Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.35 MB, 94 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011-2015)
Đề tài:

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI

Giảng viên hướng dẫn:
Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Đào
Mssv: 5115703
Lớp luật thương mại 1 K37

Cần Thơ, 20/10/2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT


KHÓA 37 (2011-2015)
Đề tài:

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI

Giảng viên hướng dẫn:
Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Đào
Mssv: 5115703
Lớp luật thương mại 1 K37

Cần Thơ, 20/10/2014


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài

Lời cảm ơn!

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Th.S Bùi Thị Mỹ Hương, người
đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài Luận văn tốt nghiệp. Đồng thời, tôi cũng
xin cảm ơn đến quý Thầy, Cô trong Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã tạo nền
tảng kiến thức cho tôi trong suốt khóa học. Đồng cảm ơn đến Trung tâm học liệu
và Thư viện Khoa Luật của trường đã giúp tôi có được những tài liệu tham khảo
có giá trị trong quá trình học tập và thực hiện đề tài. Bên cạnh đó, tôi mong muốn
gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè- những người đã động viên giúp đỡ
tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời chúc đến quý Thầy, Cô, gia đình và bạn bè luôn

khỏa mạnh và thành công trong cuộc sống!
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Đào

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................

........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................

Cần Thơ, ngày…… tháng……năm 2014
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
LỜI NÓI ĐẦU


1. Lý do lựa chọn đề tài
Trọng tài với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và được giới kinh doanh quốc tế đặc biệt ưa chuộng
do những ưu điểm vượt trội của nó so với các phương thức giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế khác. Tuy nhiên, trọng tài - một phương thức giải quyết tranh chấp tư - còn
khá mới mẻ ở Việt Nam, chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của Nhà nước và cũng
chưa thực sự thu hút sự chú ý của xã hội.
Các quốc gia trên thế giới dù lớn hay nhỏ, sớm hay muộn đều đi theo xu hướng
tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác khu vực và thế giới, đa phương, đa chiều,
đa lĩnh vực, trong đó thương mại là một trong những lĩnh vực được coi là trung tâm. Xã
hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao. Để đáp ứng được
nhu cầu xã hội, đòi hỏi các quốc gia trên thế giới càng phải đẩy mạnh phát triển thương
mại quốc tế và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Trong xu thế chung hội nhập kinh tế
toàn cầu, Việt Nam đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện đất nước, tích cực gia
nhập và đã là thành viên của các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới hiện nay như Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, Tổ chức Thương mại thế giới WTO, tham gia
diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương APEC, kí nhiều Hiệp định hợp tác
kinh tế với các nước trong và ngoài khu vực, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế theo nền
kinh tế thị trường. Các quan hệ kinh tế trong nước cũng như các quan hệ kinh tế quốc tế
của Việt Nam ngày càng phong phú và đa dạng với mong muốn trở thành quốc gia có
nền kinh tế phát triển hàng đầu trong khu vực và trên thế giới. Điều đó cũng có nghĩa là
tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế nảy sinh là tất yếu và cần phải có cơ chế
giải quyết các tranh chấp đó một cách phù hợp và có hiệu quả, nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của các bên chủ thể, bảo đảm cho các hoạt động kinh doanh thương mại
được diễn ra một cách liên tục và thuận lợi, góp phần duy trì ổn định và thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế. Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam tồn tại 4 phương thức
giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế cơ bản, bao gồm: thương lượng; hòa giải; trọng
tài và Tòa án.
Mỗi hình thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế đều mang đặc tính riêng
với những thuận lợi và hạn chế nhất định. Tuy nhiên, ở các nước có nền kinh tế thị

trường phát triển, đại đa số các tranh chấp thương mại quốc tế thường được giải quyết
bằng các phương thức ngoài tòa án, trong đó trọng tài được đặc biệt ưa chuộng, song ở
Việt Nam, thực tiễn cho thấy, số lượng các tranh chấp thương mại quốc tế được các bên
lựa chọn giải quyết bằng phương thức trọng tài là quá ít ỏi, và đây là điều không bình
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

1

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
thường trong điều kiện Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới. Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên của thị trường trọng tài nước ta như pháp luật
nước ta trong lĩnh vực trọng tài chưa đáp ứng hiệu quả yêu cầu giải quyết các tranh chấp
thương mại quốc tế. Thực tiễn trọng tài thương mại chỉ ra rằng, không ít quy định của
pháp luật nước ta trong lĩnh vực này chưa phù hợp với thực tiễn, chưa tương thích với
pháp luật trọng tài quốc tế, đặc biệt là Luật mẫu trọng tài thương mại quốc tế của Uỷ ban
Liên Hợp Quốc về luật thương mại quốc tế năm 1985. Bên cạnh đó, năng lực giải quyết
tranh chấp thương mại quốc tế của các trung tâm trọng tài và các trọng tài viên Việt Nam
còn ở mức độ hạn chế, chưa tạo được uy tín vững chắc đối với các doanh nghiệp trong và
ngoài nước. Trước bối cảnh đó, người viết xin đề cập và đi sâu tìm hiểu, phân tích cụ thể
những quy định của pháp luật về đề tài “Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng
phương thức Trọng tài”.
2. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản
về tranh chấp thương mại quốc tế và trọng tài thương mại; những quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế trên cơ sở Luật trọng tài
thương mại 2010, đồng thời phân tích, so sánh với các quy định về trọng tài thương mại
và tranh chấp thương mại quốc tế được quy định trong các Điều ước quốc tế, Luật mẫu

UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế 1985 và quy tắc tố tụng của các trung tâm
trọng tài quốc tế có liên quan. Trên cơ sở đó, người viết nêu lên thực trạng giải quyết
tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ở nước ta, từ đó đề xuất một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật trọng tài trong nước, góp phần phát triển hơn nửa phương thức
này tại Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
Để hiểu rõ những quy định của pháp luật về phương thức trọng tài và tranh chấp
thương mại quốc tế, thực trạng áp dụng chế định này vào việc giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế ở nước ta giai đoạn hiện nay, người viết sẽ tập trung nghiên cứu
những luận cứ, cơ sở pháp lý về vấn đề này. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp, đánh giá
những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại
quốc tế bằng trọng tài và thực trạng của vấn đề này; so sánh, đối chiếu các quy định trên
với các Điều ước quốc tế quan trọng về trọng tài thương mại quốc tế dưới ánh sáng của
Luật mẫu UNCITRAL 1985 về trọng tài thương mại quốc tế với mong muốn sẽ góp phần
làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng
tài; vấn đề về thỏa thuận trọng tài và tố tụng trọng tài theo pháp luật Việt Nam, đồng thời
người viết chỉ ra những điểm còn bất cập, hạn chế của pháp luật nước ta trong lĩnh vực

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

2

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
này, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích nghiên cứu đã đề ra, người viết đã vận dụng cơ sở lý luận và

phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và Pháp luật kết hợp với việc vận dụng các quan điểm, đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng
yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Trên nền tảng phương pháp luận đó, người viết cũng áp
dụng các phương pháp nghiên cứu, cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh, đối chiếu nhằm làm nổi bật nội dung chính của đề tài, giúp người đọc có một cái
nhìn khái quát, toàn diện về vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng
tài, cũng như đưa ra các đề xuất hoàn thiện pháp luật trọng tài Việt Nam.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung
của Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
bằng phương thức Trọng tài
Chương 2: Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức
Trọng tài tại Việt Nam
Chương 3: Thực trạng và kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại trong hoạt động
giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ở Việt Nam hiện nay

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

3

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI
1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế và tầm quan trọng của việc giải quyết
tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài

