Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

Nghiên cứu kết quả điều trị ung thư biểu mô tế bào gan bằng phương pháp tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu DC beads

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (258.59 KB, 29 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
===***===

THÁI DOÃN KỲ

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP
TẮC MẠCH HÓA CHẤT SỬ DỤNG HẠT VI CẦU DC BEADS

Chuyên nghành: Nội Tiêu hoá
Mã số: 62.72.01.43

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC


Hµ Néi – 2015


Công trình này được hoàn thành tại
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108

Hướng dẫn khoa học:
1. GS. TS. Mai Hồng Bàng
2. GS. TS. Phạm Minh Thông

Phản biện 1:


GS.TS. Nguyễn Bá Đức

Phản biện 2:

PGS.TS. Trần Việt Tú

Phản biện 3:

PGS.TS. Nguyễn Quốc Dũng

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường
Vào hồi:

giờ

ngày

tháng

năm 2015

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc Gia
- Thư viện Viện NCKH Y Dược lâm sàng 108


1

CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. Tiếng Việt

BN:
CHT:
CLVT:
ĐM:
ĐNCT:
ĐƯHT:
TMC:
THBH:
TMTQ:
UTTBG:
2. Tiếng Anh.
AFP:
BCLC:
CLIP:
DEB:
HIFU:
ECOG:
PET/CT:
PEI:
RECIST:
RFA:
TACE:

Bệnh nhân
Cộng hưởng từ
Cắt lớp vi tính
Động mạch
Đốt nhiệt cao tần
Đáp ứng hoàn toàn
Tĩnh mạch cửa

Tuần hoàn bàng hệ
Tĩnh mạch thực quản
Ung thư biểu mô tế bào gan
Alpha fetoprotein
Barcelona Clinic Liver Cancer
(Viện ung thư gan Barcelona)
Cancer of the Liver Italian Programe
(Chương trình ung thư gan Italy)
Drug- Eluting Beads (Các hạt giải phóng hóa chất)
High intensity focused ultrasound
(Siêu âm hội tụ cường độ cao)
Eastern Cooperation of Oncology Group
(Nhóm hợp tác ung thư miền Đông - Hoa Kỳ)
Positron Emision Tomography/Computer
Tomography (Chụp cắt lớp vi tính phát xạ positron)
Percutaneous Ethanol Injection
(Tiêm ethanol qua da)
Response Evaluation Criteria in Solid Tumors
(Chỉ tiêu đánh giá đáp ứng khối u rắn)
Radiofrequency Ablation (Đốt nhiệt sóng cao tần)
Trans-Arterial ChemoEmbolization
(Tắc mạch hóa chất)


2

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư biểu mô tế bào gan (UTTBG) là một trong những loại ung thư
phổ biến nhất ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới. Phẫu thuật là
phương pháp điều trị tối ưu nhưng chỉ áp dụng được cho khoảng 20-30% số BN

do phần lớn phát hiện bệnh ở giai đoạn bệnh tiến triển hoặc giai đoạn muộn. Tắc
mạch hóa chất là một phương pháp điều trị tạm thời cơ bản cho các trường hợp
ung thư biểu mô tế bào gan không còn chỉ định phẫu thuật, tuy nhiên tỷ lệ hoại
tử hoàn toàn khối u thấp, có thể gặp biến chứng nặng nề lên gan và toàn thân sau
can thiệp. Tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu DC Beads là phương pháp tắc
mạch cải tiến, sử dụng các hạt vi cầu vừa là chất mang thuốc và giải phóng thuốc
một cách ổn định bên trong môi trường khối u, vừa là tác nhân gây tắc mạch.
Phương pháp này đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên ở Việt
Nam mới chỉ có một số Bệnh viện lớn bắt đầu triển khai ứng dụng phương pháp
này trong điều trị UTTBG.
Mục tiêu:
- Đánh giá kết quả điều trị UTTBG bằng phương pháp tắc mạch hóa chất
sử dụng hat vi cầu DC Beads
- Đánh giá các tác dụng không mong muốn và biến chứng của phương pháp
tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu DC Beads trong điều trị UTTBG.
Giới thiệu luận án
* Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 134 trang, gồm: Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu ( 2
trang), Tổng quan (38 trang), Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (17 trang),
Kết quả nghiên cứu (35 trang), Bàn luận (39 trang), Kết luận (2 trang) và Kiến
nghị (1 trang). Luận án có 29 bảng, 20 biểu đồ, 21 mục hình ảnh. Luận án có
147 tài liệu tham khảo, trong đó 25 tài liệu tiếng Việt và 122 tài liệu tiếng Anh.
* Đóng góp mới của luận án
Là một nghiên cứu ứng dụng phương pháp điều trị mới trong điều trị
UTTBG ở nước ta, cho kết quả tốt và an toàn: tỷ lệ đáp ứng lâm sàng 72,4%; đáp


3

ứng AFP 62,7%. Tỷ lệ đáp ứng khối u tại thời điểm 1-3 tháng là 72,4% và tại

thời điểm 4-6 tháng là 50,5%. Thời gian sống thêm trung bình đạt 27,9±1,6
tháng và thời gian sống thêm không tiến triển đạt 15,3±1,4 tháng. Hội chứng sau
tắc mạch chủ yếu ở mức độ nhẹ và diễn biến trung bình 3-4 ngày sau can thiệp,
ít tác dụng không mong muốn lên toàn thân, tỷ lệ biến chứng thấp (3,5%) và
không có tử vong liên quan đến can thiệp.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Dịch tế học UTTBG trên thế giới và Việt Nam
Ung thư gan, chủ yếu là UTTBG là một trong những loại ung thư
thường gặp nhất trên thế giới. Tỷ lệ mắc khác nhau giữa các khu vực, các nước
trên thế giới do liên quan đến các yếu tố nguy cơ, mà rõ rệt nhất là nhiễm vi rút
viêm gan B và viêm gan C mạn tính. Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tỷ
lệ mắc bệnh cao nhất thế giới. Theo GLOBOCAN năm 2012, ở nước ta ung thư
gan là loại ung thư hàng đầu về mức độ phổ biến cũng như tỷ lệ tử vong, với số
mới mắc khoảng 22.000 người và tỷ lệ tử vong cũng gần 21.000 người.
1.2. Những tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh UTTBG hiện nay
1.2.1. Siêu âm cản âm
Siêu âm cản âm làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm trong chẩn
đoán UTTBG. Hình ảnh điển hình của UTTBG trên siêu âm cản âm là ổ tăng âm
mạnh ngay sau tiêm chất cản âm (15-20 giây) và giảm âm rõ ở thì muộn (2-3
phút) khi so sánh với nhu mô xung quanh.
1.2.2. Chụp cắt lớp vi tính đa dãy: Hiện nay chụp chụp cắt lớp vi tính (CLVT)
đa dãy 3 thì được coi là kỹ thuật chuẩn trong chẩn đoán UTTBG. Hình ảnh điển
hình của UTTBG là ngấm thuốc cản quang thì động mạch, thải trừ thuốc nhanh
ở thì tĩnh mạch cửa và thì muộn. Tiến bộ gần đây nhất trong chụp CLVT đối với
bệnh lý gan mật là chụp tưới máu thể tích.
1.2.3. Chụp cộng hưởng từ
Chụp cộng hưởng từ (CHT) cung cấp hình ảnh tương phản của khối u so
với nhu mô gan tốt hơn so với chụp CLVT. Những tiến bộ về kỹ thuật hiện nay



