Tải bản đầy đủ (.pdf) (41 trang)

Bài giảng hỗ trợ nhân viên công tác xã hội (quản lý stress)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (578.21 KB, 41 trang )


Trung tâm Nghiên cứu – Tư vấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
NĂNG ĐỘNG NHÓM

Chân thành cảm ơn Tổ chức Dịch vụ Gia đình và Cộng đồng
Quốc tế (CFSI) đã hỗ trợ Dự án “Nâng cao năng lực cho
NVCTXH cơ sở ở TP.HCM” ấn hành tập tài liệu này.

Trung tâm Nghiên cứu - Tư vấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
HỖ TRỢ NHÂN VIÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI

(QUẢN LÝ STRESS)
[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 1


H
ỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý stress)
SDRC - CFSI
LỜI GIỚI THIỆU
Ngày nay, chúng ta thường nghe nói đến stress, một từ, phản ảnh nhận thức và phản
ứng của con người trước những tác động của môi trường bên ngoài và bên trong vào đời sống
của họ. Stress trở nên phổ biến ở mọi tầng lớp dân cư, bất kể giàu sang hay nghèo khó. Từ đó,
đặt ra cho giới nghiên cứu khoa học và những ngành nghề mang tính trợ giúp con người như
tâm lý học, tâm thần học, tham vấn, công tác xã hội… trách nhiệm tìm hiểu và đề ra những


biện pháp xử lý stress.
Đối với nghề Công tác xã hội, theo định nghĩa đã được thông qua của Hiệp hội nhân
viên công tác xã hội quốc tế tại Montreral Canada vào tháng 7 năm 2000 (IFSW-
International Frderation of Social Worker), nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội,
giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, trao quyền để người yếu thế có khả năng
tự tạo hạnh phúc cho mình.
Nguyên tắc làm việc của NVCTXH là dựa trên quyền con người và hệ thống công
bằng xã hội, tại nơi người dân sinh sống. Nhân viên công tác xã hội có mối quan hệ hợp tác
với đủ các thành phần từ trẻ em đến người cao tuổi, về mọi vấn đề như phúc lợi trẻ em, vấn
đề bạo lực, vấn đề khuyết tật về thể chất và tinh thần, phúc lợi cho tuổi già, người bịnh mãn
tính, người bịnh ở giai đoạn cuối v.v…
Làm việc với những người yếu thế nên luôn phải đối mặt với các vấn đề mà thân chủ
của họ đang phải đối phó, họ dễ bị tác động, căng thẳng theo. Công việc mà nhân viên công
tác xã hội thường tiếp xúc là những bất trắc khó khăn của thân chủ, việc này tác động không
ít đến cảm xúc của NVCTXH.
Ngoài ra, họ cũng rất khó tránh khỏi cảm xúc, tình cảm khi đi cùng thân chủ để giúp
thân chủ giải quyết vấn đề, mà các vấn đề này thường kéo dài, không thể giải quyết ngay tức
thì trong một buổi, một ngày nên buộc họ luôn suy nghĩ tìm giải pháp, công việc luôn đeo
đẳng họ suốt ngày, lúc làm việc, khi ở nhà.
Choàng gánh công việc, đôi khi công việc quá sức, quá tầm tay của NVCTXH do
thiếu nguồn nhân lực, thiếu NVCTXH hoặc chưa đủ chuyên môn, kiến thức, môi trường làm
việc chưa thuận lợi, thiếu hợp tác hoặc hợp tác chưa đồng bộ v v, Nên khi việc hỗ trợ chưa
thành công, NVCTXH dễ dẫn đến nản lòng, thất vọng về chính mình, dẫn đến kiệt sức, chán
nản, buông xuôi, căng thẳng.
Tất cả cả những đặc điểm nghề nghiệp khó khăn và phức tạp như trên, nên người thực
hành trong nghề nghiệp này rất dễ bị stress. Hiện chưa có điều tra cụ thể về tỉ lệ NVCTXH bị
stress ở Việt Nam, nhưng ý kiến chung đều cho rằng, đây là một nghề rất thách thức và đòi
hỏi hao tốn thời gian, sức lực thể chất và tinh thần, một nghề rất có nguy cơ bị rơi vào stress
tiêu cực nếu không có cách ứng phó hiệu quả .
Do vậy, NVCTXH cần nhận thức đúng về bản thân, cần biết cách giải tỏa căng thẳng,

vì nếu NVCTXH không tự chăm sóc bản thân, thì khó lòng hỗ trợ và chăm sóc cho người
khác. NVCTXH cần chủ động tiếp nhận các kiến thức để hiểu biết về stress, rèn luyện những
kỹ năng để ứng phó với stress, biến những yếu tố tiêu cực thành tích cực, biến điểm hạn chế
thành sức mạnh, để từ đó ứng phó đối mặt với stress có hiệu quả, góp phần nâng cao chất
lượng dịch vụ NVCTXH cung cấp cũng như chất lượng cuộc sống của bản thân Nhân
NVCTXH và gia đình họ.
[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 2


H
ỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý stress)
SDRC - CFSI
MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU 1

ĐỀ CƯƠNG 3

I.

TÊN CHỦ ĐỀ 4

II.

MÔ TẢ CHỦ ĐỀ 4


III.

MỤC TIÊU GIẢNG DẠY 4

IV.

THỜI GIAN GIẢNG DẠY 4

V.

NỘI DUNG CHỦ ĐỀ 4

VI.

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY 6

VII.

YÊU CẦU HỌC TẬP 6

VIII.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 6

TÀI LIỆU PHÁT 7

Bài 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ STRESS 8

I.


KHÁI NIỆM CHUNG VỀ STRESS 8

II.

MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 10

III.

CÁC YẾU TỐ GÂY NÊN STRESS 12

IV.

CÁC DẤU HIỆU NHẬN BIẾT STRESS 13

V.

ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS 15

Bài 2: STRESS VÀ NHÂN VIÊN CTXH 18

I.

ĐẶC ĐIỂM NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI 18

II.

STRESS CỦA NHÂN VIÊN CTXH TẠI MỘT SỐ NƯỚC 18

Bài 3: CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ VỚI STRESS 23


I.

KHÁI NIỆM CHUNG: 23

II.

TỰ NHẬN THỨC CỦA NHÂN VIÊN CTXH 23

III.

MỘT SỐ CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39










[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 3



H
ỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý stress)
SDRC - CFSI




ĐỀ CƯƠNG
[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 4


Đề cương – Hỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
I. TÊN CHỦ ĐỀ: “HỖ TRỢ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI” (Quản lý Stress)
II. MÔ TẢ CHỦ ĐỀ
Từ đặc điểm khó khăn và phức tạp của nghề công tác xã hội (CTXH) dẫn đến người
thực hành trong nghề này rất dễ bị căng thẳng. Nên chủ đề quản lý căng thẳng nhằm cung
cấp kiến thức, kỹ năng, để NVCTXH biết ứng phó với căng thẳng, biết tự chăm sóc bản
thân, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, vì nếu, NVCTXH không tự chăm sóc bản
thân, thì khó lòng hỗ trợ và chăm sóc cho người khác.
III. MỤC TIÊU GIẢNG DẠY
Sau khi kết thúc việc học tập chủ đề này trong 2 ngày, người học có thể:
-
Về kiến thức:


Hiểu các khái niệm về sự căng thẳng, yếu tố căng thẳng (stress).

Hiểu các mức độ/ hình thức căng thẳng.

Hiểu được các yếu tố gây căng thẳng

Nhận ra các phản ứng, các dấu hiệu gây căng thẳng

Có chiến lược đề phòng và giải quyết căng thẳng

Biết lập kế hoạch quản lý cẳng thẳng.
-
Về kỹ năng:

Nhận diện, suy luận, phán đoán, biết cách phản ứng đối với căng thẳng,
giảm tác động do cẳng thẳng, có ảnh hưởng đối với bản thân, gia đình và
môi trường xã hội.
-
Về thái độ:

Vận dụng các kiến thức được trang bị để có cách ứng phó căng thẳng phù
hợp, giúp cho bản thân giải tỏa căng thẳng tâm lý, cho gia đình và công
việc đang đảm trách.
IV. THỜI GIAN GIẢNG DẠY: 2 ngày
V. NỘI DUNG CHỦ ĐỀ
Bài 1: Tổng quan về stress
1. Khái niệm về Stress - nhìn dưới góc độ
-
Sinh học
-

Môi trường
-
Nhận thức và hành vi
-
Hệ thống
2. Giới thiệu một số khái niệm liên quan
-
Căng thẳng
-
Trầm cảm
-
Cạn kiệt
-
Chấn thương thứ cấp (secondary traumatic stress)
-
Rối loạn do căng thẳng sau chấn thương (Post traumatic stress disorder-
PTSD)
3. Căng thẳng/yếu tố gây căng thẳng (stress/stressor)
[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 5


Đề cương – Hỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
4. Các dấu hiệu nhận biết về căng thẳng
5. Các ảnh hưởng của stress