1.1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế đã được hình thành lâu đời và trải qua nhiều thời kì, trong đó
phải kể đến việc hình thành GATT năm 1947 và sự ra đời của WTO năm 1995 đã đánh
dấu thời kì phát triển mạnh mẽ chưa từng có của thương mại quốc tế.1 Thêm vào đó, nhờ
ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật và sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia
góp phần làm cho thương mại quốc tế ngày càng trở nên phổ biến, phát triển và tồn tại
cho đến ngày nay. Ở Việt Nam, chủ trương hội nhập thương mại quốc tế được thể hiện cụ
thể trong Đại hội IX năm 2001 với nội dung “Các Bộ, ngành cần xây dựng các kế hoạch
đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, cán bộ quản lý, các luật sư am hiểu luật pháp quốc tế
và hội nhập quốc tế, đáp ứng các yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như hội
nhập kinh tế quốc tế”.2 Như vậy, cho thấy rằng thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng có tầm quan trọng và trở thành xu hướng thiết yếu đối với Việt Nam nói riêng
và các quốc gia trên thế giới nói chung, mở ra triển vọng mới và tiến tới một nền kinh tế
phát triển mạnh.
Ở Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất và
chuyên điều chỉnh về lĩnh vực thương mại quốc tế nhưng dựa vào các điều luật được quy
định rải rác trong các luật như Luật thương mại 2005, Bộ luật dân sự 2005, Luật trọng tài
thương mại 2010 và các văn bản dưới luật có liên quan, ta có thể hiểu khái niệm thương
mại quốc tế là việc thực hiện các hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài, theo đó
thương mại là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.3
Trong đó, mua bán hàng hóa quốc tế là việc thực hiện các hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập mà hàng hóa được đưa ra hay đưa vào lãnh thổ
trong nước và khu vực được xem là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.4
Hay nói cách khác, thương mại quốc tế là việc thực hiện các hoạt động thương mại vượt
ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia hay biên giới hải quan.
1

Nông Quốc Bình, Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Nxb Khoa học và kỹ thuật Hà Nội, Hà Nội, 1999, tr. 5,6.


2

Nghị quyết số 07- NQ/TW ngày 27-11-2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế, website: www.cpv.org,
[ngày truy cập 13-8-20014].
3

Luật thương mại năm 2005, điều 3, khoản 1.

4

Luật thương mại năm 2005, điều 28, 29.

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

4

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
Như vậy, lãnh thổ là tiêu chí mà Luật thương mại 2005 đưa ra để xác định tính chất
quốc tế của quan hệ thương mại. Nhìn chung, các quốc gia trên thế giới hiện nay xác định
tính chất quốc tế trong quan hệ thương mại theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn như
Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Liên Hợp Quốc về luật thương mại
quốc tế 1985 quy định một quan hệ thương mại được xem là có yếu tố nước ngoài khi nó
đáp ứng được một trong ba tiêu chí sau: một là, các bên tham gia quan hệ thương mại
mang quốc tịch, có nơi cư trú hoặc có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau; hai là,
quan hệ thương mại được xác lập hoặc được thực hiện ở nước ngoài đối với ít nhất một
bên; ba là, tài sản liên quan đến quan hệ thương mại đó ở nước ngoài. Còn theo Công ước
Lahaye 1964 và Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá

quốc tế, tính chất quốc tế của hoạt động thương mại đều được xác định bởi tiêu chuẩn
các bên tham gia có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau.5 Tuy nhiên, tại điều 1
Công ước LaHaye quy định, tính chất quốc tế còn được thể hiện dưới các tiêu chí sau:
hàng hoá, đối tượng của hợp đồng được chuyển qua biên giới một nước hoặc là việc trao
đổi ý chí giữa các bên được xác lập ở những nước khác nhau. Đối với Luật trọng tài
thương mại 2010 thì yếu tố nước ngoài trong quan hệ thương mại là các yếu tố được quy
định tại Điều 758 Bộ luật dân sự 2005.6
Qua một số phân tích cho thấy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau và chưa thống nhất
về thương mại quốc tế. Vì thế, theo quan điểm của người viết thì hoạt động thương mại
quốc tế là việc thực hiện các hoạt động thương mại theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.
Theo đó, thương mại là việc thực hiện các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi khác. Một quan hệ thương mại mang tính chất nước ngoài khi nó có
một trong ba yếu tố sau: có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá
nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; căn cứ để xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ thương mại theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc
tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau như sự khác
biệt về ngôn ngữ, truyền thống pháp luật, tập quán thương mại, thiếu hiểu biết và sự tin
cậy lẫn nhau...và dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, các mâu thuẫn, bất đồng,
tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể kinh doanh là điều khó tránh khỏi, đặc biệt trong nền
5

Công ước viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980, điều 1.

6

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức,
cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công
dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài

sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

5

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
kinh tế thị trường hội nhập quốc tế, các quan hệ thương mại quốc tế càng phát triển thì
các tranh chấp càng trở nên đa dạng và phức tạp, đòi hỏi phải có cách giải quyết tranh
chấp thích hợp góp phần thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế.
Hiện nay, thuật ngữ tranh chấp thương mại quốc tế đã trở nên phổ biến ở Việt Nam
nói riêng và các quốc gia trên thế giới nói chung, đặc biệt là những nước có nền kinh tế
phát triển. Tuy nhiên, vẫn chưa có văn bản nào quy định thế nào là tranh chấp thương
mại quốc tế và vấn đề này chỉ mới dừng lại ở phương diện tranh chấp thương mại thông
qua việc tiếp cận, đề cập bởi một số quan điểm trong và ngoài nước. Tại Việt Nam, theo
các quan điểm như quan điểm của tác giả trong cuốn Kĩ năng hành nghề Luật sư – Tập
III – Hợp đồng và tư vấn hợp đồng của Học viện Tư pháp thì tranh chấp hợp đồng là sự
mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng liên quan tới việc
thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.7
Như vậy, ta có thể hiểu tranh chấp thương mại là tranh chấp khi có đủ các yếu tố, đó
là: tranh chấp thương mại trước hết là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các
bên trong mối quan hệ thương mại xảy ra trước, trong hay sau thỏa thuận của các bên;
những mâu thuẫn phải phát sinh từ hoạt động thương mại giữa các thương nhân hoặc các
chủ thể khác có liên quan đến hoạt động thương mại. Từ những quan điểm về tranh chấp
thương mại, người viết đưa ra quan điểm về tranh chấp thương mại quốc tế là những mâu
thuẫn (bất đồng hay xung đột) xảy ra giữa các chủ thể kinh doanh đối với việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại có yếu tố nước

ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận. Yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 758 Bộ luật
dân sự 2005, như các bên tham gia quan hệ thương mại là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc các bên là công dân, tổ chức Việt Nam
nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh
tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
1.1.2 Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng
trọng tài
Trong kinh doanh, các mối quan hệ càng nhiều, càng phức tạp thì khả năng xảy ra
tranh chấp càng lớn, bất chấp một khung pháp lý hoàn chỉnh đến đâu- bởi không phải lúc
nào các bên cũng tuân thủ pháp luật một các nghiêm chỉnh. Đặc biệt, trong thương mại
quốc tế- lĩnh vực mà các bên tham gia đều có những bất đồng về tập quán kinh doanh,
ngôn ngữ và văn hóa thì khả năng xảy ra tranh chấp là điều không thể tránh khỏi. Chẳng
hạn như hàng nhập khẩu vào Trung Quốc bắt buộc phải có mã số, mã vạch trên bao bì,

7

Học viện tư pháp, Kỹ năng hành nghề luật sư- Tập III- Hợp đồng và tư vấn hợp đồng, Nxb Công an Nhân dân, Hà
Nội, 2002, tr. 53.

