Tải bản đầy đủ (.doc) (56 trang)

Tính toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (307.42 KB, 56 trang )

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập và toàn cầu hóa là xu thế phát triển chung hiện nay trên thế
giới. Nền kinh tế của mỗi quốc gia vừa chịu sự ảnh hưởng vừa là một bộ phận
không thể tách rời của nền kinh tế toàn cầu. Cùng với xu thế toàn cầu hóa, cơ
hội đâu tư được mở rộng song rủi ro và thách thức đi kèm cũng không nhỏ.
Đã có không ít vụ đổ bể tài chính của các ngân hàng, các tập đoàn kinh tế
diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới từ các nước có nền kinh tế phát triển
như Mỹ, Nhật, Anh, Đức ….đến các nước đang phát triển như Thái Lan,
Malaysia, Hàn Quốc …Thực trạng này đã khiến các nhà hoạch định chính
sách quốc gia và các tổ chức tài chính có sự quan tâm đặc biệt tới hoạt động
quản lí rủi ro. Vì thế quản lí rủi ro tài chính trở thành hoạt động chủ chốt, có
vị trí trung tâm trong quản trị tài chính hiện đại. Trong quản lí rủi ro tài chính
hiện đại nếu chỉ đơn thuần dựa vào các chính sách định tính thì chưa đủ, mà
quan trọng hơn là phải hình thành và phát triển một hệ thống các phương
pháp khoa học nhằm lượng hóa mức độ rủi ro và tổn thất tài chính có thể xảy
ra trong những điều kiện nhất định của thị trường và của nền kinh tế để từ đó
đưa ra các giải pháp quản lí và giảm thiểu rủi ro hữu hiệu. Một trong những
căn cứ, những cơ sở hỗ trợ đắc lực cho hoạt động quản lí rủi ro đó là hệ thống
xếp hạng tín dụng do các tổ chức xếp hạng trên thế giới thực hiện. Chúng cho
phép nâng cao hiệu quả của đánh giá rủi ro tín dụng ban đầu và quản trị rủi ro
tín dụng một cách thường xuyên, liên tục .
Đó là xét trên phạm vi toàn thế giới, còn đối với Việt Nam thì sao? Quá
trình cải cách tài chính – ngân hàng là một bộ phận quan trọng không thể tách
rời của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Trong thời gian qua, hoạt động của hệ
thống ngân hàng thương mại theo hướng cải cách đã đóng góp đáng kể trong
các thành tựu chung của nền kinh tế Việt Nam. Trong các hoạt động kinh
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, tín dụng là hoạt động chủ yếu và
giữ vai trò quan trọng nhất . Tuy mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các Ngân


hàng thương mại , nhưng tín dụng lại là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro
nhất . Vì thế các ngân hàng thường sử dụng những giải pháp khác nhau nhằm
giảm thiểu những rủi ro này như: nâng cao chất lượng thẩm định , tập trung
vào các khách hàng mục tiêu, thực hiện các quy định về an toàn tín dụng…
Trong đó việc căn cứ vào các thông tin xếp hạng tín dụng doanh nghiệp do
Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC ) cung
cấp là 1 biện pháp được rất nhiều Ngân hàng thương mại áp dụng. Với hệ
thống xếp hạng chuyên nghiệp này trong những năm gần đây đã giúp các
Ngân hàng, các tổ chức tài chính, các nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính
sách đánh giá được năng lực tài chính của các khách hàng vay vốn ( mà ở
nước ta chủ yếu là các doanh nghiệp), đồng thời đưa ra những quyết định hợp
lí trong công tác kiểm soát những rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Tuy nhiên hiện
nay, cách xếp hạng của CIC vẫn còn thiên về lịch sử vay vốn, quan hệ với các
tổ chức tín dụng của các doanh nghiệp, phương thức đánh giá còn khá đơn
giản, không phân tích chuyên sâu về khả năng cạnh tranh của các ngành, cũng
như những thay đổi chất lượng tín dụng do tác động của những thay đổi biến
động của nền kinh tế .
Từ vai trò quan trọng của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp và từ những
thực tế đặt ra như vậy, sau thời gian thực tập tại Trung tâm Thông tin Tín
dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, em quyết định chọn đề tài “Tính
toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp được xếp hạng tại
Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “ cho
chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình .
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chuyên đề này chia ra làm ba phần :
Lời mở đầu
Nội dung chính: gồm 3 chương
Chương I: Những nội dung cơ bản về xếp hạng tín dụng
Chương II: Cơ sở lí luận : Mô hình CreditMetrics và phương pháp tính

toán xác suất chuyển hạng dựa vào mô hình này
Chương III: Cơ sở thực tiễn : Ứng dụng mô hình CreditMetrics tính
toán xác suất chuyển hạng của một số doanh nghiệp Việt Nam.
Chương IV: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro ở Việt Nam – Đánh
giá và khuyến nghị
Kết luận
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại chuyên ngành Toán tài chính,
khoa Toán kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân kết hợp với thời gian
thực tập tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong khoa, đặc biệt là thầy giáo,
PGS.TS Nguyễn Quang Dong và của Trung tâm nơi em thực tập đã giúp em
hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Mặc dù CreditMetrics đã được áp dụng ở rất nhiều quốc gia trên thế giới
nhưng mô hình này còn khá mới mẻ đối với chúng ta, hiện nay nó vẫn chưa
được đưa vào áp dụng ở Việt Nam. Hơn thế nữa, do điều kiện nền kinh tế
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, ngành Ngân hàng tài chính mới thực
sự phát triển trong vài năm gần đây nên cơ sở dữ liệu còn thô sơ và nhiều hạn
chế, khả năng máy móc, công nghệ thông tin còn nhiều bất cập. Vì thế nên
trong quá trình xây dựng chuyên đề này vẫn còn nhiều thiếu sót do khách
quan và chủ quan. Vì thế em rất mong được sự chỉ bảo, chỉnh sửa của thầy để
chuyên đề của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Quang Dong đã
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hướng dẫn nhiệt tình để giúp em hoàn thành chuyên đề này !
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ
nhân viên Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và
đặc biệt cảm ơn chị Trần Tuyết Nhung – trưởng phòng phân tích tại trung tâm
đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập!
4