-
Ảnh hưởng đến bản thân
-
Ảnh hưởng đến gia đình
-
Ảnh hưởng đến công việc, lao động học tập
Bài 2: Stress và NVCTXH
1. Đặc điểm ngành công tác xã hội
2. Giới thiệu nôi dung và tính chất công việc khó khăn phức tạp
-
Bị áp lực công việc
-
Quá tải
-
Thân chủ gồm nhiều thành phần
-
Không đủ thời gian
-
Kỳ vọng đặt vào thân chủ
-
Áp lực do tìm giải pháp
-
Quá khả năng của NVCTXH
-
Thiếu thông cảm chia sẻ từ gia đình
3. Môi trường tác nghiệp của nhân viên công tác xã hội
-
Vai trò trách nhiệm chưa rõ ràng
-
Thiếu kinh nghiệm

-
Thiếu hệ thống giám sát, an sinh XH chưa đồng bộ
-
Thiếu hỗ trợ liên ngành
-
Thiếu tài nguyên
-
Nhiều nguy hiểm
-
Thủ tục hành chánh
-
Điều kiện nơi làm việc
-
Lây stress từ thân chủ
-
Stress của NVCTXH lây sang cho thân chủ
Bài 3: Stress và chiến lược ứng phó
1. Khái niệm chung về ứng phó
-
Stress và qui trình ứng phó với stress: qui trình ABC.
-
Khái niệm chung về: Ứng phó, Chiến lược, Lợi ích của ứng phó.
2. Tự nhận thức của NVCTXH (theo Shebib Bob 2003)
-
Hiểu biết bản thân
-
Chấp nhận bản thân với những đặc điểm trên
-
Nhận biết tổn thương của bản thân và tìm cách ứng phó
-

Biết được khi nào đồng hóa/ thấu cảm với thân chủ
-
Biết được những gì có thể và không thể làm.
3. Các chiến lược ứng phó với căng thẳng
-
Chiến lược đối phó với thời gian theo Stephen R. Covey (1989)
[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 6


Đề cương – Hỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
-
Chiến lược đối với mối tương quan

Mạng lưới hỗ trợ xã hội

Xây dựng mạng lưới hỗ trợ xã hội
-
Chiến lược đối phó theo tình huống
-
Chiến lược đối với yếu tố suy diễn
-
Chiến lược đối với nghị lực bản thân
Bài 4: L
ập kế hoạch cá nhân


1. Xác nhận tình trạng căng thẳng hiện có
2. Yếu tố gây căng thẳng
3. Chiến lược giải quyết
VI. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
Giáo dục chủ động: động não, thảo luận nhóm, sắm vai

VII. YÊU CẦU HỌC TẬP
Liên tục, đầy đủ
VIII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] CaregiverStress.com
[2] Geoff Brennan. The handbook of community mental health nursing, Chapter 19:
Working with family II, phsychosocial intervention, Phsychosocial intervention.
[3] Hans Seley (1974).Stress without Distress. Philadelphia: J. B. Lippincott Co.,
[4] Michael Ong (2011). Tài liệu Hội Thảo “Quản lý Stress trong công tác xã hội”.
WWO
[5] Jacobson, E (1974). Progressive Relaxation. Chicago: University of Chicago Press.
[6] Jonathan Smith. (2002). Stress Management – A Comprehensive Handbook of
Techniques and Strategies. NY: Springer.
[7] Perlita G. Vicente. STRESS MANAGEMENTSEMINAR
[8] NASW (2008). Stress at Work: How Do Social Workers cope?
[9] Shebib Bob (2003). Choices. N.Y: Allyn & Bacon
[10] Stephen Covey (1989). The Seven Habits of Highly Effective People
[11] Các website








Managing Stress with Nutrition: Dietary Advice for Chronic Stress | Suite101.com




[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 7


Hỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI









TÀI LIỆU PHÁT
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012


Trang 8


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI

Bài 1:

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ STRESS

I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CĂNG THẲNG
1. Từ góc độ sinh học
-
Theo Cannon (1927), stress được hiểu là phản ứng “cài đặt sẵn” của cơ thể
trước những nhân tố gây hại nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó.
Ông mô tả phản ứng đối với nhân tố gây hại (sự đe dọa) là phản ứng “chống
hoặc chạy” (fight or flight). Cannon là nhà nghiên cứu đầu tiên mô tả một cách
khái quát một phản ứng đối với sự đe dọa mà ông gọi là phản ứng “chống hoặc
chạy” (fight or flight).
-
Stress - Một đáp ứng sinh học Cannon cho rằng khi một sinh vật đương đầu
với một sự đe dọa cho sự sống còn của mình, thì các biến đổi sinh lý sẽ xảy ra
theo một mô hình đã được “cài đặt” sẵn.

Có sự gia tăng nhịp tim, huyết áp và hô hấp.

Máu được phân bố đến các cơ bắp.

Quá trình tiêu hóa bị ngưng lại.


Những thay đổi này nhằm chuẩn bị cho cơ thể sinh vật ấy thực hiện được
những hành động mạnh mẽ nhằm đáp ứng với sự đe dọa: hoặc chống trả,
hoặc “cao chạy xa bay”.
-
Sự khuấy động ấy là một khả năng hoạt hóa đã được cài đặt sẵn bên trong cơ
thể sinh vật, tạo nên cơ may sống còn của nó dưới những trường hợp, hoàn
cảnh bị đe dọa. Tất cả chúng ta đều từng trải qua sự kích hoạt này. Ngay sau
khi thoát khỏi một tai nạn gần kề, bạn thấy ngay tim đập thình thịch, cảm giác
nôn nao và lòng bàn tay ẩm mồ hôi.
-
Những thay đổi này nhằm chuẩn bị cho cơ thể sinh vật ấy thực hiện được
những hành động mạnh mẽ nhằm đáp ứng với sự đe dọa: hoặc chống trả, hoặc
“cao chạy xa bay”. Sự khuấy động này là một khả năng hoạt hóa đã được cài
đặt sẵn bên trong cơ thể sinh vật, tạo nên cơ may sống còn của nó trong trường
hợp bị đe dọa nguy hiểm. Tất cả chúng ta đều từng trải qua sự kích hoạt này
ngay sau khi thoát khỏi một tai nạn gần kề: tim đập mạnh, thở hổn hển, lạnh
buốt tay chân…
2. Từ góc độ môi trường
Holroyd, (1979) định nghĩa Stress như đòi hỏi cá nhân phải thử thách những
tiềm năng và đáp ứng không bình thường với một sự kiện từ môi trường. Theo quan
điểm này, sự kiện gây nên stress xuất phát xảy ra trong môi trường hơn là bên
trong cá nhân.
3. Từ góc độ nhận thức - hành vi
-
Lazarus (1966); Lazarus, Folkman, (1984): xem stress là một quá trình tương
tác giữa con người và môi trường, trong đó cá nhân xem xét sự kiện trong môi
trường có tính đe dọa và có hại. Vì vậy, họ cố gắng sử dụng các tiềm năng của
mình để thích ứng.
T[Type text]


Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 9


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
-
Trong quan niệm này, stress không chỉ từ các sự kiện của môi trường mà cả
trong nhận thức - hành vi của cá nhân. Những đáp ứng mang tính nhận thức -
hành vi của cá nhân nhằm điều hòa hai yếu tố môi trường và đáp ứng. Cách
nhìn này, nhấn mạnh vào khía cạnh nhận thức - hành vi (thuộc về tâm lý) và
đã bổ sung thêm những thiếu sót của các mô hình stress “sinh học” và stress
“môi trường” đề cập ở trên.
4. Stress dưới góc độ hệ thống
Một cách tiếp cận stress mang tính tổng thể khi họ cho rằng, stress liên quan đến
nhiều thông số như sinh lý, nhận thức - cảm xúc, hành vi và môi trường. Quan điểm
này cho rằng, nhiều yếu tố gây nên stress và có nhiều cách thức đáp ứng của con
người với tình huống gây stress, chúng đều có ý nghĩa cả về sinh lý, tâm lý xã hội của
cá nhân (nhận thức, cảm xúc, hành vi).
Ví dụ minh họa:
Chị Ng. Th. H là cán bộ tham vấn tại trung tâm tư vấn X, hiện chị 50 tuổi, chị
đang gặp rất nhiều khó khăn khi có nhiều ca rất phức tạp, trong khi đó, ở gia đình
chồng chị lại hay rầy la về sự về muộn hay vắng mặt của chị ở nhà. Từ đó, anh
cũng hay về muộn và vắng mặt trong những bữa cơm. Cứ vậy, chị trở nên căng
thẳng và có những phản ứng như sau:
-
Về sinh học như:


Mất ngủ

Kém ăn

Không có hứng thú trong quan hệ vợ chồng
-
Nhận thức:

Cho rằng chồng ích kỷ

Cho rằng chồng, con không thông cảm

Cho rằng chồng gia trưởng…

Cho rằng mình đã ngu ngốc chọn việc đầy khó khăn
-
Cảm xúc,hành vi:

Buồn, chán

Hay cáu gắt với nhân viên

Hay mắng con

Hành vi giận dỗi chồng (không nói chuyện, không giao tiếp…)

Khi giao tiếp với thân chủ không tỏ ra vui vẻ, mặt hay cau có…
-
Những sự kiện gây nên sự căng thẳng của chị đó là:


