Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô thị thành phố hà tĩnh, tỉnh hà tĩnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (827.19 KB, 93 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ TUẤN MINH
NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
VỚI QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SỸ
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lương Văn Hinh
Thái Nguyên - năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Đề tài “Nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất với quy
hoạch xây dựngđô thị thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh” là công trình nghiên
cứu của cá nhân tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn này là hoàn toàn
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu
nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều có xuất
xứ, nguồn gốc cụ thể. Việc sử dụng các thông tin này trong quá trình nghiên cứu
là hoàn toàn hợp lệ.
Tác giả
Lê Tuấn Minh
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân thành biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo, Phó giáo sư tiến sỹ
Lương Văn Hinh đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
Luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Khoa Quản lý tài nguyên –
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy, cô thuộc Bộ môn
Quy hoạch đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn.
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo và cán bộ thuộc Phòng Quản lý đào tạo


sau đại học – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi và giúp đỡ tôi thực hiện hoàn thành Luận năn.
Tôi xin cảm ơn các cơ quan chức năng và cá nhân có liên quan thuộc
thành phố Hà Tĩnh đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
nghiên cứu đề tài; xin cảm ơn các anh, chị đồng nghiệp và các bạn học viên cao
học ngành Quản lý đất đai Khóa 19 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
Luận văn; xin cảm ơn bạn bè tôi, những người thân trong gia đình tôi đã luôn
cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Lê Tuấn Minh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BXD
Bộ Xây dựng
BTNMT
Bộ Tài nguyên Môi trường
GIS
Hệ thống thông tin địa lý
TW
Trung ương
TT
Thông tư
UBND
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Tình hình công tác lập quy hoạch và mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng
đất và quy hoạch xây dựng của một số nước trên thế giới 4
1.1.1. Công tác quy hoạch ở Cộng hòa Liên Bang Đức; 4

1.1.2. Một số đặc điểm Quy hoạch vùng ở Mỹ: 5
1.1.3. Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc 6
1.1.4. Một vài nhận xét qua nghiên cứu kinh nghiệm quy hoạh ở một số nước
trên thế giới 9
1.2. Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Việt Nam 10
1.2.1. Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và mối
quan hệ giữa hai loại quy hoạch ở nước ta qua các thời kỳ 10
1.3. Luận chứng về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng 18
1.3.1. Tính tất yếu khách quan của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng: 18
1.3.2. Nội dung chủ yếu của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng: 19
1.3.3. Vấn đề về chất lượng của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và
mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch. 20
1.3.4. Các quy định chung về quản lý, tổ chức thực hiện hai loại quy hoạch 21
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG 27
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.2. Phạm vi nghiên cứu 27
2.3. Nội dung nghiên cứu 27
2.4. Phương pháp nghiên cứu 27
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Hà Tĩnh 30
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 32
3.2. Nghiên cứu sự phù hợp và chưa phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng ở thành phố Hà Tĩnh 40
3.2.1 Quy hoạch sử dụng đất của thành phố Hà Tĩnh 40
3.2.2 Quy hoạch xây dựng của thành phố Hà Tĩnh 48
3.2.3. Phân tích, so sánh về nội dung lập quy hoạch giữa quy hoạch sử dụng đất

và quy hoạch xây dựng: 54
3.2.4. Quản lý, tổ chức thực hiện hai loại quy hoạch ở thành phố Hà Tĩnh 69
3.2.5. Đánh giá chung về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
xây dựng tại thành phố Hà Tĩnh: 71
3.3. Những bất cập giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở thành
phố Hà Tĩnh 72
3.3.1. Những bất cập trong việc áp dụng các văn bản pháp quy 72
3.3.2. Những bất cập về nội dung giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng ở thành phố Hà Tĩnh 73
3.3.3. Những bất cập về quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng 75
3.4. Đề xuất phương hướng khắc phục những bất cập để nâng cao chất lượng
quy hoạch sử dụng đất trong mối quan hệ với quy hoạch xây dựng 76
3.4.1. Phương hướng đối với thành phố Hà Tĩnh 76
3.4.2. Phương hướng chung để khắc phục tình trạng bất cập, mâu thuẫn giữa quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng 78
KẾT KUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Bảng cơ cấu sản xuất của các ngành Thành phố qua các năm 32
Bảng 3.2: Hiện trạng phân bố dân cư thành phố Hà Tĩnh 36
Bảng 3.3: Cơ cấu lao động làm việc trong ngành của toàn thành phố 37
Bảng 3.4: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp trước và sau quy hoạch 42
Bảng 3.5: Cơ cấu đất phi nông nghiệp trước và sau quy hoạch 47
Bảng 3.6. So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng ở Hà Tĩnh 59
Bảng 3.7. So sánh một số chỉ tiêu sử dụng đất đai giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh 61
Bảng 3.8. So sánh một số chỉ tiêu về diện tích của một số công trình giữa quy
hoạch sử dụng đất 64