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG
I. Giới thiệu chung về xếp hạng tín dụng
1.Khái niệm xếp hạng tín dụng
Xếp hạng tín dụng là một thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam trong
những năm gần đây, nhưng nó được đưa ra cách đây gần 1000 năm ( từ năm
1909). Tên tiếng anh của thuật ngữ này là CREDIT RATING, trong đó Credit
như chúng ta đã biết có nghĩa là tín dụng, còn rating chính là sự đánh giá , xếp
hạng. Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ này chính là Jonh Moody – người có
ảnh hưởng lớn đến hoạt động xếp hạng tín dụng trên toàn thế giới, người sáng
lập ra tổ chức xếp hạng tín dụng lớn nhất thế giới và từ đó được sử dụng cho
đến ngày nay. Theo Moody “ Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá khả năng
thanh toán trong tương lai và sự sẵn sàng thanh toán của một tổ chức phát
hành về việc thực hiện thanh toán đúng hạn cả gốc lẫn lãi đối với một khoản
nợ nào đó“. Hay nói cách khác, đó chính là đánh giá hiện thời về chất lượng
tín dụng được xem xét trong tương lai, phản ánh khả năng và sự sẵn sàng của
Nhà phát hành ( người đi vay ) trong việc thanh toán cả lãi và gốc đúng hạn .
Sau này với sự xuất hiện của nhiều tổ chức xếp hạng tín dụng như S&P
( Stand & Poor ), hay công ty Duff & Phelps, công ty Fitch ….có nhiều cách
hiểu khác nhau về xếp hạng tín dụng , chẳng hạn như theo định nghĩa của
công ty Standard & Poor thì “ Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá về mức độ tin
cậy ( tín nhiệm ) nói chung của khách hàng , hoặc là sự tín nhiệm của một
khách hàng có liên quan đến một khoản nợ cụ thể hoặc một nghĩa vụ tài chính
khác , dựa trên những yếu tố rủi ro hợp lí “. ..
Ở Việt Nam , xếp hạng tín dụng được Trung tâm Thông tin tín dụng
định nghĩa như sau “ xếp hạng tín dụng là sự đánh giá mức độ tin cậy của
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một thực thể ( cá nhân ,doanh nghiệp hay quốc gia …) dựa trên lịch sử các lần

vay, trả nợ cũng như độ sẵn sàng về tài sản và mức độ nợ “.
Trong giai đoạn hiện nay , cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị
trường chứng khoán thì xếp hạng tín dụng không chỉ bó hẹp trong hoạt động
của các ngân hàng mà nó còn được xem như là một căn cứ giúp các nhà đầu
tư, các tổ chức tiến hành đầu tư chứng khoán. Vì thế xếp hạng tín dụng được
hiểu rộng ra là “ sự đánh giá, nhận định về mức độ tín nhiệm của các tổ chức,
cá nhân đối với một doanh nghiệp . Các tổ chức cá nhân ở đây có thể là các
ngân hàng, các nhà đầu tư, các cơ quan quản lí, người tiêu dùng …
2. Mục đích của xếp hạng tín dụng :
Tuy xếp hạng tín dụng phục vụ cho tất cả các tổ chức, các cá nhân yêu
cầu nhưng tổ chức cần thông tin xếp hạng tín dụng nhất vẫn là các Ngân hàng
thương mại,vì hoạt động tín dụng hàm chứa nhiều rủi ro.Vì thế chúng ta sẽ
đứng trên quan điểm những người cần thông tin là ngân hàng thương mại để
xem xét mục đích của công tác xếp hạng tín dụng .
Mục đích của xếp hạng tín dụng là đưa ra những nhận xét đánh giá về
tình hình hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán trong hiện tại và
tương lai của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ các ngân hàng thương mại trong
việc:
Thứ nhất, ra quyết định cấp tín dụng: xác định hạn mức tín dụng của
một khách hàng, số tiền cho vay/ bảo lãnh, thời hạn, mức lãi suất/phí, biện
pháp bảo đảm cho khoản tín dụng .
Thứ hai, giám sát và đánh giá khách hàng tín dụng khi khoản tín dụng
đang còn dư nợ; hạng tín dụng của khách hàng cho phép ngân hàng cho vay
lường trước được những dấu hiệu xấu về chất lượng khoản vay, từ đó có
những biện pháp đối phó kịp thời .
Xét trên góc độ quản lí toàn bộ danh mục cho vay của ngân hàng
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thương mại thì hệ thống xếp hạng tín dụng còn nhằm mục đích:
Thứ nhất, phát triển chiến lược Marketing nhằm hướng tới khách hàng

có ít rủi ro hơn .
Thứ hai, ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ không thu hồi được để trích
lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng một cách hợp lí nhất.
3. Nhiệm vụ chủ yếu của xếp hạng tín dụng
Xếp hạng tín dụng tập trung vào việc đánh giá hai mảng chính, đó là :
Thứ nhất, khả năng thực hiện các cam kết tài chính. Khả năng này được
xem xét thông qua các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính phản ánh tiềm năng
trong tương lai của công ty như: khả năng sinh lời, khả năng thanh toán
nhanh, khả năng thanh toán ngắn hạn, vòng quay hàng tồn kho, kì thu tiền
bình quân, hiệu quả sử dụng tài sản, các chỉ tiêu về thu nhập, hệ số khả năng
trả lãi, hệ số khả năng trả gốc,năng lực và kinh nghiệm quản lí…. Từ việc
đánh giá và cho điểm dựa trên những chỉ tiêu này, một hạng tín dụng sẽ cho ta
kết luận tương ứng về khả năng thực hiện các cam kết của khách hàng là các
doanh nghiệp.
Thứ hai, đó là mong muốn thực hiện các cam kết tài chính. Điều này
được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu phi tài chính như: Số lần trả nợ đúng
hạn, số lần giãn nợ hoặc gia hạn nợ, nợ quá hạn trong quá khứ, số lần cam kết
mất khả năng thanh toán, số lần nhận trả lãi vay, các chỉ tiêu về năng lực và
kinh nghiệm quản lí, môi trường kinh doanh …
Mặc dù xếp hạng tín dụng được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu tài chính
và phi tài chính của các doanh nghiệp nên kết quả của nó có độ tin cậy khá
cao và được coi là một cơ sở, căn cứ quan trọng hỗ trợ Ngân hàng trong các
quyết định tín dụng, và là một hình thức tư vấn chứng khoán cho các nhà đầu
tư nhưng lưu ý rằng xếp hạng tín dụng không phải là một lời đảm bảo về khả
năng trả một khoản nợ cụ thể khuyến nghị cho các nhà đầu tư. Mà nó đưa ra
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một ý kiến đáng tin cậy, sau khi đã thực hiện các phân tích định tính và định
lượng phù hợp. Điều này có nghĩa là các kết quả xếp hạng tín dụng được đưa
ra từ các tổ chức xếp hạng tín dụng chỉ mang tính chất tương đối chứ không

