Tải bản đầy đủ (.doc) (77 trang)

Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (413.46 KB, 77 trang )

MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục bảng biểu 3
MỞ ĐẦU 4
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 5
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 5
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
5. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 6
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN 7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12 QUA TỔ CHỨC
CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA ĐỊA LÍ 8
1.1. HƯỚNG NGHIỆP VÀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP 8
1.1.1. Khái niệm hướng nghiệp 8
1.1.2. Khái niệm giáo dục hướng nghiệp 9
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông
9
1.1.4. Tầm quan trọng của hướng nghiệp cho học sinh THPT 11
1.1.5. Các nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục hướng nghiệp trong nhà
trường phổ thông 12
1.2. NGOẠI KHÓA ĐỊA LÍ 16
1.2.1. Khái niệm 16
1.2.2. Đặc điểm ngoại khóa địa lí trong trường phổ thông 16
1.2.3. Mục tiêu tổ chức hoạt động ngoại khóa địa lí trong trường phổ thông 17
1.2.4. Tầm quan trọng của hoạt động ngoại khóa 18


1.2.5. Các nguyên tắc tổ chức hoạt động ngoại khóa địa lí 18
1.2.6. Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa địa lí 19
1.2.7. Các hoạt động ngoại khóa địa lí ở trường THPT 19
1.3. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ HỌC SINH LỚP 12 20
1.3.1. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi 20
1.3.2. Đặc điểm về hoạt động học tập 20
1.3.3. Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề 20
1
1.4. CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÍ 12 21
1.4.1. Mục tiêu của chương trình địa lí 12 21
1.4.2. Cấu trúc, đặc điểm sách giáo khoa địa lí 12 22
1.5. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH 12 THPT
THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA ĐỊA LÍ 24
1.5.1. Tổ chức điều tra 25
1.5.2. Kết quả điều tra 26
CHƯƠNG 2
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12
QUA TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA ĐỊA LÍ 30
2.1. MỤC TIÊU GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12 30
2.2. XÁC ĐỊNH NỘI DUNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP
12 THPT QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA ĐỊA LÍ 30
2.2.1. Nguyên tắc xác định nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12
THPT qua các hoạt động ngoại khóa địa lí 30
2.2.2. Những nội dung cụ thể về giáo dục hướng nghiệp trong các bài học của sách
giáo khoa địa lí 12 32
2.3. CÁC HÌNH THỨC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12
THPT 37
2.3.1. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT qua thông tin địa lí 37
2.3.2. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT qua tổ chức trò chơi địa lí
40

2.3.3. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT qua câu lạc bộ địa lí 49
2.3.4. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT qua tổ chức triển lãm địa lí
63
CHƯƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.1. MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 66
3.2. NGUYÊN TẮC THỰC NGHIỆM 66
3.3. NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 66
3.4. TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM 67
3.4.1 Chọn lớp thực nghiệm 67
3.4.2. Phương pháp thực nghiệm 67
3.4.3. Tiến hành thực nghiệm 67
3.5. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 69
3.5.1. Kết quả về mặt định tính 69
3.5.2. Kết quả về mặt định lượng 70
3.5.3. Kết luận chung về thực nghiệm 71
2
KẾT LUẬN
73
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG HẠN CHẾ 73
1. Kết quả 73
2. Hạn chế 73
II. KIẾN NGHỊ 74
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Phân bố các đơn vị kiến thức của chương trình địa lí 12 23
Bảng 1.2. Kết quả điều tra giáo viên về giáo dục hướng nghiệp 25
Bảng 1.3. Kết quả điều tra học sinh về giáo dục hướng nghiệp 26
Bảng 1.4. Kết quả tỉ lệ phần trăm (%) giáo viên chọn mục đích của GDHN 27
Bảng 1.5. Kết quả mức độ tổ chức hoạt động ngoại khóa của các trường trong tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu 28

Bảng 1.6. Kết quả tỉ lệ phần trăm (%) giáo viên chọn những khó khăn đối với việc giáo
dục hướng nghiệp của nhà trường hiện nay 28
Bảng 2.1. Các nội dung cụ thể về giáo dục hướng nghiệp có trong SGK Địa lí 12 32
Bảng 3.2. Kết quả thực nghiệm qua phiếu trắc nghiệm (tỉ lệ %) 70
3
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường
bước vào cuộc sống lao động thực sự. Hướng nghiệp tạo điều kiện cho học sinh lựa
chọn một trong nhiều con đường khác nhau. Trong nhà trường phổ thông hướng
nghiệp nhằm phát hiện và bồi dưỡng những phẩm chất nghề nghiệp cho học sinh,
giúp các em hiểu mình, hiểu nghề, trên cơ sở đó, giúp học sinh đánh giá được bản
thân để tự định hướng cho mình đi vào những lĩnh vực nghề nghiệp thích hợp mà xã
hội yêu cầu.
Nói về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng học sinh
sau khi học xong các cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông tốt nghiệp ra trường.
Quyết định số 126/CP của Hội đồng Chính phủ đã ban hành ngày 19/03/ 1991 đã nêu
rõ: Hướng nghiệp phải được chính thức coi như là một môn học và xem như một hoạt
động có trong các tiết dạy của các môn học trong nhà trường phổ thông [7] [9].
Trong luật giáo dục nước ta đã chỉ ra rằng: Giáo dục hướng nghiệp là một bộ
phận của nội dung giáo dục phổ thông toàn diện. Chiến lược phát triển giáo dục
2001 – 2010 và chủ trương đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông hiện nay cũng
nhấn mạnh các yêu cầu tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh đó là: Giáo
dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn
cho học sinh ngay từ trong nhà trường, chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội, đồng thời phù hợp với năng lực cá nhân [17] [2].
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông có nhiệm vụ: giáo dục thái
độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp; cho học sinh làm quen với một số
nghề phổ biến trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương; tìm hiểu năng
khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn

và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất; động viên học sinh đi vào
những nghề, những nơi đang cần. Bởi vậy, vấn đề giáo dục hướng nghiệp hiện nay
là vấn đề hết sức quan trọng đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu giáo dục.
Thực tế hiện nay hầu hết các trường phổ thông chưa thực hiện tốt công tác
hướng nghiệp. Thậm chí có nhiều trường bỏ luôn không hướng nghiệp cho học
sinh, mặc dù có dạy nghề nhưng không hướng nghiệp. Các trường hiện nay chưa
4
tích hợp vào tất cả các môn học. Môn Địa lí là môn học có rất nhiều nội dung và
hoạt động để giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, tuy nhiên, đa số các trường vẫn
chưa coi trọng. Có một số ít trường quan tâm thực hiện nhưng hình thức, nội dung
nghèo nàn kém hiệu quả giáo dục. Đa số giáo viên rất lúng túng trong quá trình thực
hiện chương trình hướng nghiệp. Với những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề
tài “Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 qua tổ chức các hoạt động
ngoại khóa” để nghiên cứu.
2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Xác định được các nội dung và các hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh 12 thông qua hoạt động ngoại khóa địa lí. Qua đó, nhằm giúp học sinh hiểu
thêm về các ngành nghề và góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục cho học sinh trong
nhà trường phổ thông.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 12 thông
qua các hoạt động ngoại khóa địa lí.
- Tiến hành điều tra thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
12 THPT tại địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Xác định nội dung và các hình thức ngoại khóa địa lí để giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh 12 THPT.
- Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng hiệu quả của việc giáo dục hướng
nghiệp đã lựa chọn.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 12 THPT