và quy hoạch xây dựng trên địa bản thành phố Hà Tĩnh 64
Bảng 3.9. Mối quan hệ các nội dung trong quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
xây dựng 66
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Bản đồ hành chính của thành phố Hà tĩnh 30
Hình 3.2 Bản đồ QHSDĐ đến năm 2020 thành phố Hà Tĩnh 40
Hình 3.3. Bản đồ quy hoạch xây dựng chung TP Hà Tĩnh đến năm 2020 48
Hình 3.4. So sánh quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng năm 2010 ở
thành phố Hà Tĩnh 62
Hình 3.5. So sánh quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đến năm 2020
ở thành phố Hà Tĩnh 62
Hình 3.6. Sơ đồ mối quan hệ về mục tiêu giữa QH tổng thể phát triển kinh tế xã hội,
quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng 65
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, công
tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã và đang góp phần quan trọng về
quản lý và sử dụng đất nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
Trên một địa bàn, lãnh thổ theo đơn vị hành chính thường có nhiều loại quy
hoạch, mà các quy hoạch đó đều gắn với việc quản lý và sử dụng đất. Do đặc
điểm, chức năng và nhiệm vụ phát triển của các ngành, lĩnh vực khác nhau,
nên việc lập quy hoạch của các ngành cũng có nội dung khác nhau. Việc khai
thác, sử dụng đất trong các quy hoạch của mỗi ngành đều tính đến các yếu tố
bảo vệ môi trường sinh thái và các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội để đảm
bảo được các mục tiêu phát triển của ngành đề ra. Tuy nhiên quy hoạch của
các ngành thường chưa tính toán đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của việc
sử dụng đất thuộc chức năng quản lý, khai thác của mỗi ngành đến các loại
đất thuộc chức năng quản lý, khai thác của ngành khác.
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị đô thị là các quy

hoạch có sự phù hợp rất chặt chẽ, có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau. Cả
hai loại quy hoạch này đều có vai trò, vị trí và tầm quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng, mỗi địa phương. Về nguyên tắc, quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị đô thị phải có sự thống nhất
cả về không gian và thời gian, hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện chức năng
của mỗi loại quy hoạch.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau
mà giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị thường không
được lập đồng bộ với nhau cả về thời gian và không gian, nhiều nội dung còn
trùng lặp, mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau, gây khó khăn cho công tác lập,
thực hiện, kiểm tra, đánh giá công tác quy hoạch.
2
Để khắc phục được tình trạng nêu trên, tạo sự đồng bộ và nâng cao hiệu
quả của công tác quy hoạch sử dụng đất cũng như quy hoạch xây dựng đô thị
đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần phải nghiên cứu để làm
rõ vai trò và sự phù hợp giữa hai loại quy hoạch trên, làm cơ sở cho việc phối
hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong công tác quản lý quy hoạch nói chung,
lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất nói riêng.
Thành phố Hà Tĩnh là một thành phố trực tỉnh Hà Tĩnh, là trung tõm kinh tế,
chính trị - xó hội của tỉnh, trong tương lai là thành phố vệ tinh cho Khu công
nghiệp khai thác mỏ Sắt Thạch Khê. Trong những năm gần đây, công tác quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị ở Thµnh phè Hµ TÜnh đều đạt
những kết quả nhất định, đóng góp cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố. Song giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị đô
thị trên địa bàn Thành phố cũng còn nhiều bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, chưa
có sự thống nhất và đồng bộ, hạn chế đến vai trò của mỗi loại quy hoạch đối với
kinh tế - xã hội.
Xuất phát từ tình hình trên, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu quy hoạch
sử dụng đất với quy hoạch xây dựngđô thị thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh”
là rất cần thiết.

2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tính phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây
dựng đô thị trên địa bàn thành phố Thành phố Hà Tĩnh; Đề xuất giải pháp khắc
phục những bất cập, chưa hợp lý giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng đô thị của Tp Hà Tĩnh .
2.2. Yêu cầu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội thành phố Hà Tĩnh
- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng đô thị, nghiên cứu sự phù hợp giữa QHSDĐ và QHXD đô thị cụ thể của
thành phố Hà Tĩnh.
3
- Đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập, chưa hợp lý giữa quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị của Tp Hà Tĩnh .
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đánh giá tính phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây
dựng đô thị đô thị ở thành phố Hà Tĩnh.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập, chưa hợp lý giữa quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị của thành phố Hà Tĩnh .
4
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình công tác lập quy hoạch và mối quan hệ giữa quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng của một số nước trên thế giới
1.1.1. Công tác quy hoạch ở Cộng hòa Liên Bang Đức;
Quy hoạch không gian hay quy hoạch tổng thể vùng lãnh thổ ở Đức là loại
quy hoạch tổng hợp về sự phát triển giữa các vùng và các ngành của toàn bộ
lãnh thổ. Trong đó, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng là bộ phận của
quy hoạch không gian. Một trong những chức năng của quy hoạch không gian là