Công việc bề bộn chưa giải quyết được

Gia đình có những phản ứng không thông cảm chia sẻ với chị

Chị cũng vào độ tuổi đang có thay đổi hooc-môn ở tuổi tiền mãn kinh
-
Những sự kiện đó đã gây nên trạng thái tâm lý bức xúc, nhận thức sai lệch về
chồng hay con, có hành vi phản ứng mang tính tiêu cực với người xung quanh
(chồng, con, thậm chí với thân chủ…). Những phản ứng đó cũng có thể khác ở
người NVCTXH, chị Ng. Th. B. có những suy nghĩ khác. Cũng có thể các sự
kiện đó gây cho chị B và có những phản ứng sinh học:
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 10


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI

Mất ngủ

Chán ăn
-
Nhưng nhận thức của chị lại là:

Mình đi vắng nhiều, chồng con không có bữa ăn ngon


Mình hay về muộn, mọi người phải chờ cơm mình.
-
Hành vi phản ứng:

Cố gắng dọn dẹp công việc không quá gấp sang một bên, hoặc giao quyền
cho người khác giải quyết (sử dụng kỹ năng ủy quyền…)

Thứ bảy hay ngày chủ nhật tạo bữa ăn ngon cho gia đình…
Rõ ràng, cùng một sự kiện, lúc đầu có những phản ứng sinh học giống nhau,
nhưng mỗi người có cách suy nghĩ khác, và có những hành vi khác. Điều này cho
thấy, stress không chỉ là những ứng phó sinh học đơn thuần liên quan tới sự kiện
trong môi trường, mà nó gắn chặt với nhận thức, từ đó có những cảm xúc và hành vi
đối phó khác nhau ở mỗi cá nhân khác nhau.
II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1. Căng thẳng
Đây là một khái niệm cũng thường thấy trong nhiều tài liệu. Nó được sử dụng một
cách hoán đổi với từ stress. Thực chất từ stress xuất phát từ tiếng nước ngoài. Tại
Việt Nam người ta dùng là stress hay căng thẳng. Căng thẳng là tình huống có các
yếu tố gây lên trạng thái này ở họ như tình huống nhiều công việc, môi trường ồn ào
gây tâm lý căng thẳng, áp lực gia đình lớn khiến họ cảm thấy bức xúc, khó chịu… và
từ đó, họ cũng có những phản ứng về sinh lý, tâm lý nhằm đối phó với các tình
huống gây căng thẳng đó.
-
Chúng ta có thể bị căng thẳng trong gia đình, công việc, hoặc con cái. Nếu
không xử lý đúng cách, nó có thể gây rối với tâm trí và sức khỏe của chúng ta.
-
Khi bị stress, hay căng thẳng chúng ta có cảm giác lo âu, bức bối. Ví dụ,
NVCTXH là người thường xuyên tiếp xúc với những thân chủ có vấn đề, họ
luôn có cảm giác một gánh nặng khi vừa phải đặt mình vào vai trò vị trí của

thân chủ để thể hiện thấu hiểu, vừa phải đầu tư thời gian nhằm làm tốt công
việc chuyên môn, những bất đồng trong quan điểm khi làm công tác biện hộ
cho quyền lợi của thân chủ (ví dụ một trẻ em có HIV cần được tới trường…),
cùng với trách nhiệm công việc chăm sóc con cái, gia đình… Khiến họ luôn
trong tình trạng lo lắng về trách nhiệm công việc cơ quan, về trách nhiệm với
gia đình.
-
Đôi khi, con người có quá nhiều nghĩa vụ cần phải thực hiện, mà vượt quá khả
năng của mình, khi đó xuất hiện những lo lắng mà họ không kiểm soát được.
Những yêu cầu từ công việc, từ gia đình, từ thân chủ khiến cho NVCTXH trở
nên bị quá tải, cảm thấy mình không thể điều tiết được công việc. Mối quan
hệ và từ đó họ trở nên bị stress, cảm giác căng thẳng trong cuộc sống.
-
Không đạt được những giá trị cho cuộc sống của riêng cá nhân cũng là một
trong những lý do gây ra căng thẳng ở cá nhân. Ví dụ, những mâu thuẫn trong
giá trị của cá nhân, giá trị nghề nghiệp của CTXH cũng dễ làm cho NVCTXH
trở nên căng thẳng trong cuộc sống…
Nói chung: Căng thẳng liên quan đến cả hai yếu tố bên ngoài và nội lực.
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 11


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
-
Các yếu tố bên ngoài bao gồm:


Sinh học môi trường vật lý của bạn

Công việc của bạn, mối quan hệ với những người khác, gia đình của bạn,
và tất cả các tình huống, những thách thức, khó khăn

Nội lực của bạn
-
Yếu tố nội lực: xác định khả năng đáp ứng và đối phó của cơ thể với các yếu
tố gây căng thẳng bên ngoài. Các yếu tố nội lực ảnh hưởng đến khả năng xử
lý căng thẳng của bạn, bao gồm, tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe tổng thể và
mức độ tập thể dục, cảm xúc tốt. Khả năng của bạn để kiểm soát căng thẳng
thông qua các kỹ thuật thư giãn, số lượng của giấc ngủ và nghỉ ngơi bạn nhận
được hoặc các chiến lược khác.
2. Trầm cảm
Trầm cảm: trong tiếng Anh là depression. Theo tổ chức Y tế thế giới, trầm cảm là
sự rối nhiễu tâm lý phổ biến đi cùng với cảm xúc bị trầm uất, mất hứng thú hay niềm
vui, cảm giác tội lỗi hay thấp kém, kém ăn, kém ngủ, kém năng lượng, kém khả năng
tập trung. Những dấu hiệu này có thể là tạm thời hay trở nên lâu dài, mãn tính.
Trường hợp xấu nhất trầm cảm có thể dẫn đến tự sát. Trầm cảm có thể tìm thấy ở
mọi lứa tuổi và mọi giới, mọi thành phần. Khi con người ở trạng thái bị stress quá
lâu, họ duy trì những phản ứng tiêu cực và nếu không có can thiệp họ dễ mắc chứng
trầm cảm.
3. Cạn kiệt
-
Cạn kiệt là một khái niệm tâm lý học chỉ cảm giác kéo dài sự quá sức, sự mất
hết hứng thú, và nó được liệt kê vào như là những vấn đề liên quan tới khó
khăn của cá nhân trong quản lý hay điều tiết cuộc sống của cá nhân.
-
Đây là quá trình mà stress tích luỹ từ từ, cá nhân luôn cố gắng để ứng phó với

các yếu tố gây stress đến khi họ bị kiệt sức, hết năng lượng cả về thể chất và
tinh thần. Các dấu hiệu có thể là: trầm cảm, hoài nghi, chán chường, mất đam
mê (Maslach, 1982).
-
Maslach và đồng nghiệp (1970) đã đưa ra công cụ đo luờng ảnh hưởng của sự
cạn kiệt ở 3 khía cạnh:

Sự kiệt quệ (exhaustion);

Sự hoài nghi/yếm thế (cynicism),

Và kém hiệu quả (inefficacy).
4. Chấn thương thứ cấp (STS)
-
Những cảm xúc và hành vi ứng phó với biến cố đau buồn của con người
được nhớ lại, hồi tưởng lại khi họ gặp trường hợp tương tự (nghe thấy, nhìn
thấy về những biến cố đó). Đây là một cảm xúc rất tự nhiên của con người,
mỗi khi họ gặp hay có cơ hội nghe lại về biến cố đó, họ sẽ có cảm giác căng
thẳng, họ sẽ nhớ lại những biến cố, những hình ảnh về biến cố luôn lặp đi
lặp lại trong họ.
-
Với NVCTXH khi giúp đỡ những thân chủ, những người có vấn đề tương tự
như vấn đề hay sự kiện mà NVCTXH đã trải qua, thì họ luôn có cảm giác đau
buồn, hình ảnh đau khổ được hồi tưởng lại. Những trạng thái này có thể
không mang tính bùng phát, mà nó cứ dai dẳng tích lũy lại, khiến cho đến một
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 12



Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
lúc nào đó NVCTXH cảm thấy khó khăn vượt qua nó. Lúc đầu, họ né tránh
bằng cách tránh những cảm xúc hay nói chuyện về nó, tránh những tình huống
làm gợi lại sự cố đó. Cũng có trường hợp lại quên đi những gì được xem là
quan trọng liên quan tới biến cố hoặc mất hứng thú, khả năng tập trung, trở
nên lãnh cảm, tách biệt, tránh giao tiếp với mọi người. Những người có triệu
chứng stress sau chấn thương thứ cấp này còn có các biểu hiện như mất ngủ,
mất tập trung, giận dữ…
5. Chứng Rối Loạn Do Căng Thẳng Sau Chấn Thương (PTSD: Post-Traumatic
Stress Disorder)
-
Chứng rối loạn do căng thẳng sau chấn thương (PTSD) liên quan tới các rối
loạn về cảm xúc, hành vi và tâm lý đôi khi có thể phát sinh sau khi gặp phải
một biến cố gây chấn động nặng. Ví dụ, các biến cố gây chấn động bao
gồm, hãm hiếp hoặc lạm dụng tình dục, hành hung, chứng kiến cảnh giết
người, hoặc bị thương tích nghiêm trọng, hoặc gặp sự tàn phá trên diện rộng
do thiên tai hoặc chiến tranh. Những người là nạn nhân hoặc đã chứng kiến
những biến cố gây chấn thương nặng nề như vậy sẽ có nguy cơ mắc bệnh
PTSD.
-
Không phải tất cả mọi người đã gặp hoặc chứng kiến một biến cố gây chấn
thương sẽ mắc bệnh PTSD. Một số người phục hồi mà không cần chữa trị,
còn những người khác có thể không phát triển PTSD cho tới nhiều năm sau
khi xảy ra biến cố đó. Tuy nhiên, nếu không được chữa trị, bệnh có thể làm
ảnh hưởng xấu tới công việc, học tập và giao tiếp xã hội của người đó.
III. CÁC YẾU TỐ GÂY NÊN STRESS