phải là tuyệt đối.
4. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống xếp hạng tín dụng trên
thế giới
Mặc dù xếp hạng tín dụng mới chính thức ra đời vào đầu thế kỷ 20
,nhưng trước đó một thời gian khá dài thì việc buôn bán trao đổi của các
thương nhân hay chính là các nhà buôn vẫn dựa trên một nguyên tắc khá phổ
biến đó là: trước khi thực hiện việc trao đổi buôn bán với đối tác nào đó, các
nhà buôn này đều phải tìm hiểu rất kĩ về đối tác đó. Việc tìm hiểu này được
tiến hành thông qua việc thăm dò ý kiến của những người có quan hệ rộng ,
quen biết rộng để biết được mức độ tín nhiệm của đối tác đó.Từ đó xúc tiến
việc buôn bán ở các mức độ khác nhau. Rõ ràng hình thức này tương tự như
hình thức xếp loại tín dụng, trong đó chỉ thay thế các nhà buôn bằng các ngân
hàng thương mại, các tổ chức và cá nhân khác. còn những người có quan hệ
rộng ở đây chính là các tổ chức xếp hạng tín dụng, có vai trò cung cấp thông
tin tổng quát nhất về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông
qua hạng tín dụng của doanh nghiệp đó.
Vào đầu thế kỉ 20, có một loại chứng khoán mới ra đời, đó là trái phiếu
công ty.Việc phát hành trái phiếu công ty được coi là một hiện tượng của thế
kỉ 20. Việc phát hành trái phiếu công ty diễn ra cùng khoảng thời gian với các
bài báo bài luận đầu tiên được xuất bản có nội dung viết về các chỉ số phân
tích tài chính, kế toán của các công ty. Các chỉ số này được dùng như là tiêu
chuẩn để chuẩn đoán sức mạnh tài chính của một công ty. Nhưng những chỉ
tiêu đó chỉ xuất hiện trong các bài báo cho đến những năm đầu của thập kỉ
20, thì nó mới chính thức được các tổ chức đưa ra để trao đổi và nghiên cứu
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một cách chuyên sâu, và nâng cao hơn vai trò của các chỉ số phân tích tài chính.
Đó là những nguồn gốc sâu xa cho sự ra đời của hệ thống xếp hạng tin dụng
Cùng thời gian ra đời của trái phiếu công ty, trong quá trình tìm hiểu,
nghiên cứu và đánh giá các công ty phát hành trái phiếu thì vào năm 1909,

John Moody chính thức đưa ra khái niệm xếp hạng tín dụng (Credit Rating)
trong một cuốn sách “Cẩm nang chứng khoán đường sắt “, ở đó ông đã tiến
hành nghiên cứu, phân tích và đưa ra Bảng xếp hạng tín nhiệm đầu tiên cho
1500 trái phiếu của 250 công ty đường sắt theo hệ thống kí hiệu hết sức đơn
giản và dễ hiểu, với 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt từ Aaa đến C. Sự
kiện này đánh một dấu mốc quan trọng cho sự ra đời của hệ thống xếp hạng
tín dụng trên thế giới, đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử ngành
Ngân hàng – Tài chính. Cũng từ đó tổ chức xếp hạng tín dụng Moody’s ra đời
và sau này trở thành một trong những tổ chức xếp hạng lớn nhất trên thế giới.
Sau sự ra đời của Moody’s thì năm 1916, công ty định mức tín nhiệm
Standard & Poor cũng được thành lập và tổ chức này đã nhanh chóng khẳng định
tên tuổi cũng như vị trí của mình trong hệ thống xếp hạng trên toàn thế giới.
Cùng với Moody’s thì Standard & Poor cũng được đánh giá khá cao về
độ tin cậy của các thông tin mà ở đây cụ thể là các bản xếp hạng tín dụng của
các công ty trên toàn thế giới do họ đưa ra .
Sau Moody’s, Standard & Poor thì có hàng loạt các tổ chức xếp hạng
tín dụng ra đời như: Duff & Phelps hay Fitch…Hoạt động xếp hạng tín dụng
ngày càng được cải tiến, được nâng cao cả về phương pháp xếp hạng lẫn kĩ
thuật, công nghệ sử dụng. Đặc biệt là kể từ thập kỉ 80 trở lại đây, khi hoạt
động đầu tư – kinh doanh của các tổ chức tài chính gặp nhiều rủi ro hơn
trước, khủng hoảng tài chính xuất hiện tại nhiều nước trên thế giới đã gây ra
những tổn thất vô cùng to lớn thì vai trò của hệ thống xếp hạng tín dụng lại
càng được nâng cao và hoạt động này được quan tâm chú trọng hơn bao giờ
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hết. Nếu như trước kia xếp hạng tín dụng doanh nghiệp chỉ là công việc của
các tổ chức xếp hạng lớn như Moody’s hay Standard & Poor hoặc là Fitch
….thì ngày nay, tất cả các quốc gia kể cả các quốc gia đang phát triển thì đều
thành lập các cơ quan chuyên trách về mảng xếp hạng tín dụng các doanh
nghiêp. Và xếp hạng tín dụng trở thành một công việc quan trọng trong hoạt

động tín dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại. Cùng với sự phát triển về
số lượng các tổ chức xếp hạng tín dụng thì chất lượng của công tác xếp hạng
tín dụng cũng ngày một nâng cao hơn. Trên thế giới đã có nhiều phương
pháp, nhiều mô hình đưa ra nhằm tối đa hóa độ tin cậy của các kết quả xếp
hạng, chuyển từ hướng đánh giá xếp hạng mang tính chất định tính sang định
lượng, chuyển từ các phương pháp đánh giá truyền thống ( phương pháp
chuyên gia ) sang các phương pháp mang tính khách quan, chính xác hơn,
chuyển từ mô hình phi cấu trúc sang mô hình cấu trúc,,,
Đó là hiện tại, còn tương lai hệ thống xếp hạng sẽ phát triển như thế
nào? Rõ ràng tuy được cải tiến rất nhiều và hệ thống xếp hạng tín dụng đã
ngày càng đạt được độ tin cậy cao nhưng hiện nay hệ thống xếp hạng tín dụng
toàn cầu vẫn còn gặp nhiều bất cập, đó là sự chưa đồng bộ về phương pháp
cũng như kĩ thuật xếp hạng giữa các quốc gia khác nhau, thậm chí ngay trong
cùng một quốc gia thì đối với các tổ chức xếp hạng khác nhau cũng cho kết
quả khác nhau về mức độ tín nhiệm của 1 doanh nghiệp. Vì thế , trong tương
lai các nhà quản lí kinh tế, tài chính nói chung và các tổ chức xếp hạng tín
dụng nói riêng đều mong muốn xây dựng một khung phương pháp tính toán
và xếp hạng chung trên toàn thế giới, đạt được sự đồng bộ thống nhất giữa các
tổ chức xếp hạng tín dụng cũng như giữa các quốc gia, để từ đó có cái nhìn
nhất quán về tình hình hoạt động, mức độ tín nhiệm của các công ty, các
khách hàng.
5. Phân loại xếp hạng tín dụng
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Có nhiều cách để phân loại các hình thức xếp hạng tín dụng. Tùy thuộc
vào các căn cứ để phân loại chúng ta có các loại xếp hạng tín dụng tương ứng.
Ta sẽ xét lần lượt hai căn cứ phân loại :
5.1.Căn cứ vào đối tượng xếp hạng
Dựa vào tiêu thức này, người ta phân xếp hạng tín dụng thành 4 loại như
sau

