Tải bản đầy đủ (.pdf) (70 trang)

ảnh hưởng của việc bổ sung beta glucan lên năng suất và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 đến 42 tuần tuổi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.95 MB, 70 trang )


i

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG






SƠN NGỌC THÁI




ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG
BETA-GLUCAN LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT
LƢỢNG TRỨNG GÀ ĐẺ HISEX BROWN
GIAI ĐOẠN 33 ĐẾN 42 TUẦN TUỔI




LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y







2014

ii

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG






SƠN NGỌC THÁI




ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG
BETA-GLUCAN LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT
LƢỢNG TRỨNG GÀ ĐẺ HISEX BROWN
GIAI ĐOẠN 33 ĐẾN 42 TUẦN TUỔI


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y


CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
TS. NGUYỄN THỊ KIM KHANG





42014
2014

iii

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG


SƠN NGỌC THÁI


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y


ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG
BETA-GLUCAN LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT
LƢỢNG TRỨNG GÀ ĐẺ HISEX BROWN
GIAI ĐOẠN 33 ĐẾN 42 TUẦN TUỔI


Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT CÁN BỘ HƢỚNG DẪN


DUYỆT BỘ MÔN



TS. NGUYỄN THỊ KIM KHANG




Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG


i

LỜI CẢM TẠ

Sau gần 4 năm học tập tại Đại học Cần Thơ, tôi đƣợc đặt trong môi
trƣờng hoàn hảo nhất để học tập và trao dồi kinh nghiệm sống. Nhƣng điều
quan trọng là học hỏi đƣợc những kiến thức chuyên môn, giúp cho tay nghề
đƣợc vững vàng và nâng cao, đó là thành quả lớn nhất mà tôi nhận đƣợc trong
quảng thời gian là một sinh viên của Đại học Cần Thơ. Những điều mà tôi học
đƣợc hôm nay và những gì mà tôi có đƣợc sau này đều là nhờ công ơn Cha
Mẹ, Thầy Cô đã giành cho tôi.
Tôi vô cùng biết ơn sâu sắc đến gia đình đã yêu thƣơng, nuôi nấng và tạo
mọi điều kiện thuận lợi để con có thể đến trƣờng học đƣợc nhiều điều hay, tốt
trong cuộc sống. Xin chân thành cảm ơn đến:
Cô Nguyễn Thị Kim Khang đã tận tình hƣớng dẫn, dạy bảo và chia sẽ
giúp đở tôi hoàn thành tốt đề tài.

Thầy cố vấn Hồ Quảng Đồ đã tận tình dạy bảo giúp đở tôi trong suốt thời
gian học tại trƣờng.
Quý thầy cô Bộ môn Chăn nuôi, Thú y đã truyền đạt kiến thức cho tôi
trong hơn 3 năm qua.
Kỹ sƣ Nguyễn Thị Liễu đã tạo điều kiện và giúp đỡ tận tình trong thời
gian tôi thực hiện đề tài.
Cô Hồ Thị Thu, Anh Tuấn – quản lý trại gà đã giúp đỡ và tạo điều kiện
cho tôi thực hiện tốt đề tài tại trại.
Các bạn lớp Chăn Nuôi khoá 37 đã giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành
tốt đề tài.
ẻKính chúc mọi ngƣời luôn vui vẻ, dồi dào sức khoẻ và hạnh phúc!!

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn


Sơn Ngọc Thái

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Sơn Ngọc Thái, MSSV: 3112625, sinh viên ngành Chăn nuôi,
khoá 37, Trƣờng Đại học Cần Thơ. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của bản thân. Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và
chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trƣớc đây.

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn



Sơn Ngọc Thái


iii

TÓM LƢỢC
Thí nghiệm được tiến hành nằm đánh giá ảnh hưởng của các mức độ bổ
sung beta-glucan lên năng suất và chất lượng trứng ở gà Hisex Brown giai
đoạn từ 33 đến 42 tuần tuổi. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn
ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức (NT) lần lượt là NT ĐC: khẩu phần cơ sở
(KPCS); NT BG
0,025
: KPCS + 0,025% beta-glucan; NT BG
0,05
: KPCS + 0,05%
beta-glucan và NT BG
0,075
: KPCS + 0,075% beta-glucan. Mỗi nghiệm thức
được lặp lại 10 lần với mỗi lần lặp lại là một ô chuồng nuôi 4 con gà mái.
Như vậy có tổng cộng 40 ô thí nghiệm với 160 con gà mái.
Kết quả thí nghiệm cho thấy:
Các nghiệm thức có bổ sung beta-glucan đều làm tăng năng suất trứng
(65,42 – 66,07 quả/mái) và tỷ lệ đẻ (94,81 – 95,75%) so với nghiệm thức ĐC
(64,83 quả/mái – 93,94%), cao hơn nghiệm thức ĐC từ 0,59 – 1,24 quả
(P>0,05). Tiêu tốn thức ăn (g/gà/ngày) và tiêu tốn thức ăn (g/trứng) giữa các
nghiệm thức thí nghiệm có khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).
Khối lượng trứng trung bình ở các nghiệm thức có bổ sung beta-glucan (60,89
– 61,71 g) qua các tuần tuổi cao hơn so với nghiệm thức ĐC (60,87 g)
(P>0,05). Tỷ lệ trứng loại của gà ở các nghiệm thức có bổ sung beta-glucan

nằm trong khoảng từ 0,77 – 1,97% thấp hơn so với nghiệm thức ĐC là 3,31%.
Bổ sung beta-glucan giúp cải thiện các chỉ tiêu về chất lượng trứng như:
khối lượng trứng (nghiệm thức BG
0,05
và BG
0,075
), màu lòng đỏ đều cao hơn so
với nghiệm thức ĐC (P<0,05). Ngoài ra, có sự khác biệt thống kê giữa các
nghiệm thức về chỉ số lòng đỏ và đơn vị Haugh (P<0,05).
Qua 10 tuần thí nghiệm, nghiệm thức BG
0,05
đạt hiệu quả kinh tế cao
nhất với 847.455 đồng (119,08%)


iv

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i
LỜI CAM ĐOAN ii
TÓM LƢỢC iii
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix

CHƢƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG 2: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Sơ lƣợc về giống gà Hisex Brown 2
2.1.1 Nguồn gốc 2