4

trong chụp CHT bao gồm kỹ thuật chụp ảnh song song, hệ thống chênh lệch lực
với kỹ thuật tăng tốc, kỹ thuật 3D tăng độ phân giải và hình ảnh không gian 3
chiều, chụp CHT 3 tesla tăng tỷ lệ tín hiệu/nhiễu. Ngoài ra sự phát triển của hình
ảnh đối xung lan tỏa cũng như các chất đối quang từ, đặc biệt là chất đối quang
từ đặc hiệu tế bào, đã làm tăng hiệu quả phát hiện và mô tả đặc điểm khối u gan.
Chụp CHT khuếch tán cũng là một tiến bộ kỹ thuật có nhiều hứa hẹn trong chẩn
đoán UTTBG hiện nay.
1.2.4. Chụp PET/CT
Chụp cắt lớp vi tính phát xạ positron (PET/CT) cũng là một phương
pháp có giá trị trong chẩn đoán UTTBG, đặc biệt là chẩn đoán giai đoạn vì có
thể phát hiện tốt hơn các di căn ngoài gan.
1.2.5. Một số hướng dẫn đồng thuận trên thế giới chẩn đoán UTTBG dựa vào
các phương pháp chẩn đoán hình ảnh
Với những tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh, có thể cho phép khẳng
định chẩn đoán UTTBG mà không cần dựa vào các phương pháp xâm nhập.
Hiện nay có nhiều hướng dẫn đồng thuận về chẩn đoán và điều trị UTTBG được
tham khảo rộng rãi.
1.3. Các hệ thống phân chia giai đoạn trong UTTBG
Hiện nay, đối với UTTBG có rất nhiều hệ thống phân chia giai đoạn
được đề xuất. Các yếu tố đánh giá bao gồm yếu tố khối u, chức năng gan, AFP
huyết thanh và chỉ số tổng trạng.
1.4. Những tiến bộ trong điều trị UTTBG hiện nay
1.4.1. Phẫu thuật cắt gan
Phẫu thuật cắt gan là lựa chọn tối ưu cho các trường hợp UTTBG còn
chỉ định phẫu thuật. Những tiến bộ về dụng cụ, kỹ thuật và hồi sức đã giúp làm
giảm biến chứng và tử vong sau mổ, đồng thời cải thiện đáng kể thời gian sống
thêm lâu dài. Hiện nay phẫu thuật cắt gan nội soi cũng ngày càng được ứng dụng

rộng rãi ở trong nước cũng như quốc tế.
1.4.2. Ghép gan: Ghép gan được cho là phương pháp lý tưởng nhất trong điều trị
UTTBG vì vừa loại bỏ được khối u, vừa loại bỏ được xơ gan. Hiện nay chỉ tiêu
Milan thường được áp dụng để lựa chọn BN cho chỉ định này. Tỷ lệ sống thêm


5

sau 5 năm sau ghép gan có thể đạt tới 60-70%. Ghép gan người cho sống cũng là
một tiến bộ trong phẫu thuật gan mật và ghép tạng. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay
chỉ định ghép gan trong điều trị UTTBG còn hạn chế do thiếu thốn nguồn cho
ghép và chi phí điều trị cao.
1.4.3. Các phương pháp phá hủy khối u tại chỗ
Phá hủy khối u tại chỗ cũng là một phương pháp điều trị triệt căn cho
các trường hợp UTTBG kích thước nhỏ mà không phù hợp với phẫu thuật. U
gan dưới 5cm và không quá 3 u là những chỉ định tốt nhất cho các phương
pháp phá hủy khối u tại chỗ. Các phương pháp hiện nay đang áp dụng là tiêm
ethanol qua da (PEI), đốt nhiệt sóng cao tần (RFA), siêu âm hội tụ cường độ
cao (HIFU), phá hủy bằng vi sóng (microwave ablation) hoặc bằng lazer...
trong đó RFA là phương pháp được áp dụng rộng rãi nhất. Tỷ lệ sống thêm sau
5 năm có thể đạt 40-60%.
1.4.4. Các phương pháp can thiệp qua đường động mạch
Tắc mạch hóa chất (hóa tắc mạch, nút mạch hóa chất, tắc mạch hóa
dầu..., tên tiếng Anh TACE hay TOCE) đã được chấp nhận rộng rãi là phương
pháp điều trị tạm thời cơ bản cho các trường hợp UTTBG không còn chỉ định
phẫu thuật, với hiệu quả lâm sàng đã được chứng minh là kiểm soát được sự phát
triển của khối u và kéo dài thời gian sống thêm cho BN. Gần đây, tắc mạch hóa
chất sử dụng hạt vi cầu mang thuốc và tắc mạch xạ trị đang ngày càng được áp
dụng rộng rãi ở nhiều trung tâm trên thế giới.
1.4.5. Điều trị hệ thống

Điều trị hóa chất toàn thân ít mang lại kết quả trong khi độc tính cao do
gan xơ. Hiện nay điều trị nhắm trúng đích đang rất được chú trọng với các thuốc
có trọng lượng phân tử nhỏ hoặc các kháng thể đơn dòng có tác dụng ngăn chặn
quá trình truyền tin của tế bào ung thư và ức chế quá trình tăng sinh mạch.
Sorafenib là chất được nghiên cứu nhiều nhất và đã được chấp nhận rộng rãi ở
nhiều nước.
Điều trị đa mô thức, phối hợp can thiệp qua da với can thiệp qua đường
động mạch hoặc với các thuốc nhắm trúng đích đang là xu hướng được áp dụng
rộng rãi hiện nay.