điều phối các loại hình quy hoạch, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh từ sự
tranh chấp sử dụng đất đai của vùng lãnh thổ. Quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng là một bộ phận của quy hoạch không gian, do chính quyền địa
phương thực hiện ở mức độ chi tiết tương ứng với cấp quận.
Quy hoạch tổng thể phát triển lãnh thổ ở Cộng hòa Liên bang Đức bao gồm
quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng. Quy hoạch lãnh thổ thực hiện việc sắp
xếp (cấu tạo) không gian; cấu trúc định cư của khu vực; các biện pháp hạ tầng
không gian lớn; xác định những khu vực dự phòng, những vùng ưu tiên. Để thực
hiện các nội dung quy hoạch lãnh thổ cần có các hoạt động của quy hoạch lãnh
thổ, chương trình phát triển lãnh thổ. Nhiệm vụ chính của quy hoạch lãnh thổ là
xây dựng những chương trình và kế hoạch phát triển lãnh thổ, [17] gồm:
- Xây dựng bản phúc trình về trật tự không gian lãnh thổ: Xác định ranh
giới giữa các vùng đô thị, vùng nông thôn, vùng tụt hậu; phân tích, đánh giá các
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa.
- Xây dựng bản đồ địa chính lãnh thổ: Thể hiện được tất cả hiện trạng, kế
hoạch và biện pháp cần thiết cho quy hoạch lãnh thổ. Đó là các sử dụng trực tiếp
hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến mặt bằng sử dụng đất. Tư liệu địa chính như vậy
là nguồn thông tin quý giá cho các báo cáo, các chương trình và các kế hoạch.
Các dữ liệu được thu nạp trong máy vi tính và gắn liền với hệ thống thông tin
địa lý (GIS);
5
- Chương trình phát triển lãnh thổ là quan trọng nhất, do Chính phủ trung
ương xây dựng;
- Kế hoạch phát triển lãnh thổ là bước cuối cùng của công việc quy hoạch
lãnh thổ.
Tại Cộng hòa Liên bang Đức, Chính phủ của mỗi bang chủ quản việc quy
hoạch lãnh thổ. Trên bình diện bang (cấp quốc gia), việc xây dựng chương trình
phát triển lãnh thổ không mang tính cưỡng bức và thường được hội nhập vào
“kế hoạch phát triển lãnh thổ” nêu đầy đủ, chính xác và rất chi tiết các số liệu.
Một điển hình về thành công trong công tác quy hoạch ở Đức là quy hoạch

thủ đô Berlin. Đó là phương án lớn về xây dựng mới và cải tạo trung tâm Berlin,
là một công trường khổng lồ, cả ở trên mặt đất lẫn dưới đất, vì nó đặt vấn đề
không những là phải xây dựng cùng một lúc ở nhiều khu khác nhau, mà còn
phải cải tạo lại các hệ thống thiết bị và giao thông trên và dưới mặt đất cho cả
vùng Berlin: hệ thống cống rãnh, điện, nước, điện thoại, tàu điện ngầm, xe lửa,
xe điện, xe hơi Thành công của quy hoạch tái thiết thủ đô Berlin là đã tạo nên
bộ mặt mới của thành phố, trở thành một thủ đô hiện đại, xứng đáng với vị trí
của nước Đức ở châu Âu và trên thế giới [17] .
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Cộng hòa Liên
bang Đức không phải là các quy hoạch riêng rẽ mà là các quy hoạch ngành, quy
hoạch bộ phận trong hệ thống quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng. Vì vậy,
mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này có sự thống nhất về không gian và thời
gian quy hoạch; cơ bản phù hợp với nhau và hỗ trợ lẫn nhau về nội dung quy
hoạch. Những mâu thuẫn, đối kháng lẫn nhau về mục tiêu và nội dung giữa hai
loại quy hoạch được điều chỉnh, được hạn chế nhằm đạt mục tiêu chung là phát
triển mọi mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường.
1.1.2. Một số đặc điểm Quy hoạch vùng ở Mỹ:
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ là bộ phận của quy
hoạch vùng. Về mặt lý thuyết, quy hoạch vùng ở Mỹ hiện nay có hai xu hướng
chính: Thứ nhất, đặt trọng tâm vào hiệu quả kinh tế thuần tuý, thường dựa trên
6
việc đưa ra các mô hình toán và kinh tế định lượng rất phức tạp để phân tích
hoạt động kinh tế vùng và từ đó đề ra các hướng đầu tư hữu hiệu nhất; thứ hai,
nghiên cứu quy hoạch vùng mang tính chất phát triển kinh tế - xã hội hơn là
nhấn mạnh hiệu quả kinh tế thuần tuý; xu hướng quy hoạch này mang tính công
bằng xã hội nhiều hơn tính hiệu quả kinh tế, nên chú ý nhiều hơn đến yếu tố môi
trường và phát triển bền vững nên hay được áp dụng trong thực tế hơn [12] .
Trên thực tế, quy hoạch vùng ở Mỹ gồm quy hoạch vùng nhiều bang, quy
hoạch vùng bang hoặc vùng một vài quận trong một bang. Trong đó, quy hoạch
cấp vùng nhiều bang thực chất là quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở quy mô