Thứ nhất, đó là xếp hạng tín dụng cá nhân. Đây là hình thức xếp hạng
được áp dụng đối với các cá nhân tham gia vào hoạt động tín dụng của các
ngân hàng thương mại, hay chính là các khách hàng cá nhân. Việc xếp hạng
tín dụng cá nhân được thực hiện dựa trên lịch sử trả nợ, số lượng và loại tài
sản mà cá nhân đó đang sở hữu, những khoản thanh toán chậm hoặc nợ quá
hạn. Tất cả những thông tin đó đều được thu thập và tổng hợp trong các báo
cáo tín nhiệm về cá nhân đó.
Thứ hai, đó là định mức tín nhiệm doanh nghiệp. Hình thức xếp hạng
này tập trung vào đối tượng xếp hạng là các doanh nghiệp . Việc đánh giá xếp
hạng doanh nghiệp được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau ,
nhưng về cơ bản vẫn dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của doanh
nghiệp để đánh giá .
Thứ ba là xếp hạng tín dụng quốc gia. Loại hình xếp hạng tín dụng này
đánh giá mức độ tin cậy của một quốc gia, để từ đó có thể so sánh môi trường
đầu tư giữa các quốc gia, quốc gia nào càng được xếp hạng tín dụng cao thì
càng nhận được sự tín nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài nên sẽ thu hút
được nhiều nguồn vốn đầu tư. Việc xếp hạng tín dụng các quốc gia dựa trên
các chỉ số phát triển chung như: chỉ số phát triển các ngành, chỉ số an toàn
vốn đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, mức độ bình ổn chính trị,

Cuối cùng, đó là xếp hạng tín dụng các công dụ đầu tư. Các công cụ
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được xếp hạng chủ yếu vẫn là các công cụ có thu nhập cố định như : trái
phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và các loại trái phiếu, kì phiếu ngân hàng.
Ở một số nước và một số tổ chức xếp hạng tín dụng hiện nay còn xếp hạng tín
dụng cả cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường …Việc xếp hạng tín dụng đối với
các loại công cụ đầu tư được thực hiện dựa trên một số chỉ tiêu như: khả năng
thanh khoản , kì hạn , lãi suất , mệnh giá , các rủi ro có thể gặp phải ,….
Hiện nay, ở nước ta mới chỉ tập trung xếp hạng các doanh nghiệp tham

gia hoạt động tín dụng ở các ngân hàng thương mại, còn các loại hình xếp
hạng tín dụng khác vẫn chưa được triển khai do thị trường chứng khoán nước
ta vẫn còn trong thời kì phát triển sơ khai, chưa có nhiều sản phẩm, công cụ
đầu tư,…nên việc xếp hạng tín dụng các công cụ đầu tư là không cần thiết.
Xếp hạng quốc gia thì chúng ta chưa có khả năng thực hiện mà chỉ dành cho
những tổ chức xếp hạng lớn như Moody’s, Stand&Poor hay Fitch,…xếp
hạng, còn xếp hạng tín dụng cá nhân thì do hoạt động của các cá nhân không
phức tạp và khó phân tích như khách hàng doanh nghiệp nên cũng không cần
thiết phải xếp hạng.
5.2.Căn cứ vào phương pháp xếp hạng
Dựa vào căn cứ này, thì xếp hạng tín dụng được chia làm 2 loại sau :
Thứ nhất đó là xếp hạng tín dụng theo phương pháp truyền thống. Hiện
nay thì rất nhiều các quốc gia trên thế giới sử dụng loại hình xếp hạng tín
dụng này. Nội dung cơ bản của hình thức xếp loại này đó là việc đánh giá xếp
hạng tín dụng được thực hiện dựa trên những kinh nghiệm đã được đúc kết
của các chuyên gia để có thể tìm ra bản chất của mối quan hệ giữa vỡ nợ và
các nhân tố tác động đến nó. Các tổ chức xếp hạng tín dụng dựa trên lịch sử
những lần trả nợ, cho vay để đưa ra những đánh giá về khả năng trả nợ của
doanh nghiệp và người đi vay trong tương lai. Loại hình xếp hạng tín dụng
này mang tính chất chủ quan hơn là khách quan, mang tính chất định tính hơn
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
là định lượng. vì không phải các nhân tố liên quan đến khả năng trả nợ mà
trọng số của các nhân tố này cũng được xác định bởi các chuyên gia, hơn nữa
những nhân tố được sử dụng không trải qua sự kiểm chứng thống kê và xét
tính tối ưu nào .Nhưng hình thức xếp hạng tín dụng này vẫn rất được ưa
chuộng ở nhiều quốc gia, vì sao ? Bởi vì nó được xây dựng dựa trên kinh
nghiệm của các chuyên gia làm việc lâu năm trong lĩnh vực tài chính, các kết
quả xếp hạng tín dụng minh bạch với người sử dụng, không đi ngược với lí
thuyết và các phương pháp khoa học nên làm gia tăng sự chấp nhận cho loại

hình xếp hạng tín dụng này.
Thứ hai đó là xếp hạng tín dụng dựa trên phương pháp xây dựng thang
điểm. Phương thức xếp hạng tín dụng này, các tổ chức xếp hạng tín dụng sử
dụng bảng cho điểm và chia các yếu tố phân tích thành nhiều hạng mục khác
nhau, cung cấp một thang điểm cho tất cả các chỉ tiêu khi đánh giá, xếp hạng
một đối tượng nào đó .Thang điểm được xây dựng theo 2 cách sau:
Thang điểm được tính toán dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài
chính
Thang điểm được xây dựng theo độ rủi ro của các đối tượng xếp hạng
( Chẳng hạn đối với doanh nghiệp thì thang điểm được xây dựng dựa trên độ
biến động tài sản của doanh nghiệp )
6. Sự cần thiết của hệ thống xếp hạng tín dụng
Ta nhận thấy một xu thế phát triển chung hiện nay trên thế giới đó là xu
thế hội nhập và toàn cầu hóa. Cùng với xu thế này, nền kinh tế các nước có cơ
hội phát triển mạnh song những rủi ro và thách thức đi kèm cũng không nhỏ.
Thực tế chứng minh ,đã có rất nhiều vụ đổ bể tài chính , nhiều cuộc khủng
hoảng tài chính diễn ra với những tổn thất khổng lồ : sự đổ bể tài chính trong
những năm đầu thập kỉ 90 xảy ra tại các công ty lớn như ngân hàng Daiwa
( Nhật Bản ) ,Ngân hàng Baring ( Anh ),Quỹ đầu tư Orange County ( Mỹ ) ,
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tập đoàn công nghiệp Metallgesellschaft ( Đức )…và những cuộc khủng
hoảng tài chính diễn ra trong khoảng hơn chục năm trở lại đây xảy ra ơ
Achentina (thiệt hại tương đương 55% GDP của nước này ), ở Trung Quốc
( 47% GDP của Trung Quốc ), khủng hoảng tài chính Châu Á gây tổn thất
tương đương 25 tỷ đô la tại Thái Lan, 36 tỷ đô la tại Malaysia . Các nhà phân
tích tài chính cho rằng nguyên nhân chính của những cuộc khủng hoảng này
đó là do việc phân bổ nguồn vốn đầu tư không hợp lí trong các ngân hàng, do
công tác quản lí rủi ro tín dụng yếu kém, chuẩn mực về cho vay vốn chưa
hoàn thiện và đảm bảo. Tất cả những yếu kém này đều xuất phát từ thực tế là