6

1.5. Tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu DC Beads
1.5.1. Cấu tạo và tính chất dược động học của hạt DC Beads
DC BeadsTM (Biocompatibles UK) là một dạng vật liệu mềm hình cầu
có kích thước rất nhỏ (70-900µm) được cấu tạo bởi đường đa phân có gắn nhóm
sulfonat và được polymer hóa. Các hạt này có thể gắn kết hóa chất và giải phóng
hóa chất chống ung thư như doxorubicin. Sự gắn kết và giải phóng hóa chất khỏi
hạt DC Beads xảy ra do tương tác hóa học, và đã được chứng minh bằng các
nghiên cứu trên thực nghiệm và trên động vật.
1.5.2. Cơ chế tác động
Cơ chế tác động của tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu DC Beads
trong điều trị UTTBG cũng tương tự như trong tắc mạch hóa chất truyền thống
(sử dụng lipiodol trộn với hóa chất) là gây ra sự thiếu máu nuôi dưỡng khối u
cùng với hóa chất gây độc tế bào tập trung trong khối u. Trong tắc mạch vi cầu,
nhờ tính chất đặc hiệu của hạt vi cầu mà cho phép sử dụng liều hóa chất cao hơn
trong một lần can thiệp, lưu giữ hóa chất lâu hơn bên trong khối u và giải phóng
hóa chất một cách tương đối ổn định theo thời gian trong khi hạn chế được sự
khuếch tán hóa chất ra tuần hoàn hệ thống. Các hạt vi cầu cũng làm tắc nghẽn

sâu sắc và lâu dài các mạch máu nuôi khối u. Chính vì vậy hiệu quả tiêu diệt
khối u được tăng cường, trong khi hạn chế được độc tính gan và toàn thân do
hóa chất chống ung thư gây ra.
1.5.3. Áp dụng lâm sàng
Về chỉ định và chống chỉ định trong điều trị UTTBG: tương tự như tắc
mạch hóa chất truyền thống. Ngoài ra còn được áp dụng trong điều trị ung thư
gan thứ phát (ví dụ: ung thư đại trực tràng di căn gan).
1.5.4. Hiệu quả lâm sàng và biến chứng
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi
cầu DC Beads là phương pháp an toàn và có hiệu quả trong điều trị UTTBG.
Nhiều nghiên cứu có đối chứng cho thấy phương pháp này cho hiệu quả đáp ứng
khối u tốt hơn, trong khi độc tính gan và toàn thân thấp hơn so với tắc mạch hóa
chất truyền thống. Tuy nhiên hiệu quả về sống thêm lâu dài cũng đang cần được
tiếp tục khẳng định. Ở nước ta mới chỉ có một số cơ sở y tế bắt đầu triển khai áp


7

dụng phương pháp này và chưa có một công trình nào đánh giá kết quả sống
thêm lâu dài của các BN UTTBG được điều trị bằng phương pháp tắc mạch hóa
chất sử dụng hạt vi cầu DC Beads.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Gồm 105 BN được chẩn đoán xác định UTTBG,
điều trị nội trú tại Bệnh viện TƯQĐ 108. Thời gian nghiên cứu tính từ tháng
6/2011 đến tháng 2/2015.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Các BN mới được chẩn đoán xác định UTTBG bằng tế bào học
và/hoặc mô bệnh học; hoặc dựa trên chẩn đoán hình ảnh điển hình theo các
hướng dẫn đồng thuận quốc tế.

- Các BN chẩn đoán UTTBG tái phát sau phẫu thuật cắt gan, sau điều trị
tiêu hủy khối u qua da (tiêm ethanol qua da hoặc RFA) hoặc tái phát sau điều trị
tắc mạch hóa chất truyền thống với thời gian tối thiểu 12 tháng trước khi tuyển
chọn vào nghiên cứu.
- Tuổi 18-80. Chỉ số thể trạng (ECOG) từ 0-2.
- Chức năng gan xếp loại Child - Pugh A hoặc B
- Không có huyết khối thân tĩnh mạch cửa, không có di căn ngoài gan.
Không có bệnh nặng kết hợp (suy tim, suy thận, suy hô hấp…). Bệnh nhân đồng
ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Xơ gan Child C. Thể trạng kém (ECOG ≥3).
- Có di căn ngoài gan hoặc có huyết khối thân hoặc nhánh chính tĩnh
mạch cửa. Đang chảy máu do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản. Rối loạn đông máu:
tỷ lệ prothrombin < 60%; tiểu cầu < 50 G/l. Có bệnh nặng kết hợp. Phụ nữ có
thai hoặc cho con bú.
- Bệnh nhân không đồng ý phương pháp điều trị được chỉ định. Các
bệnh nhân không theo dõi được.


8

2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kết nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu, can thiệp không đối chứng,
theo dõi dọc.
2.2.3. Phương tiện nghiên cứu
- Các máy móc xét nghiệm, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện
đại được sử dụng thường quy tại Bệnh viện, máy chụp mạch số hóa xóa nền.
Hóa

chất


doxorubicin

(Ebewe

Pharma,

Austria).

Hạt

DC-BeadsTM

(Biocompatibles, Surrey, UK) với 3 loại kích cỡ hạt: 100-300μm, 300-500μm và
500-700μm.
2.2.4. Các bước tiến hành nghiên cứu
2.2.4.1. Chuẩn bị bệnh nhân: Thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng.
* Cận lâm sàng:
- Xét nghiệm máu thường quy (công thức máu, sinh hóa, miễn dịch).
- Chẩn đoán hình ảnh: siêu âm, chụp CLVT đa dãy 3 thì.
* BN được giải thích về phương pháp điều trị, viết giấy cam đoan.
2.2.4.2 Tiến hành kỹ thuật: theo các bước cơ bản của quy trình kỹ thuật tắc mạch
hóa chất truyền thống, tham khảo thêm hướng dẫn đồng thuận của Châu Âu về
quy trình kỹ thuật tắc mạch với hạt vi cầu DC-Beads năm 2011.
2.2.4.3. Theo dõi sau can thiệp:
* Theo dõi hội chứng sau tắc mạch
* Theo dõi các biến chứng của can thiệp
* Theo dõi định kỳ 1-3 tháng sau can thiệp: khám lâm sàng, định lượng AFP,
công thức máu, sinh hoá toàn bộ, đông máu. Siêu âm gan và chụp CLVT ổ
bụng 3 thì đánh giá sự thay đổi kích thước và tính chất u gan; đánh giá tái

phát trong gan và di căn ngoài gan. Các trường hợp phát hiện tổn thương còn
sót hoặc tái phát được tiến hành can thiệp tắc mạch vi cầu lại hoặc lựa chọn
các phương pháp điều trị khác phù hợp tuỳ theo đặc điểm u gan trên chẩn
đoán hình ảnh, tình trạng toàn thân cũng như chức năng gan.
* Các trường hợp bệnh tiến triển, tái phát hoặc di căn xa mà không còn phù
hợp với chỉ định điều trị tắc mạch hay can thiệp qua da nữa sẽ được chuyển