2.1.2 Đặc điểm sản xuất ở gà Hisex Brown 2
2.2 Nhu cầu dinh dƣỡng của gà mái đẻ 4
2.2.1 Nhu cầu duy trì 4
2.2.2 Nhu cầu sinh trƣởng 5
2.2.3 Nhu cầu sản xuất 5
2.3 Quy luật đẻ trứng và các giai đoạn sản xuất ở gà đẻ 6
2.3.1 Quy luật đẻ trứng 6
2.3.2 Các giai đoạn sản xuất ở gà đẻ 7
2.4 Các yếu tố ảnh hƣởng đến năng suất và chất lƣợng trứng 7
2.4.1 Dịch bệnh 7
2.4.2 Dinh dƣỡng 8
2.4.3 Stress nhiệt 8
2.4.4 Yếu tố tiểu khí hậu 9
2.5 Giới thiệu về beta-glucan 12
2.5.1 Nguồn gốc 12
2.5.2 Cấu tạo 12
2.5.3 Tính chất và tác dụng của beta-glucan 13
2.5.4 Ứng dụng beta-glucan trong trong chăn nuôi 15

CHƢƠNG 3: PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 17
3.1 Phƣơng tiện thí nghiệm 17

v

3.1.1 Thời gian và địa điểm 17
3.1.2 Động vật thí nghiệm 17
3.1.3 Chuồng trại thí nghiệm 17
3.1.4 Quy trình sử dụng thuốc và vaccine 19
3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 19
3.1.6 Thức ăn thí nghiệm 20

3.2 Phƣơng pháp thí nghiệm 20
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.2.2 Chăm sóc nuôi dƣỡng 21
3.2.3 Phƣơng pháp lấy mẫu 21
3.2.4 Chỉ tiêu theo dõi 22
3.2.5 Hiệu quả kinh tế 23
3.2.6 Xử lý số liệu 23

CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Đánh giá chung về đàn gà nuôi thí nghiệm 24
4.2 Nhiệt độ và độ ẩm trong chuồng nuôi 24
4.3 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên năng suất sản sản xuất của gà
Hisex Brown 25
4.3.1 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên khối lƣợng gà 25
4.3.2 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên năng suất trứng và tỷ lệ đẻ
26
4.3.2 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên tiêu tốn thức ăn (g/gà/ngày)
và tiêu tốn thức ăn (g/trứng) 28
4.3.3 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên khối lƣợng trung bình trứng
30
4.3.4 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên tỷ lệ trứng loại 30
4.4 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên chất lƣợng trứng ở gà Hisex
Brown 32
4.4.1 Ảnh hƣởng của khẩu phần thí nghiệm lên chất lƣợng trứng 32
4.4.2 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên chất lƣợng trứng theo giai
đoạn 35
4.4.3 Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan và tuần tuổi thí nghiệm lên chất
lƣợng trứng 36
4.3 Hiệu quả kinh tế 39



vi

CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ CHƢƠNG 44



vii

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu ở gà Hisex Brown 2
Bảng 2.2: Lƣợng thức ăn ăn vào, trọng lƣợng chuẩn và thời gian chiếu sáng
đối với gà Hisex Brown 3
Bảng 2.3: Tỷ lệ đẻ và khối lƣợng trứng chuẩn đối với gà Hisex Brown 4
Bảng 2.4: Ảnh hƣởng nhiệt độ đến độ lớn của trứng 9
Bảng 3.1: Lịch dùng thuốc và tiêm phòng cho gà Hisex Brown 19
Bảng 3.2: Thành phần dinh dƣỡng (thức ăn hỗn hợp dạng bột 7606) 20
Bảng 4.1: Nhiệt độ (
0
C) và độ ẩm (%) qua các tuần tuổi 24
Bảng 4.2: Ảnh hƣởng của khẩu phần thí nghiệm lên khối lƣợng gà (kg) 25
Bảng 4.3: Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên năng suất trứng
(quả/mái) của gà Hisex Brown từ qua các tuần tuổi 26
Bảng 4.4: Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên tỷ lệ đẻ (%) của gà
Hisex Brown qua các tuần tuổi 27

Bảng 4.5: Ảnh hƣởng của khẩu phần thí nghiệm lên TTTA (g/gà/ngày) của gà
Hisex Brown qua các tuần tuổi 28
Bảng 4.6: Ảnh hƣởng của khẩu phần thí nghiệm lên TTTA (g/trứng) của gà
Hisex Brown qua các tuần tuổi 29
Bảng 4.7: Ảnh hƣởng của các khẩu phần thí nghiệm lên khối lƣợng trung bình
trứng (g) qua các tuần tuổi 30
Bảng 4.8: Ảnh hƣởng của khẩu phần thí nghiệm lên tỷ lệ trứng loại (%) của gà
Hisex Brown qua các tuần tuổi 31
Bảng 4.9: Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên chất lƣợng trứng 32
Bảng 4.10: Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan lên chất lƣợng trứng theo
giai đoạn 35
Bảng 4.11: Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan và tuần tuổi thí nghiệm
lên chất lƣợng trứng 37
Bảng 4.12: Ảnh hƣởng của việc bổ sung beta-glucan và tuần tuổi thí nghiệm
lên độ dày vỏ và tỷ lệ các thành phần 38
Bảng 4.13: Hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm 39




viii

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Gà Hisex Brown thƣơng phẩm 2
Hình 2.2 Cấu trúc hoá học của beta-glucan 12
Hình 2.3 Cấu tạo beta-glucan (1-3) và (1-4)-D-glucan 13
Hình 2.4 Cấu tạo beta-glucan (1-3) và (1-6)-D-glucan 13
Hình 3.1 Gà nuôi thí nghiệm 17
Hình 3.2 Trại nuôi gà thí nghiệm 17

Hình 3.3 Máng ăn 18
Hình 3.4 Núm uống 18
Hình 3.5 Khay hứng trứng 18
Hình 3.6 Hệ thống làm mát 18
Hình 3.7 Quạt hút 18
Hình 3.8 Bồn cấp nƣớc hằng ngày 21



ix

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
Diễn giải
Ca
Calcium
Canxi
CSHD