lớn, còn quy hoạch vùng bang hoặc vùng một vài quận thực chất là quy hoạch
phối hợp phát triển giữa đô thị trung tâm với các vùng nông thôn xung quanh.
Như vậy, mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở
Mỹ thực chất thể hiện chủ yếu ở mối quan hệ giữa quy hoạch xây dựng ngành
của các tập đoàn kinh tế với quy hoạch sử dụng đất của chính quyền các địa
phương. Mặc dù là một nước phát triển, các quy hoạch này được thống nhất
trong quy hoạch phát triển chung là quy hoạch vùng nhưng giữa quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ trong thực tế thường vẫn có những mâu
thuẫn nảy sinh cần giải quyết mà nguyên nhân chính là do quyền lợi chính trị,
kinh tế của các chủ thể thực hiện quy hoạch rất khác nhau. Thực tế ở Mỹ, mỗi
địa phương có một hệ thống rất phức tạp các cơ quan quy hoạch, đưa ra nhiều
biện pháp quy hoạch chồng chéo trên địa bàn địa phương. Chỉ có các dự án
ngành như giao thông, thủy lợi - thủy điện, truyền tải điện, hoặc các dự án phát
triển tổng hợp (bao gồm cả hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế ) trong đó Chính
phủ Liên bang giúp đỡ tài chính cho các chính quyền địa phương nhằm mang lại lợi
ích cho tất cả các bên liên quan - mới có sức hấp dẫn và có thể hiện thực hoá tốt.
1.1.3. Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc
Bên cạnh Luật đất đai, Trung Quốc đã ban hành Luật Quy hoạch nông thôn
và đô thị (có hiệu lực từ ngày 01/01/2008). Công tác quy hoạch ở Trung Quốc
hiện nay chịu sự điều chỉnh chủ yếu của hai Luật này. Quy hoạch sử dụng đất và
7
quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc là các quy hoạch độc lập nhưng có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau, tương đối thống nhất với nhau.
Quy hoạch sử dụng đất đai cả nước của Trung Quốc được lập lần đầu tiên
vào năm 1987, lần thứ hai vào năm 1998 và lần thứ ba vào năm 2003; nội dung quy
hoạch qua các lần dần dần được hoàn thiện, phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
Quy hoạch sử dụng đất của Trung Quốc được triển khai với các nhiệm vụ:
đẩy mạnh việc sử dụng đất hợp lý, bảo đảm các lợi ích; bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và cải thiện chất lượng môi trường; đẩy mạnh việc sử dụng đất bền vững;
đẩy mạnh phát triển kinh tế; đẩy mạnh việc quản lý nhà nước. Mục tiêu cơ bản

trong quy hoạch sử dụng đất của Trung Quốc là:
- Định rõ việc sử dụng đất hợp lý để giảm thiểu mâu thuẫn sử dụng đất cũng
như chi phí kinh tế xã hội;
- Bảo vệ đất canh tác, nước và tài nguyên thiên nhiên khác cũng như di sản
văn hoá và thiên nhiên;
- Đất sử dụng cho mục đích công được bảo đảm và phân bổ hợp lý;
- Kìm chế sự phát triển lộn xộn khu vực đô thị, cải thiện khu vực sinh sống
của con người theo hướng bền vững;
- Khai thác và củng cố đất có hiệu quả khi cần; đẩy mạnh việc sử dụng đất
có hiệu quả hơn;
- Cải tiến việc ra quyết định và quản lý nhà nước.
Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc bao gồm các loại hình: Quy hoạch
tổng thể (bắt buộc theo luật mang tính chiến lược, toàn diện, quy định chính
sách); quy hoạch chuyên ngành (mang tính chuyên đề, đặc thù); quy hoạch chi
tiết (quy hoạch bố trí trên thực địa).
Quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Quy
hoạch nông thôn và đô thị. Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách phát triển
chăm lo nhà ở cho nhân dân lao động là chính sách trung tâm. Trong thời gian
qua, Trung Quốc đã đặc biệt chú trọng công tác cải tiến quản lý ngành xây dựng
và nhà đất, quản lý thị trường bất động sản [13].
8
Luật Quy hoạch nông thôn và đô thị của Trung Quốc nhấn mạnh các điểm
chính sau:
- Trong khu vực quy hoạch không được chiếm dụng đất nông nghiệp để xây
dựng doanh nghiệp, cơ sở công cộng, công trình công cộng và khu nhà ở.
- Khi khảo sát thiết kế và thực hiện quy hoạch, phải bảo vệ nguồn tài
nguyên và di sản văn hóa lịch sử, bảo đảm duy trì bản sắc địa phương, bản sắc
dân tộc và phong cách truyền thống. Trong quá trình khai thác và xây dựng khu
phố mới, phải bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường sinh thái, thể hiện đặc thù
địa phương. Khi sửa chữa khu phố cũ, phải bảo vệ di sản văn hóa và phong cách

