mới chỉ nhận diện một cách tương đối rõ các nền văn minh
Trung Hoa và Ấn Độ. Vì bị thu hút quá nhiều bởi sự phong phú và độc đáo của hai nền văn
minh này mà trong một thời gian lâu dài họ không chú ý đúng mức tới các nền văn minh ở phía
đông nước Ấn Độ và ở phía nam nước Trung Hoa. Các nền văn minh ở đó, tức là của các nước
ở khu vực Đông Nam Á, giữa hai nước lớn ấy, đã từng bị người phương Tây coi là các bộ phận
ngoại vi và phụ thuộc của văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ”.
14
Ngay những cái tên mà
người phương Tây đặt ra cho các nước ở khu vực này cũng đã phản ảnh khá rõ quan niêm của
họ, hay nói đúng hơn là nhận thức không rành mạch của họ về Đông Nam Á, chẳng hạn
Indeexterieure (ngoại Ấn), Indochina, Indochine (Ấn Độ - Trung Quốc: bao gồm Myanmar,
Thái Lan, Lào, Cămpuchia, Việt Nam, bán đảo Mã lai), Indonesia (Ấn Độ + đảo, nghĩa là các
đảo của Ấn Độ).
Có lẽ người đầu tiên chứng minh được rằng có một cơ tầng văn hóa bản địa Đông Nam Á

là học giả Pháp G.Coedès “Quan điểm của ông có cơ sở từ các thành tựu của khảo cổ học,
ngôn ngữ học, dân tộc học, sử học, văn học nghệ thuật, do đó mang đầy tính thuyết phục. Có
thể nói, sau hai công trình nổi tiếng “Lịch sử cổ các quốc gia Ấn Độ hóa vùng Viễn Đông”
(1994) và “Các cư dân của bán đảo Trung Ấn” (1962), việc coi Đông Nam Á là một khu vực
văn hóa riêng biệt, khác với Trung Hoa và Ấn Độ, coi như đã được chấp nhận. Cũng từ đó,
nhiều nhà khoa học Pháp, Áo, Anh, Mĩ,… đã đưa ra nhiều bằng chứng khoa học khẳng định
quan điểm trên.
Những đặc điểm chung của khu vực Đông Nam Á mà G.Coedès đã dẫn ra như sau:
15

- Về phương diện vật chất: làm ruộng cấy lúa, nuôi trâu bò, dùng đồ kim khí thô sơ, giỏi
bơi thuyền.
- Về phương diện xã hội: địa vị quan trọng của người phụ nữ, huyết tộc mẫu hệ, tổ chức
xã hội theo nhu cầu tưới nước cho đồng ruộng.
- Về phương diện thần thoại: đối lập vũ trụ luận giữa núi và biển, giữa loại phi cầm với
loại thủy tộc, giữa người thượng du với người hạ bạn.
- Về phương diện tôn giáo: thuyết vạn vật hữu linh (mọi vật đều có linh hồn), thờ phụng
tổ tiên và thờ thần đất, đặt đền thờ ở những chỗ cao, chôn người chết trong các chum, vại hay
các trắc thạch.
- Về phương diện ngôn ngữ: dùng những tiếng đơn âm.
Đồng thời với việc xem xét “cái nôi” văn hóa Đông Nam Á là việc tìm “chỗ đứng” cho
văn hóa Việt Nam. Đây cũng là một vấn đề gây nhiều tranh luận.


14
Đinh Gia Khánh, 1993, tr.20-21.
15
Dẫn theo: “Hùng Vương dựng nước”, tập IV, 1974, tr.376
18


Arnold Toynbee,
16
đã coi Việt Nam là một trong số 18 nền văn minh đang còn tồn tại và
xếp nó vào cùng loại với văn minh Trung Hoa, văn minh Nhật Bản, văn minh Triều Tiên. Ông
còn coi cả ba nền văn minh Nhật, Triều, Việt đều mô phỏng văn minh Trung Hoa và văn minh
Trung Hoa là ngọn nguồn, là trung tâm còn ba nền văn minh kia là “những nền văn minh vệ
tinh”.
Một học giả khác, ông Leon Vandermeersch, giám đốc trường Viễn Đông bác cổ Pháp,
thì coi Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên thuộc về vùng thế giới Trung Hoa hóa (le monde
Sinisé), nghĩa là bị Trung Hoa đồng hóa.
17

