Tải bản đầy đủ (.docx) (37 trang)

Khoá luận tốt nghiệp khảo sát công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tại xã nam hồng, huyện tiền hải, tỉnh thái bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (286.27 KB, 37 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH -KTNN
PHẠM VĂN TOAN
KHẢO SÁT CÔNG TÁC PHÒNG, CHÓNG DỊCH
BỆNH GIA súc, GIA CẦM TẠI XÃ NAM HỒNG,
HUYỆN TIÈN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Ngưòi hướng dẫn khoa học ThS. Lưu Thị Uyên
HÀ NỘI – 2015
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo khoa Sinh - KTNN, Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình!
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Lưu Thị Uyên trong suốt quá trình
học tập và quá nghiên cứu của em!
Tuy nhiên, do thời gian có hạn và kỹ năng, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế
nên không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Vì vậy, em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo để
khóa luận của em được hoàn thiện hơn!
Hà Nội, Thảng 5 năm 2015 Sinh viên
Phạm Văn Toan
Kính gửi
- Phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
- Khoa Sinh- Kĩ thuật nông nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu, các
số liệu trình bày trong khóa luận là trung thực và không trùng với kết quả của tác giả khác.
Hà Nội, thảng 5 năm 2014 Sinh viên
Phạm Văn Toan
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
• •
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài


Những năm gần đây tình hình thời tiết nước ta diễn biến không thuận lợi,
nhiều đợt nắng nóng và mưa lũ kéo dài tác động đến sức khỏe gia súc, gia cầm; dịch
bệnh gia súc, gia cầm ở hầu hết các địa phương trong cả nước nhìn chung phức tạp,
một số mầm bệnh vẫn còn tiềm ẩn ở ngoài môi trường nên nguy cơ tái phát và lây lan
dịch bệnh nguy hiểm trên đàn vật nuôi là rất lớn.
Mặc dù các ngành chức năng đã triển khai nhiều biện pháp giám sát, phòng
chống dịch bệnh nhưng công tác phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi hiện nay
vẫn còn bị động, chỉ khi dịch xảy ra người chăn nuôi mới thực sự vào cuộc, do đó
việc dập dịch thường tốn kém và hậu quả để lại nặng nề.
Dịch bệnh không chỉ gây thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi mà còn đe dọa
đến sức khỏe cộng đồng. Chính vì vậy việc thực hiện các biện pháp chủ động phòng,
chống dịch bệnh có ý nghĩa rất quan trọng nhằm kiểm soát tình hình dịch bệnh; phát
hiện sớm, xử lý kịp thời, không để dịch bệnh lây lan trên diện rộng góp phần bảo vệ
sức khỏe cộng đồng và ổn định, phát triển kinh tế - xã hội.
Yới mục tiêu khảo sát thực trạng công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia
cầm ở cấp cơ sở (xã, phường) chúng tôi chọn xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải, tỉnh
Thái Bình - một trong những xã có hoạt động chăn nuôi tương đối phát triển làm địa
điểm nghiên cứu, triển khai đề tài:
“Thực trạng công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm xã Nam Hồng,
huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tại vùng nghiên
cứu.
4
- Đánh giá hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tại địa phương
và những yếu tố chi phối công tác phòng,chống dịch bệnh gia súc, gia cầm.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Đóng góp cơ sở dữ liệu về công tác phòng, chốngdịch bệnh gia súc,
gia cầm tại khu vực chăn nuôi làng, xã.
- Góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống dịchbệnh gia

súc, gia cầm tại xã Nam Hồng, Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái
Bình.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguyên lí chung của công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm cho
gia súc, gia cầm.
1.1.1. Sự phát sinh và phát triển dịch bệnh truyền nhiễm [7]
- Dịch bệnh truyền nhiễm có thể lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ vật ốm sang vật
khỏe do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm: virut, vi khuẩn, Rickettsia
- Bệnh truyền nhiễm muốn phát triển thành dịch phụ thuộc vào 3 khâu: nguồn truyền
nhiễm, các yếu tố trung gian truyền nhiễm và khối cảm thụ (cơ thể cảm thụ).
❖ Nguồn truyền nhiễm (nguồn lây)
Gia súc, gia cầm đang mắc bệnh là nguồn truyền nhiễm rất quan trọng, vì luôn
chứa và thải ra mầm bệnh, ngoài ra nguồn lấy còn có gia súc, gia cầm mang mầm
bệnh không triệu chứng, ủ bệnh.
❖ Các yểu tổ trung gian truyền nhiễm
Yếu tố trung gian truyền nhiễm là toàn bộ các yếu tố của môi trường sống có
vai trò trong việc tạm chứa và vận chuyển mầm bệnh từ nguồn truyền nhiễm tới cơ
thể cảm thụ. Mầm bệnh có thể tồn tại trong các trung gian truyền nhiễm một thời
gian khá dài (vài tuần, vài tháng), hoặc ngắn (vài ngày, vài giờ).
Những yếu tố trung gian truyền nhiễm chủ yếu cần được quan tâm là:
- Nước và thức ăn là môi trường tạm trú của nhiều loài vi sinh vật gây
5
bệnh .
- Không khí là yếu tố trung chuyển của nhiều loài vi sinh vật gây bệnh sau khi ra khỏi
đường thở do ho, khạc, hắt hơi, Các vi sinh vật có thể tồn tại trong các giọt nhỏ, bụi
hoặc khí dung (aerosol).
- Đất là nơi cư trú tạm thời của nhiều loại vi khuẩn, nấm, đơn bào
- Dụng cụ chăn nuôi cũng thường mang các loại vi sinh vật gây bệnh.
- Côn trùng, gậm nhấm
♦♦♦ Cơ thể cảm thụ bệnh