Chỉ số hình dáng
CSLTĐ

Chỉ số lòng trắng đặc
CSLĐ

Chỉ số lòng đỏ
ĐDV


Độ dày vỏ
HU

Đơn vị Haugh
KLT

Khối lƣợng trứng
ME
Metabolizable enerry
Năng lƣợng trao đổi
MLĐ

Màu lòng đỏ
TTTA

Tiêu tốn thức ăn
TLLT

Tỷ lệ lòng trắng
TLLĐ

Tỷ lệ lòng đỏ
TLV

Tỷ lệ vỏ
P
Phospho
Photpho
PRRS
Procine reproductive and

respiratory syndrome
Bệnh rối loạn hô hấp và
sinh sản

1

CHƢƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Với truyền thống nông nghiệp từ bao đời nay, Chăn nuôi đƣợc xem nhƣ
một ngành quan trọng và thiết yếu trong cơ cấu ngành. Chăn nuôi nói chung
đều mang một vai trò là đảm bảo dinh dƣỡng trong từng bữa ăn của mỗi gia
đình thông qua những sản phẩm của mình nhƣ thịt, sữa, trứng. Trong đó, trứng
đƣợc coi nhƣ là một trong các loại thực phẩm hoàn hảo của tự nhiên và đƣợc
tiêu thụ nhiều trên thế giới. Trứng còn là một thực phẩm giàu dinh dƣỡng, khá
cân bằng về dƣỡng chất và cũng là nguồn protein rất dồi dào với các loại acid
amin rất cần thiết cho hệ miễn dịch. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng không có
liên kết trực tiếp giữa việc tiêu thụ trứng và mức cholesterol trong máu (Lee &
Griffin, 2006; Qureshi et al, 2007).
Beta-glucan (β-Glucan) là hợp chất đƣờng liên phân tử đƣợc tạo nên từ
các đơn phân tử D-glucose gắn với nhau qua liên kết β-glycoside, đƣợc tìm
thấy trong thành phần vách tế bào của yến mạch, lúa mì, rong biển, nấm men.
Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy bổ sung beta-glucan vào khẩu phần ăn của gà
thịt có thể làm giảm tỷ lệ bệnh do E.coli gây ra và bệnh đƣờng hô hấp (Huff et
al., 2006), ngoài ra còn làm giảm khả năng và tiêu tiêu diệt vi khuẩn lên đến
17 – 23% và tăng khả năng miễn dịch của bạch cầu (Lowry et al., 2005). Bổ
sung beta-glucan với ở mức độ từ 0,05 – 0,15% trong khẩu phần đều có tác
dụng tốt đến khối lƣợng, tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của gà Hisex
Brown (Nguyễn Thị Kim Khang và cs, 2011). Nhƣ vậy, việc sử dụng beta-
glucan nhƣ một yếu tố đáp ứng miễn dịch thể (Guo et al., 2003) để hạn chế
đƣợc dịch bệnh, tăng đề kháng giúp vật nuôi phát triển toàn diện, tập trung
năng lƣợng phát triển cơ thể, tăng khả năng tăng trọng ở gà thịt, nâng cao chất

lƣợng trứng và tăng tỷ lệ đẻ ở các gà hƣớng trứng.
Hiện nay việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi đƣợc hạn chế vì
những chủng vi khuẩn kháng kháng sinh có thể truyền từ sản phẩm động vật
sang ngƣời (Bent & Jesen, 2001) và thay vào đó là những chất bổ sung có
nguồn gốc thiên nhiên. Nhƣng những nghiên cứu về việc bổ sung beta-glucan
vào khẩu phần gà đẻ ở Việt Nam chƣa nhiều và từ những lợi ích mà beta-
glucan mang lại nên đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung beta-glucan lên
năng suất và chất lượng trứng gà đẻ Hisex Brown giai đoạn 33 – 42 tuần
tuổi” đƣợc thực hiện với mục tiêu:
Đánh giá đƣợc sự ảnh hƣởng của beta-glucan vào khẩu phần gà đẻ Hisex
Brown lên năng suất và chất lƣợng trứng giai đoạn 33 – 42 tuần tuổi nhằm xác
định mức độ bổ sung beta-glucan tối ƣu trong khẩu phần qua hiệu quả kinh tế
mà nó đem lại.

2

CHƢƠNG 2: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Sơ lƣợc về giống gà Hisex Brown
2.1.1 Nguồn gốc
Gà Hisex Brown là có nguồn gốc từ hãng Euribreed - Hà Lan nhập vào
Việt Nam từ năm 1997 (Đào Đức Long, 2004). Sau đó, công ty Emivest nhập
giống gà bố mẹ về nuôi nhân giống từ năm 2007. Gà con sản xuất ra dùng để
thả nuôi ở các trang trại nuôi gia công cho công ty và một số để bán ra thị
trƣờng (Hình 2.1).

Hình 2.1 Gà Hisex Brown thƣơng phẩm
(
2.1.2 Đặc điểm sản xuất ở gà Hisex Brown
Một số chỉ tiêu về đặc điểm sản xuất ở gà Hisex Brown đƣợc trình bày ở

Bảng 2.1, Bảng 2.2 và Bảng 2.3 nhƣ sau:
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu sản xuất ở gà Hisex Brown
Giai đoạn tăng trƣởng (18 – 90 tuần tuổi)
Tỷ lệ nuôi sống (%)
93,9
Tuổi đạt tỷ lệ đẻ 50% (ngày)
143
Tỷ lệ đẻ cao nhất (%)
96
Khối lƣợng trung bình trứng (g)
62,7
Sản lƣợng trứng (trứng)
408
Tiêu tốn thức ăn trung bình (g/ngày)
110
Tiêu tốn thức ăn (kg/kg trứng)
2,17
Trọng lƣợng cơ thể (g)
1975
Haught
83
(www.isapoultry.com, 2008)

3

Theo Đào Đức Long (2004), đây là giống gà chuyên trứng màu nâu, cho
nhiều trứng, phù hợp thị hiếu ngƣời tiêu dùng nên chúng ta cần lƣu ý đến điều
kiện nuôi dƣỡng, chăm sóc và phải theo đúng quy trình chăm sóc nuôi của
hãng để đạt đƣợc kết quả cao.
Gà giống bố mẹ có khối lƣợng cơ thể đến 17 tuần tuổi là 1,4 kg, tỉ lệ nuôi

sống đến 97%. Lƣợng thức ăn tiêu thụ từ 18 – 20 tuần 5,5 kg/con. Tuổi đạt tỷ
lệ đẻ 50% ở 152 ngày. Sản lƣợng trứng đến 78 tuần tuổi 315 quả/mái, khối
lƣợng bình quân trứng là 63 g. Lƣợng thức ăn tiêu thụ từ 140 ngày tuổi là 116
g/con/ngày. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg trứng là 2,36 kg và cho 10 quả trứng là
1,49 kg. Gà mái đẻ thƣơng phẩm đạt tỷ lệ đẻ 5% ở 20 tuần tuổi. Khối lƣợng gà
mái khi kết thúc đẻ khoảng 2,15 kg/con. Tổng số thức ăn tiêu thụ cho 1 con gà
mái đẻ đến hết 78 tuần tuổi là 47 kg/con.
Bảng 2.2: Lƣợng thức ăn ăn vào, khối lƣợng gà chuẩn và thời gian chiếu sáng
đối với gà Hisex Brown
Tuần tuổi
Lƣợng thức ăn
ăn vào (g/ngày)
Khối lƣợng gà chuẩn
(g)
Thời gian chiếu sáng
(giờ/ngày)
20
98
1630
14,5
21
100
1700
15
22
104
1740
15,5
23
106