9

sang điều trị bằng các liệu pháp toàn thân (hóa chất, Nexavar, liệu pháp miễn
dịch…) hoặc chăm sóc giảm nhẹ. Theo dõi thời gian sống thêm toàn bộ.
2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1. Các thông số lâm sàng và cận lâm sàng của BN trước điều trị
* Lâm sàng:
+ Tuổi, giới. Các yếu tố nguy cơ
+ Điều trị trước: phẫu thuật cắt gan, đốt nhiệt sóng cao tần, tiêm etanol
qua da, hoặc chưa được can thiệp điều trị gì trước đó.
+ Triệu chứng cơ năng, thực thể
+ Tổng trạng bệnh nhân theo chỉ số ECOG
* Các xét nghiệm cận lâm sàng:
+ Xét nghiệm công thức máu, sinh hóa
+ AFP huyết thanh: chia 3 nhóm: bình thường (≤ 20 ng/ml hay 18,4
IU/ml),

tăng

(20-200ng/ml)




tăng

cao

(>200ng/ml).

Quy

đổi

1

Iu/ml=0,92ng/ml.
+ Đánh giá chức năng gan theo bảng phân loại Chuld-Pugh
* Các thông số khối u dựa trên các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh:
+ Vị trí u gan, kích thước, hình thái, xâm lấn mạch
* Phân chia giai đoạn bệnh theo Okuda, CLIP và Barcelona
*Kết quả giải phẫu bệnh lý: độ biệt hóa tế bào (cao, vừa, thấp)
2.3.2. Các thông số về kỹ thuật can thiệp
* Số lần can thiệp hoá tắc mạch.
* Các mức độ can thiệp: thùy, phân thùy, hạ phân thùy, tắc tuần hoàn bàng hệ
ngoài gan, tắc THBH kết hợp tắc ĐM gan.
* Liều lượng hoá chất: liều doxorubicin /lần can thiệp (mg)
* Loại kích cỡ hạt DC Beads: (100-300µm, 300-500µm, 500-700µm).
* Diễn biến lâm sàng sau can thiệp:
+ Hội chứng sau tắc mạch: đau, sốt, mệt mỏi, buồn nôn-nôn. Chia thành
các mức độ: nặng - vừa - nhẹ. Thời gian bị trung bình (ngày).



10

+ Thay đổi các chỉ số xét nghiệm máu: công thức máu, chức năng gan
thận, transaminase, bilirubin (đánh giá tại các thời điểm 2-5 ngày sau can thiệp
và 4-8 tuần sau can thiệp).
+ Tác dụng phụ toàn thân do hóa chất: rụng tóc, giảm bạch cầu…
* Biến chứng sau can thiệp: Viêm túi mật cấp, suy gan cấp, suy thận cấp, áp xe
hóa khối u, tràn dịch màng phổi, nhiễm khuẩn huyết, xuất huyết tiêu hóa….và tử
vong liên quan đến kỹ thuật.
2.3.3. Các thông số về kết quả điều trị
* Đáp ứng lâm sàng: đánh giá 1-3 tháng sau điều trị can thiệp lần 1, chủ yếu dựa
vào triệu chứng chủ quan của người bệnh, chia 3 nhóm: tốt, như cũ hoặc xấu
hơn.
* Thay đổi hàm lượng AFP sau điều trị: giảm, không đổi, tăng so với trước điều
trị. Đánh giá đáp ứng AFP huyết thanh ở các BN có tăng AFP trước điều trị
(được coi là có đáp ứng nếu AFP huyết thanh về bình thường hoặc giảm ít nhất
50% giá trị so với trước điều trị).
* Tỷ lệ đáp ứng khối u tại các thời điểm 1-3 tháng và 4-6 tháng sau can thiệp lần
đầu: theo chỉ tiêu đánh giá đáp ứng khối u rắn cải tiến (Modified Response
Evaluation Criteria in Solid Tumors-mRECIST) của Hội Gan Mật Hoa Kỳ
(AASLD): Gồm: đáp ứng hoàn toàn, đáp ứng một phần, bệnh ổn định hoặc bệnh
tiến triển.
* Đánh giá tái phát tại các thời điểm thống kê: đối với các trường hợp đạt được
đáp ứng hoàn toàn sau can thiệp: gồm tái phát tại chỗ hoặc tái phát khối mới,
hoặc cả hai.
* Đánh giá di căn ngoài gan
* Đánh giá tỷ lệ sống thêm tại các thời điểm 1 năm, 2 năm và 3 năm. Thời gian
sống thêm trung bình.
+ Thời gian sống thêm không tiến triển bệnh: là khoảng thời gian tính từ
khi bắt đầu điều trị đến khi bệnh tiến triển, tái phát hoặc di căn.



11

+ Thời gian sống thêm toàn bộ: là khoảng thời gian tính từ khi bắt đầu
điều trị đến khi kết thúc nghiên cứu (nếu BN còn sống) hoặc đến khi BN tử vong
(nếu tử vong trước khi kết thúc nghiên cứu).
+ Phân tích thời gian sống thêm không tiến triển và thời gian sống thêm
toàn bộ của các dưới nhóm theo các yếu tố tiên lượng và giai đoạn bệnh, tình
trạng đáp ứng sớm u gan và AFP huyết thanh.
* Đánh giá tỷ lệ tử vong và nguyên nhân tử vong
2.4. Phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0.
- Kết quả được coi là có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm LS, CLS của bệnh nhân nghiên cứu trước điều trị
3.1.1. Đặc điểm tuổi, giới:
- Tuổi trung bình 56,4 ± 11,7. Nhóm tuổi 31-70 chiếm 83,8% (trong đó
nhóm tuổi 51-70 chiếm 55,2%).
- Tỷ lệ nam/nữ là 100/5 (95,2%/4,8%).
3.1.2. Các yếu tố nguy cơ: viêm gan B (85,7%), viêm gan C (2,9%), nghiện rượu
(1%), viêm gan kết hợp nghiện rượu (4,8%). Không rõ yếu tố nguy cơ (5,7%).
3.1.3. Điều trị trước khi nhập viện lần đầu: Chưa điều trị gì (82,9%), phẫu
thuật cắt gan (8,6%), can thiệp qua da (4,8%), điều trị hóa tắc mạch truyền thống
(3,8%).