thông qua hoạt động ngoại khóa địa lí.
- Nghiên cứu thực trạng giáo dục hướng nghiệp tại một số trường THPT
trong tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu.
- Nghiên cứu hoạt động ngoại khóa địa lí. Có rất nhiều hoạt động ngoại khóa
địa lí, đề tài chỉ nghiên cứu một số hoạt động ngoại khóa để giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh là: Trò chơi địa lí; Thông tin địa lí; Câu lạc bộ địa lí; Triển lãm địa lí.
5
5. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Tài liệu “ Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp
11 hoạt động giáo dục hướng nghiệp” của tác giả Trần Ngọc Khánh đã đề cập đến
một số vấn đề chung về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông.
- Tài liệu “ Giới thiệu giáo án hướng nghiệp 10” tác giả: Trần Trọng Hà, La
Thế Thượng NXB Hà Nội Tài liệu này các tác giả cũng nêu lên mục tiêu của hoạt
động hướng nghiệp lớp 10 Nhìn chung tài liệu này chủ yếu hướng dẫn việc soạn
giáo án hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 10.
- Tài liệu: “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp 12 (sách giáo viên thí điểm)”
tác giả Phạm Tất Dong (chủ biên).Tài liệu này có các nội dung hướng nghiệp chính:
- Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương
- Tìm hiểu hệ thống trường và hướng dẫn học sinh chọn nghề và làm hồ sơ
tuyển sinh.
- Tổ chức tham quan hoặc hoạt động văn hóa theo chủ đề hướng nghiệp.
Dựa trên nền tảng đã có của các tác giả đi trước, trên cơ sở kế thừa và phát
triển, bản thân tôi mạnh dạn viết đề tài về: Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
lớp 12 qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Đây là đề tài hoàn toàn mới vì chưa
có tài liệu nào viết về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 12 qua hoạt động ngoại
khóa địa lí.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Trong nhóm này chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp:
6.1.1. Phương pháp phân tích tổng hợp.

6.1.2. Phương pháp phân loại hệ thống hóa.
6.1.3. Phương pháp lịch sử.
Chúng tôi sử dụng các phương pháp trên theo hướng thu thập tài liệu, giáo
trình, sách báo… có liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đọc, xử lí, phân tích, tổng hợp,
phân loại tài liệu đã thu thập được để viết đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp khảo sát điều tra
6
Sử dụng phương pháp này bằng cách điều tra bằng phiếu, phỏng vấn, dự giờ,
trao đổi đối với giáo viên và học sinh để điều tra thực trạng tổ chức giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh lớp 12 ở một số trường trung học phổ thông trong tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu.
6.2.2. Phương pháp sử dụng toán thống kê
Chúng tôi sử dụng phương pháp này bằng cách tính toán, phân tích các phiếu
điều tra hiện trạng và các phiếu đánh giá kết quả thực nghiệm.
6.2.3. Phương pháp thực nghiệm
Sử dụng phương pháp bằng cách xây dựng một số nội dung giáo dục hướng
nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa địa lí. Tiến hành tổ chức thực nghiệm trên một
số lớp 12 ở một số trường trung học phổ thông trong huyện Tân Thành- tỉnh Bà Rịa
– Vũng Tàu. Sau đó kiểm tra kết quả thực nghiệm, rút ra nhận xét.
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, hệ thống các bảng biểu, phụ lục…,
phần nội dung luận văn được xây dựng theo cấu trúc 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh lớp12 qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa địa lí.
Chương 2: Xác định một số nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
lớp 12 qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa địa lí.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
7
CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12 QUA TỔ CHỨC
CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA ĐỊA LÍ
1.1. HƯỚNG NGHIỆP VÀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm hướng nghiệp
Là hệ thống các biện pháp giúp cho con người lựa chọn và xác định nghề
nghiệp của bản thân trong cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở
trường của cá nhân với nhu cầu xã hội [19] [8].
Hướng nghiệp là khái niệm chung của một trong những lĩnh vực văn hóa xã
hội. Hướng nghiệp được thực hiện dưới hình thức quan tâm của xã hội và tạo nghề
cho thế hệ trẻ. Hỗ trợ và phát triển cho các thế hệ những thiên hướng và thực hiện
đồng bộ các biện pháp chuyên môn tác động đến con người trong việc tự xác định
nghề nghiệp, chọn lựa hình thức tối ưu để có việc làm riêng. Hướng nghiệp còn có
tính đến nhu cầu và năng lực của con người và kết hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã
hội trong thị trường lao động
Do tình hình nghề và việc làm hiện nay thường xuyên thay đổi cho nên hoạt
động hướng nghiệp không còn giới hạn ở trường phổ thông mà cần thiết mở rộng
cho các tầng lớp dân cư khác nhau. Trên nhiều bình diện khác nhau, hướng nghiệp
có thể được hiểu là:
• Hướng nghiệp hiểu trên bình diện xã hội
Hướng nghiệp có thể hiểu như là một hệ thống tác động của xã hội về giáo
dục, y học, xã hội học, kinh tế học, nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa
phù hợp với hứng thú, năng lực nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng
được nhu cầu cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản
xuất trong nền kinh tế quốc dân [7] [9].
• Hướng nghiệp hiểu trên bình diện trường phổ thông
Hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của
trò. Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc
8
của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc

chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích
khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu năng lực của các ngành sản
xuất trong xã hội [7] [9].
1.1.2. Khái niệm giáo dục hướng nghiệp
Trong nhà trường phổ thông, giáo dục hướng nghiệp được hiểu như là một
bộ phận của quá trình giáo dục. Hướng nghiệp đòi hỏi nhà trường tiến hành việc
giáo dục về văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, giáo dục thể chất, lao động phải đồng thời
cung cấp cho học sinh nắm được:
- Hệ thống các nghề nghiệp chủ yếu hiện có trong đời sống xã hội.
- Nội dung cơ bản, các yêu cầu đối với những người tham gia các nghề
nghiệp ấy.
- Các thông tin cần thiết về sự phân bổ, tuyển chọn, sử dụng nhân lực ở các
nghề ấy.
- Hướng dẫn có tính chất tư vấn, tạo điều kiện để mỗi học sinh định hướng
đúng trong việc lựa chọn nghề nghiệp thích hợp với năng lực, sở trường của mình
sau khi tốt nghiệp phổ thông. [1]
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông
1.1.3.1. Chức năng
Hướng nghiệp là công việc xác lập sự phù hợp nghề của từng con người cụ thể
trên cơ sở nghiên cứu mối tương quan giữa những phẩm chất, đặc điểm tâm – sinh lí
của con người. Trong công tác giáo dục, chúng ta có thể hiểu hướng nghiệp ở khía
cạnh khác. Hướng nghiệp là quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống lao
động nghề nghiệp. Trong quá trình đó, phải hình thành ở các em sự sẵn sàng tâm lí đi
vào lao động sản xuất trong một nghề cụ thể. Sự sẵn sàng tâm lí được thể hiện ở
nhiều phương diện khác nhau như: sẵn sàng về đạo đức, sẵn sàng về tri thức, sẵn sàng
về tình cảm, sẵn sàng về tư tưởng Vì vậy, chức năng giáo dục hướng nghiệp là:
- Chuẩn bị cho trẻ em năng lực lao động, năng lực tiếp thu kĩ thuật sản xuất.
- Chuẩn bị về đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, về tình cảm gắn bó với
nghề
9

1.1.3.2. Nhiệm vụ
- Một là, qua hướng nghiệp, học sinh được làm quen với những nghề cơ bản
trong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề
cần thiết phải phát triển ngay địa phương mình Nhiệm vụ này được thể hiện trong
suốt những năm học sinh ngồi trên ghế nhà trường.
Từ sự làm quen này, giáo viên sẽ giúp học sinh trả lời câu hỏi: những nghề
nào đang cần phát triển nhất? Thái độ đối với nghề đó như thế nào là đúng? Đồng
thời, học sinh còn phải biết những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề đặt ra và những
điều kiện vào học nghề.v.v. Tóm lại, nhiệm vụ thứ nhất là hình thành ở học sinh
những biểu tượng đúng đắn về những nghề cần phát triển.
- Hai là, hướng dẫn phát triển hứng thú nghề nghiệp. Trong quá trình tìm
hiểu nghề, ở học sinh sẽ xuất hiện và phát triển hứng thú nghề nghiệp. Tính chất lựa
chọn của hứng thú sẽ từng bước bộc lộ rõ dần. Em học sinh này thích nông nghiệp,
em khác lại chỉ chú ý đến nghệ thuật Người làm hướng nghiệp sẽ hướng sự phát
triển hứng thú của các em trên cơ sở phân tích những đặc điểm, năng lực và những
điều kiện hoàn cảnh riêng của từng em.
Hứng thú là một động lực hết sức quan trọng để con người gắn bó với nghề.
Vì vậy hứng thú được coi như một chỉ số quan trọng hàng đầu để xét sự phù hợp
nghề của con người. Ở một số nước trên thế giới, người ta đề ra nguyên tắc: không
bố trí vào nghề nếu không có hứng thú. Trên quan điểm chủ nghĩa nhân đạo cũng
như quan điểm tâm lí học, nguyên tắc đó hoàn toàn đúng.
Tuy nhiên, việc giáo dục đạo đức, chính trị có ý nghĩa lớn đối với sự hình
thành và phát triển hứng thú. Trong xã hội loài người, không ít nghề ở ngoài sự định
hướng của học sinh, nhưng khi thấy hết tầm quan trọng một nghề, có những học
sinh đã dứt khoát chọn nghề ấy và cảm thấy thoải mái hoặc hài lòng với sự lựa chọn
của mình, từ đó nảy nở hứng thú với nghề.
- Ba là, giúp học sinh hình thành năng lực nghề nghiệp tương ứng. Người ta
chỉ có thể yên tâm sống lâu dài với nghề nếu họ có năng lực chuyên môn thực sự và
đóng góp được sức lực, trí tuệ một cách hữu hiệu với nghề của mình. Xét đến cùng,
ai cũng muốn có năng suất lao động cao, có uy tín trong lao động nghề nghiệp. Mặt

khác, nghề nghiệp cũng không chấp nhận những người thiếu năng lực. Vì vậy, trong
10
quá trình hướng nghiệp, phải tạo điều kiện cho học sinh hình thành được năng lực
tương ứng và có hứng thú với nghề mà mình đã chọn.
Đối với học sinh phổ thông, con đường hình thành năng lực nghề nghiệp là
tổ chức lao động sản xuất kết hợp với dạy nghề. Học sinh sẽ được thử sức trong các
hình thức hoạt động nói trên và từ đó năng lực nghề nghiệp sẽ nảy nở và phát triển.
- Bốn là, giáo dục cho học sinh thái độ lao động, ý thức tôn trọng người lao
động thuộc các ngành nghề khác nhau và ý thức tiết kiệm, bảo vệ của công… Đây
là những phẩm chất nhân cách không thể thiếu được ở người lao động trong xã hội
của chúng ta. Có thể coi đây là nhiệm vụ giáo dục đạo đức và lương tâm nghề
nghiệp. Là nhiệm vụ chủ yếu đối với thế hệ trẻ. Cùng với các nhiệm vụ trên, nhiệm
vụ này góp phần vào việc làm cho những phẩm chất nhân cách của người lao động
được hài hòa và cân đối.
Tóm lại, hướng nghiệp có mục đích cơ bản là hướng dẫn và chuẩn bị cho thế
hệ trẻ sẵn sàng đi vào các ngành nghề mà đất nước hay ở từng địa phương đang cần.
Quá trình giáo dục hướng nghiệp phải làm cho học sinh có những hiểu biết cần thiết
về thị trường lao động, biết cách lựa chọn nghề nghiệp có cơ sở khoa học và được
làm quen với nghề để có hứng thú và thái độ đúng đắn, yêu quý nghề. Điều quan
trọng là học sinh có được tình cảm, thói quen lao động để tiến tới có thể biết làm một
số nghề truyền thống, nghề thông dụng đang cần duy trì và phát triển ở địa phương.
Ngay từ khi học phổ thông, học sinh đã được chuẩn bị tâm thế và kỹ năng
sẵn sàng đi vào cuộc sống. Các em có thể tự tạo việc làm ở gia đình và tham gia lao
động ở các thành phần kinh tế khác. Đây cũng chính là việc làm thiết thực góp phần
xóa đói giảm nghèo, xây dựng đất nước quê hương giàu mạnh [7] [9]
1.1.4. Tầm quan trọng của hướng nghiệp cho học sinh THPT
- Hướng nghiệp giúp cho học sinh thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi
chọn nghề. Hướng nghiệp còn giúp học sinh chọn trường học theo chiều hướng phù
hợp giữa lựa chọn của cá nhân với gia đình, xã hội và với các yêu cầu của các
ngành nghề. Qua đó đảm bảo lợi ích tối đa của cá nhân và xã hội, khai thác và sử