Cơ thể cảm thụ bệnh là toàn thể các cá thể có khả năng nhiễm mầm bệnh và
mắc bệnh với các mức độ khác nhau.
1.1.2. Nguyên lý chung phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm [7][8]
- Can thiệp toàn diện vào cả 3 mắt xích của quá trình dịch, song cần xác định
những trọng tâm ưu tiên cho từng mắt xích của mỗi loại bệnh dịch.
- Coi trọng biện pháp phòng chống dịch không đặc hiệu như: vệ sinh môi
trường, vệ sinh thân thể, cách ly
- Thường xuyên thực hiện tốt công tác giám sát dịch, chủ động nắm chắc
tình hình dịch của địa phương để có kế hoạch chủ động phòng chống bệnh dịch kịp
thời.
- Sử dụng vacxin tạo miễn dịch đặc hiệu.
Với nguồn truyền nhiễm
- Tổ chức giám sát chặt chẽ phát hiện sớm và chính xác mọi nguồn truyền
nhiễm (con bệnh, các trường hợp nhiễm trùng không triệu chứng).
- Điều trị triệt để, ngăn ngừa tái phát.
- Cách ly kịp thời và hợp lý tùy theo tính chất lây truyền của từng
bệnh
Với yểu tố trung gian truyền nhiễm
6
- Tiến hành xử lý vệ sinh phân, rác, khử trùng nguồn nước.
- Diệt vật chủ trung gian truyền bệnh: phun diệt ruồi, nhặng
Với cơ thể cảm thụ
- Nâng cao sức đề kháng của cơ thể, tăng cường khả năng miễn dịch không
đặc qua chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Tiêm vac xin phòng bệnh để gây miễn dịch đặc hiệu. Sử dụng vacxin là biện pháp tốt.
1.2. Chỉ đạo của Bộ NN- PTNT về Kế hoạch phòng, chống dịch bệnh trên đàn
gia súc, gia cầm
1.2.1. Mục đích, yêu cầu [1][2]
• Mục đích: chủ động phòng, chống hiệu quả các dịch bệnh động vật, khống chế kịp
thời dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra, nhằm bảo đảm cho sản xuất chăn nuôi phát

triển ổn định, bền vững, bảo vệ sức khỏe nhân dân và góp phần phát triển kinh tế, xã
hội của tỉnh.
• Yêu cầu
- Triển khai thực hiện phải có sự chỉ đạo và phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các
cấp, các ngành từ từ trung ương đến các tỉnh, các cơ sở và cả hệ thống chính trị; huy
động được toàn dân tích cực tham gia thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch.
- Các biện pháp phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm phải tuân theo quy định của
Pháp lệnh Thú y và hướng dẫn của Ban Chỉ đạo Quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Cục Thú y.
- Tổ chức phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm kịp thời, phù hợp và hiệu quả,
không để lãng phí các nguồn kinh phí đầu tư.
1.2.2. Các biện pháp chủ động phòng, chống dịch
I.2.2.I. Khi chưa có dịch xảy ra [1][2]
• Thông tin tuyên truyền, tập huấn
7
Đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông Báo, Đài Phát
thanh và Truyền hình, đài truyền thanh cấp huyện, xã để phổ biến cho người dân thấy
được tính chất nguy hiểm của dịch bệnh gia súc, gia cầm không chỉ thiệt hại đối với
sản xuất mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người; nâng
cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong công tác phòng, chống dịch bệnh gia
súc, gia cầm.
Tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho hệ thống thú y các cấp; tập huấn
cho các hộ chăn nuôi về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh và chăn nuôi an toàn
sinh học.
• Giám sát dịch bệnh
Tăng cường hệ thống giám sát bảo đảm giám sát tới từng thôn, xóm, hộ chăn
nuôi cùng với Ban chăn nuôi thú y xã, phường, thị trấn kịp thời phát hiện dịch bệnh
ngay từ khi mới phát sinh.
Định kỳ lấy mẫu kiểm tra để phát hiện kịp thời sự lưu hành của vi rút cúm gia
cầm, vi rút gây bệnh LMLM gia súc, vi rút gây bệnh Tai xanh trên đàn gia súc, gia

cầm và tổ chức các đợt giám sát sau tiêm phòng để xác định mức độ bảo hộ của vắc
xin phòng bệnh.
Tổ chức thực hiện khẩn cấp các biện pháp chuyên môn như tiêm phòng vắc
xin bao vây, khử trùng tiêu độc, quản lý đàn gia súc, gia cầm tại địa phương có nguồn
gốc gia súc, gia cầm chứa vi rút gây các bệnh nguy hiểm lưu hành.
Lấy mẫu xét nghiệm khi có gia súc, gia cầm ốm, chết không rõ nguyên nhân
để kịp thời chẩn đoán và xác minh dịch bệnh.
• Tiêm phòng vắc xin
Triển khai, tổ chức tiêm phòng dịch định kỳ cho đàn gia súc vụ Xuân Hè, vụ
Thu Đông (tiêm đại trà 02 vụ/năm) và tiêm bổ sung hàng tháng theo quy định và kế
hoạch.
8
• Khử trùng, tiêu độc
Định kỳ tổ chức tổng vệ sinh, khử trùng tiêu độc chuồng trại, môi trường chăn
nuôi cùng với 02 đợt tiêm phòng chính trong năm (đợt 1 vào tháng 3, đợt 2 vào tháng
9 và tháng 10) và các đợt vệ sinh khử trùng, tiêu độc theo chỉ đạo của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn và của ủy ban nhân dân tỉnh.
Khử trùng tiêu độc thường xuyên đối với những vùng có nguy cơ cao như chợ
buôn bán, giết mổ gia súc, gia cầm; các bến phà, bến đò; các điểm giết mổ gia súc,
gia cầm và các điểm thu gom, tập kết gia súc, gia cầm, sản phẩm gia súc, gia cầm.
• Kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y
Kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển gia súc, gia cầm; xử lý nghiêm các trường
hợp vận chuyển, buôn bán, giết mổ động vật chưa qua kiểm dịch thú y.
Tăng cường kiểm tra vệ sinh thú y đối với động vật, sản phẩm động vật tại các
chợ và tụ điểm buôn bán, nơi tập kết và các bến đò, bến phà, các địa điểm giết mổ
1.2.2.2. Khi có dịch xảy ra [1][2]
Thực hiện đồng bộ các biện pháp bao vây, khống chế, dập dịch theo quy định
của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thú y và Ban Chỉ đạo
các cấp.
• Xử lý ổ dịch