Người ta có thể xem xét nguyên nhân của stress từ các góc độ sau đây:
- Yếu tố từ môi trường tự nhiên: thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, giao thông, bụi, và sự
ô nhiễm.
- Yếu tố từ môi trường xã hội

Vấn đề quan hệ trong gia đình: con cái lấy vợ chồng, mâu thuẫn trong gia
đình, nuôi dạy con, mất mát của người thân, tài chính trong gia đình…

Quan hệ xã hội (ngoài gia đình, bạn bè, đồng nghiệp)
- Yếu tố từ công việc: vấn đề liên quan tới ngành nghề, công việc, áp lực thời gian
công việc, quan hệ cấp trên - dưới, môi trường làm việc không phù hợp, không
nghề nghiệp…
- Yếu tố từ bản thân cá nhân chủ thể:

Thể chất: Thay đổi cơ thể (tuổi về hưu, tuổi tiền mãn kinh, dậy thì…),
không đủ chất dinh dưỡng, ốm đau, bệnh tật…

Đặc điểm cá nhân: Tính cách cá nhân, cách suy nghĩ hay giải thích những
điều đã hoặc sẽ xảy ra. Thường đó là những suy nghĩ tiêu cực. Ví dụ: nếu
trượt đại học thì tương lai thật mù mịt; nếu không hoàn thành công việc thì
sẽ bị sa thải…
Hoặc cũng có người nhìn nhận các yếu tố nguồn gốc của stress như sau:
- Stress liên quan tới yếu tố thời gian: Nó được xem như sự căng thẳng xuất phát từ
tình huống mâu thuẫn giữa thời gian quá ít, mà khối lượng công việc, con người
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 13



Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
cần phải làm quá nhiều. Điều này, khiến cho họ trở nên cảm thấy rối bời và mệt
mỏi. Ví dụ : NVCTXH do tính chất công việc liên tục, phức tạp, có nhiều ca, mỗi
ca lại có rất nhiều công việc liên quan cần giải quyết, trong khi đó họ lại có thời
gian rất hạn chế. Nhiều khi NVCTXH phải làm quá thời gian theo quy định nhưng
công việc vẫn chưa giải quyết hết. Tình trạng này khiến cho NVCTXH trở nên mệt
mỏi kéo dài.
- Stress liên quan tới yếu tố tương quan: mâu thuẫn trong tương tác giữa các cá
nhân. Đây là loại stress tạo bởi từ những tương tác xã hội của con người. Ví dụ
như, những căng thẳng trong mâu thuẫn gia đình, vợ chồng, con cái, trong công sở
lãnh đạo với nhân viên, nhân viên với nhân viên. Trong quá trình làm việc mâu
thuẫn có thể phát sinh từ những giao tiếp giữa người thực thi nhiệm vụ với người
có nhu cầu trợ giúp. Ví dụ NVCTXH có thể gặp những khó khăn trong tương tác
làm việc với những thân chủ khó tính.
- Stress liên quan tới yếu tố tình huống: đây là loại stress tạo bởi những vấn đề nảy
sinh từ điều kiện làm việc, ví dụ như, văn phòng làm việc không có không gian và
vị trí địa lý không phù hợp làm ảnh hưởng tới quá trình làm việc, văn phòng tham
vấn lại quá chật chội không có không gian riêng để làm việc kín đáo với thân chủ
khiến cho những nguyên tắc nghề nghiệp bị vi phạm. Điều này tạo nên sự ức chế
về tâm lý và chức năng nghề nghiệp của NVCTXH. Sự thay đổi nhiều lần nơi làm
việc, phải di chuyển nhiều cũng là yếu tố tạo nên sự mệt mỏi căng thẳng với người
làm việc, nhất là với NVCTXH. Họ luôn phải đi lại như vãng gia, thăm và trao đổi
với các đối tác.
- Stress liên quan tới yếu tố suy diễn (anticipatory): Đây là một yếu tố mang tính
rất chủ quan, chính vì vậy có người dễ bị stress, có người khó bị stress trong cùng
một hoàn cảnh.
- Stress liên quan tới nghị lực cá nhân: Kinh nghiệm cá nhân và sự kiên định của

cá nhân cũng tác động rất lớn tới khả năng, mức độ bị stress của cá nhân. Yếu tố
này cũng mang tính chủ quan và giải thích tại sao sự khác biệt về khả năng ứng
phó với stress khác nhau ở những người khác nhau.
IV. CÁC DẤU HIỆU NHẬN BIẾT STRESS
1. Các biểu hiện cơ thể
-
Mệt mỏi, cảm thấy suy kiệt về sức lực (kiệt sức).
-
Run chân tay
-
Ra mồ hôi
-
Nhức đầu do căng thẳng
-
Đau nửa đầu kéo dài
-
Đau cột sống dai dẳng
-
Đánh trống ngực, đau vùng trước tim, tăng huyết áp
-
Thở ngắn hơi
-
Hay đau bụng, thậm chí tiêu chảy, táo bón
-
Đau bàng quang với nước tiểu trong, hay mót tiểu
-
Hay có cảm giác chán ăn, xuất hiện các triệu chứng về dạ dày.
-
Sút cân, rụng tóc
-

Luôn cảm thấy mệt mỏi
-
Đau đầu, đau lưng, đau nhức khắp cơ thể.
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 14


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
2. Rối loạn về tinh thần
-
Cảm xúc

Tinh thần không thoải mái

Cảm thấy bồi hồi

Cảm giác bất an

Cảm xúc lẫn lộn

Không có hứng thú với những sở thích và các hoạt động thường ngày

Thường xuyên cảm thấy buồn phiền vì những điều nhỏ nhặt nhất

Không muốn làm việc gì, có tâm trạng buông xuôi


Âu lo thường xuyên

Tỏ ra luôn sợ hãi

Ủ rũ

Mất hứng thú với cuộc sống vợ chồng

Cảm giác tuyệt vọng

Cảm thấy tâm trạng trống rỗng, thấy cuộc sống không còn ý nghĩa và giá trị.
-
Trí nhớ, tư duy

Chậm chạp, lẫn lộn

Hay quên

Có khó khăn khi suy nghĩ vấn đề cách lôgíc

Khó thu nạp thông tin

Hay nhớ lại những sự kiện gây khó khăn

Khó tập trung vào công việc

Khó đưa ra quyết định ngay cả quyết định đơn giản

Luôn cảm thấy tự ti, tự trách mình, mất niềm tin vào tương lai


Đa nghi, nghĩ rằng mình mắc bệnh nặng mặc dù đã đi kiểm tra sức khỏe.
-
Hành vi

Luôn cảm thấy bồn chồn, khó ngồi yên một chỗ, hoặc ngược lại đờ đẫn

Hay kêu ca phàn nàn

Dễ có hành vi tức giận

Không muốn ra ngoài giao tiếp

Không nuốn tiếp xúc gặp gỡ (ngay cả người thân)

Hay có hành vi/lời nói chống đối, hoặc tự ti

Vệ sinh thân thể kém, trang phục luộm thuộm

Hay sử dụng rượu bia, chất kích thích

Không quan tâm sinh hoạt văn nghệ thể thao

Hành vi tự làm tổn thương

Đôi khi kích động đập phá đồ đạc, hành hung người khác

Hành vi và lời nói không nhất quán
Các rối loạn hành vi này làm cho người bị stress dễ có hành vi lạm dụng rượu, sử
dụng hoặc nghiện thuốc lá cũng như các chất gây nghiện khác. Sử dụng rượu và các

chất gây nghiện lúc đầu làm giảm lo âu và trầm cảm, nhưng về sau bản thân chúng
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 15