Nói chung, một số học giả phương Tây thường xếp văn hóa Việt Nam vào một vùng
được gọi là văn hóa Đông Á và Việt Nam được coi là “đồng văn” (cùng chung văn hóa, văn
minh) với Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên.
Khác với một số học giả phương Tây, các nhà khoa học Việt Nam những năm gần đây,
bằng nhiều cứ liệu khoa học, đã chứng minh được rằng trong quá trình giao lưu với khu vực,
văn hóa Việt Nam sau này đã trở nên gắn bó mật thiết với văn hóa Trung Hoa, tiếp thu khá
nhiều thành tựu từ văn hóa Trung Hoa (cũng như từ văn hóa Ấn Độ và các nước phương Tây)
nhưng từ trong cội nguồn thì không gian văn hóa Việt Nam được định hình trên nền của không
gian văn hóa Đông Nam Á.
Đông Nam Á ngày nay, xét về mặt lãnh thổ, như trên đã nói, bao gồm mười nước. Tuy
nhiên, trong thời kỳ tiền sử, Đông Nam Á không chỉ bao gồm khu vực nói trên mà rộng hơn
nhiều. Không gian văn hóa Đông Nam Á tiền sử thực ra còn bao hàm cả vùng Hoa Nam của
Trung Quốc và một phần Ấn Độ hiện nay. Như vậy vùng văn hóa Đông Nam Á tiền sử phía
bắc tới bờ nam sông Dương Tử, phía tây tới biên giới bang Assam của Ấn Độ, phía đông tới
các quần đảo Philippines và phía nam tới tận quần đảo Nam Dương (Indonesia). Với một
không gian như thế, Việt Nam nằm gọn ở trung tâm của Đông Nam Á, nó mang đầy đủ những
đặc trưng của văn hóa Đông Nam Á bản địa.
Cùng sinh ra và phát triển trên một khu vực địa lý, cư dân Đông Nam Á đã sang tạo ra

một nền văn hóa bản địa riêng biệt, độc đáo, có cội nguồn chung từ thời tiền sử và sơ sử, trước
khi tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ. Nền văn hóa mang tính khu vực thống nhất đó
được phát triển liên tục trong suốt chiều dài lịch sử cho đến tận ngày nay.
2.1. Văn hóa Đông Nam Á thời kỳ tiền - sơ sử
Giai đoạn bản địa của văn hóa Đông Nam Á có thể tính từ khi con người bắt đầu hình
thành ở khu vực này cho đến khoảng thế kỷ I TCN. Đây là giai đoạn hình thành, phát triển và
định vị của văn hóa Đông Nam Á bản địa, do đó nó có vai trò cực kỳ quan trọng trong suốt quá
trình phát triển sau này. Giai đoạn này có thể phân chia thành hai thời kì: thời kì tiền sử và thời
kì sơ sử. Thời kì tiền sử được tính từ đầu cho đến cuối thời đại đá mới. Thời kì sơ sử cách đây
khoảng 4000 năm.
2.1.1. Văn hóa Đông Nam Á thời tiền sử
Là một trong những cái nôi của nhân loại, như đã trình bày trong phần mở đầu, người
vượn (Homo-Erectus) xuất hiện ở Đông Nam Á khá sớm (cách đây khoảng 400.000 - 500.000


16
Arnold Toynbee, Nghiên cứu lịch sử một cách thức diễn giải, Nxb Thế giới, 2003, tr.45.
17
Xin xem: Đinh Gia Khánh, 1973, tr.26-27.
19

năm). Mở đầu cho nền văn hóa tiền sử Đông Nam Á là giai đoạn mà các cư dân nguyên thủy
Đông Nam Á sử dụng mảnh tước (mảnh ghè) làm công cụ lao động. Đây là những công cụ đá
rất thô sơ nhưng đã có sự gia công ghè đẽo của con người. Hàng vạn mảnh ghè như vậy đã
được tìm thấy ở Indonesia, Philippines, Thái Lan, Myanmar,… Ở Malaysia, những công cụ
bằng đá cuội được G.de Sieveking và D.Walker phát hiện ở Kota Tampan. Tại đây hai nhà
khoa học đã tìm thấy 165 công cụ chế tác từ viên cuội và 89 công cụ chế tác từ mảnh tước. Ở
Việt Nam, khu vực Núi Đọ (Thanh Hóa) được coi là tiêu biểu nhất về sự lưu giữ loại công cụ
này. Tại đây, các nhà khoa học còn tìm được một số rìu tay bằng đá được chế tác khá công
phu.

Người tinh khôn (Homo-Sapiens) ở Đông Nam Á xuất hiện từ khoảng 20 đến 15 nghìn
năm TCN. Người tinh khôn sống thành bộ lạc, biết săn bắt, hái lượm và chế tác công cụ lao
động từ đá cuội. So với mảnh tước giai đoạn trước, các công cụ đá cuội từ thời kì này đã có
một bước tiến mới trong kĩ thuật chế tác và có nhiều hình loại ổn định.
18
Người tinh khôn
Đông Nam Á sinh sống trên các đồi gò hoặc một số hang động. Ở Việt Nam, thời kỳ này được
gọi là văn hóa Sơn Vi. Theo giáo sư Hà Văn Tấn, người Sơn Vi đã có tư duy phân loại. Tư duy
phân loại của được thể hiện qua sự lựa chọn nguyên liệu đá và trong sự đa dạng của các loại
hình công cụ.
Người nguyên thủy Đông Nam Á đã biết dùng lửa. Thức ăn chủ yếu của họ là nhuyễn
thể, cây, quả, hạt và một số động vật vừa và nhỏ.
19
Những bộ sưu tập về thời đồ đá cũ được tìm
thấy khá nhiều ở Thái Lan, chẳng hạn, bộ sưu tập của H.R.Van Heckeren ở bậc thềm cao nhất
của sông Kwae gồm sáu công cụ bằng đá cuội được chế tác thành những chopper (công cụ chặt
đập thô, ghè đẽo một mặt hay tiền rìu tay), bộ sưu tập của K.G. Heider gồm 104 chế phẩm cuội
cũng ở địa điểm trên, các bộ sưu tập khác nữa như các di chỉ đá cũ ở Chande A và Tamanao, ở
Đồi Cum, v.v.
20
Tại Indonesia, người ta đã tìm được rất nhiều công cụ bằng đá thuộc thời kì sơ
kỳ đá cũ mà tiêu biểu là văn hóa Patritan. Những công cụ này được tìm thấy ở trung Java,
Sumatra, Bali và Kalimanta mà loại công cụ tiêu biểu nhất cũng là chopper. Ở giai đoạn muộn
hơn thì có văn hóa Sangiran (ở Jawa) và văn hóa Trabenjer (nam Sulavesi) thuộc trung kỳ đá
cũ.
21
Từ thời kì đồ đá cũ, người nguyên thủy Đông Nam Á bước vào thời kỳ đồ đá giữa cách
đây khoảng 10.000 năm, với những thay đổi vô cùng quan trọng. Đó là quá trình hợp chủng
giữa người Monggoloid với người Melanesien (thuộc đại chủng Australoid) tạo ra chủng
Indonesien-tiền Đông Nam Á. Vào thời kỳ này, kỹ thuật chế tác đá được hoàn thiện và đạt đến