Đổi với ổ dịch Cúm gia cầm
Tổ chức tiêu hủy bắt buộc gia cầm, sản phẩm gia cầm trong ổ dịch theo quy
định tại Thông tư 69/2005/TT-BNN ngày 07/11/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn.
Đối với ổ dịch Lở mồm long móng gia súc
Thực hiện quản lý tại chỗ, nuôi cách ly theo dõi theo quy định tại Quyết định
số 38/2006/QĐ-BNN ngày 16/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn.
9
Đổi với ổ dịch Tai xanh ở lợn
Tiêu hủy lợn bị bệnh theo Quyết định số 80/2008/QĐ-BNN ngày 15/7/2008
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đổi với ổ dịch tả lợn
Thực hiện theo Thông tư số 04/201 l/TT-BNN&PTNT ngày 24/02/2011 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đổi với ổ dịch Dại
Thực hiện theo thông tư 48/2009/TT-NNPTNT ngày 04/8/2009 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn các biện pháp phòng, chống bệnh
dại ở động vật.
• Vệ sinh tiêu độc ổ dịch
Khử trùng, tiêu độc chuồng trại, môi trường chăn nuôi của hộ có gia súc, gia
cầm mắc bệnh và khu vực xung quanh (thôn, xóm, xã, phường, thị trấn, huyện) bảo
đảm đúng yêu cầu theo hướng dẫn của ngành chuyên môn.
• Lập các chốt kiểm soát tạm thời
Lập các chốt kiểm soát tạm thời để kiểm soát vận chuyển gia súc, gia cầm; sản
phẩm gia súc, gia cầm tại các đầu mối giao thông ra, vào ổ dịch; tùy thuộc vào phạm
vi và mức độ ổ dịch, cơ quan chuyên môn thú y đề nghị lập chốt ở các cấp khác nhau
(tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn).
• Tiêm vắc xin bao vây ổ dịch
Đổi với ổ dịch Cúm gia cầm

Tiêm phòng cho toàn bộ gia cầm (gà, vịt ngan, ) trong vùng vành đai 3-5 km
tính tò điểm có dịch (theo Thông tư 69/2005/TT-BNN).
Đổi với ổ dịch Lở mồm long móng gia súc
1
Tùy theo chủng vi rút gây bệnh, tổ chức tiêm phòng vắc xin cho toàn bộ đàn
gia súc trong ổ dịch và vùng khống chế (các xã, phường, thị trấn tiếp giáp với các xã,
phường, thị trấn có dịch), theo Quyết định số 38/2006/QĐ-
BNN và Quyết định số 05/2007/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn.
Đổi với ổ dịch Tai xanh ở lợn
Tổ chức tiêm vắc xin trực tiếp cho vùng có dịch, vùng bị dịch uy hiếp và vùng
nguy cơ cao cho mọi đối tượng lợn.
• Báo cáo dịch: khi có dịch quy định chế độ báo cáo dịch hàng ngày đối với tất cả các
cấp từ xã, các xã, phường, thị trấn, huyện, tỉnh bằng văn bản.
1.3. Kế hoạch phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tỉnh Thái Bình năm
2014 [11]
Tại Thái Bình, năm 2013, mặc dù không phát sinh các dịch bệnh nguy hiểm ở
gia súc, gia cầm nhưng kết quả xét nghiệm mẫu giám sát có 08 mẫu dương tính với
cúm A/H5N1; 02 mẫu dương tính với cúm A/H5N6; các bệnh thông thường vẫn xảy
ra rải rác tại hầu hết các địa phương trong tỉnh. [15]
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tăng cường
các biện pháp phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm; căn cứ diễn biến tình hình
dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh năm 2013; ủy ban nhân dân tỉnh
Thái Bình xây dựng Kế hoạch phòng, chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm trên địa
bàn tỉnh năm 2014
1.3.1. Mục đích [11]
- Chủ động phòng, chống hiệu quả các dịch bệnh ở gia súc, gia cầm với phương châm
phòng bệnh là chính, kết hợp thực hiện đồng bộ biện pháp quản lý, giám sát chặt chẽ
dịch bệnh đến tận thôn, xóm, hộ gia đình, phát hiện sớm, bao vây khống chế, xử lý
kịp thời, triệt để các dịch bệnh nguy hiểm phát sinh ở động vật trong diện hẹp, đảm