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
lại là các chất gây lo âu và đối tượng bắt buộc phải tăng lượng sử dụng, do đó ảnh
hưởng tiêu cực đến mối quan hệ xã hội.
V. ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS
1. Ảnh hưởng tích cực
-
Tăng cường hoạt động của cơ bắp, con tim và não giúp ta thêm năng lượng, và
sự tập trung cao độ để hoàn thành tốt công việc, có lợi cho hệ miễn dịch.
Stress có thể giúp cơ thể trở nên mạnh mẽ, sôi nổi và thậm chí là khỏe mạnh
hơn, từ đó giúp tăng cường hoạt động cơ bắp, trái tim, não giúp tăng thêm
năng lượng, tăng sự tập trung để hoàn thành tốt công việc được giao.
-
Dấu hiệu của stress có thể là những cảnh báo nhằm tránh nguy hiểm đang rình
rập bởi stress giúp con người tỉnh táo hơn và cảnh giác hơn.
-
Stress rèn luyện khả năng bền bỉ, tăng cường ý chí nghị lực của cá nhân. Stress
cũng giúp tăng cường sự sáng tạo của cá nhân. Trong tình huống căng thẳng
những thách thức sẽ giúp cho chúng ta suy nghĩ, tập trung, sẵn sàng đối phó
vượt qua thách thức để thành công.
-

Tăng cường khả năng đối phó với các sự kiện, thay đổi trong môi trường sống:
Stress và lo âu ở mức độ vừa phải có thể giúp bạn có thêm năng lượng, sự tập
trung và động lực để phấn đấu. Nhiều nghiên cứu cho thấy, con người cảm
thấy hạnh phúc nhất khi họ hiểu rõ cảm xúc của bản thân và đối mặt với nó,
vượt qua nó.
-
Tăng cường khả năng thích nghi của cá nhân với môi trường sống khác nhau.
Kiểm soát thành công stress do sự thay đổi môi trường là cách tốt nhất để xây
dựng sự tự tin trong công việc, cũng như trong bất cứ lĩnh vực nào của cuộc
sống. Khả năng thích nghi của cá nhân càng được tăng cường thì giúp cho cá
nhân càng có nhiều kĩ năng đối phó khi gặp các sự thay đổi. Đây là cơ hội cho
sự thăng tiến và phát triển.
2
2
.
.




n
n
h
h

hưởng


t
t

i
i
ê
ê
u
u


c
c


c
c


-
Các chuyên gia đã cho thấy, mắt xích giữa stress và những tác động không tốt
lên cơ thể con người. Cơ thể trải qua ba giai đoạn phản ứng khi gặp stress. Đầu
tiên, "hệ thống báo nguy" hoạt động khi cơ thể chuẩn bị "chống lại hoặc lẩn
trốn". Kế tiếp, cơ thể sẽ tạo sức đề kháng chống lại stress theo từng giai đoạn,
nó bị ép buộc phải theo kịp những đòi hỏi mà stress tạo ra, kéo theo là thiếu
ngủ. Tình trạng này kéo dài và cơ thể sẽ chạm đến mức thứ ba, đó là kiệt sức.
Tất cả tự thích nghi với stress nhưng chỉ tại một thời điểm nào đó, cơ thể sẽ
bảo rằng, đã đến lúc phải cắt bớt hoặc nó sẽ dẫn đến suy nhược cơ thể. Mức độ
ảnh hưởng tiêu cực phụ thuộc vào bản tính cá nhân của mỗi người.
-
Stress có thể ảnh hưởng đến bản thân họ về mặt thể chất, tinh thần/cảm xúc,
đến các quan hệ xã hội, cũng như công việc, lao động học tập của họ. Có thể
được phân tích chi tiết sau đây:

a. Ảnh hưởng tới bản thân
-
Về thể chất: tăng nguy cơ các bệnh liên quan tới cơ thể

Tăng nguy cơ bị các bệnh như huyết áp, tim mạch, tiểu đường…

Tóc: Một người bị stress lên đến cao độ, tóc sẽ rụng và có nguy cơ hói đầu

Não bộ: stress gây nên các bệnh liên quan đến thần kinh như mất ngủ, đau
đầu, thay đổi tính cách, lo lắng, khó chịu và trầm cảm. Sự căng thẳng thần
kinh là hậu quả khi mà trán, mặt, cổ, da đầu và hai cơ vai căng thẳng đến
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 16


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
mức không thể chùng xuống được. Mất ngủ thường xuyên do stress gây ra
là nguyên nhân khiến não trở nên kém linh hoạt, minh mẫn, thậm chí có
nguy cơ bị tổn thương nghiêm trọng.

Răng, miệng: ung nhọt nổi ở miệng và hiện tượng miệng khô đắng là do
stress gây ra. Khi tinh thần suy sụp, căng thẳng, hoạt động của hệ miễn
dịch trở nên kém hiệu quả, nguy cơ nổi mụn nhiệt (còn gọi là đẹn) ở vòm
miệng, nướu, lợi, lưỡi… sẽ rất cao.


Cơ bắp: những cơn đau bất chợt ở cổ và vai, nhức cơ và đau thắt lưng cùng
với những cơn co thắt cơ bắp và co giật thần kinh là hậu quả của stress.

Tim: các bệnh về tim mạch và tăng huyết áp thường được cho là các bệnh
liên quan đến stress. Khi bị stress, cơ thể thường giải phóng một lượng lớn
hormone cortisol, góp phần làm xuất hiện bệnh cao huyết áp, béo phì và
tiểu đường. Ngoài ra, stress còn là nguyên nhân khiến tinh thần ủ rũ, lười
vận động.

Phổi: stress ở mức độ cao ảnh hưởng trầm trọng đến tình trạng hen suyễn.
Ngoài chất cortisol, stress còn kích thích tuyến thượng thận giải phóng
hormone adrenaline. Khi lượng hormone này tăng cao có tác động làm cho
hơi thở trở nên gấp gáp, không sâu. Điều này giải thích tại sao các nhà tâm
lý khuyên mọi người nên giữ bình tĩnh mỗi khi gặp căng thẳng, hay lo âu
bằng cách cố gắng hít thở thật sâu và đều đặn.

Mắt: dễ dàng nhận thấy mệt mỏi, căng thẳng luôn là nguyên nhân hàng đầu
dẫn đến chứng mất ngủ. Khi mất ngủ, bên cạnh một số biểu hiện thường
thấy như thần sắc kém tươi tỉnh, cơ thể suy nhược… thì tình trạng mắt mệt
mỏi, thâm quầng hoặc sưng đỏ cũng rất dễ xảy ra. Mất ngủ lâu ngày, thậm
chí còn có thể làm giảm thị lực cũng như gây thêm nhiều căn bệnh nguy
hiểm khác về mắt.

Bộ máy tiêu hóa: stress có thể làm cho nặng thêm hoặc gây ra những bệnh
đường tiêu hóa như viêm dạ dày, đau bao tử, viêm loét tá tràng, viêm loét
thành ruột kết. Khi bị stress, những loại hormone có tác dụng tăng cường
lưu lượng máu đến các cơ trên cơ thể sẽ thuyên giảm rõ rệt, hậu quả là sức
vận động cũng như sự co bóp của chúng bị giới hạn hoặc yếu đi, trong đó
có dạ dày, dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy hơi và chướng bụng.


Cơ quan sinh sản: stress ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản gây ra những xáo
trộn chu kỳ kinh nguyệt và nhiễm trùng âm đạo ở nữ. Đối với nam giới,
stress có thể tạo nên bệnh liệt dương và xuất tinh sớm, giảm khả năng tình
dục, khó có thai…

Da: một trong những tác hại chính của stress đối với da là kích thích các
tuyến nhờn hoạt động mạnh, khiến da trở nên kém mịn màng, nhanh lão
hóa và dễ nổi mụn, có khi còn làm xuất hiện các bệnh nguy hiểm khác như
chàm bội nhiễm (bệnh eczema),… Vết thương trên da cũng lành chậm hơn
khi bị stress. Có trường hợp stress làm cho phát ban: da đỏ, hoặc gây ra
ngứa. Việc cau mày, nhăn mặt thường xuyên sẽ làm hình thành các vết
nhăn nhưng mọi người thường không để ý đến điều này.

Suy yếu miễn dịch: ảnh hưởng của stress cũng thể hiện rất rõ trên sức
khỏe, stress trầm trọng và kéo dài có thể làm tổn hại hệ miễn dịch và các
chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng của cơ thể nhằm chống lại
bệnh tật cũng như sự xâm nhập của vi rút. Ngoài ra, stress mãn tính còn có
thể làm nặng thêm các bệnh lý cơ thể hoặc tâm thần sẵn có. Stress gây tổn
hại cho bạch cầu (kháng thể chống lại những virus có hại xâm nhập), khả
năng miễn dịch giảm dần.
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 17


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI

-
Về tinh thần/cảm xúc

Gây xáo trộn cuộc sống hàng ngày: ảnh hưởng stress làm cho con người
không còn chủ động trong hoạt động hằng ngày. Những nề nếp trong cuộc
sống được thực hiện ổn định trước đây, sau khi bị stress bị xáo trộn rất là
nhiều, thậm chí có trường hợp bỏ mặc tới đâu hay tới đó.

Cảm xúc buồn rầu, chán nản không muốn làm việc: khi con người bị mắc
một chứng bệnh, ví dụ bệnh đau bao tử, bệnh tác động lên hệ sống thần
kinh làm cho chán nản, không có hưng phấn để làm việc. Stress cũng tác
động như vậy thậm chí còn tác động mạnh hơn, gây ra cảm xúc buồn rầu,
chán nản, không muốn tham gia vào bất kì hoạt động nào kể cả công ăn
việc làm ổn định.