dụng triệt để khả năng, tiềm năng và ưu thế của cá nhân trong việc hành nghề trong
suốt cuộc đời. Đảm bảo sự khai thác hợp lý nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh
tế của xã hội.
11
- Hướng nghiệp không chỉ hướng tới việc định hướng chọn nghề trong tương
lai, mà còn tác động vào nhận thức của học sinh đối với nghề định chọn. Làm cho
học sinh hiểu được giá trị của nghề, hình thành hứng thú, say mê nghề và tìm thấy
hạnh phúc khi tận tâm cống hiến tinh thần và sức lực cho nghề đã chọn.
Theo E.A klimốp, tác giả cuốn sách “Nay đi học mai làm gì”, có nói đến hai
nguyên nhân dẫn đến việc chọn nghề không phù hợp. Thứ nhất là do cá nhân có thái
độ không đúng với việc chọn nghề. Thứ hai là do không hiểu hết khả năng của bản
thân, không biết hoặc không đánh giá đầy đủ những đặc điểm phẩm chất của mình
và cũng như những yêu cầu của nghề với người lao động…Vì vậy, việc định hướng,
hướng dẫn học sinh chọn đúng nghề phải kết hợp đủ ba yếu tố: nguyện vọng; năng
lực cá nhân; những đòi hỏi của nghề nghiệp và yêu cầu của xã hội. Điều đó càng
chứng tỏ tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp với HS, trong đó có vai trò
không nhỏ của các nhà trường.
1.1.5. Các nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục hướng nghiệp trong
nhà trường phổ thông
1.1.5.1. Nội dung hướng nghiệp
- Tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, nội dung này cung cấp cho học sinh những
thông tin nghề nghiệp và cơ sở đào tạo. Bao gồm những loại thông tin sau:
+ Thông tin về ngành, nhóm nghề và nghề cụ thể.
+ Thông tin về cơ sở đào tạo
+ Thông tin về nghề nghiệp và cơ sở đào tạo mà bản thân thích.
- Tìm hiểu thông tin về định hướng phát triển kinh tế - xã hội, về thị trường
lao động ở địa phương, cả nước và xa hơn nữa là trong khu vực, của thế giới.
Những thông tin đó giúp học sinh tiếp cận dần với hệ thống về đào tạo nhân lực,
việc làm và giúp các em quen dần với những tính chất, qui luật của thị trường lao
động. Ngoài ra, học sinh còn cần thấy được đòi hỏi mới về nhân lực phục vụ công

nghiệp hóa – hiện đại hóa. Các thông tin gồm:
+ Thông tin về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội.
+ Thông tin về thị trường lao động.
- Các chủ đề giúp học sinh tự đánh giá hứng thú và năng lực nghề nghiệp bản
thân. Nội dung này hướng học sinh tự đánh giá và phát triển hứng thú, năng lực
12
nghề nghiệp tương lai của các em trên cơ sở phân tích những đặc điểm, những điều
kiện và những hoàn cảnh riêng của từng em.
- Tư vấn chọn nghề cho học sinh. Tư vấn được thể hiện qua việc thực hiện
những chủ đề thông qua tổ chức thảo luận nhóm, lớp về một chủ đề hướng nghiệp.
Hoặc có thể thông qua các buổi tư vấn trực tiếp để cho học sinh lời khuyên chọn
nghề phù hợp nhằm tránh những sai lầm trong chọn nghề, hướng học sinh vào con
đường thành công của nghề nghiệp tương lai…
- Giáo dục cho học sinh thái độ, ý thức tôn trọng người lao động, ý thức tiết
kiệm và bảo vệ của công thuộc các ngành nghề khác nhau…Đây là những phẩm
chất, nhân cách không thể thiếu được ở những người lao động. Có thể coi đây là nội
dung nhằm thực hiện giáo dục đạo đức và lương tâm nghề nghiệp đối với thế hệ trẻ.
Những nội dung trên được thể hiện thành các chủ đề để thực hiện trong các
lớp học, cấp học. Tùy theo mục tiêu giáo dục hướng nghiệp của từng lớp mà giáo
viên thực hiện những nội dung có những trọng tâm khác nhau [7]…[9].
1.1.5.2. Phương pháp giáo dục hướng nghiệp
Trong mọi hoạt động, giáo viên đóng vai trò cố vấn, xác định mục tiêu, nội
dung, cách thức hoạt động, còn các em học sinh giữ vai trò chủ thể hoạt động, điều
khiển hoạt động và tự đánh giá. Do vậy, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục
hướng nghiệp gồm một số phương pháp đặc thù sau:
- Thuyết trình nêu vấn đề: giáo viên truyền đạt thông tin và tri thức đến học
sinh bằng lời nói. Phương pháp thuyết trình có thể áp dụng trong những tình huống
dưới đây:
+ Giới thiệu khái quát chủ đề, nói ngắn gọn những vấn đề quan trọng và cần
thiết để học sinh biết được ý nghĩa và nội dung của chủ đề.

+ Giải thích các điểm chính của chủ đề.
+ Giao bài tập cho học sinh
- Dạy theo tình huống: dạy học theo tình huống dựa trên quan điểm “Giáo
dục là sự chuẩn bị cho người học vào việc giải quyết các tình huống của cuộc
sống”(Soul B. Robinsohl 1967). Học theo tình huống HS có điều kiện trao đổi, với
nhau, trao đổi với giáo viên, được nhận xét, trình bày những suy nghĩ, hiểu biết của
mình về cuộc sống, về nghề nghiệp và nhất là vấn đề chọn nghề tương lai.
13
Phương pháp tình huống được tiến hành theo những bước sau:
Bước 1: Học sinh nhận biết tình huống và những vấn đề cần giải quyết thuộc
trường hợp nào và liên hệ với kinh nghiệm của bản thân.
Bước 2: Học sinh thu thập thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề.
Bước 3: Thảo luận, trao đổi để tìm các phương án giải quyết.
Bước 4: So sánh các phương án, lựa chọn một phương án giải quyết.
Bước 5: Trình bày, bảo vệ phương án đã lựa chọn.
Bước 6: So sánh, vận dụng hoặc lấy ví dụ trong thực tiễn.
- Dạy học dự án: Trong hoạt động hướng nghiệp, dự án thường được thực
hiện là loại dự án tìm hiểu thông tin nghề và cơ sở đào tạo cần thiết cho học sinh.
Dạy học dự án được thực hiện theo những bước sau:
+ Chọn đề tài và xác định mục tiêu của dự án.
+ Xây dựng đề cương và kế hoạch thực hiện.
+ Thực hiện dự án.
+ Thu thập kết quả và công bố sản phẩm.
+ Đánh giá kết quả.
- Dạy học theo nhóm nhỏ: Học theo nhóm nhỏ là một trong những phương
pháp học tập có hiệu quả trong việc tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh phổ thông. Khi học theo nhóm, học sinh có thể cùng nhau đạt được những
điều mà các em không làm được một mình, bằng cách là đóng góp một phần hiểu
biết của mình rồi cả nhóm tập hợp lại thành “bức tranh tổng thể” về thông tin nghề
hoặc quyết định chọn nghề.