chúng ta chưa có một hệ thống đánh giá mức độ tín nhiệm đầy đủ và tương
đối chính xác về các chủ thể trong nền kinh tế. Chính vì thế , sau những cuộc
khủng hoảng tài chính nặng nề, các quốc gia bắt đầu quan tâm và chú trọng
hơn nhiều đến hệ thống xếp hạng tín dụng, đặc biệt là hệ thống xếp hạng tín
dụng doanh nghiệp ( vì đây là chủ thể chính trong nền kinh tế). Đây là một
quyết định chính xác của các quốc gia vì xếp hạng tín dụng có một vai trò
quan trọng đối với mọi nền kinh tế, mọi ngành kinh tế, mọi chủ thể kinh tế .
Sau đây, em xin trình bày cụ thể vai trò của hệ thống xếp hạng tín dụng đối
với dưới nhiều góc độ và nhiều đối tượng :
6.1.Xét trên góc độ vĩ mô
Ở đây , chúng ta đứng trên góc độ tổng thể nền kinh tế để xem xét vai
trò, sự cần thiết của hệ thống xếp hạng tín dụng .
6.1.1.Vai trò đối với toàn bộ nền kinh tế
Đối với tổng thể nền kinh tế của một quốc gia, thì hệ thống xếp hạng
tín dụng là một công cụ quan trọng để tránh, giảm thiểu những rủi ro mang
tính chất hệ thống ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế .Từ đó, giúp duy trì một
nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định, tạo môi trường đầu tư lành
mạnh cho các nhà đầu tư nước ngoài .Không chỉ có thể ,kết quả mà hệ thống
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xếp hạng tín dụng công bố là động lực quan trọng khuyến khích các chủ thể
kinh tế, mà ở đây chủ yếu là các doanh nghiệp có xu thế hoàn thiện hóa hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình để đạt được hạng tín dụng tốt, tăng cường
uy tín của mình làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lại
càng đạt được hiệu quả cao. Đặc biệt xếp hạng tín dụng còn góp phần tăng
động lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế .Từ đó, thúc đẩy
nền kinh tế tăng trưởng và phát triển một cách toàn diện, ổn định và nhanh
chóng.
6.1.2. Vai trò đối với thị trường tiền tệ
Như chúng ta đã biết thị trường tiền tệ là thị trường mà ở đó chủ yếu

trao đổi các giấy tờ có giá ngắn hạn. Đối với thị trường này, hệ thống xếp
hạng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của thị trường.
Đồng thời, kết quả xếp hạng tín dụng cũng giúp cho hoạt động phân bổ vốn
diễn ra trên thị trường này trở nên hợp lí và phù hợp hơn. Với việc xếp hạng
các chứng khoán cũng như các khoản nợ ngắn hạn và các công ty phát hành
hay những doanh nghiệp tham gia hoạt động tín dụng tại các ngân hàng
thương mại, hệ thống xếp hạng đóng vai trò như là kim chỉ nam hướng dẫn
hoạt động đầu tư trên thị trường, hướng thị trường phát triển theo xu thế an
toàn, ổn định và hiệu quả.
6.1.3. Vai trò đối với thị trường vốn
Thị trường vốn là thị trường mà ở đó chủ yếu diễn ra sự trao đổi buôn
bán các giấy tờ có giá trung và dài hạn, hay thị trường này chính là thị trường
chủ yếu huy động các nguồn vốn trung và dài hạn.Chính vì thế, đây được coi
là thị trường luôn tiềm ẩn những rủi ro rất lớn. Sự ra đời của hệ thống xếp
hạng tín dụng đã góp phần không nhỏ vào việc giảm thiểu những rủi ro trên
thị trường này. Không những thế, những thông tin được công bố về tình hình
các doanh nghiệp phát hành, các công cụ đầu tư trên thị trường đóng một vai
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trò không nhỏ trong việc điều tiết thị trường này một cách hợp lí, giúp cho
luồng vốn được chu chuyển theo đúng hướng từ những người nhàn rỗi đến
đúng tay những người thực sự cần vốn và sử dụng vốn một cách hiệu quả.
6.1.4.Vai trò đối với cơ quan quản lí nhà nước về tài chính – tiền tệ
Sau những bài học kinh nghiệm rút ra từ nhiều cuộc khủng hoảng tài
chính trầm trọng trên thế giới trong mấy thập kỉ gần đây, các cơ quan quản lí
nhà nước về tài chính – tiền tệ cũng như các nhà hoạch định chính sách quốc
gia đã ý thức rõ vai trò và tầm quan trọng của hệ thống xếp hạng tín dụng.
Chính vì thế trong những năm gần đây, họ bắt đầu sử dụng kết quả xếp hạng
tín dụng như là một tiêu chí để xem xét, kiểm tra sự lành mạnh về tài chính
của các công ty. Từ đó, cơ quan quản lí nhà nước có thể đưa ra những chính

sách phát triển phù hợp đối với nền kinh tế nói chung và đối với thị trường
vốn, thị trường tiền tệ nói riêng, chẳng hạn đối với những doanh nghiệp có
hạng tín dụng chất lượng
thấp thì các cơ quan quản lí nhà nước sẽ tiến hành khuyến cáo đối với
doanh nghiệp, và đưa ra những quy định nghiêm ngặt không cho ảnh hưởng
đến toàn hệ thống. Hoặc đối với những doanh nghiệp có chất lương tín dụng
cao thì cơ quan quản lí sẽ ưu tiên hơn trong việc cấp vốn hay cung cấp các
dịch vụ công cộng của nhà nước, từ đó khuyến khích các doanh nghiệp khác
phấn đấu để đạt chất lượng tín dụng cao.
6.2.Xét trên góc độ vi mô
Nếu như ở trên, ta xét vai trò của hệ thống xếp hạng dưới góc nhìn vĩ
mô, tức là xét vai trò của nó đối với tổng thể mang tính bao quát chung.Còn
trong phần này ta sẽ xét vai trò của xếp hạng tín dụng dưới góc độ vi mô, tức
là xét vai trò của nó đối với các chủ thể, các tác nhân cụ thể trong nền kinh tế
nói chung và trong thị trường tài chính nói riêng. Mà cụ thể trong phần này, ta
xét đến hai đối tượng chính chịu tác động của hệ thống xếp hạng tín dụng, đó
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
là: Các doanh nghiệp và các nhà đầu tư trên trên thị trường tài chính.
6.2.1.Đối với các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào, bất cứ hình thức
kinh doanh nào thì huy động vốn luôn là hoạt động quan trọng hàng đầu. Một
doanh nghiệp có thể tiến hành huy động vốn bằng nhiều phương thức khác
nhau, nhưng có lẽ hai phương thức huy động vốn mà các doanh nghiệp
thường ưa dùng đó là huy động vốn bằng cách đi vay Ngân hàng và các tổ
chức tín dụng khác hoặc huy động vốn bằng cách phát hành các chứng khoán
trên thị trường vốn. Với mỗi phương thức huy động vốn khác nhau, thì vai trò
của hệ thống xếp hạng đối với doanh nghiệp cũng khác nhau.Sau đây chúng ta
sẽ xét từng trường hợp cụ thể:
Trước hết, đối với các doanh nghiệp đi vay vốn tại các tổ chức tín dụng