1780
16
24
108
1800
16
25
110
1815
16
26
112
1830
16
27
114
1840
16
28
115
1850
16
42
113
1950
16
51
112
1950
16

(www.isapoultry.com, 2008) Thời gian chiếu sáng chuẩn trên hệ thống chuồng kín
Tỷ lệ đẻ đạt 90% và tới 92% kéo dài khoảng 10 tuần từ tuần thứ 26 đến
tuần 36. Sau đó giảm chút ít và đến khi kết thúc ở 78 tuần tuổi gà đẻ đạt
khoảng 60%. Khối lƣợng trứng trong tuần đẻ đầu là 46 g và tăng dần cho đến
khi kết thúc là 67 g. Tổng số trứng đẻ ra đến hết tuần tuổi 78 là 307 quả/mái.
Tỷ lệ chết trong suốt thời kỳ đẻ trứng là 5,8% (Đào Đức Long, 2004).


4

Bảng 2.3: Tỷ lệ đẻ (%) và khối lƣợng trứng chuẩn (g) đối với gà Hisex Brown
Tuần tuổi
Tỷ lệ đẻ (%)
Khối lƣợng trứng chuẩn
25
95,4
58,4
26
96,0
59,2
27
96,2
59,9
28
95,9
60,5
29
95,7
61,0
30

95,4
61,4
31
95,0
61,8
32
94,8
62,1
33
94,4
62,4
34
94,2
62,6
35
93,9
62,8
36
93,7
63,0
37
93,2
63,1
38
93,0
63,2
39
92,8
63,2
40

92,7
63,3
41
92,4
63,3
42
92,2
63,4
43
91,9
63,4
44
91,7
63,5
45
91,2
63,5
46
90,7
63,6
47
90,4
63,6
48
90,2
63,7
49
89,7
63,7
(www.isapoultry.com, 2008)

2.2 Nhu cầu dinh dƣỡng của gà mái đẻ
2.2.1 Nhu cầu duy trì
Theo Bùi Xuân Mến (2007), nuôi gia cầm cho mục đích sản xuất, trƣớc
hết phải nuôi dƣỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không.
Một lƣợng đáng kể thức ăn tiêu tốn của gia cầm là sử dụng cho duy trì sự
sống. Nhu cầu năng lƣợng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản
và hoạt động bình thƣờng.

5

2.2.2 Nhu cầu sinh trƣởng
Theo Bùi Xuân Mến (2007), tốc độ tăng trƣởng tốt có thể đạt đƣợc với
một biên độ rộng của các mức năng lƣợng, bởi vì gia cầm có khả năng điều
chỉnh lƣợng thức ăn ăn vào để duy trì một mức tiêu thụ năng lƣợng khá ổn
định.
Nhu cầu protein và acid amin của gia cầm non đang sinh trƣởng là đặc
biệt quan trọng. Phần lớn vật chất khô tăng lên với sự sinh trƣởng là protein.
Sự thiếu hụt của hoặc protein tổng số hoặc là một acid amin thiết yếu nào đó
đều làm giảm tốc độ tăng trƣởng. Sự tổng hợp protein yêu cầu tất cả các acid
amin cần thiết làm thành protein cần phải có mặt trong cơ thể gần nhƣ cùng
một lúc. Khi thiếu một acid amin thiết yếu thì không có sự tổng hợp protein.
Các acid amin không đƣợc sử dụng cho tổng hợp protein sẽ chuyển đổi thành
carbohydrate hoặc mỡ, đồng thời nó có thể dễ dàng bị oxy hóa cho nhu cầu
năng lƣợng trực tiếp hay đƣợc dự trữ dƣới dạng mô mỡ. Thân thịt của những
vật nuôi cho ăn khẩu phần thiếu protein hoặc các acid amin thƣờng chứa nhiều
mỡ hơn những vật đƣợc ăn khẩu phần đủ và cân đối protein.
Điều cân nhắc quan trọng nhất trong việc biểu diễn nhu cầu các acid
amin là lƣợng thức ăn tiêu thụ. Một lƣợng ổn định protein tổng số và acid
amin thiết yếu trong thức ăn đƣợc yêu cầu để giúp cho tốc độ tăng trƣởng một
cơ thể có thành phần không thay đổi. Tuy nhiên khi nhu cầu protein đƣợc biểu

thị theo phần trăm trong khẩu phần thì mức protein ăn vào thực sự sẽ tùy thuộc
vào sự tiêu thụ thức ăn. Mức năng lƣợng trong khẩu phần có thể là sự xem xét
quan trọng nhất trong việc đánh giá lƣợng thức ăn ăn vào. Vì lý do này mà các
nhu cầu đƣợc biểu diễn nhƣ phần trăm của khẩu phần luôn có liên quan đến
mức năng lƣợng của khẩu phần đó.
Gà có sức sản xuất càng lớn thì khả năng chuyển hoá năng lƣợng vào sản
phẩm càng cao. Muốn gà sản xuất bình thƣờng thì phải tăng mức năng lƣợng
trong thức ăn hỗn hợp. Năng lƣợng tăng thêm này tốt nhất lấy từ sự bổ sung
chất béo vào khẩu phần vì cơ thể chuyển hoá năng lƣợng từ chất béo không
toả nhiệt, không làm tăng thân nhiệt cao nhƣ chất bột đƣờng và protein. Nhƣ
vậy gà mái đẻ chịu stress nhiệt tốt hơn (Dƣơng Thanh Liêm, 2003).
2.2.3 Nhu cầu sản xuất
Năng lƣợng thuần cần cho một mái đang có tỷ lệ đẻ cao gồm năng lƣợng
tiêu phí cho duy trì và năng lƣợng dự trữ trong trứng. Gà mái có khả năng thay
đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lƣợng trong khẩu phần. Tuy nhiên,
mức năng lƣợng tối thiểu trong khẩu phần cho gà đẻ không thể dƣới mức 2640
kcal ME/kg. Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trƣờng lạnh thì mức năng