Trí nhớ và sự tập trung kém: Sau một thời gian, stress sẽ làm cho sự tập
trung giảm dần. Một phần não bộ chịu trách nhiệm về bộ nhớ cũng già cỗi
nhanh chóng khi chịu đựng stress quá lâu.

Tăng nguy cơ tự sát: Khi bị stress nặng, bản thân con người không còn tự
chủ mình nữa, một số người suy nghĩ vu vơ trong đó có quyết định tìm đến
cái chết để không còn phải đối phó sự tác động nghiệt ngã của stress.
b. Ảnh hưởng về quan hệ xã hội
-
Chất lượng tư duy kém khi bị stress. Nếu không có biện pháp chế ngự kịp thời,
stress sẽ từng bước làm giảm khả năng tư duy, trí nhớ, khả năng tự kiểm soát,
phán đoán… của người bệnh.
-
Khi bị stress kéo dài con người có thể dễ mất đi niềm tin trong cuộc sống, mất
nghị lực và ý chí vươn lên.

-
Ảnh hưởng đến giao tiếp hàng ngày: với người bình thường việc giao tiếp
trong đời sống hằng ngày là rất quan trọng và là một nhu cầu không thể thiếu
trong quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm, và cá nhân với xã hội.
Khi gặp stress, đặc biệt là stress gây tác động lớn đến thể chất và tinh thần thì
con người không muốn giao tiếp với ai, thậm chí có trường hợp là chỉ muốn
sống một mình, vì vậy lại làm cho họ trở nên stress trầm trọng hơn.
c. Ảnh hưởng tới công việc, lao động học tập
-
Hạn chế tốc độ và chất lượng công việc: Những tác động tiêu cực về thể chất,
tinh thần/cảm xúc của stress làm cho con người giảm sự năng động, sự tích
cực trong công việc, thậm chí có trường hợp không còn ý chí để làm bất cứ
những hoạt động, những công việc nào, ngay cả những hoạt động, công việc
phục vụ cho chính bản thân họ.
-
Quan hệ công việc bị giảm chất lượng (quan hệ với đồng nghiệp và với khách
hàng…). Khi bị stress, do tác động về thể chất và tinh thần, người bị stress bị
hạn chế nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong quan hệ với người thân, với bạn bè,
với đồng nghiệp, với khách hàng. Những trường hợp nặng, người bị stress
thậm chí tự thu mình sống một mình và không muốn quan hệ với bất cứ ai.
-
Khả năng ra quyết định hạn chế: Khả năng suy xét để đưa ra quyết định giải
quyết các vấn đề bị suy giảm, thiếu chính xác và không nhanh chóng. Khi bị
stress thì cá nhân có thể gặp khó khăn đưa ra một quyết định dù là đơn giản.


T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012


Trang 18


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI

Bài 2:

STRESS VÀ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI


I. ĐẶC ĐIỂM NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Nghề CTXH là một nghề mới ở nước ta, do đó chưa được xã hội

biết đến nhiều. Tuy
nhiên, nó có nền móng khoa học, có sứ mạng, quan điểm, giá trị, có nguyên tắc làm việc,
phương pháp làm việc, tiến trình giải quyết vấn đề, … và áp dụng vào nhiều lĩnh vực
khác nhau, để giải quyết các vấn đề xã hội.
Nhóm đối tượng của nghề CTXH là khá đa dạng như những người dễ bị tổn thương,
những người nghèo, những người đứng bên lề xã hội… Người thực thi nghề CTXH phải
tuân thủ Quy điều đạo đức nghề nghiệp và các nguyên tắc chuyên môn. NVCTXH là
những người trong các nghề giúp đỡ. Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của nghề
CTXH.
Do tính chất đặc điểm của nghề CTXH nên NVCTXH làm việc với nhiều thân chủ có
rất nhiều vấn đề khác nhau. Quá trình tiếp cận làm việc với thân chủ khiến NVCTXH gặp
phải những căng thẳng trong công việc, cộng thêm những yếu tố khác tác động nên
NVCTXH dễ bị stress. Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu cụ thể nhưng nhiều công trình
nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra vấn đề này.
II. STRESS CỦA NHÂN VIÊN CTXH TẠI MỘT SỐ NƯỚC

1. Hoa Kỳ
Martin & Schinke (1989) đã khảo sát 200 nhân viên làm việc với gia đình và trẻ
em và chuyên viên tâm lý lâm sàng của 7 trung tâm dịch vụ xã hội trong khu vực đô
thị New York. Qua khảo sát thấy rằng, 57% nhóm chuyên viên tâm lý lâm sàng và
71% nhân viên làm việc với gia đình/ trẻ em xác định rằng, họ bị gần như kiệt sức
hoặc là kiệt sức nghiêm trọng.
Năm 2008, Hiệp hội NVCTXH Mỹ tiến hành nghiên cứu 3.653 hội viên về lĩnh
vực hoạt động của họ có liên quan gì đến stress hay không. Kết quả nghiên cứu cho
thấy, NVCTXH làm việc ở các lĩnh vực hoạt động như sức khỏe tâm thần, sức khỏe,
an sinh nhi đồng gặp stress ở những mức độ khác nhau. (xem bảng sau)
1

Lý do bị stress Lĩnh vực hoạt động Tỷ lệ bị stress (%)

Thiếu thời gian Sức khỏe tâm thần 35
Sức khỏe 15
An sinh trẻ em và Gia đình 12
Công việc nặng nhọc Sức khỏe tâm thần 30
Sức khỏe 15
An sinh trẻ em và Gia đình 14

1
Trích dẫn từ bài giảng của Michael Ong tại hội thảo Quản lý stress, ULSA 2, 17-19/5/2011
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 19



Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
Lý do bị stress Lĩnh vực hoạt động Tỷ lệ bị stress (%)

Lương bổng không cân
xứng
Sức khỏe tâm thần 37
Sức khỏe 16
An sinh trẻ em và Gia đình 9
Đền bù không thỏa đáng Sức khỏe tâm thần 44
Sức khỏe 11
An sinh trẻ em và Gia đình 10
Thân chủ khó
khăn/thách thức
Sức khỏe tâm thần 40
Sức khỏe 13
An sinh trẻ em và Gia đình 11
2. Việt Nam
Chưa có cuộc khảo sát chính thức về stress trong giới NVCTXH, tuy nhiên, khi
gặp gỡ ở các buổi họp mặt hay hội thảo mọi người đều cho rằng áp lực công việc
quá lớn. Trong một cuộc phỏng vấn nhanh nhóm NVCTXH (12 người)
2
thuộc
Câu lạc bộ CTXH chuyên nghiệp TP. Hồ Chí Minh gần đây (10/6/2011) thì cả 12
người đều cho rằng mình bị stress (ở các cấp độ khác nhau).
a. Nội dung tính chất công việc rất khó khăn và phức tạp
-
Bị áp lực công việc: Công việc của NVCTXH chủ yếu là giải quyết vấn đề
cho thân chủ, như đã đề cập ở trên nghề CTXH là nghề giúp đỡ (helping

profession). Lý tưởng, trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp giúp
NVCTXH thực hiện chu toàn công việc của mình nhưng cũng tạo áp lực lên
họ khá lớn.
-
Công việc quá tải: NVCTXH thường triển khai công việc chuyên môn theo
các phương pháp và tiến trình quy định của nghề. Mỗi thân chủ có vấn đề và
hoàn cảnh khác nhau cho nên NVCTXH phải áp dụng các nguyên tắc, kỹ
năng phù hợp. Số lượng thân chủ mà NVCTXH được phân công có khi vượt
khả năng theo dõi giúp đỡ của họ khiến họ lâm vào tình trạng quá tải.
-
Không đủ thời gian: NVCTXH, nhất là nhân viên quản lý ca (case managers)
có khi được phân công quản lý nhiều thân chủ cùng một thời điểm nên bị áp
lực về mặt thời gian. Họ không đủ thời gian để giải quyết hết mọi việc cho
thân chủ nên lo lắng cao độ (bị thân chủ kêu ca phàn nàn, bị cấp trên khiển
trách…) trong khi họ còn nhiệm vụ với gia đình con cái.
-
Đối tượng (thân chủ) thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau: NVCTXH
làm việc trong hệ thống an sinh xã hội (bao gồm lĩnh vực công và tư); diện
tiếp xúc rộng bao gồm trường học, bệnh viện, tòa án, gia đình và trẻ em,
nghiện ngập, tội phạm, mại dâm, sức khỏe tâm thần, người nhiễm HIV/AIDS,

2

Nhóm này gồm các anh chị nòng cốt của CLB trong hội thảo 10/6/2011ở ĐH Mở TPHCM như : Nguyễn Thị Hải, Trần Thị
Nên, Trần Thị Nhiễu, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Trần Thị Ái Mỹ, Trương Thị Dừa, Lê Thị Mỹ Hiền, Trần Công Bình, Lê Chí
An
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012