- Tổ chức thảo luận lớp về nội dung hướng nghiệp: trong quá trình tổ chức hoạt
động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, phương pháp thảo luận có những thuận lợi:
+ Giúp học sinh nhận thức sâu sắc và xử lí thông tin nhanh trong những chủ
đề có nội dung tìm hiểu một nghề cụ thể.
+ Qua thảo luận, học sinh hiểu được quan điểm của bạn khác.
+ Học sinh phân tích, đánh giá được nhiều tình huống học tập do giáo viên
đưa ra.
+ Học sinh học cách lập luận, lí giải được vấn đề chọn nghề.
14
- Tổ chức trò chơi theo chủ đề hướng nghiệp:
Là một phương pháp có hiệu quả để thu hút sự tham gia của học sinh nhằm
giúp học sinh hứng thú, giảm bớt mệt mỏi trong quá trình học tập. Hoạt động giáo
dục hướng nghiệp nhiều khi được thể hiện như một sân chơi bổ ích cho học sinh.
Qua đó, các em vừa được học, vừa được tham gia những trò chơi hấp dẫn. Các bước
tiến hành phương pháp:
+ Phổ biến luật chơi.
+ Đảm bảo học sinh nắm được qui tắc chơi.
+ Giáo viên rút ra kết luận cho học sinh qua trò chơi.
- Đóng vai (diễn kịch), mô phỏng: là phương pháp cơ bản để rèn luyện kĩ
năng giao tiếp cho học sinh. Đóng vai là cơ hội để học sinh thực hành một số nhiệm
vụ hay cách ứng xử nào đó trong một môi trường mẫu trước khi các tình huống thực
xảy ra. Qua đóng vai, học sinh biết xử lí thông tin, ứng dụng những lý thuyết đã học
vào thực tế sinh động và đa dạng. Đóng vai tạo điều kiện cho học sinh thực hành kĩ
năng ra quyết định cho hướng đi của mình. Có thể áp dụng phương pháp này để tạo
tình huống trước khi thảo luận một chủ đề nào đó. Đóng vai sẽ kích thích học sinh
thảo luận sôi nổi về chủ đề được nêu [7]…[9].
1.1.5.3. Các hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp
Trong dạy học địa lí, có các hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp dưới đây:
- Hướng nghiệp qua tiết học, qua các buổi sinh hoạt dưới cờ
- Tổ chức tham quan các cơ sở sản xuất.

- Tổ chức các hoạt động ngoại khoá về nghề nghiệp.
- Chuyên gia tư vấn nghề và việc làm cho học sinh.
- Tổ chức các câu lạc bộ tìm hiểu nghề.
- Xây dựng phòng trắc nghiệm và tư vấn nghề.
- Mời chuyên gia, nghệ nhân nói chuyện về nghề.
- Liên kết với các doanh nghiệp trong việc hướng nghiệp và dạy nghề cho
học sinh.
15
1.2. NGOẠI KHÓA ĐỊA LÍ
1.2.1. Khái niệm
Ngoại khóa là hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp, không quy định bắt buộc
trong chương trình, là hoạt động dựa trên sự tự nguyện tham gia của một số hay số
đông học sinh có hứng thú, yêu thích bộ môn và ham muốn tìm tòi, sáng tạo các nội
dung học tập địa lí, dưới sự hướng dẫn của giáo viên [13]…[16].
Phân biệt giữa ngoại khóa với nội khóa:
Nội Khóa: là những hoạt động dạy học được ghi cụ thể trong kế hoạch,
chương trình dạy học. Các hoạt động này bao giờ cũng có tính chất bắt buộc đối với
bất kì học sinh nào trong lớp và kết quả học tập phải được giáo viên nhận xét, kiểm
tra , đánh giá
Như vậy, sự khác nhau giữa hoạt động ngoại khóa và nội khóa là ở chỗ:
Ngoại khóa không có sự bắt buộc, dựa trên cơ sở tự nguyện, phần lớn là học sinh
khá có năng lực, có hứng thú và yêu thích môn học. Những hoạt động ngoại khóa
tuy thuộc phạm vi dạy học của môn học, nhưng không được ghi trong chương trình.
Ngoại khóa bổ sung kiến thức cho nội khóa, kết quả học tập không đánh giá
cho điểm [4]…[5].
1.2.2. Đặc điểm ngoại khóa địa lí trong trường phổ thông
Về bản chất:
- Nặng về tự nguyện và tùy hứng thú của học sinh.
- Phát huy được năng khiếu, tính linh hoạt phù hợp với tâm sinh lý của HS.
Về nội dung:

- Có tính chất bổ sung, mở rộng nội khóa.
- Ngoại khóa không phụ thuộc vào chương trình nội khóa.
- Ngoại khóa có thể đi sâu mở rộng một bộ phận cần thiết một nội dung hay
của chương trình học hoặc cho các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, văn nghệ, thể thao.
Về hình thức:
Có hình thức tổ chức rất linh hoạt theo: toàn trường, toàn lớp, nhóm, tổ Do
đó có thể động viên nhiều người tham gia thực hiện.
16
Về thời gian:
Linh hoạt đa dạng có thể tiến hành kì I hoặc kì II, đầu, giữa, cuối học kì
trong năm học. Tùy nội dung và đặc điểm đối tượng tham gia mà qui định thời gian,
tránh gò bó, máy móc ảnh hưởng đến thi cử của học sinh.
1.2.3. Mục tiêu tổ chức hoạt động ngoại khóa địa lí trong trường phổ thông
1.2.3.1. Mục tiêu về nhận thức kiến thức
- Bổ sung, mở rộng, củng cố tri thức
- Liên hệ kiến thức vào thực tế
- Định hướng chính trị - xã hội, có những hiểu biết nhất định
- Giúp học sinh có những hiểu biết các vấn đề có tính thời đại như: Hợp tác
quốc tế, thời sự quốc tế, bảo vệ môi trường và giáo dục dân số.
1.2.3.2. Mục tiêu về giáo dục thái độ học sinh
- Tạo hứng thú cho học sinh trong học tập
- Hình thành cho học sinh niềm tin vào giá trị cuộc sống hiện tại và tương lai,
chế độ xã hội hiện hành của nước ta, truyền thống của nhà trường, của quê hương
đất nước.
- Bồi dưỡng đạo đức cho học sinh tình yêu đất nước, quê hương
- Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm cha mẹ, bạn bè,
- Tận dụng được cái tốt đẹp, phân biệt được cái xấu, ác.
- Bồi dưỡng lối sống đạo đức phù hợp với chuẩn mực đất nước, địa phương.
- Bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực, năng động sẵn sàng tham gia các
hoạt động xã hội, của tập thể, của lớp, của trường,