thì xếp hạng tín dụng đóng một vai trò rất quan trọng.Trong đó vai trò quan
trọng nhất đó là hệ thống này có thể giúp các doanh nghiệp làm giảm chi phí
vay vốn của nhờ vào uy tín của chính doanh nghiệp, hạng tín dụng của doanh
nghiệp càng cao, tức là chất lượng tín dụng của doanh nghiệp được đánh giá
càng cao thì chi phí vay vốn của doanh nghiệp càng giảm. Những doanh
nghiệp được xếp tại những hạng tín dụng chất lượng cao thì sẽ nhận được sự
tin tưởng từ phía các tổ chức tín dụng, vì thế nó nhận được sự ưu tiên về mọi
mặt: thủ tục vay đơn giản, nhanh chóng; lãi suất vay thấp, kì hạn vay dài…
Cùng một khoản vay, cùng một kì hạn vay nhưng những doanh nghiệp có
chất lượng tín dụng tốt hơn sẽ được xét duyệt cho vay nhanh hơn, chi phí vay
thấp hơn. Với chi phí vay thấp sẽ làm cho tổng chi phí của doanh nghiệp
giảm, lợi nhuận doanh nghiệp tăng, và vì thế hạng tín dụng của doanh nghiệp
lại càng được nâng cao. Cứ như thế, hệ thống xếp hạng tín dụng giúp doanh
nghiệp ngày càng hoạt động hiệu quả, doanh thu ngày càng lớn. Đồng thời, hệ
thống xếp hạng cũng góp phần thúc đẩy động lực cạnh tranh giữa các doanh
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp, đây là một yếu tổ quan trọng giúp doanh nghiệp phát triển, lớn mạnh.
6.2.2. Đối với các nhà đầu tư
Xét trên góc độ các nhà đầu tư thì hệ thống xếp hạng tín dụng được
xem như là một hình thức tư vấn đầu tư.Các tổ chức xếp hạng tín dụng đóng
vai trò như cầu nối giữa nhà đầu tư với thị trường. Khi thị trường tài chính và
quá trình toàn cầu hóa ngày càng phát triển thì xếp hạng tín dụng được dùng
như một công cụ giám sát thị trường, nhằm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu
tư.Nhìn chung, hệ thống xếp hạng tín dụng đóng một vai trò quan trọng trong
quá trình tiến hành các hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư. Sau đây, là một
số vai trò chủ chốt của hệ thống xếp hạng tín dụng đối với nhà đầu tư :
Thứ nhất, kết quả mà hệ thống xếp hạng đưa ra là một tiêu chí rõ ràng,
đơn giản và dễ hiểu để xem xét và ra quyết định đầu tư. Một vấn đề cơ bản
khi quyết định đầu là phải xem xét tình hình sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp mà mình có ý định đầu tư trong quá khứ và hiện tại dựa trên cơ sở các
bảng báo cáo tài chính, bảng kế hoạch kinh doanh,…để từ đó dự đoán khả
năng tài chính của doanh nghiệp trong tương lai. Nếu nhận thấy có khả thi thì
có thể tiến hành đầu tư vốn vào doanh nghiệp đó để có thể kiếm lời từ nguồn
vốn đầu tư này. Nhưng trên thực tế khi hầu hết các thông tin mà các doanh
nghiệp cung cấp là thông tin không cân xứng, không đầy đủ và số liệu thì quá
chi tiết, quá nhỏ lẻ và quá phức tạp nên không phải nhà đầu tư nào cũng có
khả năng phân tích chúng.Hơn thế nữa việc phân tích đánh giá doanh nghiệp
dựa trên các số liệu đó không phải là dễ mà rất khó khăn và phức tạp. Vì thế,
việc có kết quả xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp với bảng tổng kết, thang
điểm và những kết luận rõ ràng, dễ hiểu sẽ rất cần và rất có ích đối với mỗi
nhà đầu tư. Nhìn vào kết quả xếp hạng tín dụng do các tổ chức xếp hạng tín
dụng cung cấp, nhà đầu tư có thể nhận biết ngay được mức độ rủi ro của
doanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó có thể ra quyết định
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đầu tư một cách hợp lí. Do vậy, xếp hạng tín dụng càng chính xác thì càng
được tín nhiệm và được đông đảo các nhà đầu tư tin dùng.
Thứ hai, xếp hạng tín dụng đóng vai trò là một nhân tố quan trọng
trong việc xác định mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kì vọng. Về nguyên
tắc định giá tài sản thì những tài sản có lợi nhuận kì vọng cao thì thường rủi
ro đi kèm cũng cao và ngược lại. Nhờ vào hệ thống xếp hạng tín dụng nhà đầu
tư có thể nhận biết được mức độ rủi ro của mỗi khoản đầu tư, từ đó có thể so
sánh, định mức mối quan hệ rủi ro-lợi nhuận giữa các tài sản khác nhau để
tìm ra tài sản có lợi nhất để đầu tư sao cho vừa có thể đảm bảo được hiệu quả
đầu tư, vừa đảm bảo sự an toàn của đồng vốn bỏ ra.
Thứ ba, xếp hạng tín dụng đóng vai trò là một công cụ quan trọng trong
việc quản lí một danh mục đầu tư trong hoạt động đầu tư tài chính. Như
chúng ta đã biết, các nhà đầu tư hoạt động trên thị trường tài chính mua các
loại chứng khoán với hai mục đích chính, đó là: lợi tức và tiền lãi từ kinh

doanh chênh lệch giá. Với sự phát triển như vũ bão của thị trường thứ cấp thì
thu nhập từ chênh lệch giá là nguồn thu chủ yếu và là mối quan tâm hàng đầu
của các nhà đầu tư. Chính vì thế mà việc tiến hành đầu tư theo danh mục trở
thành hình thức đầu tư được nhiều nhà đầu tư ưa chuộng. Với hình thức đầu
tư này đòi hỏi nhà đầu tư phải luôn có những thông tin nhanh nhạy về các nhà
phát hành để có thể tiến hành đầu tư hợp lí. Phân tích chuyên sâu về một
doanh nghiệp đối với nhiều nhà đầu tư còn đang là vấn đề khó khăn, phức tạp
thế mà đầu tư theo danh mục đòi hỏi phải có sự phân tích về nhiều doanh
nghiệp. Vì thế, đối với các nhà đầu tư tiến hành đầu tư theo danh mục thì vai
trò của hệ thống xếp hạng tín dụng lại càng trở nên quan trọng hơn, bởi vì nhờ
hệ thống này nhà đầu tư có thể giảm được một lượng lớn công việc phân tích
tính toán phức tạp cồng kềnh.Hơn thế nữa, mỗi sự thay đổi của doanh nghiệp
phát hành về hạng tín dụng đều ảnh hưởng đến giá của những chứng khoán
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mà doanh nghiệp đó phát hành, các nhà đầu tư có thể căn cứ vào sự thay đổi
hạng tín dụng để thay đổi danh mục đầu tư của minh cho hợp lí nhằm thu lợi
nhuận và đảm bảo sự an toàn của đồng vốn.
Thứ tư, xếp hạng tín dụng góp phần hình thành nên các nhóm đầu tư
khác nhau. Như chúng ta đã biết, thị trường tài chính chia các nhà đầu tư
thành ba nhóm chính, đó là: Các nhà đầu tư e ngại rủi ro, các nhà đầu tư dung
hòa với rủi ro và các nhà đầu tư ưa thích rủi ro. Kết quả xếp hạng tín dụng của
các tổ chức xếp hạng là một căn cứ quan trọng để hình thành nên ba nhóm
nhà đầu tư trên. Bởi vì những nhà đầu tư e ngại rủi ro thường chỉ đầu tư vào
chứng khoán được phát hành từ những doanh nghiệp được đánh giá chất
lượng tín dụng cao, còn các nhà đầu tư ưa thích rủi ro thì lại thích đầu tư vào
các chứng khoán đầu cơ là những chứng khoán được phát hành từ những
doanh nghiệp được xếp hạng thấp.
7. Các tổ chức xếp hạng tín dụng
7.1. Trên thế giới