6

lƣợng không thể thấp hơn 2750 kcal ME/kg. Thƣờng thì mức năng lƣợng thực
trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức độ của giá thức ăn trong thực tế
sản xuất (Bùi Xuân Mến, 2007).
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1999), gà mái đẻ tiêu thụ thức ăn
giảm khi hàm lƣợng năng lƣợng trong khẩu phần thức ăn tăng và nhiệt độ môi
trƣờng cũng tăng. Và nhƣ vậy khi tăng hàm lƣợng năng lƣợng thì phải tăng cả
protein trong khẩu phần để đảm bảo cung cấp đủ protein và acid amin theo
yêu cầu của gà.
Năng lƣợng của thức ăn không đƣợc cơ thể gà sử dụng hoàn toàn mà một
phần bị mất đi với phân, thải nhiệt. Phần năng lƣợng đƣợc sử dụng khoảng 70

– 90% năng lƣợng toàn phần. Mức năng lƣợng thức ăn thấp, gà ăn nhiều,
ngƣợc lại mức năng lƣợng cao gà ăn ít thức ăn hơn. Với gà đẻ nhu cầu năng
lƣợng không vƣợt quá 3000 kcal/kg thức ăn, vì năng lƣợng cao gà sẽ tích lũy
béo, đẻ giảm, thích hợp là mức 2700 – 2900 kcal/kg thức ăn (Lê Hồng Mận,
2003).
Với mỗi quả trứng đƣợc đẻ thì một gà mái phải sản sinh ra khoảng 6,7 g
protein. Lƣợng protein này tƣơng đƣơng với lƣợng protein tích lũy hằng ngày
của một gà thịt đang sinh trƣởng có mức tăng trọng 37 g/ngày. Trong thời kỳ
đầu của quá trình sản xuất trứng, gà mái đang còn tăng trọng nên chúng cần
tích lũy cho cho cơ thể và cho sản xuất trứng. Sau đó nhu cầu protein của tăng
trọng giảm xuống nhƣng độ lớn của trứng lại tăng lên. Để có thể tạo ra đƣợc
những trứng lớn và đạt tỷ lệ tối đa, một gà mái một ngày phải tiêu thụ 17 g
protein (Bùi Xuân Mến, 2007).
2.3 Quy luật đẻ trứng và các giai đoạn sản xuất ở gà đẻ
2.3.1 Quy luật đẻ trứng
Theo Nguyễn Đức Hƣng (2006), gà đẻ trứng thƣơng phẩm thƣờng loại
thải sau 1 năm đẻ (500 – 550 ngày) từ khi đẻ quả trứng đầu tiên gia cầm mái
trải qua các biến đổi sinh lý, sinh hoá có liên quan đến sức đẻ trứng, khối
lƣợng trứng, khối lƣợng cơ thể và hiệu quả sử dụng thức ăn. Ở gia cầm tơ hay
gà mái đẻ trứng năm đầu thì quy luật đẻ trứng diễn ra theo 3 pha:
Pha 1: thƣờng là khi đẻ quả trứng đầu tiên đến hết 3 tháng đẻ trứng.
Trong pha này sản lƣợng trứng đẻ tăng từ ngày đẻ đầu tiên đến khoảng 2 – 3
tháng đẻ. Đồng thời với tăng sản lƣợng trứng, khối lƣợng trứng, khối lƣợng cơ
thể gà mái tăng lên. Pha đầu tiên của sự đẻ trứng thƣờng kết thúc lúc 42 tuần
tuổi.

7

Pha 2: Sau khi sản lƣợng trứng đạt đỉnh cao thì pha 2 của sự đẻ trứng bắt
đầu. Lúc này sản lƣợng trứng bắt đầu giảm từ từ, nhƣng khối lƣợng trứng và

cơ thể gà không giảm, giai đoạn cuối gà mái có biểu hiện tích luỹ mỡ. Pha 2
kéo dài đến khoảng 62 tuần tuổi, khi sức đẻ trứng giảm xuống còn 65% so với
tổng số gà mái đẻ trong ngày.
Pha 3: pha 3 tiếp theo pha 2 cho đến khi gà mái có biểu hiện thay lông.
Trong pha này sản lƣợng trứng giảm đến khi ngừng đẻ hẳn. Khối lƣợng trứng
giảm nhẹ hoặc ổn định, nhƣng chi phí thức ăn để sản xuất trứng tăng lên.
2.3.2 Các giai đoạn sản xuất ở gà đẻ
Theo Dƣơng Thanh Liêm (2003), nuôi dƣỡng khoa học là khi gà mái đẻ
năng suất tăng dần ta cũng cho ăn tăng dần, khi gà mái dẻ trứng giảm ta cũng
cho ăn giảm theo. Ngƣời Đức có câu ngạn ngữ “gà mái đẻ qua cái miệng”,
điều này có nghĩa gà ăn thế nào sẽ đẻ thế nấy hay ngƣợc lại gà đẻ thế nào thì
phải cho ăn theo cỡ nấy. Ở các nƣớc chăn nuôi gà tiên tiến, ngƣời ta chia giai
đoạn sản xuất của gà mái ra làm hai kỳ:
Kỳ đầu: giai đoạn bắt đầu đẻ, năng suất trứng tăng dần cho đến đỉnh cao
và duy trì ở đó một thời gian, thƣờng từ 20 – 40 tuần.
Kỳ cuối: giai đoạn từ năng suất đẻ trứng cao giảm dần xuống thấp,
thƣờng thì từ tuần 40 đến tuần 80.
Thời gian phân bố ở hai giai đoạn đầu kỳ đẻ và hậu kỳ đẻ có thể thay đổi
theo các giống với nhau, điều kiện nuôi dƣỡng cũng khác nhau và công tác
loại thải gà ở cuối kỳ khác nhau. Nếu công tác loại thải gà đẻ hoặc không đẻ
đƣợc tiến hành thƣờng xuyên thì sự giảm năng suất trứng sẽ chậm lại.
2.4 Các yếu tố ảnh hƣởng đến năng suất và chất lƣợng trứng
2.4.1 Dịch bệnh
2.4.1.1 Tác nhân do virus
Hội chứng giảm đẻ - EDS76 (Egg Drop Syndrome, 1976): Nguyên nhân
do một loại virus thuộc nhóm Adenovirus gây ra. Đặc trƣng của bệnh là gà
đang đẻ bình thƣờng tự nhiên giảm đột ngột 10 – 30% và kéo dài liên tục, mặc
dù ăn uống bình thƣờng và không chết. Thỉnh thoảng có tiêu chảy và thiếu
máu làm mào nhợt nhạt. Hình dạng trứng ngắn lại, vỏ mỏng sần sùi và chuyển
từ màu nâu sang màu trắng.

Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm – IB (Infectous Bronchitis): thƣờng có
biểu hiện ho, hắc hơi, chảy nƣớc mắt, mũi và sản lƣợng trứng giảm đến 50%
kéo dài trong 6 – 8 tuần, trứng méo mó, vỏ mỏng hay nhăn gợn sóng.

8

Bệnh dịch tả (Newcastle Disease) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus
thuộc nhóm Paramyxovirus gây ra với triệu trứng là gà đẻ giảm nhanh, vỏ
trứng mềm. Mỗ khám thấy buồng trứng xuất huyết đỏ và một số trứng bị teo.
Bệnh Marek là bệnh truyền nhiễm gây viêm hệ thần kinh vận đông, mà
đặc biệt là thần kinh ở cánh, làm tăng sinh các tế bào lympho nên hình thành
các khối u trong cơ thể, ở buồng trứng làm giảm hoặc ngƣng đẻ.
2.4.1.2 Tác nhân do vi khuẩn
Bệnh viêm gan do vi khuẩn Vibrio (Vibrionic hepatitis): Thƣờng tồn tại
âm ỉ trong điều kiện tự nhiên, gà ủ rủ, tiêu chảy. Gà đẻ giảm trứng, mào teo và
có vảy. Trứng non bị vỡ hoặc vón cục màu trắng, cứng từng đám nhƣ hạt đậu
trong buồng trứng.
Bệnh tụ huyết trùng (Fowl cholera) là một bệnh truyền nhiễm gây chết
nhanh và tỷ lệ chết cao với biểu hiện gia cầm chết đột ngột, trạng thái mệt
mỏi, mào tím tái, đi lại lập chập, liệt chân hay liệt cánh. Phân tiêu chảy thất
thƣờng, trắng loãng, trắng xanh hoặc có máu tƣơi, thở khó, chảy nƣớc mắt,
nƣớc mũi. Mỗ khám thấy buồng trứng đôi khi sung huyết đỏ hoặc xuất huyết
và trứng non vỡ.
Bệnh bạch lỵ (Salmonellosis): không có biểu hiện rõ ràng ở lâm sàng, chỉ
thấy giảm trứng, mào tái. Do vi khuẩn làm bại huyết gây thiếu máu và vi
khuẩn cƣ trú ở buồng trứng gây viêm teo buồng trứng, trứng non, méo mó,
màu sắc biến đổi từ đỏ sang trắng.
2.4.2 Dinh dƣỡng
Theo Đào Đức Long (2004), nếu trong khẩu phần gà có hàm lƣợng
protein thấp sẽ ảnh hƣởng rõ rệt đến sức sản xuất của chúng. Ngƣời ta nhận

thấy mức canxi thấp gà sẽ đẻ giảm đi rõ rệt, thiếu một số vitamin trong thức ăn
dẫn đến tỷ lệ có phôi thấp hẵn. Nếu thiếu nhiều loại vitamin và khoáng vi
lƣợng có thể dẫn đến ngừng đẻ hàng loạt. Thiếu vitamin D làm gà đẻ trứng vỏ
mỏng kéo dài một thời gian, sau chuyển sang đẻ non, tỷ lệ đẻ giảm.
Trúng độc Sulfonamid: do dùng quá liều hay dùng kéo dài, gà chậm phát
triển, sử dụng thức ăn kém, lông xù, màu tím tái… Làm gà đẻ trứng giảm, tỷ
lệ trứng có vỏ xù xì tăng, vỏ mỏng và mềm, trên vỏ trứng có nhiều điểm máu.
2.4.3 Stress nhiệt
Nếu nhiệt lƣợng sản xuất lớn hơn nhiệt lƣơng thải ra, nhiệt độ cơ thể gia
cầm cũng tăng lên. Khi thời tiết nóng gia cầm hạn chế hoạt động và ăn ít hoặc
bỏ ăn. Sự tiêu thụ và tiêu hoá thức ăn làm gia tăng nhiệt độ cơ thể do đó gia

9

cầm sẽ giảm lƣợng thức ăn ăn vào. Lƣợng nƣớc tiêu thụ cũng sẽ tăng làm cho
phân lỏng và chuồng trại ẩm hơn.
Stress nhiệt làm giảm lƣợng thức ăn ăn vào gây giảm tăng trọng, sản
lƣợng trứng và khối lƣợng trứng thấp hơn trên gà đẻ (Bảng 2.4). Tác hại
thƣờng gặp nhất là sự suy giảm chất lƣợng vỏ trứng. Ngoài ra, các khoáng
chất khác trong máu cũng bị ảnh hƣởng mà một trong những yếu tố quan trọng
nhất là photpho, và khi photpho tăng lên ở nhiệt độ cao và kết hợp stress nhiệt
có thể dẫn đến tử vong, đặt biệt là trên đàn gia cầm già.
Bảng 2.4: Ảnh hƣởng nhiệt độ đến độ lớn của trứng

Nhiệt độ
27,5
29,2
30,8
31,7
Lƣợng ăn (g/ngày)