đỉnh cao, đặc biệt là những viên cuội được ghè đẽo trên cả hai mặt, rìu đá cuội có lưỡi ở một
đầu. Hơn thế nữa, cư dân chủng Indonesian còn biết sử dụng các nguyên liệu khác như đất sét,
sừng, xương, tre, gỗ,… Tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất cho văn hóa đồ đá giữa ở Đông Nam Á
là văn hóa Hòa Bình. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà khoa học trên thế giới khi nghiên cứu
văn hóa Đông Nam Á tiền sử đã lấy các địa điểm của nền văn hóa mà các dữ kiện vật chất
được tìm thấy ở Hòa Bình Việt Nam làm tiêu chuẩn để xem xét và sắp xếp các nền văn hóa đồ
đá giữa ở toàn bộ vùng Đông Nam Á. Kỹ thuật đá Hòa Bình có mặt ở nhiều nơi ở khắp vùng
Đông Nam Á: Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia,… do đó văn hóa Hòa Bình là văn hóa
chung của Đông Nam Á. “Ông Aung Thaw, giám đốc vụ Khảo cổ học Myanmar, năm 1969 đã


18
Trần Quốc Vượng (chủ biên), 1977, tr.72.
19
Trần Quốc Vượng (chủ biên), 1997, tr.73.
20
Vũ Công Quý, 1994b, tr.10-13
21
Ngô Văn Doanh, Nguyễn Huy Hồng, Nguyễn Đức Ninh, Phạm Thị Vinh, 1987, tr.18.
20

đào được một số dụng cụ rất đáng chú ý về văn hóa Hòa Bình trong các hang Padh Lin ở phía
đông Myanmar. Ngoài nhiều vật dụng, ông còn tìm được cả những hình vẽ trên vách hang.
Như vậy, đây là vùng cực tây của nền văn hóa Hòa Bình đã được phát hiện”.
22

Cư dân chủng Indonesien thời văn hóa Hòa Bình thường sống ở các cửa hang động,
thung lũng đá vôi thoáng đãng. Họ biết thuần dưỡng động vật và cây trồng. Trong một số di chỉ
văn hóa Hòa Bình, các nhà khoa học đã tìm thấy một số quả và hạt của nhiều loại cây thuộc họ
bầu bí, rau đậu được coi là đã thuần dưỡng. “ở xa phía bắc Thái Lan gần với biên giới

Myanmar, Chester Gorman-một sinh viên ở Đại học Hawaii đã tìm thấy hang thần… Khi đào
nền hang, Gorman phát hiện thấy những mảnh cây đã hóa than, cùng với hai hạt đậu,… một hạt
dẻ, một hạt tiêu sọ, nhiều mảnh bí và dưa leo cùng với nhiều đồ dùng bằng đá rất đặc biệt của
vùng Hòa Bình”.
23
Như vậy, mặc dù hái lượm và săn bắt vẫn là phương thức sống chủ yếu của
nhân chủng Indonesien song một nền nông nghiệp sơ khai cũng đã xuất hiện vào thời đại văn
hóa Hòa Bình. Lúc đầu người ta trồng các loại củ như khoai môn, khoai sọ và những loại quả
như bầu, bí, đậu. Đúng như Wilhelm G. Solheim II nhận xét : “Tôi đồng ý với Sauer rằng sắc
dân Hòa Bình ở một vùng nào đó trong khu vực Đông Nam Á là giống người biết trồng cây
trước tiên trên thế giới”.
24
Như vậy, có thể coi Đông Nam Á là nơi có cuộc cách mạng nông
nghiệp sớm nhất thế giới.
Sau thời đại đồ đá giữa, người tiền sử Đông Nam Á bước vào thời đại đồ đá mới, cách
đây khoảng 5000 năm. Điểm nổi bật trong thời đồ đá mới là con người đã biết làm đồ gốm. Ở
Việt Nam, nền văn hóa đặc trưng cho thời kỳ này là văn hóa Bắc Sơn, ở đó người ta tìm được
nhiều công cụ đá có mài lưỡi. Rìu mài lưỡi kiểu Bắc Sơn còn có ở hang Kepah, núi Cheoh, thị
xã Tongkat, đồi Chuping, hang Kajang, hang Kechil (Malaysia), ở Kendang Lambu (Jawa,
Indonesia). Ở hang Madu (Kelanta, Malaysia) người ta tìm được 500 công cụ ghè đẽo. Có thể
nói, rìu mài lưỡi ở Đông Nam Á là công cụ đá mài sớm nhất thế giới. Theo một số tác giả,
25