Như chúng ta đã biết, xếp hạng tín dụng bắt đầu hình thành trên thế
giới vào đầu thế kỉ 20. Bắt đầu với duy nhất một công ty xếp hạng là Moody’s
đến nay trên toàn thế giới đã có hàng trăm tổ chức xếp hạng tín dụng lớn nhỏ
khác nhau. Tuy hiện nay trên thế giới xuất hiện nhiều tổ chức xếp hạng tín
dụng với phương pháp, công nghệ mới, nhưng có lẽ hai tên tuổi vẫn được
nhắc đến nhiều nhất trong làng xếp hạng tín dụng vẫn là Standard & Poor và
Moody’s.
Công ty Moody’s được thành lập vào năm 1909, do John Moody –
người có công đầu trong sự ra đời của hệ thống xếp hạng tín dụng trên thế
giới, thành lâp nên. Công ty này hoạt động chủ yếu ở Mỹ nhưng có rất chi
nhánh ở nhiều nước trên thế giới. Khi mới thành lập công ty này chỉ tiến hành
xếp hạng các doanh nghiệp phát hành trái phiếu, nhưng hiện nay với sự phát
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
triển lớn mạnh không ngừng công ty đã tiến hành xếp hạng nhiều doanh
nghiệp khác và nhiều công cụ đầu tư khác, nhưng mạnh nhất vẫn là xếp hạng
các doanh nghiệp phát hành trái phiếu.
Thành lập sau công ty Moody’s 7 năm nhưng Standard & Poor cũng
chứng tỏ được vị thế của mình ngay lập tức và cùng với Moody’s trở thành
hai tổ chức xếp hạng tín dụng uy tín nhất trên thế giới. Với mạng lưới hoạt
động trên khắp thế giới, theo thống kê hiện nay S&P hoạt tại trên 50 quốc gia
trên thế giới, S&P ngày càng tạo được uy tín trong phương pháp cũng như
công nghệ được sử dụng để xếp hạng và được nhiều công ty, nhiều tổ chức,
nhiều nhà đầu tư tin dùng. So với Moody’s thì phạm vi xếp hạng của tổ chức
này rộng hơn rất nhiều, nhất là các loại chứng khoán.
Sau Moody’s, S&P thì có rất nhiều các công ty định mức ra đời , nhất
là sau khi những sự kiện hàng loạt những cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính
diễn ra, làm thiệt hại nặng nề đến nền kinh tế toàn thế giới.Có thể kể ra một số
công ty xếp hạng tín dụng như: Tổ chức xếp hạng trái phiếu Canada
( Canadian Bond Rating ) được thành lập vào năm 1972, tổ chức xếp hạng trái

phiếu Nhật Bản ( Japanese Bond Rating Institue ) bắt đầu hoạt động vào
năm1975, tổ chức xếp hạng trái phiếu quốc tế ( International Bond Credit
Agency ) thành lập tại London vào năm 1978, công ty xếp hạng tín dụng Duff
& Phelps ra đời trở thành tổ chức xếp hạng lớn thứ tư tại Mỹ và bắt đầu tiến
hành xếp hạng cho hàng loạt các công ty lớn, …
Nhìn chung, xét toàn bộ hệ thống xếp hạng tín dụng trên thế giới thì
các công ty xếp hạng tín dụng của Mỹ vẫn được đánh giá cao nhất cả về chất
lượng xếp hạng và phạm vi hoạt động. Các tổ chức xếp hạng của Mỹ đã xếp
hạng cho hàng loạt các công cụ nợ được giao dịch trên thị trường tài chính,
hàng nghìn các doanh nghiệp phát hành. Các tổ chức này hoạt động ở các thị
trường tài chính lớn trên khắp thế giới cũng như rất nhiều thị trường tài chính
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mới nổi. Chẳng hạn như Standard & Poor đã tiến hành xếp hạng cho khoảng
30000 loại trái phiếu và các cổ phiếu ưu đãi được phát hành bởi hơn 4000
công ty trên toàn thế giới, ngoài ra nó còn xếp hạng cho khoảng 15000 trái
phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu Chính phủ, các tổ chức nước ngoài
và tổ chức xuyên quốc gia.
Hiện nay, xếp hạng tín dụng không chỉ bó hẹp ở các quốc gia phát
triển mà tại các quốc gia mới nổi và các quốc gia đang phát triển, các tổ chức
xếp hạng cũng được thành lập và từng bước đi vào hoạt động chuyên nghiệp.
Hơn thế nữa các công ty xếp hạng tín dụng có tên tuổi cũng đã thiết lập các
chi nhánh của mình ở các thị trường mới nổi là những nơi đang rất cần đến
việc xếp hạng tín dụng để đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của thị trường.
Trong những năm gần đây, các nhà hoạch định chính sách ở các nước Công
nghiệp mới ( NICS ) và các quốc gia đang phát triển ngày càng nhận thức
được tầm quan trọng của các cơ quan định mức và xếp hạng tín dụng đối với
sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và đối với toàn bộ nền kinh tế
nói riêng. Đây là những tín hiệu rất đáng mừng của nền kinh tế toàn cầu.
7.2.Tại Việt Nam