113,7
102,2
101,5
94,4
Khối lƣợng cơ thể (g)
1589
1441
1400
1478
Trứng vừa và nhỏ (%)
32,3
48,4
56,3
66,7
(Sloan & Harms, 1984)
Hội chứng gan nhiễm mỡ xuất huyết – FLHS (Fatty Liver Hemorrhagic
Syndrome): Nguyên nhân là do nhiễm độc tố của vi khuẩn làm rối loạn trao
đổi chất, rối loạn men tiêu hoá và nội tiết tố gấy rối loạn dinh dƣỡng, làm biến
đổi tế bào gan, từ đó gan tích mỡ, thoái hoá và phình to. Hoặc do thức ăn có
độc tố nấm, quá nhiều xơ, nhiều muối làm xuất huyết gan từ đó gây tích mỡ,
ung thƣ và phì gan. Biểu hiện của bệnh là gà phát triển bình thƣờng ít biến
động. Đôi khi thấy trọng lƣợng trung bình gà quá mập, sau đó giảm đẻ và chết
đột ngột khi bị stress.
2.4.4 Yếu tố tiểu khí hậu
2.4.4.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi rất quan trọng trong chăn nuôi gà, quá
nóng, quá lạnh đều ảnh hƣởng làm giảm năng suất trứng, thịt. Đối với gà đẻ
trứng nếu nhiệt độ môi trƣờng dƣới 15
0
C hoặc tăng cao trên 30

0
C sẽ ảnh
hƣởng rất lớn đến sức đẻ trứng, khối lƣợng trứng và tỷ lệ hao hụt tăng (Bùi
Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999).
Theo Nguyễn Đức Hƣng (2006), ở gà sinh sản nhiệt độ chuồng nuôi tốt
nhất là 18 – 20
0
C và không quá 25
0
C. Nếu nhiệt độ nuôi dƣới 15
0
C hoặc cao
hơn 30
0
C ảnh hƣởng lớn đến sức đẻ trứng và khối lƣợng trứng, tỷ lệ gà chết
tăng lên.
Võ Bá Thọ (1996) cho biết, trong từng giai đoạn của đàn gà, nhu cầu đòi
hỏi về nhiệt độ khác nhau. Gà con bị lạnh hoặc nóng quá có thể chết hàng loạt,

10

gà không đủ sức hoạt động bình thƣờng, không ăn uống, không phát triển, đề
kháng kém với bệnh tật. Ở gà lớn, khi môi trƣờng nóng sẽ có biểu hiện rối
loạn chức năng sinh lý, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nƣớc nhiều làm ảnh hƣởng đến
tăng trọng, giảm đẻ, chất lƣợng trứng kém và có thể gây chết hàng loạt.
Theo Đào Đức Long (2004), những giống gà nhập nội nhẹ cân nhƣ
Lerghorn, Hisex Brown… chịu lạnh kém hơn những giống gà nội nặng cân
hƣớng thịt. Khả năng chịu nóng còn phụ thuộc vào giới tính, con trống chịu
đƣợc nhiệt độ cao tốt hơn con mái. Gà chƣa đẻ chịu nhiệt độ tốt hơn gà đang
đẻ trứng.

Nhiệt độ trong chuồng nuôi thích hợp để gà đẻ tốt ở vùng nhiệt đới
thƣờng ở mức 20 – 25
0
C (Bùi Xuân Mến, 2007). Khi nhiệt độ chuồng cao từ
30
0
C trở lên sẽ gây bất lợi cho sự sinh trƣởng của gà, gà thƣờng thở nhiều,
uống nƣớc nhiều, ăn rất ít, tính ngon miệng với thức ăn rất thấp (Dƣơng Thanh
Liêm, 2003).
2.4.4.2 Ẩm độ
Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng ảnh hƣởng đến sự thải hơi nƣớc đặc biệt là
nhiệt độ không khí, sức đẻ trứng, thành phần thức ăn, phƣơng pháp thu dọn
phân… do đó cần có hệ thống thông khí. Khi ẩm độ khô thì nhu cầu nƣớc
uống của gà tăng lên, đồng thời nhu cầu về thức ăn giảm xuống, gà đẻ bị mất
nƣớc, da khô (Dƣơng Thanh Liêm, 2003).
Theo Đào Đức Long (2004), ẩm độ từ 40 – 50% sẽ gây hại cho gà,
chuồng nuôi dễ bị bụi bẩn không khí, gà dễ bị bệnh hô hấp. vào mùa khô hanh
ở nƣớc ta có những ngày kèm theo lạnh nên sự bốc hơi từ phổi tăng nhanh dễ
gây cho cơ thể bị mất nhiệt và lạnh.
Còn Nguyễn Đức Hƣng (2006) thì cho biết, độ ẩm thấp có hại cho gà vì
bụi nhiều làm hỏng màng nhầy, không khí khô làm da khô gây ngứa, đây là
một trong những nguyên nhân gây mỗ nhau, ăn lông. Độ ẩm tốt nhất trong
chuồng nuôi từ 65 – 70%, độ ẩm không khí cao ảnh hƣởng đến sự cân bằng
nhiệt, gián tiếp ảnh hƣởng đến khả năng sinh sản của gà.
Võ Bá Thọ (1996) nói rằng, ẩm độ tƣơng đối của không khí chuồng nuôi
hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật nuôi, phƣơng pháp cho uống và thể thức lƣu
không khí của chuồng nuôi. Khi ẩm độ cao gà có biểu hiện khó thở, ngạt, dễ bị
bệnh đƣờng hô hấp. Ẩm độ cao gây tác hại gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi
cho sự tồn tại, phát triển của các mầm bệnh nhƣ vi khuẩn, ký sinh trùng và
nấm móc.


11

Theo Huỳnh Châu Khanh (2012), đề nghị áp dụng mức nhiệt độ 27,95
0
C
và ẩm độ 81,99% trong chăn nuôi gà đẻ Hisex Brown để đạt năng suất trứng
cao, tiêu tốn thức ăn thấp và đạt hiệu quả kinh tế cao.
2.4.4.3 Ánh sáng
Ánh sáng là yếu tố môi trƣờng quan trọng tác động mạnh mẽ đến quá
trình sinh lý, nó không thể thiếu cho chức năng thị giác và nhận biết của gia
cầm. Ánh sáng ảnh hƣởng trực tiếp đến sự sinh trƣởng, phát triển và phát dục
của chúng. Thông qua hệ thộng nội tiết, ánh sáng kích thích sự phát triển của
buồng trứng, kích thích sự rụng trứng, và sự chín của các bao noãn.
Võ Bá Thọ (1996) nói rằng, thời gian chiếu sáng phải phù hợp với từng
giống gà, từng lứa tuổi và đƣợc chú trọng vào thời kỳ đẻ vì nó ảnh hƣởng đến
năng suất và chất lƣợng của trứng. Trong giai đoạn đẻ trứng, thời gian chiếu
sáng thích hợp cho các giống gà là 16 h/ngày đêm với công suất 4 W/m
2