1
bảo sản xuất chăn nuôi ổn định, bền vững, bảo vệ sức khỏe cho người, thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội;
- sẵn sàng các phương án, nguồn nhân lực, vật tư để chủ động xử lý khi phát sinh các
dịch bệnh nguy hiểm ở động vật; ứng phó, giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm các bệnh
mới xuất hiện có khả năng truyền lây từ động vật sang người, hạn chế thấp nhất thiệt
hại cho người và động vật nuôi.
1.3.2. Nội dung kế hoạch [11]
1. Tổ chức thực hiện các biện pháp chủ động phòng chống dịch khi chưa có dịch
xảy ra [11]
• Tuyên truyền, tập huấn
Tuyên truyền thường xuyên về công tác phòng, chống dịch: Phổ biến các
văn bản quy phạm pháp luật về thú y, cơ chế, chính sách hỗ trợ người chăn nuôi về
phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm; thông tin kịp thời chính xác về tình hình
dịch bệnh, tính chất nguy hiểm của dịch bệnh động vật; những ảnh hưởng trực tiếp
đến sản xuất, sức khỏe, tính mạng của con người; trách nhiệm của các tổ chức, cá
nhân, người chăn nuôi về thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định;
- Tổ chức các đợt tuyên truyền chuyên sâu, trọng điểm về tiêm phòng vắc xin, tiêu độc
khử trùng môi trường chăn nuôi, các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm dịch bệnh từ
động vật sang người;
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho hệ thống thú y
huyện, xã về công tác giám sát, xác minh dịch bệnh, tiêm phòng dịch; kế hoạch tiêu
độc khử trùng.
• Giám sát dịch bệnh, quan trắc môi trường
Nâng cao hoạt động giám sát dịch bệnh gia súc, gia cầm và thủy sản, đáp ứng
yêu cầu dự tính, dự báo nguy cơ phát sinh dịch, phát hiện kịp thời khi dịch mới phát
sinh ở diện hẹp.
1
• Tiêm phòng vắc xỉn
- Xây dựng và triển khai, tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm vắc xin phòng dịch theo định

kỳ cho đàn gia súc, gia cầm vụ Xuân Hè, vụ Thu Đông (tiêm đại trà 2 vụ/năm) và
tiêm phòng bổ sung hàng tháng cho đàn gia súc, gia cầm tái đàn nuôi mới cụ thể, chi
tiết phù hợp với từng địa phương; tiêm phòng bao vây ổ dịch tại các địa phương khi
phát hiện có mầm bệnh truyền nhiễm lưu hành hoặc có dịch phát sinh ở gia súc, gia
cầm.
• Triển khai tháng vê sinh tiêu đôc khử trùng theo đinh kỳ và đôt
o • • o « i/ •
xuất để chủ động phòng dịch
- Xây dựng và triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch "tháng vệ sinh tiêu độc khử trùng"
trên địa bàn toàn tỉnh từ 2 - 3 đợt/năm và khi có dịch bệnh phát sinh;
• Kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, kiểm tra yệ sinh thú y
- Triển khai biện pháp quản lý, xử lý ngăn chặn việc vận chuyển, kinh doanh động vật,
sản phẩm động vật mang mầm bệnh hoặc nhập lậu hoặc không rõ nguồn gốc; ngăn
chặn hành vi làm phát tán, lây lan dịch bệnh nguy hiểm ở động vật vào tỉnh.
- Tăng cường biện pháp quản lý, tổ chức ký cam kết với các chủ hộ kinh doanh vận tải,
chủ bến phà, bến đò và chủ vận chuyển, buôn bán gia súc, gia cầm trên địa bàn, kiểm
tra việc chấp hành quy định phòng, chống dịch, quy định về kiểm dịch, về điều kiện
vệ sinh thú y đối với động vật, sản phẩm động vật tại các chợ và tụ điểm buôn bán,
nơi tập kết, điểm giết mổ, các bến đò, bến phà trên địa bàn quản lý.
• Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về công tác Thú y
Tổ chức đánh giá toàn diện thực trạng, chất lượng nguồn nhân lực hệ thống
thú y cơ sở; tham mưu ban hành chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực hoạt động của
thú y cơ sở; huy động các nguồn lực xã hội và lồng ghép các chương trình phục vụ
công tác đào tạo, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng hệ thống thú y cơ sở.
2. Tổ chức thực hiện các biện pháp chủ động phòng chống dịch khi dịch
xảy ra [11]
1
Thực hiện đồng bộ các biện pháp khoanh vùng bao vây, khống chế, xử lý ổ
dịch theo quy định bao gồm:
- Quản lý ổ dịch;

- Lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm xác minh dịch bệnh;
- Vệ sinh tiêu độc khử trùng;
- Điều tra mở rộng, tăng cường giám sát phát hiện dịch bệnh trên địa bàn;
trường hợp cần thiết tiếp tục lấy mẫu giám sát chủ động;
- Quản lý vùng dịch;
- Lập các chốt kiểm dịch tạm thời theo quy định;
- Tổ chức tiêm phòng bao vây vùng đệm, vùng khống chế và tiêm thẳng vắc
xin vào ổ dịch theo hướng dẫn của ngành chuyên môn.
- Xử lý gia súc, gia cầm bị bệnh dịch
1.4. Những tồn tại trong công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm và
giải pháp khắc phục.[14],[15]
1.4.1. Những tồn tại
Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Cục Thú y, thông qua kiểm tra thực tế
đã cho biết công tác chủ động phòng, chống dịch tại một số địa phương đang có biểu
hiện chủ quan, lơ là và bộc lộ một số tồn tại bất cập sau:
- Công tác giám sát, phát hiện, báo cáo ổ dịch chậm hoặc không báo cáo
dịch, không lấy mẫu xét nghiệm để xác định týp, chủng vi rút gây bệnh, không công
bố dịch kịp thời và gây khó khăn cho công tác tổ chức phòng chống dịch, không đánh
dấu gia súc mắc bệnh theo quy định để quản lý nhằm ngăn chặn hiện tượng bán chạy
gia súc mắc bệnh;
- Tổ chức tiêm phòng vắc xin nhưng không đảm bảo kỹ thuật và không đạt tỷ
lệ tiêm phòng theo quy định nên dịch bệnh dễ xảy ra, đa số các ca bệnh xảy ra ở gia
súc chưa được tiêm phòng;
1
Công tác kiểm dịch động vật nội địa chưa được thực hiện tốt, một số
Chi cục Thú y chưa ủy quyền cho Trạm Thú y cấp huyện thực hiện việc kiểm dịch và
cấp giấy chứng nhận kiểm dịch, gây khó khăn cho công tác kiểm dịch, nhiều gia súc
không rõ nguồn gốc được đưa vào nuôi ở các hộ chăn nuôi.
- Công tác tổ chức kiểm tra, giám sát, hướng dẫn việc thực hiện các quy định
của pháp luật về thú y tại tuyến cơ sở chưa được chú trọng, không phát hiện kịp thời