Trang 20


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
người cao tuổi, người khuyết tật… Do đó, có trường hợp NVCTXH gặp rủi ro
nghề nghiệp, thí dụ bệnh nhân tâm thần tấn công, người có H đe dọa…
-
Kỳ vọng về sự thay đổi nơi thân chủ: Một trong những áp lực đối với
NVCTXH là khi giúp đỡ thân chủ là sự mong mỏi thân chủ của mình mau
thay đổi. Do kỳ vọng đặt vào thân chủ lớn lao như vậy nên khi thấy thân chủ
chậm thay đổi, hoặc không thay đổi, tất yếu NVCTXH bắt đầu thất vọng về
thân chủ, về bản thân mình, từ từ dẫn đến bị áp lực.
-
Áp lực tìm một giải pháp để giải quyết vấn đề của thân chủ: Thông thường
NVCTXH có khả năng tìm ra giải pháp cho vấn đề của thân chủ trên cơ sở
nhận diện vấn đề, phân tích đánh giá chẩn đoán vấn đề, từ đó cùng thân chủ
đưa ra giải pháp. Nhưng cũng có trường hợp thân chủ thiếu sự hợp tác, tham
gia, nên áp lực tìm ra giải pháp giúp thân chủ giải quyết vấn đề tăng sức ép lên
NVCTXH. Họ lo lắng, băn khoăn nên dễ nóng nảy với người xung quanh kể
cả thân chủ.
-
Vấn đề của thân chủ quá khó, vượt quá khả năng của NVCTXH: không ít
trường hợp mà NVCTXH gặp phải là vấn đề của thân chủ phức tạp, nan giải,
vượt khỏi tầm giải quyết của mình. Điều đó, cũng nên được nhìn nhận là bình
thường, vì NVCTXH cũng là con người có những hạn chế, không thể giải
quyết hết mọi vấn đề của xã hội. Nhưng NVCTXH có ý thức trách nhiệm
nghề nghiệp cao, có sự thôi thúc của đạo đức nghề nghiệp thì họ lại bị áp lực,
bị stress. Họ cảm thấy bị tự ái nghề nghiệp nên dẫn đến những suy nghĩ, dằn

vặt thậm chí coi đó là thất bại trong nghề nghiệp của mình.
-
Thiếu sự thông cảm chia sẻ của bạn bè, gia đình: Trong khi công việc
chuyên môn đòi hỏi nhiều phấn đấu của bản thân thì phía gia đình, bạn bè và
xã hội lại tạo áp lực khác lên NVCTXH. Bạn bè cho rằng NVCTXH làm
không tiếng tăm, thu nhập thấp, lại vất vả. Gia đình và người thân của
NVCTXH trực tiếp hoặc gián tiếp chê bai/phê phán việc làm của NVCTXH là
làm việc bao đồng, ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng. Làm việc tắt mặt tối mũi
mà đồng lương quá thấp, thời gian đầu tư vào công việc nhiều nên không còn
để lo cho gia đình, do đó NVCTXH bị nghe nhiều điều tiếng. Chính sự thiếu
cảm thông chia sẻ của những người thân và bạn bè khiến NVCTXH càng lâm
vào cảnh đơn côi trong gia đình mình, trong xã hội mình.
b. Môi trường tác nghiệp
Môi trường tác nghiệp nhấn mạnh tới bối cảnh chung của xã hội và bối cảnh
cơ sở xã hội nơi NVCTXH làm việc, những nơi này có thể có những tác động
gây ra stress cho NVCTXH bởi các yếu tố nguyên nhân sau:
-
Vị trí vai trò, trách nhiệm, quyền hạn chưa rõ ràng: Vị trí của NVCTXH ở
nước ta chưa có, dù mới đây nhà nước có ban hành thông tư quy định chức
danh, nhưng trong bộ máy tổ chức của các cơ sở xã hội thì vị trí vai trò của họ
chưa có hoặc chưa rõ ràng. Từ đó trách nhiệm, quyền hạn cũng không được
xác định mà chỉ được giao công việc chung chung, không quyền hạn, không
trách nhiệm vì không có bảng mô tả công việc (job description).
-
Thiếu kinh nghiệm, kỹ năng làm việc: Điều này xảy ra khi NVCTXH được
giao trách nhiệm chuyên môn thì giải quyết công việc chưa tốt. Một phần do
họ thiếu kinh nghiệm và kỹ năng chuyên nghiệp, một phần do môi trường làm
việc thiếu tính chuyên nghiệp, không thực hành nghề nghiệp chuyên môn công
CTXH nên khó phát triển tay nghề.
-

Thiếu hệ thống giám sát, hệ thống an sinh xã hội chưa đồng bộ: Một môi
trường tác nghiệp lý tưởng trong nghề CTXH là phải có đội ngũ NVCTXH
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 21


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
hội đồng bộ, có hệ thống kiểm huấn/giám sát đầy đủ, giúp nhân viên các cấp
hoàn thành công việc và tăng năng lực. Môi trường làm việc của NVCTXH
hiện nay ở nước ta cần cải thiện và tăng cường tính chuyên nghiệp khiến
NVCTXH cảm thấy kiến thức chuyên môn đã học không hữu ích vì không áp
dụng. Họ rơi vào tình trạng hoang mang, không còn tin vào năng lực của mình
nữa và ngày càng thui chột kỹ năng, cảm thấy mình vô dụng. Trong khi đó hệ
thống an sinh xã hội chưa đồng bộ, thiếu thốn, tính đáp ứng của hệ thống chưa
cao, chưa lấy con người làm trọng tâm của sự giúp đỡ nên ảnh hưởng đến
thành quả giải quyết vấn đề xã hội của thân chủ, làm NVCTXH cảm thấy
mình lạc lõng thiếu sự hỗ trợ và hợp tác.
-
Thiếu sự hỗ trợ liên ngành và bộ máy thực thi chính sách: Tính chất công
việc của NVCTXH phần lớn tập trung vận động nguồn lực cộng đồng hỗ trợ
thân chủ giải quyết vấn đề theo nguyên tắc “tự giúp” (self-help). Do đó, việc
chuyển tuyến/chuyển gởi là việc làm thường xuyên, nhưng để làm được việc
này đòi hỏi cần có sự hợp tác và phối hợp từ các ngành liên quan và các đơn vị
trong bộ máy thực thi chính sách xã hội. Sự hợp tác liên ngành giữa CTXH và
các ngành cần được đặt ra từ lâu, như tâm lý học, tham vấn, xã hội học, tâm

thần học… Tuy nhiên, trong thực tế việc hợp tác liên ngành này gặp nhiều hạn
chế, khiến NVCTXH thiếu nguồn lực hỗ trợ cho công việc của mình. Đó là
chưa kể NVCTXH gặp phải hệ thống hành chánh quan liêu, gây ách tắc trong
tiến trình giải quyết vấn đề cho thân chủ.
-
Thiếu tài nguyên, khi có tài nguyên thì có thể bị chi phối bởi nhà tài trợ: Tài
nguyên trong xã hội ngày càng khan hiếm nên trong ngành CTXH cũng chịu
đựng sự hạn chế này. Việc thiếu tài nguyên là chuyện cần nhận thức nhưng khi
có tài nguyên thì có nơi lãng phí hoặc sử dụng không đúng mục đích. Đặc biệt,
trong tình hình cần sự tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước thì chúng ta
gặp tình trạng phải tuân thủ sự chi phối của họ. Điều này khiến cơ sở xã hội và
NVCTXH không thể độc lập trong hoạch định chính sách, thủ tục, phương
pháp hoạt động của cơ sở mình.
-
Có nhiều nguy hiểm (tai nạn nghề nghiệp): Nghề CTXH thường ẩn chứa
nhiều rủi ro, bất trắc và nguy hiểm. NVCTXH tuy thực thi nghề nghiệp theo
quy điều đạo đức nhưng trong họ vẫn băn khoăn về những nguy cơ tai nạn
nghề nghiệp. Tuy có chính sách, chế độ cho những người chăm sóc những đối
tượng đặc biệt nhưng sự an toàn bản thân vẫn phải đặt hàng đầu.
-
Gặp khó khăn trong giải quyết các thủ tục hành chính: Như trên đã đề cập,
thủ tục hành chánh của bộ máy hành chánh tạo ra những rào cản khiến
NVCTXH gặp khó khăn trong khi giải quyết vấn đề cho thân chủ. Còn thân
chủ nếu gặp tình trạng hành chánh giấy tờ thì họ không thể và không muốn
tiếp cận với các dịch vụ an sinh xã hội. Từ các rào cản này khiến NVCTXH
phải mất thời gian, công sức… để tác động, biện hộ với các nhân viên hệ
thống hành chánh nên dễ bị stress.
-
Nơi làm việc và điều kiện làm việc khó khăn: NVCTXH làm việc ở nhiều
môi trường khác nhau từ thành thị cho đến nông thôn, vùng sâu vùng xa, hải

đảo, miền núi… cho nên gặp nhiều khó khăn trong khi triển khai công việc.
Tuy rằng khi vào nghề ai cũng biết và chấp nhận sự gian khổ này nhưng thực
tế không ít người than thở và lo âu. Có người làm ở các cơ sở giáo dục dạy
nghề cho thanh niên nghiện ma túy đóng ở địa bàn miền núi, xa cách khu dân
cư, thiếu thốn đủ bề. Họ cố gắng hòa nhập nhưng vẫn có người bị stress phải
bỏ việc hoặc xin chuyển qua phần việc khác. NVCTXH làm việc với người có
H giai đoạn cuối, hay người có vấn đề sức khỏe tâm thần gặp phải áp lực từ
tâm lý lo âu, sợ hãi.
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 22