truyền thống.
- Nghiêm cấm bất kỳ đơn vị và cá nhân tùy tiện thay đổi quy hoạch. Trước
khi sửa đổi quy hoạch, cơ quan tổ chức thiết kế quy hoạch phải tổng kết tình
hình thực hiện quy hoạch ban đầu đồng thời báo cáo lên cơ quan phê duyệt.
Về quản lý quy hoạch, thực hiện theo nguyên tắc:
- Phân cấp cụ thể trong việc xét duyệt quy hoạch.
- Khống chế một cách nghiêm ngặt về việc xây dựng các khu chức năng,
bảo đảm thống nhất với quy hoạch và quản lý toàn diện của thành phố.
- Quy hoạch chung và quy hoạch cụ thể phải quy định rõ ràng những nội
dung mang tính bắt buộc. Bất cứ đơn vị và cá nhân nào đều không được điều
chỉnh những nội dung có tính bắt buộc trong quy hoạch chung và quy hoạch cụ
thể mà đã được phê chuẩn.
- Quản lý một cách nghiêm ngặt về việc sửa đổi quy hoạch chung sử dụng
đất đai, quy hoạch chung thành phố và quy hoạch làng xã cũng như thị trấn.
- Quy hoạch xây dựng phải gắn liền với quy hoạch 5 năm phát triển kinh tế
xã hội và quy hoạch thời gian vừa và dài ngành bất động sản.
- Quy mô sử dụng đất đai trong quy hoạch chung thành phố, quy hoạch làng
xã và quy hoạch thị trấn không được vượt quá quy mô sử dụng đất đai được xác
định trong quy hoạch chung sử dụng đất đai.
9
- Quy hoạch chung thành phố, quy hoạch làng xã và quy hoạch thị trấn phải
coi phạm vi bảo hộ đồng ruộng cơ bản trong khu quy hoạch là nội dung mang
tính bắt buộc.
Như vậy, giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng của Trung
Quốc có sự thống nhất cơ bản về mục tiêu, nội dung quy hoạch. Quy mô sử
dụng đất của quy hoạch xây dựng phải phù hợp với quy mô được xác định trong
quy hoạch sử dụng đất đai. Việc quản lý thực hiện quy hoạch ở Trung Quốc
được quy định tương đối chặt chẽ, thể hiện ở các khía cạnh: các quy hoạch phải
xác định những nội dung có tính bắt buộc; quy định chặt chẽ những trường hợp
được phép thay đổi, điều chỉnh quy hoạch; nguyên tắc bảo vệ đất nông nghiệp,

bảo vệ nguồn tài nguyên, di sản văn hóa, bảo vệ môi trường…
Các quy định về quy hoạch và quản lý quy hoạch ở Trung Quốc là một
trong những nhân tố chính bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong mối quan hệ
giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng.
1.1.4. Một vài nhận xét qua nghiên cứu kinh nghiệm quy hoạh ở một số nước
trên thế giới
Qua nghiên cứu tình hình về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng của các nước trên thế giới, đại diện là quy hoạch của các
nước được trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra một số nội dung cần được xem
xét để áp dụng nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng ở Việt Nam.
Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển (như Đức, Mỹ) và
đang phát triển (như Trung Quốc), có quy trình quy hoạch sử dụng đất đai mang
tính đặc thù riêng. Trước hết họ chú trọng về quy hoạch tổng thể không gian
(hay còn gọi là định hướng phát triển tổng thể - Master Plan), trên cơ sở quy
hoạch không gian người ta tiến hành phân vùng sử dụng đất, sau đó tiến hành
quy hoạch chi tiết cho từng khu vực.
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở các nước, nhất là ở các
nước phát triển thường là quy hoạch bộ phận của quy hoạch tổng thể không gian
10
nên về cơ bản có sự thống nhất, đồng bộ với nhau về không gian, thời gian, nội
dung quy hoạch; cả hai loại quy hoạch đều hướng tới mục tiêu chung là phát
triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Trong quy hoạch lãnh thổ cũng như quy hoạch vùng, quy hoạch sử dụng
đất, các nước đều quan tâm giải quyết việc sắp xếp không gian, các biện pháp hạ
tầng không gian lớn, xác định những vùng ưu tiên, từ đó thực hiện các hoạt động
của quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch vùng.
Việc lập các quy hoạch thường do các cơ quan công quyền của Nhà nước
thực hiện, có sự tham gia của các tập đoàn, tổ chức kinh tế ở mức độ khác nhau
và thường có sự tham gia rộng rãi của người dân. Ở các nước phát triển, về cơ