vào thời đại đồ đá mới, kỹ thuật mài, khoan, cưa đá đã được phổ biến ở khắp Đông Nam Á. Vì
thế “ngay cả ở những khoảng cách khá xa, chúng tôi cũng có thể tìm ra những điểm giống nhau
về kỹ thuật. Chẳng hạn sự giống nhau giữa xưởng chế tác rìu Đông Khối và các xưởng chế tác
rìu ở Java. Còn kỹ thuật khoan, tách lõi thì quả là đã phân bố rất rộng, từ Nam Trung Quốc cho
đến Indonesia. Các kỹ thuật chế tác đá như mài, khoan có lẽ đã lan truyền từ vùng lục địa đến
vùng hải đảo mà trước đây kỹ thuật mảnh ghè đẽo đã phổ biến”.
26


Ở Thái Lan, thuộc thời kỳ văn hóa Bắc Sơn của Việt Nam có thể kể đến di chỉ Sai Yok
(với 1500 công cụ thu được) và di chỉ Thẩm Phi. Tại Thẩm Phi, người ta còn tìm thấy hạt của
các loại cây như cau, tùng, tràm, mận, bầu, dưa, mướp, hồ tiêu,
Với việc làm đồ gốm, cư dân Đông Nam Á đã chuyển sang kinh tế sản xuất chứ không chỉ
là kinh tế khai thác thiên nhiên như trước đây. Rõ ràng đây là một bước chuyển rất có ý nghĩa
trong đời sống của họ.
Cư dân Đông Nam Á thời đại đồ đá mới đã biết tìm đến những nơi ở thuận lợi cho cuộc
sống của mình. Người ta không chỉ sống ở các hang động như trước mà còn lấn dần ra các


22
Wilhelm G. Solheim II, 1971.
23
Wilhelm G. Solheim II, 1971.
24
Wilhelm G. Solheim, 1971.
25
Xin xem, ví dụ, Phan Ngọc Liên (chủ biên), 1997, tr. 25.
26
Hà Văn Tấn, 1994, tr. 26.
21

vùng ven biển. Nghề đánh cá từ đó được phát triển. Các cụm dân cư trở nên đông đúc hơn, ổn
định hơn do sự quy tụ không chỉ đơn thuần là những người cùng dòng máu.
Một điều đặc biệt nữa là ở thời kỳ này đã có dấu hiệu của nền nghệ thuật hội họa. Đó là
những hiện vật xương có vết khắc hình cá, hình thú, là những hoa văn, kí hiệu biểu thị mặt trời
được vẽ trên mặt gốm,… Một số tín ngưỡng nguyên thủy cũng đã xuất hiện ở thời kỳ tiền sử
Đông Nam Á.
2.1.2. Văn hóa Đông Nam Á thời sơ sử