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

6

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
nhãn hiệu hàng hóa và nếu các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Trung
Quốc không tuân thủ quy định này thì tranh chấp xảy ra là điều tất yếu.8
Trước tình hình đó, việc giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại

quốc tế nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt bởi nó có thể quyết định mức độ thiệt hại
của doanh nghiệp khi một thương vụ không thành. Thiệt hại đó có thể là tiền bạc, công
sức, thời gian vì doanh nghiệp bị gián đoạn hoạt động kinh doanh và đặc biệt là uy tín
thương hiệu- tài sản vô hình mà mọi doanh nghiệp luôn cố gắng duy trì và phát triển. Để
giảm tránh tối thiểu những thiệt hại có thể và đang xảy ra, đòi hỏi các nhà kinh doanh cần
lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp và mang lại hiệu quả cao. Thực tế
hiện nay đã chứng minh, trong số bốn hình thức giải quyết tranh chấp nói chung thì trọng
tài là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế được
giới kinh doanh ưa chuộng nhất, bởi một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, do phương thức này có thủ tục tiện lợi, linh hoạt, nhanh chóng và phán
quyết của trọng tài là chung thẩm. Khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài các bên được
tự do thỏa thuận đặt ra một quy tắc tố tụng riêng hoặc lựa chọn thủ tục tố tụng của một
trung tâm trọng tài nào đó và sau khi trọng tài đưa ra phán quyết thì phán quyết đó bắt
buộc có hiệu lực thi hành với các bên, các bên không có quyền kháng cáo hay kháng
nghị. Vì thế, chủ thể trong tranh chấp có thể tránh tình trạng dây dưa kéo dài ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất kinh doanh, tiết kiệm tối đa thời gian, công sức và tiền bạc trong
việc theo đuổi vụ việc tranh chấp.
Thứ hai, phán quyết của trọng tài thường chính xác, khách quan và có độ tin cậy
cao. Vì các bên được quyền tự chọn lựa trọng tài viên, nên các trọng tài viên thường là
những chuyên gia giàu kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc về pháp luật trọng tài và các lĩnh
vực chuyên môn liên quan đến vụ tranh chấp. Đồng thời, quyết định của trọng tài dường
như không bị chi phối bởi yếu tố chính trị. Vì thế, nó sẽ mang tính khách quan hơn phán
quyết của tòa án.
Thứ ba, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài luôn có khả năng giữ bí mật rất cao. Đối
với các bên tham gia hợp đồng thương mại quốc tế, việc giữ bí mật kinh doanh trong các
vụ kiện là rất quan trọng bởi nó có ý nghĩa sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Vì thế,
khi tranh chấp xảy ra, mặc nhiên những bí mật đó có thể bị tiết lộ, nhất là khi giải quyết
tại tòa án bởi nguyên tắc xét xử tại tòa án là công khai. Khác với nguyên tắc xét xử công
khai tại tòa án, trọng tài lại hoạt động theo nguyên tắc xét xử kín, các vấn đề liên quan
đến tranh chấp và các phán quyết của trọng tài không được công khai, nếu không được sự

đồng ý của các bên.
8

Đại học thương mại, Tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại, [ngày truy cập 13-8-2014].

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

7

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
Như vậy, trong quan hệ thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng thì
trọng tài được xem là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến nhất hiện nay và được
các doanh nghiệp ưa chuộng bởi đây là hình thức mang nhiều ưu điểm- giải quyết tranh
chấp một cách nhanh chóng, tiết kiệm tối đa thời gian và đảm bảo uy tín thương hiệu, bí
mật kinh doanh trong tranh chấp, góp phần thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả,
thúc đẩy phát triển nền kinh tế trong và ngoài nước.
1.2 Khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền và căn cứ phát sinh thẩm quyền của trọng tài
thương mại
1.2.1 Khái niệm trọng tài
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp đã có từ lâu đời và khá phổ biến trên
thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Hiện nay, khi soạn
thảo các điều khoản về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại, các bên trong
quan hệ giao dịch thường quy định việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài,
đặc biệt là khi quan hệ giao dịch này có yếu tố nước ngoài.
Trong khoa học pháp lý, trọng tài được nghiên cứu dưới nhiều bình diện khác nhau
và do đó hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về trọng tài. Theo cuốn “Từ điển kinh tế
thị trường từ A đến Z”: “Trọng tài là một cách giải quyết bất đồng trong quan hệ công

nghiệp mà không cần đưa ra pháp luật hay đình công”. Hay trọng tài là phương thức giải
quyết những tranh chấp hay bất đồng được đưa ra cho một hoặc nhiều người được xem là
công tâm, không thiên lệch quyết định và quyết định này có tính ràng buộc đối với hai
bên.
Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của Uỷ ban Liên Hợp Quốc về luật thương
mại quốc tế năm 1985 đưa ra khái niệm “Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có
hoặc không có sự giám sát của tổ chức trọng tài thường trực.9 Còn theo Hội đồng trọng
tài Mỹ (AAA) quy định “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình
vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định
cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành”. Tại Việt Nam, theo quy
định tại khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại hiện hành thì “Trọng tài thương mại là
phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định
của Luật trọng tài thương mại”.
Mặc dù có khá nhiều định nghĩa khác nhau về trọng tài, song nhìn chung hiện nay
trọng tài được nhìn nhận dưới góc độ:

9

Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của ủy ban Liên Hợp Quốc về luật thương mại quốc tế năm 1985, điều
2a.

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

8

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi nhà nước do

các đương sự thỏa thuận lựa chọn bằng cách giao vụ việc tranh chấp cho các trọng tài
viên, với tư cách là bên thức ba độc lập nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại trên
cơ sở thỏa thuận trọng tài hoặc quy tắc tố tụng của một trung tâm trọng tài do các bên
thỏa thuận quy định bằng việc đưa ra một phán quyết trọng tài và phán quyết này có giá
trị chung thẩm buộc các bên phải thực hiện. Trọng tài chính là bên trung gian thứ ba được
các bên tranh chấp chọn ra để giúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ
trên cơ sở thỏa thuận trọng tài và đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên. Phương thức
trọng tài được tiến hành theo một thủ tục nhất định và được kết thúc bằng phán quyết
trọng tài. Sự khác biệt cơ bản giữa phán quyết trọng tài với quyết định của tòa án là có
giá trị chung thẩm, ràng buộc các bên và được công nhận tại các quốc gia theo yêu cầu
của các bên và quy định của pháp luật.
1.2.2 Đặc điểm của trọng tài
Trọng tài trở thành một công cụ pháp lý quan trọng trong giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế là vì phương thức này có những điểm đặc trưng sau:
Một là, trọng tài có tính phi nhà nước.
Trọng tài là một loại hình tổ chức phi chính phủ (tổ chức xã hội nghề nghiệp) nhân
danh ý chí các bên, không nhân danh quyền lực tư pháp của nhà nước, hoạt động theo
pháp luật và quy chế trọng tài. Trọng tài là một thiết chế dân chủ trong giải quyết tranh
chấp thương mại và cả thương mại quốc tế, trọng tài không chỉ góp phần tạo ra một đời
sống dân chủ và tự do trong tư pháp, mà hơn thế nữa, trọng tài là người chia sẻ nhiệm vụ
với nhà nước nhất là cơ quan Tòa án trong việc xóa bỏ các bất đồng trong xă hội, thể hiện
cụ thể ở việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế.
Hai là, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là sự kết hợp hài hòa
giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán.
Cụ thể, thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết trọng tài
thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận. Bởi vậy, về nguyên tắc, thẩm quyền của trọng tài
không bị giới hạn bởi các đương sự có thể lựa chọn bất kỳ lúc nào, bất kỳ trọng tài vụ
việc hoặc trọng tài quy chế nào trên thế giới để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, một khi
đã được thỏa thuận thì phán quyết của trọng tài có tính chất tài phán và bắt buộc các bên
phải tuân thủ.