cƣờng độ là 20 lux.
Zhu và Davis (2003) cho biết, màu sắc ánh sáng cũng ảnh hƣởng đến khả
năng sản xuất của gia cầm. Khi đƣợc chiếu với ánh sáng màu đỏ thì chỉ số về
hình dạng của trứng lớn hơn, khả năng sinh sản tốt, tỷ lệ ấp nở cao. Ngoài ra,
còn làm giảm sản lƣợng trứng nhƣng chất lƣợng trứng đƣợc cải thiện khi đƣợc
chiếu với ánh sáng màu xanh lá cây.
Theo Lê Hồng Mận (2003), chƣơng trình chiếu sáng chuồng nuôi ảnh
hƣởng đến sinh trƣởng và sinh sản của gà, cần thực hiện nghiêm ngặt chế độ
chiếu sáng qua các giai đoạn gà con, gà dò, gà đẻ. Đối với gà hậu bị để đẻ
trứng sau 3 ngày nhập gà (tuần 18) thì sẽ đƣợc chiếu sáng liên tục 24 giờ, một

tuần sau đó gà đƣợc chiếu sáng từ 4 – 21 giờ và tuỳ theo giai đoạn gà đang đẻ
để điều chỉnh cho thích hợp.
2.4.4.4 Thông thoáng
Yếu tố này phụ thuộc vào kết cấu và các kiểu chuồng, nếu gà sống trong
điều kiện thông thoáng kém < 0,9 m
3
không khí/giờ/kg thể trọng thì đàn gà có
nguy cơ mắc bệnh hô hấp và bệnh Newcastle cao hơn bình thƣờng. Nếu gà
sống trong điều kiện trao đổi không khí tốt > 5 m
3
không khí/giờ/kg thể trọng
thì khả năng mắc bệnh rất thấp.
Trong quá trình lên men phân huỷ phân và chất độc chúng sinh ra một số
khí nhƣ ammoniac, metan, hydrosulfite và một số khí độc có hại. Trong đó khí
ammoniac là đáng lƣu ý, vì gây ảnh hƣởng sức khoẻ của công nhân lao động
cũng nhƣ trên đàn gà. Cơ quan khứu giác của gà rất nhạy cảm với khí NH
3,
biểu hiện triệu chứng chủ yếu là hắc hơi, sỗ mũi, chảy nƣớc mắt. nếu kéo dài

12

có thể bị tổn thƣơng niêm mạc tiếp xúc, giảm tính ngon miệng và giảm sức
khoẻ sản xuất. Nồng độ các khí này dễ tăng khi điều kiện vệ sinh trong chuồng
kém, thông thoáng kém, chuồng ẩm ƣớt (Lã Thị Thu Minh, 1997).
2.5 Giới thiệu về beta-glucan
2.5.1 Nguồn gốc
Beta-glucan (β-Glucan) là hợp chất đƣờng liên phân tử đƣợc tạo nên từ
các đơn phân tử D-glucose gắn với nhau qua liên kết β-glycoside, đƣợc chiết
xuất chủ yếu từ vách tế bào nấm men, yến mạch, rong biển. Các beta-glucan là
các nhóm phân tử đƣợc phân biệt dựa vào phân tử khối, độ hoà tan, độ nhớt và

cấu trúc không gian 3 chiều. Các hợp chất này thƣờng tồn tại dƣới dạng phổ
biến là cellulose của thực vật, vỏ cám của hạt ngủ cốc, thành tế bào của nấm
men (saccharomyces cerevisiae), vi khuẩn và một số loại nấm linh chi, nấm
hƣơng…
Một số loại beta-glucan đƣợc sử dụng nhƣ chất dinh dƣỡng ở ngƣời nhƣ
hợp chất tạo mịn và chất xơ hoà tan, tuy nhiên lại có thể bị biến đổi trong quá
trình đun sôi. Các nghiên cứu đã cho thấy dạng hợp chất không hoà tan (1-3/1-
6) -glucan có hoạt tính sinh học cao hơn dạng (1-3/1-4) -glucan. Sự khác
nhau giữa liên kết -glucan và cấu tạo hoá học chủ yếu là do độ hoà tan, phản
ứng và hoạt tính sinh học. Nấm men và nấm y học hấp thụ các beta-glucan cho
khả năng thích nghi với quá trình đề kháng.
2.5.2 Cấu tạo
Beta-glucan có dạng phân tử hình trụ dài chứa khoảng 250000 đơn vị
glucose nối liền nhau. Beta-glucan có 2 dạng: cấu trúc mạch thẳng và cấu trúc
mạch nhánh (Hình 2.2).

Hình 2.2 Cấu trúc hoá học của beta-glucan
(

13

Dạng cấu trúc mạch thẳng có cấu tạo từ những polysaccharide không
phân nhánh và đƣợc nối với nhau bởi liên kết β-(1-3) và β-(1-4)-D-Glucose
(Hình 2.3).
Hình 2.3 Cấu tạo beta-glucan (1-3) và (1-4)-D-glucan
(
Beta-glucan mạch phân nhánh có cấu tạo bởi những polysaccharide phân
nhánh và đƣợc nối với nhau bằng liên kết β-(1-3) và β-(1-6)-D-Glucose (Hình
2.4).
Hình 2.4 Cấu tạo beta-glucan (1-3) và (1-6)-D-glucan

(
Các nối β liên kết các phân tử glucose tạo ra cấu trúc glucan và nó xác
định các đặc tính sinh lý học của từng loại beta-glucan khác nhau. Ở β-(1-3)
và β-(1-6)-D-glucan hình thành ở nối 1-3 và 1-6 các cấu trúc chuổi nhánh.
2.5.3 Tính chất và tác dụng của beta-glucan
Beta-glucan không hoà tan trong nƣớc, ethanol, aceton nhƣng lại tan
trong NaOH và (CH
3
)
2
SO. Sự hoà tan này do sự giảm bậc trong cấu trúc hoá
học dƣới tác động của chất oxy hoá nặng. Beta-glucan có nguồn gốc sinh học,
thƣờng tác động đến sự tăng cƣờng đáp ứng miễn dịch tế bào từ các loại kháng
nguyên, nhiễm trùng, ung bƣớu.
Beta-glucan hoạt hoá hệ thống miễn dịch bởi những cơ quan thụ cảm
kích thích trên đại thực bào, tăng cƣờng những phản ứng chống lại nếu nhƣ

×