12


Biểu đồ 3.3. Triệu chứng lâm sàng trước điều trị
3.1.4. Một số xét nghiệm cận lâm sàng
Các chỉ số transaminase trước điều trị: GOT: 65,5 ± 37,4 U/l;
GPT: 50,4 ± 33,5 U/l; bilirubin: 15,5 ± 6,6 µmol/l. Các chỉ số bạch cầu, hồng
cầu, huyết sắc tố, tiểu cầu trong giới hạn bình thường.
Tỷ lệ BN có AFP bình thường là 43,8%; AFP tăng từ 21-200ng/ml là
22,9% và AFP tăng cao trên 200 U/l là 33,3%.
Bảng 3.6. Một số đặc điểm hình thái u gan trước điều trị
Số lượng BN
Đặc điểm u gan
(n=105)

Tỷ lệ %

Thùy phải

95

90,5

Thùy trái

2

1,9

Cả 2 thùy

8


7,6

60

57,1

Vị trí

Số lượng u

1ổ
≥2ổ

45

42,9

Thể khối

93

88,6

Thể lan tỏa

12

11,4




11

10,5

Không

94

89,5

Shunt ĐM-TM



4

3,8

trong khối u

Không

101

96,2

Hình thái
Xâm lấn TMC
(huyết khối



13

Độ biệt hóa

Biệt hóa cao

23

33,8

tế bào

Biệt hóa vừa

32

47,1

Biệt hóa thấp

13

19,1

≤ 5cm

13


12,4

5,1-7,9cm

51

48,6

≥ 8cm

41

39

Nhóm KT u

Kích thước u TB

7,8 ± 2,5 cm (4,0-14,3cm)

3.1.5. Phân chia giai đoạn bệnh và chức năng gan:
Giai đoạn bệnh: Okuda: 78,1%; Okuda II 21,9%; CLIP 0-2: 92,4% ; CLIP
3-4: 7,6%; BCLC A 11,4%; BCLC B 78,1%; BCLC C 10,5%.
Chức năng gan: Child-Pugh A (94,3%), Child-Pugh B (5,7%).
3.2. Một số đặc điểm về kỹ thuật can thiệp
- 105 BN với tổng cộng 198 lần can thiệp. Số lần can thiệp trung bình trên 1
BN: 1,8± 0,9. Trong đó làm 1-2 lần chiếm 77,1%.
- Mức độ can thiệp tắc mạch: tắc ĐM hạ phân thùy 26,3%; tắc ĐM phân
thùy 30,3%; tắc ĐM thùy phải hoặc ĐM thùy trái 27,8%; tắc THBH đơn thuần
10,6% và tắc THBH kết hợp tắc ĐM gan 5%.

- Liều lượng doxorubicin trung bình 72,5 ± 15,4 mg/lần can thiệp.
- Loại kích cỡ hạt DC Beads sử dụng: Loại 100-300µm 44,5%; loại 300500µm 36,9%; loại 500-700µm 4,5%; kết hợp 2 loại kích cỡ hạt 14,1%. Có 7,5%
cần sử dụng sponge gây tắc bổ sung.
- Tỷ lệ THBH ngoài gan: 39/198 (22,7%) trong đó ĐM hoành dưới phải
chiếm 30/198 (16,2%).
- Điều trị kết hợp: ĐNCT 21,9%; tiêm ethanol qua da 17,1%; kết hợp cả
tiêm ethanol và ĐNCT 2,9%. Điều trị Sorafenib 1% và chuyển phẫu thuật cắt
gan 1,9%.
3.3. Diễn biến lâm sàng và kết quả sớm sau can thiệp
3.3.1. Hội chứng sau tắc mạch:


14

- Đau vùng gan: 142/198 (71,7%) trong đó mức độ nhẹ 56,3%; mức độ vừa
35,9% và mức độ nặng 7,8%. Số ngày bị trung bình là 3,1 ± 1,7 ngày.
- Sốt: 133/198 (67,2%) trong đó sốt nhẹ 68,4%; số vừa 24,1% và sốt cao
7,5%. Số ngày bị trung bình 4,3 ± 2,0 ngày.
- Mệt mỏi: 107/198 (54%) trong đó mệt ít 63,5%, mệt vừa 36,5%. Số ngày
bị trung bình 4,0 ± 2,3 ngày.
- Nôn, buồn nôn (7,6%) và chỉ bị trong ngày đầu sau can thiệp.
- Có 3 trường hợp rụng tóc (1,5%).

3.3..2 Biến đổi các chỉ số xét nghiệm
- Các chỉ số công thức máu ngoại vi thay đổi có ý nghĩa 2-5 ngày sau can
thiệp nhưng hồi phục ở thời điểm xét nghiệm 4-8 tuần.
- Các chỉ số transaminase và bilirubin tăng có ý nghĩa sau can thiệp
nhưng hồi phục ở thời điểm xét nghiệm 4-8 tuần sau điều trị.
- Các chỉ số albumin và prothrombin giảm có ý nghĩa sau can thiệp
nhưng vẫn nằm trong giới hạn bình thường và hồi phục ở thời điểm 4- 8 tuần.

- Có 2 trường hợp (1%) bị giảm bạch cầu <4G/l.
3.3.3. Biến chứng sau can thiệp
Trong 198 lần can thiệp gặp 7 lần bị biến chứng (3,5%). Trong đó: suy
gan cấp 2 trường hợp (1%), tràn dịch màng phổi 1 (0,5%), nhiễm khuẩn huyết 1
(0,5%). Xuất huyết tiêu hóa 1 (0,5%). Áp xe hóa khối u 2 (1%). Không có
trường hợp nào tử vong liên quan đến can thiệp.