Ba là, đương sự được quyền tự do thỏa thuận các vấn đề trong quá trình giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài.
Phương thức trọng tài bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự cao hơn so với
phương thức tòa án, thể hiện cơ bản là các đương sự trong tố tụng trọng tài có quyền thỏa
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

9

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
thuận quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến việc giải quyết tranh chấp như cách thức
lựa chọn, chỉ định trọng tài viên, địa điểm, ngôn ngữ giải quyết tranh chấp cho đến các
quy tắc tố tụng trọng tài, luật áp dụng đối với tranh chấp…
Bốn là, phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm.
Xuất phát từ nguyên tắc tố tụng trọng tài một cấp và quyền tự do thỏa thuận của các
bên nên phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và có hiệu lực thi hành đối với các bên
tranh chấp, nghĩa là không thể kháng cáo trước bất kỳ cơ quan, tổ chức, trừ trường hợp
hủy phán quyết trọng tài. Đặc điểm này giúp trọng tài có điều kiện thuận lợi trong việc
giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp thương mại quốc tế.
Cuối cùng, sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài.
Pháp luật các nước nhìn chung, trong đó có Việt Nam nói riêng, đều quy định cơ chế
hỗ trợ từ phía tòa án đối với tổ chức và hoạt động của trọng tài. Thông qua trình tự công
nhận và cho thi hành, tòa án đảm bảo thực thi trên thực tế những phán quyết của trọng tài
khi một hoặc các bên đương sự không tự nguyện thực hiện. Ngoài ra, Tòa án còn có thể
hỗ trợ trọng tài ở các nội dung khác, như chỉ định, thay đổi trọng tài viên, giải quyết
khiếu nại của các bên về thẩm quyền của hội đồng trọng tài và thỏa thuận trọng tài vô
hiệu, quyết định thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và yêu cầu hủy
phán quyết trọng tài.

1.2.3 Thẩm quyền và căn cứ phát sinh thẩm quyền của trọng tài
Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, Điều 2 Luật trọng tài thương mại
2010 quy định trọng tài có thẩm quyền giải quyết các vụ việc tranh chấp giữa các bên
phát sinh từ hoạt động thương mại, tranh chấp trong đó ít nhất một bên có hoạt động
thương mại hoặc tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng
trọng tài.
Theo pháp luật và thực tiễn trọng tài của các nước thì trọng tài có thẩm quyền xét xử
khi các bên đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hay nói cách khác,
thẩm quyền của trọng tài phát sinh khi giữa các bên có tồn tại một thỏa thuận trong tài về
yêu cầu trọng tài giải quyết tranh chấp. Nếu các bên trước và sau khi phát sinh tranh chấp
không thỏa thuận thống nhất giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì tranh chấp được giải
quyết bằng thương lượng, hòa giải hoặc tòa án. Khác với thẩm quyền của tòa án, thẩm
quyền của trọng tài chỉ là thẩm quyền vụ việc, nếu được các bên có vụ việc lựa chọn đích
danh. Thẩm quyền của trọng tài không được phân định theo lãnh thổ vì các bên có tranh
chấp có quyền thỏa thuận lựa chọn một tổ chức trọng tài bất kỳ trong hoặc ngoài nước họ
để giải quyết tranh chấp, không phụ thuộc vào nơi ở cũng như nơi đặt trụ sở của các bên,
cũng như không phân định theo cấp xét xử, vì chỉ có một cấp trọng tài và lại càng không
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

10

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
phân định thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, vì trọng tài chỉ có thẩm quyền
giải quyết vụ việc nếu các bên có thỏa thuận trọng tài.
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có tính phổ biến và được các
thương nhân ưa chuộng. Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp đều được phép giải quyết
bằng trọng tài, hay nói cách khác kể cả khi các bên có thỏa thuận trọng tài trên cơ sở

hoàn toàn tự nguyện để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau thì thỏa thuận
trọng tài này cũng bị pháp luật coi là vô hiệu nếu những loại tranh chấp này không phát
sinh từ một trong các bên chủ thể hoạt động thương mại hoặc lĩnh vực tranh chấp không
được pháp luật cho phép giải quyết bằng trọng tài.
Pháp luật hầu hết các nước không liệt kê tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài
mà chỉ quy định những loại quan hệ pháp luật nhất định nếu có tranh chấp phát sinh thì
không được giải quyết bằng trọng tài. Ví dụ, pháp luật một số nước không cho phép giải
quyết bằng trọng tài các vụ việc hình sự, hành chính...với quan điểm cho rằng đây là
những vấn đề thuộc chính sách công cộng của quốc gia nên phải do cơ quan tài phán
công giải quyết.
1.3 Các loại tranh chấp thương mại quốc tế được giải quyết bằng phương thức
trọng tài
1.3.1 Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại quốc tế
Đây là tranh chấp phổ biến nhất hiện nay đối với hoạt động thương mại quốc tế. Hợp
đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền
và nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh doanh trong quan hệ thương mại quốc tế. Hợp đồng
thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp
đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao công nghệ có yếu tố nước ngoài.
So với hợp đồng thương mại trong nước, hợp đồng thương mại quốc tế có những
đặc điểm sau đây:
Về chủ thể: chủ thể của hợp đồng thương mại quốc tế là các chủ thể của hoạt động
kinh doanh quốc tế, có thể là cá nhân, pháp nhân có nơi thường trú hoặc trụ sở thương
mại đặt ở các nước khác nhau, trong một số trường hợp nhất định Nhà nước là chủ thể
đặc biệt của quan hệ này.
Về đối tượng của hợp đồng: hàng hoá là đối tượng của hợp đồng thương mại quốc tế
phải thỏa mãn các quy định về quy chế hàng hóa, dịch vụ được phép mua bán, trao đổi và
thực hiện theo pháp luật của nước bên bán và bên mua. Nhìn chung, phần lớn các loại
hàng hóa, dịch vụ đều được đem ra trao đổi, mua bán, thực hiện ngoại trừ một số loại
hàng hóa nhất định mà thông thường, theo cách quy định trong pháp luật các nước, đó là
các nhóm hàng bị cấm, hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu hoặc phải đáp ứng các yêu cầu kĩ

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

11

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
thuật, điều kiện chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm... hoặc dịch vụ không được phép
thực hiện. Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng thương mại quốc tế bao gồm cả hàng hóa
hữu hình (nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị...) và hàng hóa vô hình (dịch
vụ, quyền sở hữu trí tuệ…) được phân biệt dựa vào dạng thức tồn tại. Nó có thể là vật do
con người tạo nên hay các quyền tài sản mang tính vô hình. Tuy nhiên, quan niệm về
hàng hóa trong pháp luật các quốc gia có phạm vi rộng hẹp khác nhau. Đó có thể là hàng
hóa là những vật có thực được đưa ra trên thị trường để trao đổi. Hàng hóa còn bao gồm
cả những giấy tờ có giá, những vật có thực và hàng hóa tương lai. Còn tại Khoản 2, Điều
3 Luật thương mại 2005 quy định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động
sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai.
Về đồng tiền thanh toán: Tiền tệ dùng để thanh toán thường là nội tệ hoặc có thể là
ngoại tệ đối với các bên. Ví dụ: hợp đồng được giao kết giữa người bán Việt Nam và
người mua Hà Lan, hai bên thoả thuận sử dụng đồng Euro làm đồng tiền thanh toán. Lúc
này, đồng euro là ngoại tệ đối với phía người bán Việt Nam nhưng lại là nội tệ đối với
người mua Hà Lan. Tuy nhiên, cũng có trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội tệ của
cả hai bên, như trường hợp các doanh nghiệp thuộc các nước trong cộng đồng châu Âu sử
dụng đồng Euro làm đồng tiền chung.
Về cơ quan giải quyết tranh chấp: tranh chấp phát sinh từ việc giao kết và thực hiện
hợp đồng thương mại quốc tế có thể được giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án hoặc thông
qua thương lượng, hòa giải.
Về luật điều chỉnh hợp đồng: luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế mang
tính chất đa dạng và phức tạp. Điều này có nghĩa là hợp đồng thương mại quốc tế có thể