1.2.3.3. Mục tiêu rèn luyện kĩ năng
- Tạo kĩ năng giao tiếp, ứng xử có văn hóa cho học sinh.
- Tạo thói quen tốt trong học tập, trong lao động và các hoạt động khác.
- Có kinh nghiệm tổ chức, điều khiển.
- Kĩ năng nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động.
- Kĩ năng giáo dục tự điều chỉnh, khả năng tự hòa nhập để thực hiện tốt các
nhiệm vụ do giáo viên, nhà trường hoặc tập thể giao cho.
17
1.2.4. Tầm quan trọng của hoạt động ngoại khóa
- Hoạt động ngoại khóa có nội dung, chủ đề quan trọng hỗ trợ cho nội dung
học chính khóa
- Hoạt động ngoại khóa có ý nghĩa làm sâu, phong phú toàn diện tri thức địa
lí mà học sinh đã học
- Hoạt động ngoại khóa môn Địa lí kích thích được lòng say mê học tập của
học sinh đối với bộ môn.
- Hoạt động ngoại khóa địa lí có tác dụng tạo tinh thần tập thể, cộng đồng,
tinh thần lao động, tinh thân tương thân, tương ái,
- Hoạt động ngoại khóa rèn luyện cho học sinh và giáo viên tính độc lập làm việc
- Hoạt động ngoại khóa có tác dụng lớn về giáo dưỡng giống như hoạt động
nội khóa.
- Hoạt động ngoại khóa có tác dụng lớn đối với việc giáo dục học sinh như:
giáo dục cá tính, phẩm chất, ý thức, năng lực, sở trường của học sinh.
- Hoạt động ngoại khóa trong địa lí có tác dụng tạo cơ sở để nhà trường thực
hiện tốt việc giảng dạy gắn liền với đời sống xã hội.
1.2.5. Các nguyên tắc tổ chức hoạt động ngoại khóa địa lí
- Tổ chức hoạt ngoại khóa phải hợp với đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thức
và hoàn cảnh học tập của học sinh, phù hợp với điều kiện vật chất và thời gian học
sinh có thể thu xếp được, phù hợp với đặc điểm của nhà trường và đặc điểm địa lí
địa phương.
- Nội dung ngoại khóa phải kết hợp chặt chẽ với nội khóa, vừa nhằm bổ

sung, mở rộng kiến thức nội khóa hoặc củng cố, vận dụng kiến thức nội khóa trong
thực tiễn, vừa có tác dụng gây hứng thú học tập ở học sinh, phát huy các năng lực
sở trường vốn có của các em.
- Tạo cơ hội, điều kiện để lôi cuốn tất cả mọi học sinh trong lớp có trình độ
học lực khác nhau vào các hoạt động ngoại khóa phù hợp với năng lực, hoàn cảnh
của mình. Kích thích học sinh tinh thần ham thích học tập.
- Hoạt động ngoại khóa tuy là hình thức tự nguyện của học sinh, nhưng cần
phải đề cao tinh thần kỉ luật, ý thức tập thể, thói quen nề nếp.
18
- Đề cao vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo, tính tự quản, sáng kiến cá nhân
của học sinh
- Tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của phụ huynh học sinh, các nhà khoa học,
cán bộ chuyên môn kỹ thuật của các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương.
Họ tham dự với tư cách là cố vấn chuyên môn, đồng thời có thể là nhà tài trợ cung
cấp phương tiện, tài liệu và cả điều kiện vật chất khác cho hoạt động của học sinh.
Trong nhiều trường hợp, họ là người trực tiếp giảng dạy, chỉ dẫn cụ thể cho học
sinh. Liên kết và phối hợp chặt chẽ với các tổ chức Đoàn, Đội và tổ chức xã hội
khác ở trong và ngoài nhà trường, tạo ra sức mạnh tập thể trong hoạt động ngoại
khóa [13]…[16].
1.2.6. Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa địa lí
- Tổ chức câu lạc bộ địa lí
- Đọc và kể chuyện địa lí
- Tổ chức các buổi liên hoan văn nghệ địa lí
- Tổ chức triễn lãm
- Tổ chức các cuộc cắm trại, du lịch [4]…[5].
1.2.7. Các hoạt động ngoại khóa địa lí ở trường THPT
Các hoạt động ngoại khóa địa lí ở trường THPT rất đa dạng
- Dựa vào qui mô số học sinh tham gia hoạt động, có thể xếp các hoạt động
ngoại khóa vào 3 loại: hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, hoạt động tập thể (toàn lớp)
- Dựa vào loại hình hoạt động, có thể chia các hoạt động ngoại khóa thành:

Tổ địa lí, câu lạc bộ địa lí, đố vui địa lí, Dạ hội địa lí, Mỗi loại hoạt động ngoại
khóa địa lí có nội dung riêng, được đặc trưng bởi phương pháp tiến hành và cách
thức tổ chức thích hợp.
Nhìn chung, giữa các loại hình hoạt động ngoại khóa có liên hệ chặt chẽ với
nhau. Trong nhiều trường hợp, mỗi loại hình lại có thể được thực hiện trong loại
hình tổ chức khác. Thí dụ: Đố vui địa lí, tuy là một hoạt động ngoại khóa độc lập
với Câu lạc bộ địa lí, nhưng có thể tiến hành trong các buổi sinh hoạt Câu lạc bộ địa
lí và xem như là một phần của chương trình câu lạc bộ [13]…[16].
19
1.3. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ HỌC SINH LỚP 12
1.3.1. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi
Đối với học sinh 12 THPT thường có độ tuổi từ 17 – 18 tuổi, các em đã có sự
hoàn thiện về chất. Sự phát triển mạnh mẽ về mặt cơ thể tạo tiền đề cần thiết cho sự
phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp…của vỏ bán cầu đại não trong quá trình
học tập. Học sinh cuối cấp thường có lòng khao khát mở rộng tri thức, mong muốn
hiểu biết, say mê quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập. Điều này tạo thuận lợi
cho giáo viên trong quá trình dạy học và tổ chức các hoạt động đảm bảo tính tự lực
và phát triển tư duy cho học sinh trong việc lĩnh hội tri thức.
1.3.2. Đặc điểm về hoạt động học tập
Học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm sống càng phong phú, các em càng
ý thức rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Do vậy, thái độ, ý thức của
các em đối với học tập ngày càng phát triển.
Thái độ có ý thức của học sinh đối với học tập trở nên rõ rệt hơn, đối với các
môn học trở nên có lựa chọn hơn. Ở các em đã hình thành những hứng thú học tập
gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Là học sinh 12, cuối bậc trung học phổ
thông nên các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định đối với môn
học nào đó , đối với một lĩnh vực tri thức nhất định. Hứng thú này thường liên quan
với việc chọn một nghề nhất định của học sinh. Hơn nữa, hứng thú nhận thức của
các em mang tính chất rộng rãi, sâu và bền vững hơn. Tuy nhiên cũng không ít các
em có nhược điểm là: rất tích cực với các môn học mà các em cho là quan trọng đối