bản các cơ quan nhà nước chỉ tham gia sâu vào quá trình duyệt quy hoạch tổng
thể không gian và phân vùng sử dụng đất. Quy hoạch chi tiết phát triển từng vùng
thông thường được đấu thầu cho các cơ quan phát triển bất động sản tư nhân.
Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội ở từng nước mà mức độ chặt chẽ, thống
nhất, đồng bộ trong mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng có khác nhau nhưng nhìn chung giữa hai loại quy hoạch này cơ bản có sự
thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau theo nguyên tắc quy hoạch xây dựng là sự cụ thể
hóa, chi tiết hóa của quy hoạch sử dụng đất.
1.2. Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở
Việt Nam
1.2.1. Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và mối
quan hệ giữa hai loại quy hoạch ở nước ta qua các thời kỳ
1.2.1.1. Thời kỳ trước năm 1975
a. Giai đoạn từ 1930 đến trước năm 1960
Quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành lẻ tẻ ở một số đô thị, các khu mỏ
khai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điền như cao su, cà phê…
theo nội dung và phương pháp của người Pháp.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quy hoạch sử dụng đất của Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng chưa có điều kiện hình thành và phát triển.
11
Đối với quy hoạch xây dựng, có thể nói, quy hoạch xây dựng ở nước ta bắt
đầu hình thành từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngành Quy
hoạch Đô thị - Nông thôn chính thức được thành lập cũng đã trên 50 năm. Quy
hoạch xây dựng ở nước ta mới hình thành trong giai đoạn này nên còn khá
khiêm tốn, thực sự còn trong giai đoạn học hỏi, còn chắp vá, chưa có hệ thống,
chưa định hình được hướng phát triển rõ ràng [11].
Như vậy trong giai đoạn này, quy hoạch sử dụng đất ở nước ta hầu như
chưa xuất hiện, quy hoạch xây dựng mới hình thành nên chưa xuất hiện mối
quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng.
b. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975

Công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được đặt ra
ngay từ những năm 1960. Các bộ ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những
điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho
tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng… mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc
sử dụng đất cũng chỉ mới được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các
phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp.
Mặc dù chưa có điều kiện tiến hành theo một nội dung, phương pháp, trình
tự thống nhất trong phạm vi một cấp vị lãnh thổ nào đó nhưng với tư cách là một
phần nội dung của các phương án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy
hoạch sử dụng đất đai đã tạo ra những cơ sở có tính khoa học cho việc tính toán
các phương án sản xuất có lợi nhất.
Đối với quy hoạch xây dựng, với sự giúp đỡ của các chuyên gia từ các nước
XHCN trước đây như Liên Xô, Hungary, Triều Tiên, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba
Lan, Trung Quốc…, một số đồ án quy hoạch cho cho các địa phương như thị xã
Hồng Gai (thành phố Hạ Long), Hà Tĩnh, Hà Nội, Bắc Giang, Vinh… đã được
lập. Các quy hoạch này ít có điều kiện trở thành hiện thực do hoàn cảnh còn
chiến tranh, nước ta chưa thống nhất, tiềm lực đất nước còn phải dành cho công
cuộc chống Mỹ, thống nhất đất nước. Tuy nhiên, kết quả quy hoạch xây dựng
12
cũng đóng góp đắc lực cho công cuộc xây dựng ở miền Bắc cũng như trên phạm
vi cả nước sau khi đất nước thống nhất.
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong giai
đoạn này chưa có biểu hiện rõ rệt và giữa hai loại quy hoạch chưa có tác động
qua lại một cách đáng kể do quy hoạch sử dụng đất vẫn chỉ là một phần nội
dung của các phương án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp có đối tượng chủ
yếu là đất nông lâm nghiệp, trong khi đó quy hoạch xây dựng tập trung nghiên
cứu về phát triển các đô thị.
1.2.1.2. Thời kỳ từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993
* Đối với quy hoạch sử dụng đất:
- Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra

cơ bản trên phạm vi cả nước. Vào cuối năm 1978, lần đầu tiên đã xây dựng được
các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông
lâm sản của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trình Chính phủ xem xét phê duyệt. Trong các tài liệu này đều
đã đề cập đến quy hoạch sử dụng đất đai, coi đó như những căn cứ khoa học
quan trọng để luận chứng các phương án phát triển ngành.
Thực hiện Chỉ thị số 100/TW ngày 13 tháng 01 năm 1981 về cải tiến công
tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong
hợp tác xã nông nghiệp, thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã”
mà thực chất công tác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ
yếu của nó là bố trí sử dụng đất đai.
Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) đã
quyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập Tổng sơ đồ phát triển
và phân bố lực lượng sản xuất…”. Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựng
quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện được
ví như 500 “pháo đài”. Quy hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng
trong các quy hoạch hoạch tổng thể kinh tế - xã hội này tuy đã có bước phát triển
nhưng vẫn chưa phải là một quy hoạch riêng biệt nên vẫn còn nhiều hạn chế.
13
Đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai trong hoạch
tổng thể kinh tế - xã hội. Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ yếu của
Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sản xuất
trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công
nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị.
Khi Luật đất đai năm 1987 ra đời (có hiệu lực thi hành từ tháng 01 năm
1988), đánh dấu một bước mới về quy hoạch sử dụng đất đai. Luật Đất đai 1988
quy định quy hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý và là một trong những nội
dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Trong thời gian từ 1988 đến 1990, Tổng cục Quản lý Ruộng đất đã chỉ đạo
một số địa phương lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã theo quy định