phải chịu sự điều chỉnh không phải chỉ của luật pháp nước đó mà cả của luật nước ngoài
(luật nước người bán, luật nước người mua hoặc luật của bất kỳ một nước thứ ba nào),
thậm chí phải chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế hoặc
cả án lệ (tiền lệ pháp) để điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế.
Trên thực tế hiện nay, có rất nhiều tranh chấp xảy ra giữa các thương nhân liên quan
đến hợp đồng thương mại quốc tế, chủ yếu xuất phát từ các nguyên nhân như hợp đồng
được kí kết sơ sài, không quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên; các bên chủ
thể tham gia kí kết hợp đồng không có hoặc không đúng thẩm quyền; hàng hóa, dịch vụ
là đối tượng trong hợp đồng không được phép mua bán, thực hiện theo quy định của pháp
luật, thêm vào đó là trong nhiều hợp đồng, các bên không quy định rõ luật áp dụng sẽ là
luật nước nào. Theo thống kê tại Hội thảo “Việt Nam gia nhập Công ước của Liên Hiệp
Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” (Công ước Viên 1980) được tổ chức ngày
01.11.2013 tại TP.HCM, thì có đến 80% các vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng xuất
nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam là không quy định luật áp dụng. Như vậy, khi
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

12

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
tranh chấp xảy ra thì các bên hay trọng tài, tòa án cũng rất khó khăn khi xác định luật áp
dụng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu các bên có tranh chấp về quá trình thực
hiện hợp đồng thì có thể yêu cầu trọng tài giải quyết trên cơ sở bản thỏa thuận trọng tài.
Vì trọng tài là phương thức có nhiều ưu điểm trong giải quyết tranh chấp thương mại, đặc
biệt là tranh chấp trong hợp đồng thương mại mang tính chất quốc tế, giúp các bên tiết
kiệm thời gian, công sức, tiền bạc. Bên cạnh đó, đảm bảo giữ được bí mật kinh doanh,
tránh cho các bên nguy cơ làm tổn thương đến mối quan hệ hợp tác làm ăn vốn có.

1.3.2 Tranh chấp thương mại quốc tế phát sinh giữa Chính phủ tiếp nhận đầu
tư với nhà đầu tư nước ngoài
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, các hoạt động thương mại
quốc tế ngày càng được mở rộng, đặc biệt khi hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng
phát triển cả về quy mô, phạm vi và tính chất thì khả năng phát sinh tranh chấp càng lớn,
không chỉ doanh nghiệp mà Nhà nước sẽ phải bước vào những địa hạt pháp lý không
quen thuộc, cụ thể là tranh chấp xảy ra giữa Chính phủ tiếp nhận đầu và nhà đầu tư nước
ngoài ngày càng phổ biến.
Tranh chấp giữa Chính phủ nước nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài là loại tranh
chấp xảy ra giữa các chủ thể, một bên là Chính phủ nước nhận đầu tư và bên kia là nhà
đầu tư nước ngoài. Theo đó, Chính phủ nước nhận đầu tư trong tranh chấp chính là các
cơ quan quản lý nhà nước được giao quyền, chức năng và nhiệm vụ để thay mặt chính
phủ thực hiện và quản lý các hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài khi họ đầu
tư vào nước mình. Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân, tổ chức được thành lập theo pháp
luật nước ngoài. Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài đều được
gọi là nhà đầu tư nước ngoài. Luật pháp một số nước quy định rằng nhà đầu tư nước
ngoài phải là những tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư ra
nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh thương mại, tức là nhằm mục đích sinh lợi.10
Để được tiến hành các hoạt động kinh doanh, các nhà đầu tư nước ngoài phải là các
thương nhân và phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
và do cơ quan có thẩm quyền, nơi họ thành lập cấp. Ngoài ra, để được tiến hành các hoạt
động đầu tư tại nước nhận đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện
về đầu tư nước ngoài do luật pháp nước nhận đầu tư quy định.11 Các tranh chấp giữa
Chính phủ tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài thường có nội dung đa dạng và
phức tạp, liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp khi nhà đầu tư nước
10

Luật đầu tư năm 2005, điều 3, khoản 1, 5.

11


Luật đầu tư năm 2005, điều 5, khoản 1; Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Trung Quốc
năm 1992, điều 2, khoản 1.

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

13

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
ngoài thực hiện đầu tư vào một lĩnh vực nào đó tại một nước. Ví dụ tranh chấp giữa nhà
đầu tư nước ngoài với chính phủ nước nhận đầu tư liên quan đến việc thực hiện chính
sách ưu đãi về thủ tục mua sắm đấu thầu, về thủ tục cấp phép đầu tư...mà chính phủ nước
sở tại dành cho các nhà đầu tư nước ngoài theo cam kết quốc tế.12 Tranh chấp về quyền
sở hữu đối với tài sản của Nhà nước đầu tư nước ngoài tại nước sở tại.13
Đây là tranh chấp thương mại quốc tế, bởi nó làm nảy sinh các mối quan hệ giữa
một quốc gia với doanh nghiệp ở một quốc gia khác, vì thế làm cho việc giải quyết tranh
chấp gặp nhiều khó khăn, vì một bên tranh chấp là một quốc gia và theo quy định của tư
pháp quốc tế, quốc gia được hưởng các quyền miễn trừ, trong đó quan trọng nhất là
quyền miễn trừ tư pháp và miễn trừ đối với tài sản của quốc gia, gọi chung là quyền miễn
trừ của quốc gia. Đây là một đặc quyền của quốc gia, theo đó quốc gia sẽ không bị đưa ra
xét xử trước tòa án, nghĩa là khi có cá nhân hay tổ chức nào đó khởi kiện quốc gia ra xét
xử trước tòa án thì tòa án có nghĩa vụ bác đơn kiện đó, các tranh chấp liên quan đến quốc
gia phải được giải quyết bằng con đường thương lượng trực tiếp hoặc con đường ngoại
giao, trừ khi quốc gia từ bỏ quyền này, Điều 5 và Điều 6 Công ước của Liên Hợp Quốc
về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Quốc gia được
hưởng quyền miễn trừ tài phán trước một tòa án nước ngoài theo những quy định của
Công ước. Các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo quyền miễn trừ tài phán và quyền miễn trừ

tài sản của quốc gia khác, cụ thể là không thực thi quyền tài phán chống lại quốc gia khác
trong một vụ kiện tại tòa án nước mình”. Bên cạnh đó, quốc gia cũng không bị áp dụng
các biện pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia… nhằm đảm bảo đơn
kiện và việc thi hành quyết định của tòa án trong trường hợp quốc gia đồng ý cho tòa án
nước ngoài xét xử được quy định tại điều 18 và điều 19 Công ước của Liên Hợp Quốc về
quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia.14 Ngoài ra quyền miễn trừ đối
với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia là một trong những nội dung quan trọng của
quyền miễn trừ quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế theo nghĩa rộng. Nội
dung của quyền này là những tài sản được xác định thuộc quyền sở hữu của quốc gia thì
12

Đỗ Viết Thái Anh, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giải quyết tranh chấp về đầu tư giữa Chính phủ và nhà đầu
tư nước ngoài, [ngày truy cập 15-8-2014].
13

Quyết định trọng tài ngày 10/2/1999 đăng tải tại Tạp chí ICSID- Báo pháp luật đầu tư nước ngoài (2000), 457,
đoạn 125-131.
14

Điều 18 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có

biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong
một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”.
Điều 19 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện
pháp cưỡng chế nào sau khi có phán quyết của tòa án như tịch thu, bắt giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được
áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”.