Thời kì sơ sử, cách đây khoảng 4.000 năm, cư dân Đông Nam Á bước vào một thời kỳ
mới mà các nhà khoa học thường gọi là thời kì kim khí.
Ở thời kì này, đồ gốm vẫn tiếp tục được phát triển với chất lượng tốt hơn. Đá, gỗ, tre,
nứa, xương,… vẫn được con người sử dụng để chế tạo công cụ lao động và vũ khí. Tuy nhiên,
ở thời kỳ này, cái mà nhà khoa học quan tâm đến nhất chính là sự xuất hiện của các dụng cụ
bằng đồng. Chính vì thế thời kỳ này còn được gọi là thời đại đồ đồng.
Sống trong vùng khí hậu nhiệt đới, cư dân Đông Nam Á đã chuyển sang trồng lúa cạn ở
nương rẫy và lúa nước ở vùng thung lũng. Rồi từ việc thuần dưỡng ở thung lũng, cây lúa được
chuyển dần xuống vùng châu thổ thích nghi với vùng ngập nước. Ở thời đại đồ đồng, gắn liền
với quá trình trồng cấy là sự phát triển của các loại công cụ lao động bằng kim loại và công
việc chăn nuôi gia súc. Với sự xuất hiện của cuốc, xẻng, mai, thuổng, cày,… kĩ thuật canh tác
đã có một bước nhảy về chất so với các dụng cụ bằng đá trước đây. Năng suất lao động, vì thế
ngày càng được nâng cao. Công việc chăn nuôi được đẩy mạnh, nhất là việc chăn nuôi trâu bò
dùng làm sức kéo. Ngoài ra, việc thuần dưỡng voi cũng được chú trọng ở một số vùng.
Nền văn hóa tiêu biểu của thời kỳ này là văn hóa Đông Sơn với hàng loạt trống đồng,
thạp đồng đủ các loại kích cỡ và với một nghệ thuật trang trí tuyệt tác. Có thể nói, với sự xuất
hiện của trống đồng Đông Sơn, kỹ thuật đúc đồng thau của cư dân Đông Nam Á đã vươn tới
đỉnh cao nhất. Công cụ đồng thau dĩ nhiên là không chỉ có ở Việt Nam. Người ta còn tìm thấy
chúng ở nhiều khu vực khác ở Đông Nam Á, chẳng hạn, ở Thái Lan, đồ đồng có ở bản Chiang,
Nonnokthà, bản Nadi, bản Dontaphet, hang Ongbah. Riêng ở Nonnokthà, trong lần khai quật
lần thứ nhất, người ta đã đào 88 mộ táng và thu được 22 vòng đồng thau, 1 rìu đồng thau và
nhiều thứ khác, còn trong lần khai quật thứ hai, với 132 mộ tang, người ta thu được 6 vòng
đồng thau, 3 rìu đồng thau, 4 nồi nấu đồng, Tuy nhiên, Việt Nam được coi là “cái nôi của đồ
dồng”. Trống đồng làm từ Đông Sơn đã được đem bán ra ở nhiều nước Đông Nam Á.
Do yêu cầu của việc chế tạo công cụ sản xuất, kĩ thuật luyện và rèn sắt cũng được phát
triển mà tiêu biểu nhất là đồ sắt Sa Huỳnh (Việt Nam). Tại đây, người ta đã tìm thấy trên 100
dụng cụ như dao, giáo, liềm, mai, lao, kiếm, Ngoài ra, hàng loạt ngành nghề khác như dệt
vải, làm mộc, đan lát, chế tác đá, làm thủy tinh, cũng đã ra đời ở thời kỳ này.
Ở thời đại đồ đồng, cư dân Đông Nam Á sơ sử thường sinh sống thành làng ở những nơi
đất cao và gần sông ngòi. Điều này chứng tỏ họ đã biết thích ứng với môi trường tự nhiên. Nhà

của cư dân vùng này là nhà sàn. Cách ăn mặc của họ gọn gàng, phù hợp với công việc lao
động: nam đóng khố, cởi trần còn nữ giới thí mặc yếm và váy. Việc đi lại được tiến hành chủ
yếu bằng thuyền. Sông và biển là những con đường giao thông huyết mạch cho sự giao lưu văn
hóa lúc đó.
22

Cư dân Đông Nam Á sơ sử cũng đã có một đời sống tinh thần và một trình độ nghệ thuật
khá phong phú, đa dạng. Điều đó còn được lưu giữ rất rõ trên các hoa văn, trong các nhạc cụ.
Vào thời kỳ này, các nhạc cụ như trống đồng, sênh, phách, khèn,… khá phát triển.
Bắt đầu từ thời kỳ sơ sử, nhiều nghi lễ, tín ngưỡng ra đời, gắn liền với công việc trồng
lúa nước nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung, như tục thờ thần Mặt trời, thờ thần
Nước, thần Đất, thần Lúa, Hàng loạt lễ hội dân gian cũng đã được tổ chức như đua thuyền,
thả diều, dâng lửa, vun thóc trên sân, Đây cũng là thời kỳ nảy sinh các thần thoại, huyền
thoại.
2.1.3. Những thành tựu chung của lớp văn hóa bản địa Đông Nam Á thời tiền sử và sơ
sử
Cùng sinh ra và lớn lên trên một khu vực địa lý, cư dân cổ đại Đông Nam Á đã tạo ra
một nền văn hóa bản địa có nguồn gốc chung, mang tính thống nhất cho toàn vùng, đó là một
nền văn hóa, văn minh đặc sắc với nghề nông nghiệp lúa nước là chủ đạo.
Nền văn hóa, văn minh đó phát triển liên tục trong lịch sử và là một phức thể văn hóa lúa
nước với ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa châu thổ và văn hóa biển, trong đó văn hóa châu thổ
giữ vai trò chủ đạo.
27
Hay như các giáo sư Trần Quốc Vượng và Cao Xuân Phổ nhận xét: Đó là
một “nền văn minh có đủ sắc thái đồng bằng, biển, nửa đồi, nửa rừng với đủ các dạng kết cấu
đan xen phức tạp… Nhưng mẫu số chung là văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, văn hóa
xóm làng”.
28

Các nhà khoa học đã khẳng định Đông Nam Á là một trong năm trung tâm xuất hiện cây

trồng. Nó “là một trong những trung tâm phát sinh nông nghiệp sớm nhất của nhân loại”.
29

Những thành tựu chủ yếu của nghề nông nghiệp Đông Nam Á thời tiền sử là:
- Trồng được lúa và các loại rau màu như bầu, bí, khoai sọ,…
- Thuần dưỡng được các loại gia súc như trâu bò, lợn gà.
- Làm được nhà để ở.
- Biết dung một số cây thuốc để chữa bệnh.
Vào thời đại đá mới, một thành tựu khác của nền văn hóa tiền sử và sơ sử Đông Nam Á
sau nghề trồng lúa nước, như đã nói, là sự xuất hiện của một nghề kim khí đặc biệt: nghề luyện
kim đồng, mà tiêu biểu nhất là đồ đồng Đông Sơn. Nghề luyện kim đồng, thực ra đã xuất hiện
trước cả nền văn hóa Đông Sơn rất lâu. Kỹ thuật luyện đồng Đông Sơn là sự phát triển kế tục
không ngừng của kỹ thuật luyện kim các giai đoạn văn hóa tiền Đông Sơn.
30