vi phạm để khắc phục.
1.4.2. Giải pháp khắc phục
Để chấn chỉnh kịp thời những tồn tại, bất cập nêu trên với mục tiêu kiên quyết
không để dịch bệnh gia súc, gia cầm phát sinh và lây lan diện rộng cần phải:
- Tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh động vật, nhằm
phát hiện và xử lý ngay ổ dịch khi còn ở diện hẹp; thực hiện việc công bố dịch theo
đúng quy định của pháp luật thú y để áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch có
hiệu quả, không để dịch bệnh lây lan ra diện rộng; phát động và tổ chức thực hiện
“Tháng vệ sinh, tiêu độc, khử trùng môi trường chăn nuôi” trong toàn quốc mỗi năm
3 đợt.[14]
- Chấn chỉnh công tác tiêm phòng vắc xin, đảm bảo việc tiêm phòng định kỳ
và bổ sung theo đúng quy định; kiểm soát chặt chẽ việc tiêm phòng vắc xin, đảm bảo
việc tiêm phòng đúng chủng loại vắc xin và hiệu quả; nghiêm cấm việc cấp khống
giấy chứng nhận tiêm phòng;
- Rà soát công tác kiểm dịch động vật nội địa.
- Xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm: Không phát hiện, báo cáo dịch,
làm thủ tục công bố dịch kịp thời; không thực hiện việc kiểm dịch theo quy định;
- Tổ chức tuyên truyền sâu rộng các nội dung nêu trên cho các tổ chức, cá
nhân liên quan; thường xuyên tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ và kiến thức pháp luật trong công tác thú y cho toàn hệ thống thú y địa
1
phương, đặc biệt là kỹ thuật tiêm phòng vắc xin, quy định phòng, chống dịch, kiểm
dịch động vật và các quy định pháp luật khác có liên quan.
- Trung tâm Khuyến nông quốc gia tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền: (1)
Người chăn nuôi thực hiện tốt việc chăn nuôi gia súc, gia cầm an toàn dịch bệnh; (2)
Các tổ chức, cá nhân buôn bán, vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm, buôn bán và sử
dụng thuốc thú y thực hiện tốt các quy định của pháp luật thú y, đồng thời tuân thủ
hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn về công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc,
gia cầm và kiểm dịch động vật.
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đàn gia súc, gia cầm nuôi tại xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái
Bình.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tại xã Nam Hồng, huyện
Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Đề tài tiến hành từ tháng 9/2014 - 4/2015 tại xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải,
tỉnh Thái Bình.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Tình hình phát triển chăn nuôi của địa phương năm 2014
- Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm năm 2014
- Thực trạng công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tại địa
phương.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kể thừa: Sử dụng các kết quả nghiên cứu trước
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: tiến hành khảo sát, điều tra, thu
thập mẫu vật, bổ sung, cập nhật số liệu.
1
- Phương pháp quan sát phỏng vẩn tại chỗ\ đối với người chăn nuôi và cán
bộ phụ trách công tác chăn nuôi, thú y của địa phương.
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Sơ lược về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội xã Nam Hồng [13]
Xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình nằm ở phía nam huyện Tiền
Hải, cách trung tâm hành chính của huyện khoảng 10 km và cách thành phố Thái
Bình 40km; dân số 11.370người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 6.780
người chiếm 59,63% số dân toàn xã.
Diện tích đất tự nhiên xã Nam Hồng là 857 ha, trong đó đất nông nghiệp là
536,5 ha (chiếm tỷ lệ 62,6%) gồm đất cấy lúa, đất trồng cây hàng năm, đất nuôi
trồng thủy sản Ngoài ra do Nam Hồng nằm bên bờ sông Hồng, vì vậy trong diện
tích đất nông nghiệp có một diện tích đất bãi đáng kể, thích hợp cho trồng cây màu,

cây thức ăn chăn nuôi và phát triển nuôi gia súc ăn cỏ.
1
Bảng 3.1. Tình hình đất đai, dân số xã và lao động xã Nam Hồng
Chỉ tiêu Số lượng
Đất tự nhiên (km
2
) 857,0
Đất nông nghiệp (ha) 536,5
Đất cấy lúa (ha) 441,5
Đất bãi (ha) 16,7
Tổng số dân (người) 11.370
Tổng số lao động chính (người) 6.780
Tổng số gia đình (hộ) 2.553
Mật độ dân cư (người/km
2
) 1.326
Bình quân đất nông nghiệp (m
2
/người) 472
Tỷ lệ hộ nghèo (%) 4,0
UBND xã Nam Hồng - 2014
Với đặc điểm một xã thuần nông, Nam Hồng là mảnh đất của nghề trồng lúa
nước và chăn nuôi. Trong những năm qua, nhân dân trong xã tập trung đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiếp thu các tiến bộ khoa học kĩ thuật, đầu tư xây dựng,
chỉnh trang đồng ruộng, cải tạo hệ thống kênh mương, đường giao thông, thực hiện
tốt các khâu dịch vụ kịp thời cho các hộ sản xuất, do vậy sản xuất nông nghiệp có
bước tăng trưởng khá. 100% các giống lúa ngắn ngày trong đó giống lúa chất lượng
cao chiếm 45-50% tổng diện tích. Sản lượng thóc bình quân đạt 5277 tấn/năm. Cùng
với đó là phát triển chăn nuôi theo mô hình tập trung quy mô lớn cũng đang hình
thành và phát triển mạnh mẽ. Ngày càng có nhiều trang trại, gia trại áp dụng công