với nghề mình đã chọn và lại sao nhãng các môn học khác hoặc chỉ học để đạt được
điểm trung bình. Thái độ học tập có ý thức đã thúc đẩy sự phát triển tính chủ định
của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của thanh niên học sinh
trong hoạt động học tập.
1.3.3. Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề
Hoạt động lao động tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành nhân cách
thanh niên mới lớn. Hoạt động lao động được tổ chức đúng đắn sẽ giúp các em hình
thành tinh thần tập thể, lòng yêu lao động, tôn trọng lao động và thành quả lao
động, đặc biệt là nhu cầu và nguyện vọng lao động. Điều quan trọng là, việc chọn
nghề đã trở thành công việc khẩn thiết của học sinh lớn. Càng cuối cấp học thì sự
20
lựa chọn càng nổi bật. Các em hiểu rằng cuộc sống tương lai phụ thuộc vào chỗ,
mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hay không. Dù vô tâm đến
đâu, thì thanh niên mới lớn cũng phải quan tâm, có suy nghĩ trong khi chọn nghề.
Việc quyết định một nghề nào đó ở nhiều em đã có căn cứ. Nhiều em biết so
sánh đặc biệt riêng về thể chất, tâm lí, khả năng của mình với yêu cầu của nghề
nghiệp, dù sự hiểu biết của các em về yêu cầu của nghề nghiệp là chưa đủ.
Hiện nay thanh niên còn định hướng một cách phiến diện vào việc học tập ở
đại học. Đa số các em hướng dần vào các trường đại học (hơn là nghề)… tâm thế
chuẩn bị bước vào đại học như thế sẽ dễ có ảnh hưởng tiêu cực đối với các em, nếu
dự định các em không được thực hiện. Điều đó cũng cho thấy (hoặc vô tình, hoặc cố
ý) không chú ý đến yêu cầu của xã hội đối với các ngành nghề khác nhau và mức độ
đào tạo của các nghề trong khi quyết định đường đời. Những điều đó phần lớn là
công tác hướng nghiệp của nhà trường và đoàn thể có thiếu sót [6] [7].
1.4. CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÍ 12
1.4.1. Mục tiêu của chương trình địa lí 12
1.4.1.1. Kiến thức
Mục tiêu về kiến thức trong chương trình địa lí 12, yêu cầu học sinh phải
nhận thức, lĩnh hội một cách vững chắc những nội dung sau:
Nắm được thực trạng nền kinh tế nước nhà trong quá trình đổi mới và hội

nhập. Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ và quá trình hình thành, phát triển lãnh thổ. Các
đặc điểm về tự nhiên, vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên. Dân cư và đặc điểm dân
cư của nước ta. Kinh tế, các ngành kinh tế, sự phát triển và quy mô, cơ cấu ngành.
Các vùng kinh tế, đặc điểm và sự phát triển của các vùng. Địa lí địa phương tìm
hiểu địa lí tỉnh, thành phố.
1.4.1.2. Kĩ năng
Về mặt kĩ năng, trong suốt quá trình học tập chương trình địa lí 12 học sinh
tiếp tục cũng cố, phát triển và hoàn thiện các kĩ năng cơ bản sau:
- Về bản đồ: học sinh biết cách vẽ lược đồ Việt Nam một cách cơ bản. Đọc
bản đồ, phân tích so sánh, đánh giá và giải thích được các hiện tượng địa lí, giải
thích được các mối liên hệ địa lí thông qua bản đồ.
- Phân tích các bảng số liệu, biểu đồ, lược đồ, các bảng kiến thức…
21
- Thu thập, xử lý các tư liệu, các thông tin liên quan đến lĩnh vực địa lí.
- Viết báo cáo, kĩ năng trình bày báo cáo.
- Kĩ năng độc lập, tương tác, kết hợp các hoạt động nhận thức với môi trường
tập thể của lớp.
1.4.1.3. Thái độ
- Trong mỗi bài học, học sinh không ngừng phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo nhằm hoàn thành tốt nhất các vấn đề, nhiệm vụ nhận thức mà giáo viên yêu cầu.
- Hình thành, phát triển niềm tin, tinh thần, các giá trị đạo đức với môi
trường thiên nhiên.
- Nhận thức rõ, hiểu đúng đắn các vấn đề địa lí hiện nay, đưa ra những quyết
định, lựa chọn tối ưu nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên.
- Tích cực học tập, lĩnh hội kiến thức để chuẩn bị bước vào tương lai, với vai
trò chủ nhân tương lai của nước nhà.
- Tôn trọng, yêu quý, bảo vệ, phát huy các thành quả lao động quý giá của cả
dân tộc Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
1.4.2. Cấu trúc, đặc điểm sách giáo khoa địa lí 12
1.4.2.1. Cấu trúc và nội dung chương trình

Địa lí 12 được cấu tạo theo các đơn vị kiến thức lớn, sắp xếp theo logic khoa
học và phù hợp với logic của quá trình dạy học. Đó là các phần chủ yếu sau:
- Việt Nam trên đường đổ mới và hội nhập (1 bài)
- Địa lí tự nhiên (14 bài)
- Địa lí dân cư (4 bài)
- Địa lí kinh tế (24 bài)
- Địa lí địa phương (2 bài)
- Ôn tập và kiểm tra
Bài mở đầu nhằm giới thiệu bối cảnh quốc tế và trong nước, những thành tựu
đã đạt được trong công cuộc đổi mới và những định hướng chính để nước ta tiếp tục
đổi mới và hội nhập.
* Phần Địa lí tự nhiên: không chỉ đề cập đến các đặc điểm cơ bản của thiên
nhiên Việt Nam, những qui luật phân hóa lãnh thổ tự nhiên, mà còn đánh giá tự
nhiên là các nguồn lực thường xuyên và cần thiết để phát triển kinh tế - xã hội.
22
* Phần Địa lí dân cư: Đề cập đến những nét cơ bản về dân cư, lao động và
việc làm, chất lượng cuộc sống của dân cư hiện nay. Phần này không chỉ nhấn mạnh
dân cư vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu thụ, mà còn cho học sinh
thấy rằng việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư là mục tiêu xã hội của công
cuộc đổi mới và phát triển ở nước ta.
* Phần Địa lí các ngành kinh tế: Được bắt đầu từ cái nhìn tổng quát về sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trên nền 3 khu vực kinh tế lớn:
- Khu vực I: Nông – lâm – ngư nghiệp và thủy sản
- Khu vực II: Công nghiệp và xây dựng
- Khu vực III: Dịch vụ
Các vấn đề phát triển và phân bố các ngành kinh tế đã được lựa chọn để phân
tích tổng hợp. Khi học về các vùng chương trình chỉ đề cập đến các vấn đề tiêu
biểu, được lựa chọn từ rất nhiều vấn đề phải giải quyết của các lãnh thổ nước ta.
Những vấn đề này có bản chất địa lí rõ nét và có ý nghĩa lâu dài.
1.4.2.2. Đặc điểm sách giáo khoa Địa lí 12