Một điều rất đặc biệt là ảnh hưởng của đồ đồng Đông Nam Á còn vượt rất xa ngoài khu
vực. Chesnov cho biết: “Gần đây nhất, việc phân tích kỹ thuật luyện kim ở những đồ đồng
vùng Kavkaz đã cho những kết quả thật bất ngờ rằng chúng ta đã chịu ảnh hưởng của những
trung tâm luyện kim vùng núi Đông Dương, nơi mà, theo những kết quả đào xới gần đây, đồng
đã tồn tại ít nhất là từ thiên niên kỷ thứ ba trước công nguyên”.
31



27
Xin xem: Phạm Đức Dương, 1993.
28
Trần Quốc Vượng - Cao Xuân Phổ, 1978.
29
Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, 1991, tr.20.

30
Hà Văn Tấn (chủ biên), 1994.
31
Dẫn theo Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.94.
23

Tóm lại, ngay từ buổi bình minh của lịch sử, Đông Nam Á đã trở thành một khu vực
đáng chú ý với nền văn minh nông nghiệp lúa nước và nghề luyện kim đồng nổi tiếng thế giới.
Nhận xét về những thành tựu của nền văn hóa Đông Nam Á, giáo sư nhân chủng học Mỹ W.G.
Soltheim II viết: “Những phát hiện mới đây ở khu vực Đông Nam Á bắt buộc chúng ta phải
xem xét lại… Những vật dụng đã được đào lên và đem phân tích trong vòng năm năm qua cho
thấy rằng cư dân ở đây đã biết trồng cây, làm đồ gốm và đúc đồ dùng bằng đồng sớm hơn tất
cả các vùng khác trên trái đất…sớm hơn các dân tộc Cận Đông, Ấn Độ và Trung Hoa tới hàng
mấy nghìn năm”.
32
Học giả Nga Ja.V.Chesnov cũng nhận xét: “Về hàng loạt phương diện của
văn hóa - từ sản xuất nông nghiệp cho đến lĩnh vực thần thoại - Đông Nam Á đã có những ảnh
hưởng lớn vượt rất xa ra ngoài ranh giới những láng giềng trực tiếp của nó…. Tất nhiên là
trong việc tạo nên những thứ như là cây lúa trồng, nghề luyện kim đồng hoặc những thành tựu
văn hóa khác, có sự tham gia không chỉ của những dân tộc riêng biệt - Đó là kết quả sáng tạo
của rất nhiều dân tộc lớn nhỏ đã tạo nên trong suốt chiều dài lịch sử nhiều nghìn năm của mình
cái thế giới độc đáo được gọi là Đông Nam Á”.
33

Những thành tựu trên đây chính là nền tảng, cơ sở rất vững chắc cho sự phát triển của
văn hóa Đông Nam Á trong các thế kỉ sau này.
2.2. Văn hóa Đông Nam Á từ buổi đầu lịch sử đến thế kỷ X
2.2.1. Bối cảnh văn hóa - lịch sử
Phạm vi của khu vực Đông Nam Á tiền sử, như đã nói lên đến tận bờ sông Dương Tử,
văn hóa Hán sau này vốn có cốt lõi đầu tiên là văn hóa Ngưỡng Thiều, hình thành ở lưu vực

sông Hoàng Hà. Nền văn hóa ấy khác với văn hóa phương Nam ở bờ nam sông Dương Tử -
tức văn hóa Đông Nam Á tiền sử mà chủ nhân của nó là những người “nam man” theo cách
gọi của Hoa tộc.
34
Sự kiện lịch sử quan trọng đầu tiên đối với cư dân Đông Nam Á trong buổi
đầu lịch sử là sự bành trướng của nhà Tần, nhà Hán xuống phương Nam. Đó là sự thôn tính
của đế quốc Tần, Hán đối với phần phía bắc Đông Nam Á tiền sử. Trước nạn ngoại xâm, cư
dân Đông Nam Á lúc đó bị đẩy dần xuống phía nam. Một số khác bị đẩy ra đảo (Hải Nam, Đài
Loan) hoặc là vào tận rừng sâu.
Trong tình hình đó, người Lạc Việt đã sớm tập hợp lại thành một liên minh bộ lạc. Đây
thực chất là một tổ chức “tiền quốc gia”, “tiền nhà nước”. Về sau liên minh bộ lạc ấy phát triển
thành nhà nước Văn Lang.
Đến thế kỷ thứ III TCN, người Âu Việt (cũng thuộc Bách Việt như Lạc Việt) và người
Lạc Việt hợp nhất với nhau thành nước Âu Lạc. Tuy nhiên, nhà nước non trẻ vừa mới ra đời đã
rơi vào tình trạng bị đô hộ. Năm 179 TCN, Triệu Đà vua nước Nam Việt, đánh đuổi An Dương
Vương, chiếm Âu Lạc, và sát nhập Âu Lạc vào Nam Việt, đồng thời chia Âu Lạc ra làm hai
quận: quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Đến năm 111 TCN, nhà Hán thôn tính nước Nam Việt.
Nước Âu Lạc vốn thuộc Nam Việt nên cũng bị thôn tính theo. Lúc này, bản thân Âu Lạc lại
được mang một tên mới là châu Giao Chỉ, dưới đó có 7 quận. Tính từ thời điểm đó đến mãi thế
kỷ thứ X, phần Đông Nam Á từ bờ nam sông Dương Tử đến núi Hoành Sơn (Đèo Ngang) đã bị
đế quốc Trung Hoa đô hộ.