nghệ tiên tiến vào chăn nuôi. Mô hình trang trại chăn nuôi an toàn theo quy trình
VietGap từ 8 xã điểm được nhân rộng ra 60 xã. Nhiều loại vật nuôi mới cũng được bà
con nông dân đưa về nuôi tại địa phương, bước đầu cho hiệu quả kinh tế.
Nam Hồng cũng như hầu hết các xã khác trong huyện Tiền Hải và tỉnh Thái
Bình đều có mật độ dân số khá cao. Đông dân là một trong những lợi thế cơ bản cho
phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Dân số đông, tạo nguồn lao động dồi dào,
thị trường tiêu thụ rộng lớn cho các sản phẩm nông nghiệp và của các ngành kinh tế
khác.
Tỷ lệ lao động của Nam Hồng chiếm gần 60% dân số của xã. Trong cơ cấu lao
động theo ngành, nhóm ngành nông-lâm- thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất (59,4%) với
hơn nửa là lao động nữ.
Nguồn lao động nông nghiệp ở Nam Hồng cũng như ở toàn tỉnh Thái Bình
được đánh giá là có trình độ cao. Người lao động cần cù, chịu khó, có khả năng tiếp
thu, tiếp cận với tiến bộ khoa học- kỹ thuật. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng dần qua
các năm.
1
3.2. Tình hình phát triển chăn nuôi của xã Nam Hồng
Yới số lượng hơn một trăm ngàn đầu lợn và hàng triệu gia cầm, Tiền Hải được
coi là huyện đứng đầu trong lĩnh vực chăn nuôi của Thái Bình. Gia súc, gia cầm chủ
yếu nuôi tập trung ở hơn 2.000 trang trại và gia trại, chăn nuôi nhỏ lẻ không đáng bao
nhiêu. [15]
Xã Nam Hồng tuy không phải là địa phương dẫn đầu trong huyện về quy mô
chăn nuôi nhưng tình hình phát triển chăn nuôi trong mấy năm gần đây luôn duy trì
ổn định ở mức cao.
Diễn biến tình hình phát triển đàn gia súc, gia cầm trong 3 năm từ 2012 -2014
như sau:
- Đàn lợn năm 2012 là 4.520 con đã tăng lên 5.763 con năm 2014; Trong đó xấp xỉ
90% tổng đàn là lợn thịt, lợn nái chiếm 10%.
1
Bảng 3.2. Đàn gia súc gia cầm của xã Nam Hồng (2012-2014)

Loài vật nuôi 2012 2013 2014
Con % Con % Con %
Tổng đàn lợn 4.520 100,0 4.950 100,0 5.763 100,0
- Lợn thịt 4.115 91,00 4.395 88,8 5.130 89,0
- Lợn nái 400 8,8 550 11,0 627 10,9
- Lợn đực giống 5 0,2 5 0,2 6 0,1
Tổng đàn gia cầm 48.500
-
50.000
-
52.000
-
Tổng đàn trâu, bò 200
-
215
-
226
-
UBND xã Nam Hồng- Ban thống kê.2014 Kết quả thống kê cho thấy đàn gia súc, gia
cầm của xã rất phát triển.
- Đàn gia cầm năm 2012 là 48.500 con, năm 2013 là 50.000 con, đến năm 2014 đạt
52.000 con, tăng 6,7% từ năm 2012 đến 2014.
- Tổng đàn trâu, bò của xã tăng nhẹ: năm 2012 là 200 con, năm 2013 là 215 con, năm
2014 là 226 con. Trâu, bò ở Nam Hồng nuôi với mục đích sinh sản, lấy thịt kết hợp
sử dụng làm sức kéo, đây cũng là nguồn thu nhập tốt cho người nông dân.
- Bên cạnh tổng đàn gia súc, gia cầm ổn định ở mức cao, chăn nuôi xã Nam Hồng đang
từng bước phát triển theo hướng chăn nuôi trang trại, gia trại quy mô lớn.
3.3. Tình hình dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm của xã Nam Hồng năm 2014
Trong những năm gần đây, chăn nuôi huyện Tiền Hải nói chung và xã Nam
Hồng nói riêng đang phát triển theo hướng chăn nuôi tập trung với hình thức gia trại