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

14


SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
không thể là đối tượng áp dụng các biện pháp tư pháp khi quốc gia đưa vào tham gia các
quan hệ dân sự quốc tế.
Quyền miễn trừ quốc gia được giới luật gia tư sản đưa ra nhằm tạo cơ sở pháp lý
vững chắc để các quốc gia thực hiện chức năng quản lý dân cư và lãnh thổ, bảo vệ chủ
quyền quốc gia khi tham gia vào các mối quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, chính vì đặc quyền
này của quốc gia trong quan hệ dân sự đã làm hạn chế rất nhiều các giao dịch kinh doanh
giữa quốc gia với các chủ thể khác. Vì khi tham gia vào quan hệ dân sự, cụ thể là giao
dịch thương mại quốc tế giữa quốc gia và các chủ thể khác phát sinh tranh chấp thì quốc
gia lại được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ tài sản, nghĩa là không có
chủ thể nào được quyền khởi kiện và xét xử quốc gia, trừ khi quốc gia đó tuyên bố từ bỏ
quyền miễn trừ tài phán và tài sản của mình, nên trong các giao dịch dân sự mà quốc gia
là một bên đối tác thường rất hạn chế. Và khi các nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời dựa
trên nền tảng của chế độ sở hữu nhà nước và tham gia vào các quan hệ thương mại quốc
tế, vấn đề về quyền miễn trừ tư pháp lại được nhìn nhận với góc độ khác. Theo đó, quốc
gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và tài sản trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân
sự theo nghĩa rộng khi mà quốc gia là một bên chủ thể của quan hệ dân sự đó, nhưng
trong một số trường hợp nhất định quốc gia sẽ không được hưởng quyền này mà phải
tham gia với tư cách một chủ thể dân sự như các chủ thể thông thường khác. Công ước
của Liên Hợp Quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia cũng
dành nhiều điều quy định về các trường hợp quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ
như khi quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ, khi tham gia vào các lĩnh vực giao dịch thương
mại,15 hợp đồng lao động…Quan điểm thay đổi này đã được pháp điển hóa trong nhiều
văn bản pháp lý quốc tế mà cụ thể là được quy định tại Điều 31 của Công ước Viên 1961
về Quan hệ Ngoại giao và Điều 43 của Công ước Viên 1963 về Quan hệ Lãnh sự.16 Theo
đó, trong một số trường hợp ngoại lệ, quốc gia (người đứng đầu Chính phủ, quan chức

15

Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia, điều 7, 10.

16

Điều 31 quy định các viên chức ngoại giao của một nước được hưởng quyền miễn trừ tư pháp về hình sự. Riêng
về dân sự và tư pháp thì viên chức ngoại giao cũng được hưởng quyền tư pháp trừ đối với những vụ kiện về thương
mại nằm ngoài chức năng của mình như vụ kiện về bất động sản tư ở trên lãnh thổ của nước nhận đại diện (trừ phi
viên chức ngoại giao có bất động sản do nhân danh nước cử đại diện và để phục vụ cho cơ quan đại diện ngoại
giao), Vụ kiện về thừa kế trong đó viên chức ngoại giao là người chấp hành di chúc, người quản lý, người thừa kế
hoặc người hưởng gia tài theo di chúc, với tư cách cá nhân chứ không phải nhân danh nước cử đại diện, Vụ kiện về
bất kỳ một nghề tự do hoặc hoạt động thương mại gì, của viên chức ngoại giao làm ngoài chức vụ chính thức của
mình ở nước nhận đại diện. Điều 43 quy định Viên chức lãnh sự và nhân viên lãnh sự không chịu sự xét xử của nhà
chức trách tư pháp hoặc hành chính của Nước tiếp nhận về các hành vi thực hiện khi thi hành chức năng lãnh sự, trừ
khi đối với vụ kiện dân sự xảy ra vì một hợp đồng do một viên chức lãnh sự hoặc một nhân viên lãnh sự ký kết mà
không phải là rõ ràng hoặc hàm ý đứng trên danh nghĩa một người được uỷ quyền của Nước cử để ký kết; hoặc do
một bên thứ ba tiến hành về thiệt hại do một tai nạn xe cộ, tàu thuỷ hoặc tàu bay xảy ra tại Nước tiếp nhận.

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

15

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
ngoại giao, lãnh sự) tham gia giao dịch thương mại, lao động..., với tư cách cá nhân, nằm
ngoài phạm vi chức năng của mình thì khi tranh chấp phát sinh, các chủ thể liên quan có
quyền khởi kiện quốc gia ra trước cơ quan tài phán, vì trong trường hợp này quốc gia

không mang quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ tài sản của mình.
Năm 2005, bằng việc ban hành Luật Đầu tư mới- Luật Đầu tư 2005, loại hình tranh
chấp và cơ chế giải quyết tranh chấp về đầu tư giữa Chính phủ với nhà đầu tư nước ngoài
được quy định một cách cụ thể. Theo đó, “Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ
quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam
được giải quyết thông qua trọng tài hoặc toà án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác trong hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu
tư nước ngoài hoặc trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.17 Như vậy, khi một tranh chấp xảy ra giữa Chính phủ và nhà đầu tư nước
ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam thì pháp luật Việt Nam cho
phép các bên chủ thể tiến hành lựa chọn giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án Việt Nam.
Bên cạnh đó, trong một số Hiệp định trên thế giới cũng có quy định tương tự, khi tranh
chấp đầu tư xảy ra, các bên đương sự được quyền lựa chọn giải quyết bằng các phương
thức, trong đó có trọng tài.18 Như vậy, với những nhà đầu tư nước ngoài mà Nhà nước ta
chưa ký hiệp định đầu tư thì tranh chấp phát sinh giữa họ với Chính phủ Việt Nam xảy ra
tại Việt Nam thì có thể sẽ được giải quyết tại tòa án hoặc trọng tài Việt Nam. Với những
nước mà Nhà nước ta đã ký hiệp định đầu tư thì tranh chấp sẽ được giải quyết theo cơ
chế do hiệp định đầu tư quy định.
1.4 Chủ thể của tranh chấp thương mại quốc tế
1.4.1 Cá nhân
Trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới, khi mà các hoạt động thương mại quốc tế
diễn ra ngày càng nhiều thì việc dẫn đến tranh chấp là điều khó tránh khỏi. Tranh chấp
thương mại quốc tế là những mâu thuẫn, bất đồng về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
của các bên trong quan hệ thương mại quốc tế, cụ thể là diễn ra tranh chấp giữa các chủ
thể: cá nhân, tổ chức và thậm chí là quốc gia.
Luật trọng tài thương mại 2010 quy định chủ thể tranh chấp trong thương mại quốc
tế được quyền lựa chọn phương thức trọng tài giải quyết là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt
Nam hoặc nước ngoài tham gia tố tụng trọng tài với tư cách nguyên đơn, bị đơn.19 Theo
17


Luật đầu tư năm 2005, điều 12, khoản 4.