của Luật đất đai 1988. Số lượng các quy hoạch này trên phạm vi cả nước chưa
nhiều nhưng qua đó Tổng cục Quản lý Ruộng đất và các địa phương đã trao đổi,
hội thảo và rút ra những vấn đề cơ bản về nội dung và phương pháp quy hoạch
sử dụng đất, làm cho quy hoạch sử dụng đất không chỉ đơn thuần đáp ứng việc
sử dụng đất đai mà trở thành một nội dung, đồng thời là công cụ đắc lực cho
công tác quản lý nhà nước về đất đai của các địa phương.
Tổng cục Quản lý Ruộng đất lần đầu tiên ban hành văn bản hướng dẫn về
quy hoạch phân bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã (Thông tư số 106/TT-QHKH
ngày 15 tháng 4 năm 1991) với những nội dung chính như sau:
- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;
- Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất;
- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;
- Một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản
xuất, chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây
dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai.
* Đối với quy hoạch xây dựng:
Quy hoạch xây dựng nói chung, quy hoạch xây dựng đô thị nói riêng ở
nước ta trong giai đoạn trước đổi mới (1986) vẫn còn khiêm tốn, chưa có hệ
14
thống, chưa định hình được hướng phát triển rõ ràng. Mặc dù thành quả quy
hoạch xây dựng trong thời kỳ này còn hạn chế nhưng nó cũng đóng góp đắc lực
cho công cuộc xây dựng ở miền Bắc cũng như trên phạm vi cả nước sau khi đất
nước thống nhất. Đồng thời, nó cũng đặt nền móng cho sự phát triển tiến bộ của
công tác quy hoạch xây dựng giai đoạn tiếp theo.
Từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới đất nước tại Đại hội toàn quốc lần
thứ VI năm 1986, đánh dấu quá trình chuyển mình tích cực nhất của quy hoạch
xây dựng đô thị. Mặc dù còn nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về quy
hoạch, quản lý đô thị, công tác quy hoạch phát triển đô thị bước đầu đã có
những đóng góp đáng kể cho những thành công trong giai đoạn tiếp theo. Đây là
giai đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi các phương pháp nghiên cứu của công tác

quy hoạch đô thị. Chuyển từ những nhận thức sản phẩm của nền kinh tế kế
hoạch sang một thời kỳ mới, một giai đoạn nhiều khó khăn của phần lớn đô thị
nơi mà mọi nguồn vốn dành cho phát triển và xây dựng đô thị hoàn toàn do Nhà
nước cung cấp. Hầu như chưa có hình ảnh các khu nhà do dân tự xây, các khách
sạn, văn phòng hay các công trình vui chơi giải trí mang dấu ấn của tư nhân.
Đây là giai đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi các phương pháp nghiên cứu của
công tác quy hoạch đô thị. Chuyển từ những nhận thức sản phẩm của nền kinh tế
kế hoạch sang một thời kỳ mới, một giai đoạn nhiều khó khăn của phần lớn
đô thị nơi mà mọi nguồn vốn dành cho phát triển và xây dựng đô thị hoàn
toàn do Nhà nước cung cấp. Hầu như chưa có hình ảnh các khu nhà do dân tự
xây, các khách sạn, văn phòng hay các công trình vui chơi giải trí mang dấu
ấn của tư nhân.
Giai đoạn này có rất ít văn bản chính thức hướng dẫn lập quy hoạch đô thị
của Việt Nam. Quyết định 322/BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn về quy trình
từ giai đoạn lập đến phê duyệt các đồ án Quy hoạch đô thị này đã phản ánh sự
chuyển mình của quy hoạch xây dựng để đáp ứng yêu cầu thực tế, nâng cao hiệu
quả sử dụng đất đai, những thử nghiệm phương thức khai thác chuyển đổi để tạo
nguồn lực tài chính xây dựng đô thị.
15
Hàng loạt các đô thị trên toàn quốc đã dần được lập quy hoạch chung để có
những dự báo về quy mô dân số, xác định quy mô đất đai, bố trí trên tổng mặt
bằng, xác định những định hướng về phát triển không gian và hệ thống hạ tầng
kĩ thuật cho đô thị. Nhiều đồ án quy hoạch đô thị sau khi lập và phê duyệt đã
được các chính quyền đô thị coi trọng và vận hành tương đối hiệu quả trong
quản lý đầu tư cải tạo và xây dựng đô thị.
Quy hoạch đô thị đã có mối quan hệ chặt chẽ hơn về mặt quản lý nhà nước
với vấn đề quản lý quy hoạch và phát triển đô thị, quản lý đầu tư xây dựng, quản
lý đất đai, nhà ở và sử dụng các công trình đô thị. Đặc biệt là sự hình thành các
loại hình lập quy hoạch khu công nghiệp tập trung và khu đô thị mới, là tiền đề
cơ sở cho sự mở rộng mạng lưới đô thị quốc gia trong giai đoạn tiếp theo.

* Thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch:
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong thời
kỳ này dần hình thành rõ nét, nhất là trong giai đoạn sau đổi mới. Mặc dù nội
dung và phương pháp của cả hai loại quy hoạch còn những nhược điểm, chưa
tính toán đầy đủ các điều kiện khách quan, quy hoạch ít chú trọng đến tổ chức
không gian, thiên về lập quy hoạch chia lô nhưng giữa hai loại quy hoạch đã có
những tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời cũng xuất hiện những chồng
chéo, mâu thuẫn với nhau. Đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất
thời kỳ này không chỉ là đất nông lâm nghiệp mà bao gồm tất cả các loại đất (5
loại đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 1987). Quy hoạch xây dựng
đã có liên quan nhiều đến quản lý đất đai. Bên cạnh những mặt thống nhất, hỗ
trợ lẫn nhau thì trong mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch xuất hiện những mâu
thuẫn, chồng chéo mà một trong những nguyên nhân, đồng thời là sự biểu hiện
của nó là sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà
nước về đất đai và về xây dựng.
16
1.2.1.3. Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay
* Đối với quy hoạch sử dụng đất:
Luật Đất đai năm 1993 ra đời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho công tác
quy hoạch sử dụng đất đai đai. Tổng cục Địa chính đã tổ chức các Hội nghị tập
huấn, triển khai công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai và chỉ đạo thực
hiện thí điểm ở 10 tỉnh, 20 huyện; ban hành quy trình, định mức và đơn giá điều
tra quy hoạch sử dụng đất đai áp dụng trong phạm vi cả nước.
Công tác quy hoạch sử dụng đất đai được triển khai mạnh mẽ và có bài bản
hơn ở cả 4 cấp là: cả nước, tỉnh, huyện, xã. Báo cáo “Quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai cả nước đến năm 2000” đã được Chính phủ trình Quốc hội khoá IX
tại kỳ họp thứ 10 (15/10 - 12/11/1996) và kỳ họp thứ 11 (02/4 - 10/5/1997).
Quốc Hội đã ra Nghị quyết số 01/1997/QH9 ngày 10/5/1997 thông qua kế hoạch
sử dụng đất đai đến năm 2000 của cả nước.
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Quốc Hội có Nghị quyết số

29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 và
kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2005.
Sau khi Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định của Chính phủ về thi hành
Luật Đất đai được ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông
tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh
và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, đồng thời Bộ đã ban hành
Quy trình, Định mức, đơn giá lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp;
Định mức sử dụng một số loại đất phi nông nghiệp.
Đến nay, kết quả triển khai công tác Quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm
vi cả nước như sau:
- Quy hoạch sử dụng đất đai đai cấp tỉnh:
Đến nay đã có 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (bao gồm cả tỉnh
Hà Tây cũ) xây dựng xong phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006 - 2010) và đã được
Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thẩm định. Trong đó có 62 tỉnh đã được
17
Chính phủ xét duyệt; riêng thành phố Hà Nội đang trình Chính phủ xét duyệt; tỉnh
Hà Giang đang hoàn chỉnh tài liệu theo ý kiến thẩm định của các Bộ, ngành để trình
Hội đồng nhân dân thông qua trước khi trình Chính phủ xét duyệt. Có một số tỉnh,
thành phố đang triển khai lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020.
- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện:
Cả nước có 531/681 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoàn thành
việc lập quy hoạch đến năm 2010 (chiếm 77,97%); 98 huyện đang triển khai
(chiếm 14,4%); còn lại 52 huyện chưa triển khai (chiếm 7,64%), phần lớn là các
đô thị (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh).
- Quy hoạch sử dụng đất đai xã, phường, thị trấn (cấp xã):
Cả nước có 7.576/11.074 xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) đã lập
quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 68,41%); 1.507 xã đang triển khai
(đạt 13,61%); còn lại 1.991 xã chưa triển khai (chiếm 17,98%).
* Đối với quy hoạch xây dựng:

Thời kỳ này được xem như một thời kỳ đô thị hóa mạnh mẽ với nhiều chuyển đổi
lớn trong phát triển đô thị Việt Nam. Luật Xây dựng được ban hành đã tạo các cơ sở
cho công tác quy hoạch và quản lý đô thị có tính luật hóa ngày càng cao, hướng tới
việc tăng cường công tác quản lý đô thị, đổi mới việc lập và xét duyệt quy hoạch, kỷ
cương trong quản lý đất đai, tạo nguồn tài chính cho nguồn lực phát triển đô thị và
“đổi mới sang hình thức quy hoạch tạo các dự án phát triển đô thị tập trung thay cho
xu hướng chia lô nhỏ lẻ của giai đoạn trước”.
Năm 1998, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm xác lập các định hướng lớn cho các vùng
đô thị trên toàn quốc, dự báo sự tăng trưởng của hệ thống đô thị và định hướng
phân bố hệ thống đô thị.
Từ năm 2003, sau khi Luật Xây dựng và Nghị định về Quy hoạch xây
dựng ra đời đã khẳng định các loại hình quy hoạch gồm quy hoạch xây dựng
vùng, quy hoạch xây dựng đô thị (bao gồm quy hoạch chung xây dựng đô thị và
quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị), quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn
và đưa nội dung “Thiết kế đô thị” vào công tác quy hoạch.

×