15

Biểu đô 3.5. Đáp ứng lâm sàng sau can thiệp
Bảng 3.19. Thay đổi kích thước u tại các thời điểm theo dõi
Kích thước

Trước ĐT

1-3 tháng

4-6 tháng

9-12 tháng

u gan

(1)

(2)

(3)


(4)

7,8 ± 2,5

7,1 ± 3,0

6,8 ± 3,2

6,5 ± 3,6

p2-1 < 0,0001

p3-1 < 0,0001

p4-1< 0,0001

KT u trung
bình (cm)
p

Bảng 3.20. Tỷ lệ đáp ứng khối u sau điều trị tại các thời điểm theo dõi sớm

Đáp ứng khối u theo
RECIST cải tiến

4-6 tháng
(n=101)

1-3 tháng
(n=105)

N

%

n

%

Đáp ứng hoàn toàn

34

32,4

32

31,7

Đáp ứng 1 phần

42

40

19

18,8

Bệnh ổn định


18

17,1

15

14,8

Bệnh tiến triển

11

10,5

23

22,8

12

11,9

Tái phát sau khi đạt đáp
ứng hoàn toàn

Tỷ lệ đáp ứng u gan có liên quan đến kích thước u (< hay ≥ 8cm), số
khối u (1 ổ hay đa ổ), hình thái u gan (thể khối hay thể lan tỏa), tình trạng xâm
lấn mạch, giai đoạn bệnh theo Okuda hoặc theo Barcelona. Tỷ lệ đáp ứng u gan
không có liên quan ý nghĩa với chức năng gan theo Child Pugh, tình trạng tăng
AFP trước điều trị và mức độ biệt hóa tế bào. Tỷ lệ đáp ứng khối u cao hơn ở các



16

BN được điều trị bằng loại hạt DC Beads kích thước nhỏ hơn, tuy nhiên sự khác
biệt cũng chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.3.4. Thay đổi AFP sau điều trị
Sau can thiệp lần đầu, có 50/105 (47,6%) giảm AFP huyết thanh, 41/105
(39,1%) AFP không thay đổi và 14/105 (13,3%) AFP tăng so với trước điều trị.
Xét riêng ở nhóm có tăng AFP trước điều trị, tỷ lệ đáp ứng AFP huyết thanh là
62,7% và không đáp ứng là 37,3%.

3.4. Kết quả lâu dài sau điều trị
3.4.1. Các biến cố tái phát, di căn và tử vong
- Có 37/46 trường hợp tái phát sau khi đạt ĐƯHT toàn khối u, trong đó:
tái phát tại chỗ 15/46 (32,6%); tái phát khối mới 14/46 (30,4%); tái phát tại chỗ
kết hợp khối mới 8/46 (17,4%). Thời gian tái phát trung bình 11 tháng (4-31
tháng).
- Có 15 trường hợp phát hiện di căn xa, trong đó di căn hạch rốn gan
3/15 (20%), di căn phổi 7/15 (46,7%), di căn xương 2/15 (13,3%) và di căn
nhiều vị trí 3/15 (20%).
- Có 48 BN đã tử vong khi kết thúc nghiên cứu, trong nguyên nhân gây
thường gặp nhất là do bệnh tiến triển: 38/48 (79,2%), do suy gan hôn mê gan
4/48 (8,3%), do xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn TMTQ 4/48 (8,3%). 1 trường hợp
đột tử không rõ căn nguyên.
3.4.2. Kết quả sống thêm lâu dài
- Thời gian sống thêm không tiến triển bệnh đạt trung bình 15,3±1,4
tháng và sống thêm toàn bộ đạt trung bình 27,9 ± 1,6 tháng. Tỷ lệ sống thêm
toàn bộ sau 1 năm, 2 năm và 3 năm lần lượt là 72,4%; 55,2% và 41,3%.



17

Biểu đồ 3.9. Đường cong sống thêm không tiến triển và sống thêm toàn bộ
của cả nhóm nghiên cứu
- Thời gian sống thêm không tiến triển có liên quan đến đặc điểm hìn
thái u gan, xâm lấn mạch, mức độ biệt hóa tế bào, giai đoạn bệnh theo Okuda và
theo Barcelona.
- Thời gian sống thêm trung bình và tỷ lệ sống thêm tại các thời điểm
theo dõi không khác nhau có ý nghĩa ở các nhóm BN mới chẩn đoán và BN tái
phát (trung bình đạt 26 tháng, p > 0,05).
- Thời gian sống thêm trung bình và tỷ lệ sống thêm tại các thời điểm
theo dõi có liên quan đến các đặc điểm hình thái u gan và tình trạng tăng AFP
huyết thanh trước điều trị. Tăng AFP huyết thanh trước điều trị, u gan đa ổ, thể
lan tỏa, xâm lấn mạch, độ biệt hóa tế bào kém đều là các yếu tố tiên lượng xấu
đến kết quả sống thêm lâu dài sau điều trị.
- Thời gian sống thêm trung bình và tỷ lệ sống thêm tại các thời điểm
theo dõi cũng có liên quan đến chức năng gan theo Child Pugh, giai đoạn bệnh
theo Okuda và Barcelona.
- Đáp ứng sớm khối u và AFP huyết thanh sau can thiệp là các yếu tố dự
báo tích cực đến kết quả sống thêm lâu dài sau điều trị.
Chương 4
BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của các BN nghiên cứu trước điều trị
4.1.1. Triệu chứng lâm sàng và một số xét nghiệm CLS