18

Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga năm
1994, điều 6; Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa
Áo năm 1995, điều 8.
19

Luật trọng tài thương mại 2010, điều 3, khoản 3.

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

16

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
đó, cá nhân với tư cách chủ thể trong quan hệ thương mại quốc tế phải hội đủ các điều
kiện mà pháp luật quy định. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà pháp luật các nước có
thể quy định một cách cụ thể hoặc không cụ thể các điều kiện đối với một các nhân khi
tham gia quan hệ thương mại quốc tế với tư cách chủ thể.
Nếu pháp luật quy định một cách cụ thể các tiêu chuẩn của chủ thể là cá nhân thì chỉ
những người có đầy đủ tất cả những yêu cầu mà pháp luật quy định mới có thể trở thành
chủ thể trong quan hệ thương mại quốc tế. Nếu pháp luật không quy định cụ thể các điều
kiện của cá nhân là chủ thể trong quan hệ của thương mại quốc tế, thì khi xem xét tư cách
chủ thể của một người trong quan hệ thương mại quốc tế, sẽ căn cứ vào các quy định đối
với cá nhân trong quan hệ pháp luật thương mại trong nước, đồng thời có bổ sung một số
điều kiện nhất định. Nói cách khác, trong trường hợp này một cá nhân muốn trở thành

chủ thể trong quan hệ thương mại quốc tế thì trước hết phải là chủ thể của quan hệ
thương mại trong nước, đồng thời phải hội đủ các điều kiện bổ sung theo quy định của
pháp luật để có thể tham gia vào giao dịch thương mại quốc tế. Trường hợp, theo quy
định của pháp luật Việt Nam thì một người khi đã đủ các điều kiện trở thành chủ thể
trong hoạt động thương mại trong nước, nếu muốn hoạt động thương mại với nước ngoài
thì phải có đầy đủ các điều kiện do Chính Phủ quy định.20
Mặc dù có những quy định cụ thể khác nhau nhưng nhìn chung, khi đề cập đến việc
xác định tư cách chủ thể của cá nhân trong quan hệ thương mại nói chung và quan hệ
thương mại quốc tế nói riêng, luật pháp của hầu hết các nước đều dựa trên hai tiêu chuẩn
pháp lý liên quan trực tiếp đến cá nhân, đó là: các điều kiện về nhân thân và các điều kiện
về nghề nghiệp của cá nhân.
Điều kiện nhân thân của một cá nhân là điều kiện pháp lý gắn liền với một con
người cụ thể. Theo quy định pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới, việc xem xét
điều kiện về nhân thân của một người để trở thành thương nhân không chỉ căn cứ vào
năng lực pháp luật và năng lực hành vi của người đó mà còn căn cứ vào những yêu cầu
khác như không phải là người bị cơ quan có thẩm quyền tước quyền tham gia kinh doanh
hoặc không phải là người đang chấp hành án phạt tù…
Điều kiện về nghề nghiệp, theo quy định của luật pháp nhiều nước, đặc biệt là các
nước phương Tây thì những người đang làm một số nghề nhất định sẽ không được tham
gia hoạt động thương mại quốc tế. Ví dụ như những người làm các nghề như công chức,
luật sư, bác sĩ, công chứng viên, chấp hành viên, kiểm sát viên… thì không được tham
gia hoạt động thương mại nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nói riêng với tư
cách là chủ thể. Hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam, thương nhân là cá nhân phải
20

Luật thương mại 2005, điều 73.

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

17


SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
là người hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh
doanh.21
Nhìn chung, các quy định của một nhà nước về tiêu chuẩn pháp lý để xác định tư
cách chủ thể của cá nhân trong quan hệ thương mại quốc tế chỉ được áp dụng cho các
công dân mang quốc tịch nước đó. Đối với công dân mang quốc tịch nước ngoài có được
trở thành thương nhân để hoạt động thương mại quốc tế trong phạm vi lãnh thổ một nước
sở tại hay không, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào luật pháp của từng nước và tùy theo
từng trường hợp cụ thể.
1.4.2 Tổ chức
Trong hoạt động thương mại quốc tế, phần lớn các tranh chấp phát sinh là từ các tổ
chức kinh tế. Tuy nhiên, không phải tổ chức kinh tế nào cũng được xem là chủ thể của
tranh chấp thương mại quốc tế, vì muốn tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch thương mại
quốc tế thì không chỉ đòi hỏi tổ chức đó phải là chủ thể của quan hệ thương mại trong
nước mà pháp luật còn quy định họ còn phải đáp ứng một số điều kiện bổ sung để có thể
tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế. Hầu hết pháp luật các nước và Việt Nam đều
quy định tổ chức kinh tế được quyền tham gia vào các quan hệ hoặc giao dịch thương
mại quốc tế khi đáp ứng đủ các điều kiện luật định. Tổ chức kinh tế được chia làm hai
loại, đó là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân và tổ chức kinh tế không có tư cách pháp
nhân.
Theo pháp luật của nhiều nước trên thế giới, tổ chức kinh tế được xem là chủ thể
trong quan hệ thương mại nói chung và trong quan hệ thương mại quốc tế nói riêng khi tổ
chức đó hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh, được thể hiện dưới nhiều hình thức như công ty cổ phần, công ty hợp danh, công
ty trách nhiệm hữu hạn một, hai thành viên, doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.22 Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 6 Luật thương mại 2005 cũng quy

định thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn,
dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm.
Như vậy, trên nguyên tắc tự do kinh doanh trong thương mại quốc tế, pháp luật của
hầu hết các nước cho phép mọi pháp nhân kinh tế và doanh nghiệp tư nhân ( tổ chức kinh
tế không có tư cách pháp nhân) khi có đầy đủ điều kiện tham gia hoạt động thương mại
trong nước thì cũng được phép tham gia hoạt động thương mại quốc tế. Và một tổ chức
kinh tế khi muốn trở thành chủ thể trong quan hệ kinh doanh thương mại trong nước thì

21

Luật thương mại 2005, điều 6.

22

Luật thương mại 2005, điều 6, khoản 1

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

18

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
đòi hỏi tổ chức đó phải có tư cách thương nhân. Đồng thời, trong quá trình hoạt động
thương mại quốc tế, thương nhân phải tuân thủ theo pháp luật của nước nơi nó hoạt động.
1.4.3 Quốc gia
Giao dịch thương mại quốc tế không chỉ diễn ra giữa các chủ thể là cá nhân hoặc
công ty, doanh nghiệp, mà bên cạnh đó, trong các hợp đồng thương mại quốc tế thường
xuyên có sự liên quan của cơ quan nhà nước (hoặc chính Quốc gia).