- Về cấu trúc, SGK Địa lí 12 theo chương trình chuẩn gồm có 45 bài, trong
đó có 35 bài lý thuyết và 10 bài thực hành, phân bố theo các đơn vị kiến thức như
sau: (xem bảng 1.1)
Bảng 1.1. Phân bố các đơn vị kiến thức của chương trình địa lí 12
Các nội dung theo chương trình Chia ra
Lí thuyết Thực hành
Việt Nam trên con đường đổi mới và hội nhập 1 1 -
1. Địa lí tự nhiên 14 12 2
- Vị trí địa lí và sự phát triển lãnh thổ 4 3 1
- Đặc điểm chung của tự nhên 8 7 1
- vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên 2 2 -
2. Địa lí dân cư 4 3 1
3. Địa lí kinh tế 24 19 5
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1 1 -
- Địa lí các ngành kinh tế 11 9 2
- Địa lí các vùng kinh tế 12 9 3
4. Địa lí địa phương 2 - 2
23
1.4.2.2. Về nội dung và hình thức trình bày SGK Địa lí 12
- Về kênh chữ: mỗi bài học được chia thành các đề mục lớn (thường là 2-3
đề mục) ứng với các đơn vị kiến thức mà HS cần phải nắm. Kênh chữ kết hợp với
kênh hình tạo thành một thể hữu cơ thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
- Về kênh hình: bao gồm các loại sơ đồ, biểu đồ và bản đồ (hoặc lược đồ) với
tác dụng giúp HS nhanh chóng phát hiện được các xu thế (hay đặc điểm) chủ yếu của
sự vật và hiện tượng, quá trình địa lí. Một số sơ đồ, bản đồ còn thể hiện cả mối quan
hệ qua lại giữa các hiện tượng, quá trình địa lí. Hệ thống bản đồ (lược đồ) được xây
dựng tương đối đa dạng, phong phú, phù hợp với nội dung kênh chữ trong SGK.
- Các câu hỏi giữa bài giúp HS tìm hiểu kiến thức trong quá trình học tập,
nhất là đối với những câu hỏi yêu cầu phải vận dụng các kiến thức đã học, các hiểu
biết của cá nhân, các kiến thức của môn học liên quan hoặc các câu hỏi để khai thác

kênh hình.
- Các câu hỏi và bài tập cuối bài là các câu hỏi và bài tập chỉ ra những kiến
thức cơ bản mà HS cần nắm vững cũng như để rèn luyện kĩ năng. Trong số này có
một vài bài tập tương đối khó nhằm giúp HS làm quen với tác phong nghiên cứu.
Các bài thực hành chiếm khoảng 20% thời lượng và tập trung vào các dạng
sau đây:
- Vẽ lược đồ khung Việt Nam. Đây là cơ sở tiến hành các bài thực hành điền
các đối tượng địa lí (tự nhiên, kinh tế) lên lược đồ.
- Đọc bản đồ trong SGk Địa lí 12(cả nước hay các vùng) kết hợp với bản đồ
giáo khoa treo tường hoặc Atlat Địa lí Viện Nam, để phát hiện các đặc điểm về tự
nhiên hay kinh tế - xã hội, xác định các mối quan hệ không gian giữa các đối tượng
và quá trình địa lí.
- Vẽ biểu đồ và phân tích số liệu theo yêu cầu cho trước.
- Thu thập, tổng hợp thông tin từ Atlat và các nguồn khác nhau để viết báo
cáo ngắn theo chủ đề, trao đổi và thảo luận (theo nhóm và cả lớp).[11] , [13]
1.5. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH 12
THPT THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA ĐỊA LÍ
Để bảo đảm cho việc đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh 12 THPT thông qua các hoạt động ngoại khóa địa lí, chúng tôi đã tiến hành
24
điều tra ở 3 Trường THPT của huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Các
trường điều tra được phân bố tại các vùng: thị trấn, vùng sâu. Gồm các trường:
THPT Phú Mỹ- THPT Trần Hưng Đạo, THPT Hắc Dịch, số lượng giáo viên là: 14
giáo viên và số giáo viên điều tra ở ngoài tỉnh là: 12 giáo viên thuộc các trường ở
tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, tổng cộng là 26 giáo viên. Học
sinh được điều tra 134 học sinh.
1.5.1. Tổ chức điều tra
* Thời gian khảo sát, điều tra được tiến hành từ: tháng 1/2009 đến tháng
2/2009 của học kì II - năm học: 2008 - 2009
* Phương pháp điều tra:

- Điều tra bằng phiếu: lập mẫu phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của giáo
viên và học sinh về những vấn đề cần khảo sát.
- Điều tra thông qua phỏng vấn.
- Số lượng giáo viên: 26 giáo viên địa lí, với số phiếu phát ra là 26 (nội dung
phiếu điều tra xem phụ lục số 1) kết quả như sau: (xem bảng 1.2)
Bảng 1.2. Kết quả điều tra giáo viên về giáo dục hướng nghiệp
Chọn đáp án
Câu hỏi
a
ý 1
b
ý 2
c
ý 3
d
ý 4
e
ý 5 ý 6 ý 7
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

13
14
15
16
17
100%
30,8%
30,8%
19%
42,3%
32,9%
96%
0%
0%
0%
15,4%
0%
3,8%
3,0%
0%
6,2%
0%
0%
11,5%
11,5%
38%
4,0%
7,9%
0%
7,7%

7,7%
23%
0%
15,4%
0%
14,7%
4,0%
6,2%
0%
0%
57,7%
11,5%
43%
19,2%
23,7%
4%
0%
92,3%
15,5%
0%
0%
3,8%
17,6%
42,2%
12,4%
0%
-
0%
27,0%
-

23%
23,7%
0%
92,3%
0%
61,5%
0%
84,5%
3,8%
23,5%
53,8%
7,7%
0%
-
-
19,2%
-
11,5%
7,9%
-
0%
-
-
84,6%
0%
88,6%
41,2%
-
29,2%
100%

-
-
-
-
0%
3,9%
-
-
-
-
-
-
0%
0%
-
9,3%
-
-
-
-
-
-
0%
-
-
-
-
-
-
-

-
-
29,2%
-
25

×