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
-
Bị lây lan stress từ thân chủ: NVCTXH không xử lý tốt cảm xúc của mình dễ
bị lây lan stress từ thân chủ. Từ việc gắn bó với thân chủ trong tiến trình giải
quyết vấn đề, trong đó NVCTXH thấu cảm với cảnh ngộ thân chủ nên hóa
thân mình vào thân chủ lúc nào không hay. Điều này tốt cho việc vun đắp mối
quan hệ, nhưng nếu không phân biệt ranh giới giữa công việc cần làm và cảm
xúc bản thân, thì NVCTXH dễ bị vấn đề của thân chủ và bản thân thân chủ lây
lan stress cho mình.
-
Ngược lại có khi NVCTXH bị stress lại làm lây lan stress cho thân chủ của
mình: NVCTXH cần được cảnh báo là stress của mình sẽ tác động lên thân
chủ. Do đó, khi gặp stress và chịu đựng stress trong lúc làm việc với thân chủ

nếu NVCTXH không ý thức bản thân mình sẽ làm lây lan stress cho thân chủ
mình. Ví dụ: NVCTXH đang bực bội mà phải tiếp thân chủ thì có thể trút giận
lên thân chủ, hoặc quá trình làm việc sẽ chuyển sự bực bội ấy qua thân chủ
khiến thân chủ bị stress.
Với đặc điểm ngành nghề như trên NVCTXH rất dễ rơi vào stress và nếu không
biết xử lý và kiểm soát thì NVCTXH dễ trở nên bị kiệt sức.

T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 23


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI

Bài 3:

CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ VỚI STRESS


I. KHÁI NIỆM CHUNG:
1. Khái niệm ứng phó
Trong tiếng Anh, “cope” - ứng phó - có nghĩa là bình tĩnh đương đầu, đối mặt với
những vấn đề, những khó khăn
3
.Theo nghĩa rộng, ứng phó là khả năng nắm bắt, làm
chủ hay thích ứng nhanh chóng với hoàn cảnh. Khả năng này cho phép con người

thoát khỏi, hoặc làm quen với hoàn cảnh và bằng cách đó cải hoá được những tác
động gây stress của hoàn cảnh. Như vậy, nhiệm vụ chính yếu của “ứng phó” là cung
cấp và làm gia tăng độ bền bỉ về sức khỏe thể chất, tinh thần và về các quan hệ xã
hội của cá nhân để họ có thể đối mặt với những vấn đề trong cuộc sống.
2. Khái niệm chiến lược
Chiến lược là một từ có nguồn gốc quân sự, đề cập đến một kế hoạch hành động
được thiết kế nhằm đạt được một mục tiêu cụ thể
4
. Khi nói đến chiến lược là nói
đến sự chủ động, có dự tính, sắp xếp, tính toán và đoán trước diễn biến cũng như
kết quả sẽ đạt được. Như vậy, chiến lược ứng phó với stress là một kế họach hành
động của cá nhân nhằm chủ động chế ngự, đương đầu với những vấn đề, những
hoàn cảnh gây stress.
3. Ích lợi của việc ứng phó với stress
Việc ứng phó với stress mang lại rất nhiều ích lợi cho NVCTXH như: làm giảm
thiểu tối đa những tác động tiêu cực, có hại của stress đến cuộc sống và công việc
của NVCTXH; giúp cá nhân làm chủ và điều khiển những phản ứng của bản thân
theo hướng thích nghi; tạo nên cuộc sống quân bình thể chất, tâm lý, xã hội; đem lại
hiệu quả cho công việc, niềm vui cho cuộc sống.
II. TỰ NHẬN THỨC CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
Tự nhận thức là một trong những thuộc tính của trí tuệ cảm xúc (Emotional
Intelligence). Nó là cách thức chúng ta khám phá tính cách cá nhân, hệ thống giá trị, niềm
tin, khuynh hướng tự nhiên của mình
5
. Thông thường, tự nhận thức là khởi điểm cho việc
làm chủ bản thân và tạo ra những gì ta muốn.
Vì không ai giống ai trong cách tìm hiểu, và tổng hợp thông tin, phản ứng và tương
tác với sự vật, sự việc nên mọi người thỉnh thoảng cần dành thời gian nhìn lại để có được
một cái nhìn sâu sắc hơn về bản thân. Khi hiểu biết tốt hơn về bản thân mình, chúng ta
mới có thể làm chủ cảm xúc, hành vi, tích cách của mình mà ứng xử, hành động phù hợp

với hoàn cảnh, tạo nên những thay đổi tích cực cho chính bản thân. Đồng thời, tự nhận
thức cho phép ta hiểu rõ người khác, cách thức họ cảm nhận về bản thân ta, từ đó giúp ta
nâng cao kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm.

3

4

5

/>
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 24


Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
Theo Shebib Bob (2003), NVCTXH cần có năng lực tự nhận thức ở mức độ cao. Nếu
không có khả năng này, NVCTXH sẽ không thể khách quan đủ khi làm việc với thân chủ
và sẽ áp đặt những ý muốn của mình lên thân chủ
6
.
Một cách cụ thể, tự nhận thức là:
-
Hiểu biết bản thân: Biết rõ thể lý, cảm xúc, tình cảm, năng lực (kiến thức, kỹ
năng) thái độ, hành vi, kể cả những mặt mạnh lẫn hạn chế.

-
Chấp nhận bản thân với những đặc điểm nêu trên.
-
Nhận biết những tổn thương đặc biệt của bản thân và tìm cách ứng phó với
chúng. Thí dụ: Thể lý yếu ớt, ứng phó bằng cách tập thể dục thể thao, quan
tâm chế độ dinh dưỡng. Dễ xúc động ứng phó bằng cách đối diện với nhiều
tình huống gây xúc động để rèn luyện cơ chế kềm chế xúc động.
-
Biết được khi nào tôi đang đồng hoá/ quá thấu cảm với thân chủ. Thí dụ: Luôn
kiểm soát lời nói, cử chỉ hành vi thể hiện với thân chủ, để biết được những
biểu hiện quá mức thân thiện hoặc luôn nhắc nhớ lại những quy định của nghề.
-
Biết những gì tôi có thể làm và chấp nhận những gì tôi không thể làm.
Một số cách nhận diện và rèn luyện khả năng tự nhận thức:
-
Nhận diện và gọi tên những cảm xúc và hành vi mà bản thân NVCTXH có. Ví
dụ: NVCTXH biết là mình đang nóng giận, không công bằng… với thân chủ
thông qua những suy nghĩ, những phản ứng bằng lời hoặc không lời của bản
thân mình hay của thân chủ, từ đó NVCTXH kịp thời điều chỉnh hành vi của
mình.
-
Nhận biết và chấp nhận những lĩnh vực dễ bị tổn thương và những vấn đề mà
NVCTXH không giải quyết được. Thí dụ: Nếu bản thân đã có kinh nghiệm
chưa nguôi về một người thân đam mê cờ bạc thì không nên nhận những thân
chủ có vấn đề này.
-
Hiểu biết những giá trị của bản thân và ảnh hưởng của những giá trị đó trong
mối quan hệ tham vấn. Thí dụ: Nếu NVCTXH đánh giá thấp và gay gắt hành
vi bạo hành phụ nữ thì khi tham vấn thân chủ là nam giới bạo hành cần ý thức,
không để những giá trị này ảnh hưởng đến khả năng lắng nghe, và cách ứng

xử của mình đối với thân chủ.
-
Nhận biết và quản lý cuộc đối thoại bên trong bản thân NVCTXH. Thí dụ: Khi
nghe thân chủ nam giới bạo hành phụ nữ bày tỏ lý do hành vi của mình, có thể
bên trong NVCTXH xảy ra một cuộc đối thoại: “Phải chăng gã này đang ngụy
biện hay nói dối !!!”. NVCTXH cần cắt ngay suy nghĩ này, tập trung lắng
nghe và ứng xử cách khách quan mà không vội xét đoán.
-
Hiểu biết và kiểm soát được cơ chế tự vệ của bản thân. Thí dụ: Thân chủ nổi
nóng và NVCTXH ý thức được rằng, mình cũng đang có ý định nổi nóng lại
hoặc giận dỗi, thì ngừng ngay cuộc tiếp xúc. Hiểu được như vậy, NVCTXH sẽ
giữ được bình tĩnh và có thái độ phù hợp hơn khi tiếp tục làm việc với thân
chủ.
-
Biết khi nào và bằng cách nào thân chủ đã phản ứng lại với phong cách của
NVCTXH. Thí dụ: Thân chủ đang tích cực bộc lộ với NVCTXH nhưng
NVCTXH mải lo suy nghĩ việc khác mà không thể hiện sự tập trung lắng nghe

6
Shebib Bob (2003), Choices,p.54, Allyn & Bacon: N.Y

×