và trang trại, chăn nuôi nhỏ lẻ đã giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, chăn nuôi càng phát
triển thì càng phải đối mặt với những loại dịch bệnh nguy hiểm như lở mồm long
móng, lợn tai xanh, dịch tả, cúm gia cầm Mặc dù, chính quyền địa phương và
người dân đã có các biện pháp phòng, chống nhằm ngăn chặn, hạn chế tác hại nhưng
tình hình dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn vẫn còn nhiều diễn biến phức
tạp.
Năm 2014, với sự nỗ lực của Chi cục Thú y và sự phối hợp chặt chẽ với các
cấp, ngành, đơn vị, các địa phương nên đàn gia súc, gia cầm được bảo đảm an toàn,
không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra. Song dịch bệnh lẻ tẻ vẫn xẩy ra ở tất cả các
địa phương trong tỉnh. [12]
Thống kê của Ban Chăn nuôi - Thú y xã Nam Hồng năm 2014 cho thấy đàn
gia súc, gia cầm mắc hầu hết các loại bệnh: truyền nhiễm, bệnh nội khoa, ngoại khoa,
sản khoa không kể bệnh kí sinh trùng cũng rất phổ biến.
3.3.1. Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc của xã Nam Hồng
2
Kết quả trình bày ở bảng 3.3 cho thấy:
- Đàn lợn, đàn trâu bò mắc bệnh truyền nhiễm, nội khoa, ngoại khoa với tỷ lệ khá
cao.
- Đối với bệnh truyền nhiễm chủ yếu vẫn là bệnh tụ huyết trùng. Nguyên nhân là do
các hộ chăm sóc, nuôi dưỡng kém, vệ sinh chuồng trại kém và vấn đề tiêm phòng
chưa được quan tâm đúng mức cho nên bệnh dễ dàng xảy ra.
- Bệnh nội khoa chủ yếu là ỉa chảy ở lợn do công tác vệ sinh thức ăn, nước uống
không đảm bảo, vệ sinh chuồng trại không tốt, đàn lợn bị lạnh, ẩm về mùa đông
dẫn đến dễ mắc bệnh tiêu chảy.
3.3.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn gia cầm của xã Nam Hồng
Chăn nuôi gia cầm của xã chủ yếu là chăn nuôi tập trung qui mô lớn theo
phương thức thâm canh công nghiệp (liên doanh với các công ty nước ngoài theo
hình thức nuôi gia công), bên cạnh đó cũng còn một số hộ chăn nuôi theo phương
thức chăn thả bán thâm canh và chăn thả truyền thống.
Với mô hình nuôi gia công, quy trình vệ sinh phòng dịch bệnh tương đối chặt

chẽ, người chăn nuôi được đối tác nước ngoài đầu tư trang thiết bị, vật tư khá tốt.
2
Bảng 3.3. Tỉ lệ mắc bệnh trên đàn gia súc xã Nam Hồng năm 2014
Loai bềnh • • Lợn Trâu, bò
Tổng số
(con)
Mắc bệnh
(con)
Tỉ lệ
(%)
Tổng số
(con)
Mắc
bệnh
(con)
Tỉ lệ
(%)
Truyen nhiễm
5763 655 11,3 226 18 7,9
Nội khoa 5763 710 12,3 226 35 15,4
Ngoại khoa 5763 660 11,4 226 45 19,9
Sản khoa 5763 300 5,2 226 9 3,9
UBND xã Nam Hồng - Ban Chăn nuôi, thú y. 2014
Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, dịch bệnh trên đàn gia
cầm ở Thái Bình trong suốt những năm từ 2005 đến 2010 diễn biến khó kiểm soát,
nhiều khu vực mầm bệnh vẫn cư trú trong môi trường do không làm tốt công tác vệ
sinh, tiêu độc nên không chỉ các cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ mà cả các mô hình nuôi
gia cầm thâm canh với mật độ cao cũng phải đối mặt với dịch bệnh truyền nhiễm.
Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy:
- Đàn gia cầm ở Nam Hồng cũng mắc các bệnh truyền nhiễm phổ biến như

Newcatle, Gumboro, Tụ huyết trùng và đàn gà bị bệnh kí sinh trùng đường máu
thường gây thành dịch đó là Bệnh cầu trùng.
- Tỷ lệ bị bệnh cũng khá cao: 18,27% tổng đàn mắc bệnh Gumboro - chủ
yếu trên đàn gà nuôi thâm canh công nghiệp với mật độ cao; với bệnh tụ huyết trùng
cũng có 11,15% tổng đàn bị bệnh trong năm 2014; tương tự như vậy với bệnh
Newcastle - chủ yếu xảy ra ở khu vực nuôi chăn thả trong hộ gia đình. Có 7,69%
đàn gia cầm mắc cầu trùng gà, một bệnh kí sinh trùng thường xảy ra trên đàn gà
nuôi công nghiệp.
3.4. Công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm xã Nam Hồng 2014
3.4.1. Tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm năm 2014
2
Bảng 3.4. Tỉ lệ mắc bệnh của đàn gia cầm xã Nam Hồng năm 2014
Loại bệnh r-M-1 X Ấ • Ầ
Tong sô gia câm (con)
Số con mắc bệnh
(con)
Tỉ lệ
(%)
Newcastle 52.000. 5.500 10,58
Gumboro 52.000 9.500 18,27
Tụ huyết trùng 52.000 5.800 11,15
Cầu trùng gà 52.000 4.000 7,69
UBND xã Nam Hồng - Ban Chăn nuôi, thú y. 2014
Trong chăn nuôi ngoài việc chọn con giống khỏe mạnh, chế độ chăm sóc nuôi
dưỡng tốt thì công tác tiêm vắc xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm cùng với vệ
sinh, khử trùng, tiêu độc chuồng ữại, môi trường chăn nuôi là biện pháp tốt nhất
(hiệu quả nhất, đơn giản và kinh tế nhất) để phòng, chống một số bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm cho đàn vật nuôi, đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, góp phần
phát triển ổn định ngành chăn nuôi và đảm bảo an sinh xã hội.
Theo hướng dẫn của các cơ quan chức năng, tất cả các địa phương trong cả