Quốc gia tham gia quan hệ thương mại quốc tế với các chủ thể khác như cá nhân và
tổ chức. Khi tham gia quan hệ này, quốc gia luôn là chủ thể đặc biệt và được hưởng quy
chế đặc biệt. Theo đó, một số nguyên tắc giao dịch trong hợp đồng sẽ bị hạn chế áp dụng
nếu các quốc gia tham gia với tư cách chủ thể không tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ của
mình, cụ thể:
Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng. Về mặt lý luận, khi tham gia kí kết một hợp đồng
dân sự nói chung và hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng, các bên chủ thể của quan hệ
hợp đồng luôn bình đẳng với nhau. Tuy nhiên, trong quan hệ hợp đồng mà một bên chủ
thể là Nhà nước thì nguyên tắc bình đẳng hầu như không được đặt ra. Bởi vì, khác với
loại chủ thể khác như cá nhân và tổ chức, quốc gia là loại chủ thể có chủ quyền. Quốc gia
có quyền tối cao trong quan hệ đối nội cũng như đối ngoại.
Thứ hai, nguyên tắc chọn luật. Về mặt lý luận, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các
bên chủ thể, do đó các bên có quyền thỏa thuận tất cả những vấn đề mà pháp luật không
cấm, trong đó có cả việc chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Các bên có thể chọn luật do
các bên mang quốc tịch, luật nơi kí kết hợp đồng, luật nơi thực hiện hợp đồng…Tuy
nhiên, trong trường hợp hợp đồng mà quốc gia là một bên chủ thể thì vấn đề chọn luật áp
dụng cho hợp đồng đó không được đặt ra vì pháp luật áp dụng cho hợp đồng sẽ là pháp
luật của quốc gia với tư cách chủ thể của quan hệ hợp đồng đó.
Như vậy, về mặt thực tế cũng như về mặt pháp lý, tất cả các quốc gia khi tham gia kí
kết các hợp đồng thương mại quốc tế với cá nhân hay tổ chức đều được hưởng quyền ưu
đãi đặc biệt. Theo đó, quốc gia có quyền đương nhiên áp dụng luật của nước mình vào
hợp đồng và nếu có tranh chấp xảy ra thì được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và tài sản
của quốc gia.
Như đã phân tích nội dung quyền miễn trừ quốc gia tại phần “Tranh chấp thương
mại quốc tế phát sinh giữa Chính phủ tiếp nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài”, thì sự
ưu đãi đặc biệt của quốc gia trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng đã làm hạn chế rất
nhiều các giao dịch kinh doanh giữa quốc gia với các chủ thể khác. Tuy nhiên, vì đây là
đặc quyền nên quốc gia có thể tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp của mình vào bất
cứ thời điểm nào. Trong trường hợp này, quốc gia sẽ chịu trách nhiệm pháp lý trong quan
hệ hợp đồng giống như các chủ thể khác. Để thực hiện quyền này của mình, quốc gia quy

GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

19

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
định trong luật pháp nước mình những trường hợp từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia, chẳng
hạn như quy định một số quốc gia nước ngoài sẽ không được hưởng quyền miễn trừ xét
xử trước tòa án nếu quốc gia nước ngoài đó đã tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia.
Ngoài việc quy định trong luật pháp nước mình về các trường hợp từ bỏ quyền miễn trừ
quốc gia thì trong quan hệ quốc tế, các quốc gia tham gia kí kết các Điều ước quốc tế,
trong đó tự nguyện từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia trong một số trường hợp nhất định. Ví
dụ, để giải quyết những tranh chấp giữa một quốc gia với công dân mang quốc tịch nước
ngoài trong lĩnh vực đầu tư quốc tế, một số nước đã kí kết và tham gia Công ước
Washington năm 1965 về giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư giữa các quốc
gia và các công dân nước khác. Theo đó, việc giải quyết tranh chấp giữa các bên được
tiến hành trước một tổ chức trọng tài thiết chế và dưới sự giám sát của trung tâm quốc tế
giải quyết các tranh chấp đầu tư (International Centre for the Settlement of Investment
Disputes- ICSID).
1.5 Nguồn luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương
thức trọng tài
1.5.1 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế được xem là nguồn của luật thương mại quốc tế khi các điều ước
này điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thương mại nói chung và thương mại
có yếu tố nước ngoài nói riêng, đặc biệt là tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể trong quan
hệ thương mại quốc tế. Căn cứ vào số lượng chủ thể của điều ước quốc tế, có thể chia
thành hai loại: điều ước quốc tế song phương và điều ước quốc tế đa phương.
Điều ước quốc tế song phương là loại điều ước quốc tế do hai bên chủ thể trong quan

hệ quốc tế ký kết với mục đích xác lập mối quan hệ pháp lý giữa hai bên trong hoạt động
thương mại quốc tế và những quy định trong các điều ước quốc tế song phương chỉ điều
chỉnh các quan hệ pháp lý giữa hai bên kí kết. Ví dụ như Hiệp định thương mại Việt Nam
- Hoa Kỳ năm 2001, Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Thuỵ Sỹ
năm 2000.
Điều ước quốc tế đa phương là loại điều ước quốc tế do ba bên chủ thể trong quan
hệ thương mại quốc tế trở lên ký kết hoặc tham gia như Hiệp định chung về thuế quan và
mậu dịch (GATT- The General Agreement on Tariff and Trade) được ký kết năm 1947,
Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được ký kết năm 1980...Các quy
định điều ước quốc tế đa phương có giá trị bắt buộc đối với các thành viên của điều ước.
Ngoài ra, còn có điều ước quốc tế quy định những nguyên tắc chung và loại điều ước quy
định một cách cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thương mại quốc tế.
Điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các quốc gia, do đó các điều ước này có giá
trị bắt buộc áp dụng đối với các nước thành viên trên nguyên tắc tự nguyện thực hiện các
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương

20

SVTH: Nguyễn Thị Đào


Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda). Đây là nguyên tắc được áp dụng trong công pháp
quốc tế nhằm điều chỉnh các hành vi của các quốc gia. Như vậy, khi các nước ký kết hoặc
tham gia các điều ước quốc tế về thương mại này sẽ đương nhiên được áp dụng để điều
chỉnh các hành vi của quốc gia trong hoạt động thương mại quốc tế.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, các điều ước quốc tế được áp dụng trên các
nguyên tắc:
Thứ nhất, điều ước quốc tế về thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý bắt buộc đối
với các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế, nếu các bên chủ thể này có quốc

tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở ở các quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế đó.
Thứ hai, trong trường hợp có sự quy định khác nhau giữa điều ước quốc tế và luật
trong nước của nước là thành viên của điều ước quốc tế đó thì quy định của điều ước
quốc tế được ưu tiên áp dụng.
Thứ ba, trong trường hợp các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế không
mang quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở thương mại ở các nước thành viên của một điều
ước quốc tế về thương mại thì các quy định trong điều ước quốc tế này vẫn điều chỉnh
quyền và nghĩa vụ của các bên, nếu các bên thỏa thuận áp dụng các điều khoản của điều
ước quốc tế đó.
Tại Việt Nam, bên cạnh điều ước quốc tế song phương như các hiệp định về thương
mại, các hiệp định về thương mại và hàng hải, các hiệp định về thanh toán quốc tế ..., thì
bên cạnh đó vẫn còn có một số điều ước quốc tế đa phương về thương mại được coi là
nguồn của luật thương mại quốc tế Việt Nam như Công ước New York năm 1958 về
công nhận và thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài, Công ước Vacxava năm
1929 về thống nhất trong vận tải hàng không quốc tế...Những điều ước quốc tế song
phương và đa phương này là cơ sở pháp lý để Việt Nam hòa nhập với cộng đồng quốc tế
trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa
chủ thể tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế.
1.5.2 Pháp luật quốc gia
Pháp luật là công cụ pháp lý cơ bản và chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng của
mình. Cũng như mọi lĩnh vực khác, trong thương mại quốc tế, pháp luật đóng vai trò
quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động phát sinh của các chủ thể. Luật quốc gia
trong quan hệ thương mại quốc tế là tổng hợp các quy định điều chỉnh các hoạt động của
các chủ thể trong hoạt động thương mại quốc tế. Với tư cách là nguồn của luật thương
mại quốc tế, luật quốc gia có thể được thể hiện dưới hình thức bằng văn bản hoặc không
bằng văn bản, tùy thuộc vào từng hệ thống pháp luật nhất định. Pháp luật của mỗi quốc
gia được áp dụng trong thương mại quốc tế trong hai trường hợp, đó là khi các bên chủ
thể thỏa thuận áp dụng và khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến đến luật của quốc gia.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương


21

SVTH: Nguyễn Thị Đào


×