32
Wilhelm G. Solheim II, 1971.
33
Dẫn lại qua: Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.95.
34
Đinh Gia Khánh, 1993, tr. 55.
24


Như vậy, ngay từ đầu công nguyên, phần đất phía bắc của Đông Nam Á đã bị sát nhập
vào Trung Quốc, trừ một vương quốc của người Thái là nước Nam Chiếu (sau đó là Đại Lí) ở
Tây Nam Trung Quốc (nay là Vân Nam).
Khi có sự bành trướng của nhà Tần xuống phía nam sông Dương Tử, cư dân Đông Nam
Á đã có nhiều cuộc chống trả song đều thất bại. Một số bị đồng hóa vào Hán tộc. Một số chạy
xuống phía nam. “Các cuộc di cư về phương nam của người Thái, người Lôlô, người Dao,
người Miêu đến các nước Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt Nam đã diễn ra như vậy từ đầu công
nguyên”.
35

Trong diễn trình lịch sử văn hóa Đông Nam Á, sự đô hộ của đế quốc Trung Hoa đối với
phần phía bắc của khu vực này có một sự tác động không nhỏ. Tuy nhiên, trong tiến trình lịch
sử văn hóa, đồng thời với xu hướng Hán hóa là xu hướng chống Hán hóa khá quyết liệt bởi lẽ
văn hóa Trung Hoa du nhập vào Đông Nam Á không phải bằng con đường hòa bình mà bằng
con đường chiến tranh xâm lược. Trong phần sau chúng ta sẽ xét kỹ về sự giao lưu văn hóa
Đông Nam Á - Hán trong thời kỳ này.
Một sự kiện văn hóa - lịch sử khác cũng có sự tác động đến văn hóa Đông Nam Á thời kỳ
này là ảnh hưởng của Ấn Độ. Ấn Độ có tác dụng rõ rệt đến sự hình thành các nhà nước cổ đại
Đông Nam Á
Cư dân Đông Nam Á ở những vùng thung lũng và đồng bằng, do yêu cầu phải chinh
phục thiên nhiên để trồng lúa nước (như làm thủy lợi), họ buộc phải liên minh với nhau. Liên
minh ấy ngày càng rộng lớn hơn, chặt chẽ hơn và dần dần trở thành những tổ chức tiền quốc
gia vững mạnh. Và các tổ chức tiền quốc gia ấy chắc chắn là phải có cơ sở ở sự phát triển của
thương mại giữa các khu vực rộng lớn với nhau. Sự phát triển thương mại ở vùng Đông Nam Á
vào những thế kỷ đầu công nguyên có liên quan chặt chẽ với Ấn Độ.
Lúc bấy giờ, để phục vụ cho nhu cầu của các hoàng đế đông và tây và của các tầng lớp
giàu có, việc buôn bán những sản phẩm quý như hương liệu, châu ngọc, tơ lụa, giữa Nam Á
và châu Âu ngày càng tấp nập. Các nhà buôn Ấn Độ đã đến vùng đất phía đông sông Hằng, tức
vùng Đông Nam Á, mua hương liệu, gia vị, long não, xạ hương, gỗ mun, để mang đi bán ở

các vùng Tiểu Á, Ba Tư và La Mã. Ngoài ra, họ còn đến vùng Đông Nam Á để tìm vàng (Đông
Nam Á, như đã nói, được gọi là Suvannabhumi nghĩa là “bán đảo vàng”). Chính vì thế đã nảy
sinh mối quan hệ giao lưu Ấn Độ - Đông Nam Á. Và cũng chính vì sự có mặt của cư dân Ấn
Độ ở đây mà bản thân các bộ lạc, các liên minh bộ lạc Đông Nam Á có điều kiện liên kết với
nhau, tạo ra một điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự ra đời của một loạt nhà nước sơ khai Đông
Nam Á. Có thể nói, sự hình thành các quốc gia Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng không ít của
văn hóa Ấn Độ (ở phía nam) và văn hóa Trung Quốc (ở phía bắc).
Ở phía nam Đông Nam Á lục địa, từ khoảng đầu công nguyên đến thế kỷ thứ VII đã ra
đời một loạt nhà nước sơ khai, trong đó có những nhà nước khá mạnh như vương quốc Phù
Nam mà thủ đô là Vyadhapura (ở Preivieng, Cămpuchia ngày nay) bao gồm chủ yếu là các
thành thị thương cảng ở ven biển mà quan trọng nhất là Óc Eo, Takkola và Ligor ở eo biển
Malacca (nay là nam Thái Lan), hoặc là vương quốc Chămpa (Chiêm Thành) với các thành thị
ven biển như Indrapura (Quảng Nam - Đà Nẵng), Kauthara (Khánh Hòa) và Panduranga (Phan


35
Đinh Gia Khánh, 1993, tr. 62.