nước đều triển khai và tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm vắc xin phòng dịch theo định
kỳ cho đàn gia súc, gia cầm vụ Xuân Hè, vụ Thu Đông (tiêm đại trà 2 vụ/năm) và
tiêm phòng bổ sung hàng tháng cho đàn gia súc, gia cầm tái đàn nuôi mới; tiêm
phòng bao vây ổ dịch tại các địa phương khi phát hiện có mầm bệnh truyền nhiễm
lưu hành hoặc có dịch phát sinh ở gia súc, gia cầm.
❖ Thời gian tiêm phòng đại trà cho đàn gia súc, gia cầm:
Vụ Xuân Hè từ ngày 20/3 - 15/4/2014, tổ chức tiêm cuốn chiếu từng thôn,
xóm hoặc tiêm đồng loạt trên địa bàn xã. Đối với đàn trâu bò, chó mèo tổ chức tiêm
tập trung. Việc tiêm bổ sung hàng tháng được triển khai trung tuần các tháng
5,6,7/2014.
- Yụ Thu Đông từ ngày 20/9/2014 - 15/10/2014
❖ Đối tượng tiêm phòng và loại vắc-xin: đàn lợn, đàn gia cầm nuôi ở các trang trại và
hộ chăn nuôi nhỏ lẻ phân tán; đàn trâu bò; đàn chó, mèo. Trong đó, đàn lợn tùy theo
ngày tuổi được tiêm phòng các loại vaccin: Dịch tả, tụ huyết trùng, lở mồm long
móng, phó thương hàn, tai xanh, đóng dấu ; đàn gia cầm, thủy cầm tùy theo ngày
tuổi được tiêm phòng các loại vaccin:
Newcastle, gumboro, lasota, tụ huyết trùng, dịch tả vịt ; đàn trâu, bò tùy theo ngày
tuổi được tiêm phòng vaccin: Lở mồm long móng, tụ huyết trùng; đàn chó, mèo được
tiêm phòng vaccin: Dại Rabisin.
2
❖ Chính sách hỗ trợ
Ngân sách của tỉnh hỗ trợ 100% kinh phí mua các loại vắc xin: Cúm gia
cầm để tiêm phòng cho 100% đàn gà của các hộ có quy mô chăn nuôi từ 1.000 con
trở xuống và 100 % đàn vịt, ngan; vắc xin Lở mồm long móng; Tụ huyết trùng (trâu,
bò); Tai xanh; Dịch tả lợn chủng c tiêm phòng cho lợn nái và lợn đực giống.
Hộ chăn nuôi chỉ phải đóng góp tiền công tiêm phòng các loại vắc xinvà
công phun khử trùng tiêu độc. Riêng đối với tiêm phòng vắc xin Dại chó, mèo người
chăn nuôi phải trả tiền vắc xin và công tiêm phòng.
Chủ chăn nuôi là doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư
của nước ngoài, doanh nghiệp quân đội và các cơ sở liên doanh với các doanh nghiệp

trên tự đảm bảo kinh phí tổ chức tiêm phòng và khử trùng tiêu độc chuồng trại, môi
trường chăn nuôi theo quy định.
❖ Công tác tổ chức tiêm phòng
Đoi với Ban chỉ đạo và Ban Chăn nuôi - Thú y
- Tuyên truyền trên đài truyền thanh của xã về các chính sách của tỉnh, của
huyện trong việc hỗ trợ tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi; tuyên truyền về ý nghĩa,
lợi ích của việc tiêm phòng để các hộ chăn nuôi nhận thức được tác dụng của việc
tiêm phòng, tích cực tham gia và thực hiện tốt công tác tiêm phòng.
- Trước khi tiến hành tiêm phòng có kế hoạch cụ thể về ngày, giờ, mục đích
của việc tiêm phòng, phân công việc cụ thể cho các thú y viên ở thôn, xóm và thông
báo cho các xóm biết.
- Qua mỗi đợt tiêm phòng có sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả và rút ra kinh
nghiệm cho đợt tiêm phòng sau.
Đổi với các cơ sở chăn nuôi
- Trước khi tiêm phòng: Đăng ký số lượng gia súc, gia cầm của gia đình
với trưởng thôn hoặc nhân viên Thú y cấp xã.
2
- Trong khi tiêm phòng: Bắt giữ gia súc, gia cầm để tạo điều kiện cho
người đến tiêm phòng thực hiện được thuận lợi.
- Sau khi tiêm phòng: cần theo dõi tình trạng sức khỏe của đàn vật nuôi
và có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tốt.
❖ Kết quả tiêm phòng
Kết quả tiêm phòng đạt tỷ lệ cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: sự
chỉ đạo của cấp trên, khả năng thực thi của cán bộ phụ trách và sự phối hợp của
người chăn nuôi. Trong thời gian qua, các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn đã ý thức
rất rõ tầm quan trọng của việc tiêm vắc- xin cho đàn vật nuôi, trong khi đó vẫn
còn nhiều hộ gia đình nuôi với quy mô nhỏ đều lơ là chủ quan với công tác
phòng dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm.
Bảng 3.5. Kết quả tiêm phòng cho đàn gia súc xã Nam Hồng năm 2014
Thống kê cho thấy có 8 loại vắc xin phổ biến được tiêm cho đàn gia súc, gia

cầm của xã Nam Hồng và vắc xin phòng bệnh Dại tiêm cho đàn chó, mèo. Trong đó:
2
Loai vắc xin • Đối tượng tiêm Tỷ lệ tiêm (%)
Dịch tả lợn Lợn nái, lợn đực giống 92,50
Tụ huyết trùng lợn Lợn thịt 75,10
Tai xanh Lợn nái, thịt và đực giống 81,20
Phó thương hàn lợn Lợn thịt 37,40
E.coli Lợn thịt 23,50
Lở mồm long móng Trâu, bò, lợn 77,50
Dịch tả trâu, bò Trâu, bò 76,20
Tụ huyết trùng trâu,bò Trâu, bò 76,20
Dại Chó, mèo 91,05
UBND xã Nam Hồng - Ban Chăn nuôi, thú y. 2014

×