Ở nước ta, do thị trường tài chính phát triển chậm hơn rất nhiều so với
khu vực và trên thế giới nên các tổ chức xếp hạng tín dụng ở Việt Nam cũng
được thành lập sau. Mãi đến năm 1993, tổ chức xếp hạng tín dụng đầu tiên
của Việt Nam mới được thành lập, đó là Trung tâm Thông tin tín dụng- Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam ( viết tắt là CIC ). Trung tâm này ra đời với chức
năng chính là lưu trữ thông tin trong lĩnh vực tín dụng của các doanh nghiệp
trên cả nước, từ đó tiến hành chấm điểm tín dụng các doanh nghiệp này dựa
trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Tính đến nay trung tâm đã tiến
hành xếp hạng cho khoảng trên 8000 doanh nghiệp là những khách hàng của
các Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, phương pháp xếp hạng của CIC còn
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thiên về lịch sử vay vốn, quan hệ với các tổ chức tín dụng của doanh nghiệp
hơn là phân tích chuyên sâu về khả năng cạnh tranh của các ngành, các doanh
nghiệp cũng như những thay đổi, biến động của nền kinh tế.
Sau sự ra đời của CIC, thì đến năm 2004 Công ty thông tin tín nhiệm
doanh nghiệp ( C&R) được thành lập. Công ty này chính thức công bố hoạt
động từ năm 2004 nhưng thực tế công ty này đã hoạt động trong lĩnh vực
thông tin tín dụng từ năm 2000. Thị phần chủ yếu của C&R là các doanh
nghiệp trong và ngoài nước quan tâm đến việc đầu tư tại Việt Nam thông qua
việc cung cấp báo cáo tín nhiệm về các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt
Nam, trong đó có đưa ra chỉ số tín dụng và thang điểm chung nhất cho các
công ty.
Cuối cùng phải kể đến đó là trung tâm định mức tín nhiệm
( Vietnamnet Rating ) ra đời với mục tiêu trở thành tổ chức định mức chuyên
nghiệp đầu tiên ở Việt Nam, ngay từ khi thành lập trung tâm đã tập trung
hoàn thiện Quy trình định mức, xếp hạng, tổ chức hội đồng thẩm định, đào
tạo đội ngũ nhân viên. Thị trường chủ yếu mà trung tâm hướng tới đó là xếp
hạng các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến thị trường và
thị trường chứng khoán.Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện nay

Vietnamnet Rating vẫn chưa thực sự đi vào hoạt động chính thức.
Trong tương lai, hệ thống xếp hạng tín dụng của Việt Nam được định
hướng phát triển như thế nào? Đó là câu hỏi mà chính các nhà hoạch định
chính sách kinh tế tài chính đang giải đáp dần dần. Mục tiêu trước mắt đặt ra
vẫn là củng cố hoạt động của các trung tâm đã nói ở trên, nhất là Trung tâm
thông tin tín dụng trong tương lai sẽ được tách khỏi Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, trở thành một công ty xếp hạng tín dụng hoạt động độc lập. Song
song với việc hoàn thiện tổ chức cũng như nghiệp vụ tại các trung tâm trên,
thì các công ty xếp hạng tín dụng mới cũng được định hướng thành lập. Cụ
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thể, theo dự kiến trong năm nay, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI) sẽ
thành lập một công ty định mức tín nhiệm trực thuộc Bộ tài chính.
Hơn thế nữa, cùng với xu thế hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế
của Việt Nam, rất có thể sẽ có một số công ty, tổ chức xếp hạng tín dụng nước
ngoài vào hoạt động tại nước ta trong tương lai không xa.
Nói tóm lại, các tổ chức xếp hạng tín dụng ở Việt Nam hiện nay mới
chỉ hoạt động như các tổ chức thông tin tín dụng, chứ chưa phải là các tổ chức
xếp hạng tín dụng với vai trò xoá bỏ khoảng tối thông tin trên thị trường. Việc
định mức, xếp hạng thường không linh hoạt, thay đổi kịp thời theo thị trường
và hơn nữa nó chưa phải là một tiêu chí đánh giá chính xác về hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được xếp hạng.
8. Các kí hiệu, biểu tượng được sử dụng trong xếp hạng tín dụng
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng hệ thống chấm điểm tín
dụng, bảng xếp hạng tín dụng được xây dựng dưới dạng một hệ thống các kí
hiệu cụ thể. Có rất nhiều cách kí hiệu khác nhau do các tổ chức xếp hạng đặt
ra, nhưng chúng đều được sắp xếp theo thứ tự giảm dần về mức độ tín nhiệm
đối với các doanh nghiệp được xếp hạng.
Thông thường một bảng xếp hạng tín dụng được chia làm 2 loại, đó là:
bảng kí hiệu xếp hạng biểu hiện cho công cụ nợ ngắn han và bảng kí hiệu xếp

hạng biểu hiện cho các công cụ nợ dài hạn. Nhìn vào kí hiệu về định mức tín
nhiệm được ấn định cho bất kì một công ty nào, nhà đầu tư đều có thể biết
được mức độ rủi ro đối với các khoản vay của doanh nghiệp đó, dù là vay trực
tiếp ngân hàng hay phát hành các công cụ nợ trên thị trường vốn.
Hệ thống kí hiệu xếp hạng tín dụng tiêu biểu nhất hiện nay là hệ thống
kí hiệu của hai công ty xếp hạng tín dụng hàng đầu thế giới, đó là Moody’s và
S&P, hệ thống kí hiệu này được xây dựng dựa trên khung kí hiệu do John
Moody sáng tạo và trở thành tiêu chuẩn để xây dựng hệ thống kí hiệu xếp
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hạng tín dụng của hầu hết các công ty xếp hạng tín dụng trên thế giới.
S&P Moody’s Nội dung
AAA Aaa Đối tượng được xếp loại này có chất lượng tín dụng
cao nhất,có độ rủi ro thấp nhất vì thề có khả năng trả
nợ mạnh nhất
AA Aa Đối tượng được xếp loại này có chất lượng cao,mức độ
rủi ro thấp và do đó khả năng trả nợ cao.
A A Đây là đối tượng đạt trên mức trung bình các nhân tố
bảo đảm về khả năng trả nợ ngắn và dài hạn chưa thật
chắc chắn nhưng vẫn đạt độ tin cậy cao.Do đó được
xếp loại có khả năng trả nợ.
BBB Baa Đây là đối tượng đạt mức trung bình, mức an toàn và
rủi ro không cao nhưng cũng không thấp.Khả năng trả
nợ gốc và lãi hiện thời không thật chắc chắn nhưng
không có dấu hiệu nguy hiểm.
BB Ba Đối tượng này đạt mức dưới trung bình, khả năng trả
nợ và lãi không thật chắc chắn và mức độ an toàn như
BBB( Baa)
B B Đối tượng này thiếu sự hấp dẫn cho đầu tư.Sự đảm bảo
về hoàn trả gốc và lãi trong tương lai là rất nhỏ

CCC Caa Khả năng trả nợ thấp, dễ xảy ra vỡ nợ.
CC Ca Rủi ro rất cao, thường bị vỡ nợ
C C Đối tượng trong tình trạng sắp phá sản
D Khả năng phá sản là gần như chắc chắn.
BẢNG 1.1.KÍ HIỆU SẮP XẾP HẠNG TÍN DỤNG SỬ DỤNG CHO NỢ DÀI HẠN
Đó là xét trong trường hợp nợ dài hạn, hay các công cụ đầu tư dài hạn,
còn trong ngắn hạn thì các kí hiệu được minh họa trong bảng sau :
S&P Moody’s Nội dung
P-1 A-1+ Khả năng trả nợ mạnh nhất
A-1 Khả năng trả nợ mạnh
25

×