25

Rang). Nếu như Âu Lạc ở phía bắc được coi là nhà nước hình thành do nhu cầu kiểm soát giao
thông đường bộ thì các nhà nước như Phù Nam, Chămpa, ở ven biển Đông lại là những nhà
nước được hình thành do nhu cầu kiểm soát đường giao thông trên biển.
Từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ VII còn có nhiều quốc gia khác xuất hiện ở khu vực
Đông Nam Á. Ở phần lục địa, cộng đồng Môn xây dựng đến mấy quốc gia: Pegu (Hamsawati),
Thaton (Sudhanmawati), Xích Thổ. Trên bán đảo Mã Lai xuất hiện nhà nước Tumasik (khu
vực bang Johor và Singapo ngày nay), nhà nước Melayu (khu vực đảo Sumatra ngày nay), nhà
nước Taruma (trên đảo Jawa). Vương quốc Taruma ngay từ thế kỷ thứ IV đã có quan hệ buôn
bán mật thiết với Ấn Độ và Trung Quốc.
Trên đây là những nét sơ lược về các quốc gia Đông Nam Á được hình thành từ đầu công

nguyên đến thế kỷ thứ VII. Tuy nhiên, vào các thế kỷ sau, do các cuộc chiến tranh danh sách
và biên giới các quốc gia có sự thay đổi.
Đến thế kỷ thứ VII, nước Vạn Xuân bị nhà Tùy thôn tính. Nước Phù Nam cũng sụp đổ và
nhường chỗ cho một quốc gia mới là Chân Lạp.
Trên đảo Sumatra, thay thế cho Melayu là quốc gia mới Srivijaya. Quốc gia này làm chủ
toàn bộ eo biển giữa Sumatra và Malacca. Trên đảo Java, quốc gia Kalinga được hình thành.
Đến cuối thế kỷ thứ VIII, quốc gia này chinh phục cả đảo Bali.
Nói chung, đến thế kỷ thứ X, tất cả các quốc gia Đông Nam Á đều bắt đầu đi vào thế ổn
định, để ngay sau đó bước vào thời kỳ phát triển cực thịnh trên toàn vùng.
Trong một bối cảnh như trình bày, văn hóa Đông Nam Á thời kỳ này mang tính chất đa
dạng: một mặt vừa giữ gìn, phát triển bản sắc, truyền thống văn hóa bản địa, mặt khác vừa tiếp
thu những cái mới của hai nền văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ. Trong sự giao lưu văn hóa với
nước ngoài, bao giờ cũng tồn tại hai xu hướng đối lập nhau: chống đối và tiếp thu. Chống đối
là để Đông Nam Á không bị đồng hóa, tiếp thu là để làm giàu thêm, phong phú thêm cho nền
văn hóa bản địa. Không thể phủ nhận rằng những ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Trung
Quốc đối với Đông Nam Á là khá toàn diện và sâu sắc. Nó được biểu hiện trên nhiều lĩnh vực:
tôn giáo, chữ viết, văn chương, nghệ thuật, điêu khắc, kiến trúc, Và cũng cần nói thêm rằng
ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đến Đông Nam Á thì nhiều nhất, nếu không nói là chủ
yếu, là vào bắc bán đảo Trung-Ấn. Trái lại, ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ thì chủ yếu lại thể
hiện rõ hơn ở các vùng nam bán đảo Trung-Ấn, phía tây và phía nam của Đông Nam Á.
Tuy vậy Đông Nam Á không trở thành chiến trường văn hóa giữa Trung Hoa và Ấn Độ.
Ví dụ như trong khía cạnh tôn giáo, không hề có sự kình địch giữa Trung và Ấn để lưu giữ
những nét văn hóa của mình ở Đông Nam Á. Ngược lại, Trung Quốc đi theo đạo Phật, tôn giáo
được truyền từ Ấn Độ qua Trung Á vào thời Đông Hán, thế kỷ I SCN. Trong suốt thiên niên kỷ
đầu tiên, các học giả và tín đồ từ Trung Hoa cũng như Đông Nam Á đều ghé thăm đền đài và
trường học Ấn Độ. Nhiều học giả và tín đồ Trung Quốc còn dừng chân giữa chặng ở Borneo
hay Sumatara để học tiếng Sankrit và Pali trước khi đến Ấn Độ học lên bậc cao hơn. Trong giai
đoạn này cả Trung Hoa và Ấn Độ đều chịu ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ.
Phủ lên cơ tầng bản địa Đông Nam Á là sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa.
Nhờ nền tảng sẵn có, văn hóa bản địa chưa bao giờ đánh mất bản sắc của mình, ngay cả khi

giữa chúng có “sự tương đồng chủng tộc” xuất phát từ cơ sở vay mượn Ấn Độ là chủ yếu. Văn
hóa Ấn Độ và Trung Quốc thâm nhập sâu rộng từ khoảng đầu công nguyên, hai đến ba thế kỷ

×