18

Có 81,9% số BN đã có triệu chứng lâm sàng khi nhập viện (81,9%) cho

thấy phần lớn phát hiện bệnh không còn ở giai đoạn sớm. Các triệu chứng lâm
sàng thường gặp: đau hạ sườn phải (79%), mệt mỏi (63,8%), sút cân (51,4%),
gan to (47,6%). Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của các nghiên cứu khác
trong nước.
Hầu hết số trường hợp có chỉ số tổng trạng tốt từ 0-1 điểm (98,1%) và
có các xét nghiệm máu ngoại vi nằm trong giới hạn bình thường. Xét nghiệm
transaminase tăng nhẹ phản ánh bệnh gan mạn tính kèm theo. Tuy nhiên hơn
90% số BN trong nghiên cứu có chức năng gan Child Pugh A, chỉ có 5,7% Child
B và không có trường hợp nào xơ gan Child C (do lựa chọn đầu vào).
4.1.2. Xét nghiệm AFP huyết thanh
Có 43,8% số BN có giá trị AFP bình thường, 56,2% số BN có tăng
AFP huyết thanh trước điều trị, trong đó chỉ có 33,3% AFP tăng cao trên 200
ng/ml. Một số nghiên cứu cho thấy mức tăng AFP có liên quan đến kích
thước u và giai đoạn bệnh. Tuy nhiên một số nghiên cứu khác lại không thấy
có mối liên quan rõ rệt.
4.1.3. Một số đặc điểm hình thái u gan trước điều trị
Đặc điểm hình thái u gan là một trong những yếu tố quan trọng để xét
chỉ định điều trị. 57,1% BN trong nghiên cứu có 1 khối u gan, 42,9% số BN có
từ 2 khối u gan trở lên. Phần lớn số trường hợp có u gan thể khối (88,6%), chưa
có xâm lấn TMC (89,5%). Có 68 BN được chẩn đoán tế bào và hoặc mô bệnh
học cho kết quả UTTBG biệt hóa cao là 33,8%; biệt hóa vừa 47,1% và biệt hóa
kém 19,1%. 87,6% số BN có u gan kích thước lớn trên 5cm, kích thước u trung
bình của cả nhóm là 7,8 ± 2,5cm.
4.1.4. Đánh giá giai đoạn trước điều trị
Phần lớn số trường hợp trong nghiên cứu ở giai đoạn Okuda I (78,1%),
CLIP từ 0-2 (94,3%), và giai đoạn BCLC B (78,1%). Có 12 BN (11,4%) ở giai
đoạn sớm BCLC A nhưng không phù hợp với chỉ định phẫu thuật (tuổi cao, chức
năng gan kém, u gan vùng rốn gan) và có 2 trường hợp từ chối phẫu thuật. Có 11
BN (10,5%) ở giai đoạn BCLC C (có huyết khối nhánh TMC).
4.2. Một số đặc điểm về kỹ thuật can thiệp



19

4.2.1. Số lần can thiệp
Tổng cộng có 198 lần can thiệp, trung bình 1,8 lần/1 BN. Chủ yếu các
BN được làm 1-2 lần (77,1%). Các nghiên cứu về tắc mạch hóa chất truyền
thống ở trong nước cho thấy số lần can thiệp trung bình dao động từ 1,2 đến 3
lần. Nguy cơ suy gan tăng lên cùng với số lần can thiệp.
4.2.2. Mức độ can thiệp tắc mạch
Mức độ can thiệp tắc mạch phụ thuộc vào đặc điểm nguồn cấp máu khối
u, chức năng gan và sự lưu thông của TMC. Xu hướng hiện nay là thực hiện các
kỹ thuật chọn lọc và siêu chọn lọc. Trong nghiên cứu của chúng tôi gần 60% số
lần can thiệp ở mức hạ phân thùy hoặc phân thùy. Có 15,6% tắc THBH ngoài
gan nuôi khối u có hoặc không với tắc nhánh ĐM trong gan.

4.2.3. Liều lượng hóa chất và kích cỡ hạt DC Beads
Đối với tắc mạch hóa chất truyền thống, liều doxorubicin trung bình
là từ 20-60 mg/ lần can thiệp. Liều doxorubicin trung bình trong nghiên cứu
của chúng tôi là 72,5mg. Theo lý thuyết, nhờ tính chất đặc hiệu của hạt vi
cầu mà có thể cho phép sử dụng liều hóa chất cao hơn so nhằm làm tăng độc
tính của hóa chất trong khi ít e ngại các tác dụng phụ toàn thân.
Về kích cỡ hạt vi cầu DC Beads, hiện nay trên thị trường có 4 loại
kích cỡ hạt khác nhau từ 70-900µm. Các hạt kích cỡ nhỏ hơn có khả năng di
chuyển xa hơn, do vậy gây tắc nghẽn sâu sắc hơn, thời gian tải và giải phóng
hóa chất nhanh hơn. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng chủ yếu 2 loại
hạt kích cỡ nhỏ (100-300µm) và vừa (300-500µm) (81,4%). Kết quả bước đầu
cho thấy tỷ lệ đáp ứng khối u sau lần can thiệp đầu tiên cao hơn ở nhóm sử
dụng hạt kích cỡ nhỏ so với các nhóm sử dụng loại hạt kích cỡ lớn hơn. Tuy
nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Trong nghiên cứu này

cũng có 7,5% số lần can thiệp chúng tôi cần sử dụng sponge để tắc bổ sung do
hạt vi cầu không đủ gây tắc hoàn toàn các nhánh mạch nuôi khối u.
4.2.4. Điều trị kết hợp


20

Một xu hướng tất yếu trong điều trị ung thư nói chung và điều trị
UTTBG nói riêng là điều trị kết hợp đa mô thức. Đối với UTTBG, tắc mạch
hóa chất chỉ là phương pháp điều trị tạm thời, tỷ lệ hoại tử hoàn toàn khối u
thấp và cần phải thực hiện nhiều lần, nguy cơ gây suy gan tăng lên cùng với số
lần can thiệp. Trong nhiều trường hợp u gan còn sót hoặc tái phát sau can
thiệp, không phải lúc nào cũng có thể điều trị tắc mạch hóa chất nhắc lại.
Chính vì vậy chúng tôi có sử dụng các phương pháp can thiệp qua da như là
một liệu pháp bổ trợ cho những trường hợp UTTBG còn sót hoặc tái phát mà
không phù hợp cho tắc mạch hóa chất. Kết quả cho thấy có 44/105 BN được
điều trị kết hợp bằng đốt nhiệt cao tần hoặc tiêm ethanol qua da. Có 2 trường
hợp chuyển phẫu thuật cắt gan và 1 trường hợp dùng sorafenib. Nhiều nghiên
cứu trong nước và trên thế giới cho thấy điều trị kết hợp sẽ làm tăng hiệu quả
kiểm soát khối u và kéo dài được thời gian sống thêm cho người bệnh.
4.3. Diễn biến lâm sàng và kết quả sớm sau can thiệp
4.3.1. Tác dụng phụ và biến chứng
Hội chứng sau tắc mạch chúng tôi cũng thường gặp: đau hạ sườn phải
(71,7%), sốt (67,2%), mệt mỏi 54%. Tuy nhiên phần lớn số trường hợp các triệu
chứng này chỉ ở mức độ nhẹ và vừa, thời gian kéo dài trung bình 3-4 ngày. Các
nghiên cứu có đối chứng cho hội chứng sau tắc mạch vi cầu thường nhẹ nhàng
hơn so với hội chứng sau tắc mạch truyền thống, đặc biệt là đau hạ sườn phải.
Theo dõi biến đổi các chỉ số xét nghiệm máu sau can thiệp, chúng tôi
thấy mặc dù tạu thời điểm 2-5 ngày sau can thiệp có sự thay đổi có ý nghĩa, tuy
nhiên vẫn nằm trong giới hạn bình thường. Các chỉ số này đều hồi phục ở thời

điểm 4-8 tuần sau can thiệp.
Tổn thương gan là vấn đề cần lưu ý trong điều trị tắc mạch hóa chất cho
UTTBG. Tăng transamnase và bilirubin tạm thời là biểu hiện thường gặp trong
tuần lễ đầu sau can thiệp. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy các
chỉ số transaminase tăng gấp 3-4 lần và bilirubin tăng gấp 1,2 lần so với trước
điều trị nhưng đều hồi phục ở thời điểm 4-8 tuần sau can thiệp. Các nghiên cứu ở


21

nước ngoài cho thấy tỷ lệ tăng transaminase sau tắc mạch vi cầu thấp hơn so với
sau tắc mạch hóa chất truyền thống.
Chúng tôi cũng gặp 3 trường hợp rụng tóc (1,5%) và 2 trường hợp bị
giảm bạch cầu độ I. Đây là các tác dụng không mong muốn lên toàn thân.
Trong 198 lần can thiệp, chúng tôi gặp 7 trường hợp bị biến chứng
(3,5%). Trong đó đáng chú ý có 2 trường hợp bị suy gan cấp, 2 trường hợp bị áp
xe hóa khối u, 1 trường hợp bị tràn dịch màng phổi, 1 trường hợp bị nhiễm
khuẩn huyết và 1 trường hợp bị xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn TMTQ. Các
trường hợp biến chứng đều được xử trí nội khoa ổn định và không có trường hợp
nào tử vong liên quan đến kỹ thuật can thiệp, cho thấy tắc mạch vi cầu là phương
pháp khá an toàn.
4.3.2. Đáp ứng lâm sàng sau can thiệp
Có 72,4% số BN cải thiện được triệu chứng lâm sàng sau can thiệp (đỡ
đau vùng gan, ăn uống tốt lên, tăng cân). Có 21% số BN không thay đổi triệu
chứng lâm sàng và 6,6% lâm sàng xấu đi (đây là các trường hợp có biến chứng
hoặc do bệnh tiến triển). Kết quả của chúng tôi cũng tương tự như các nghiên
cứu về tắc mạch hóa chất truyền thống.
4.3.3. Đáp ứng AFP huyết thanh
Tính trên cả 105 BN có gần 50 % TH giảm AFP huyết thanh sau can
thiệp. Có 39,1% số TH AFP không thay đổi và có 13,3% số TH có tăng AFP sau

điều trị. Đánh giá trên các BN có tăng AFP trước điều trị, có 62,7% số TH có
đáp ứng AFP (giảm về bình thường hoặc giảm ít nhất 50% so với trước điều trị).
4.3.4. Đáp ứng u gan sau can thiệp
Tại các thời điểm theo dõi (1-3 tháng, 4-6 tháng và 9-12 tháng) kích
thước u trung bình của cả nhóm giảm có ý nghĩa so với trước điều trị.
Sử dụng chỉ tiêu đánh giá đáp ứng khối u rắn cải tiến (modified
RECIST) của Hiệp hội Gan mật Mỹ đề xuất năm 2008, kết quả của chúng tôi
cho thấy tỷ lệ đáp ứng khối u tại các thời điểm 1-3 tháng sau can thiệp là 72,4%
(đáp ứng hoàn toàn 32,4% và đáp ứng 1 phần 40%), tại thời điểm 4-6 tháng là
50,5% (đáp ứng hoàn toàn 31,7% và 1 phần 18,7%). Tỷ lệ kiểm soát bệnh tại các
thời điểm theo dõi lần lượt là: 89,5% và 65,4%. Các kết quả đạt được này cao


22

hơn so với các kết quả về đáp ứng khối u khi áp dụng hóa tắc mạch đơn thuần
điều trị UTTBG ở trong các báo cáo trước đây. Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi cũng phù hợp với các kết quả báo cáo của các tác giả nước ngoài, với tỷ lệ
đáp ứng khối u tại thời điểm 1 - 6 tháng sau điều trị đạt được từ 40-80%.
Cũng như đối với điều trị tắc mạch hóa chất truyền thống, khả năng đáp
ứng khối u gan sau can thiệp tắc mạch vi cầu cũng phụ thuộc vào một số yếu tố
về đặc điểm hình thái u gan và giai đoạn bệnh. Kết quả chúng tôi cho thấy tỷ lệ
đáp ứng khối u có liên quan có ý nghĩa với kích thước u, hình thái u gan, tình
trạng xâm lấn mạch máu và giai đoạn bệnh theo Okuda, BCLC.
4..4. Kết quả lâu dài sau điều trị
4.4.1. Các kết quả về tái phát, di căn và tử vong
Tỷ lệ tái phát ở những BN đã đạt được đáp ứng hoàn toàn sau điều trị
trong nghiên cứu của chúng tôi là 80,8% trong đó tái phát tại chỗ là 50% (có hay
không kết hợp với tái phát khối mới). Thời gian tái phát trung bình là 11 tháng
(4-32 tháng). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu

khác, cho thấy khả năng tái phát của UTTBG sau điều trị là rất cao, ngay cả đối
với phẫu thuật cắt gan.
Di căn xa trong UTTBG ít được đề cập trong các nghiên cứu. Trong 105
BN theo dõi, chúng tôi phát hiện có 15 trường hợp có di căn xa, trong đó thường
gặp nhất là di căn phổi (46,7%). Di căn hạch ổ bụng gặp 3 trường hợp, di căn
xương 2 trường hợp và 3 trường hợp di căn nhiều vị trí.
Có 48 BN đã tử vong khi kết thúc nghiên cứu. Nguyên nhân tử vong
thường gặp nhất là do ung thư tiến triển. Tuy nhiên cũng có 8 trường hợp tử
vong liên quan đến xơ gan. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với
các nghiên cứu khác.
4.4.2. Kết quả sống thêm lâu dài
Ưu điểm vượt trội về kết quả sống thêm lâu dài của các BN UTTBG sau
điều trị tắc mạch vi cầu so với điều trị tắc mạch hóa chất truyền thống vẫn đang
còn tranh cãi. Một số nghiên cứu không đối chứng cho thấy kết quả sống thêm
lâu dài rất tốt sau điều trị tắc mạch vi cầu, với thời gian sống thêm trung bình đạt
trên 3 năm, tỷ lệ sống thêm sau 3 năm đạt trên 50%. Kết quả nghiên cứu của


×