Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

MỘT số vấn đề cơ bản về PHÁT LUẬT bảo vệ RỪNG ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.57 MB, 120 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH HUYỀN

Một số vấn đề cơ bản về phát luật bảo vệ rừng ở
Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn: TS. Vũ Quang

Hà nội - 2004


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................................................. 1

MỞ ĐẦU…… ………………………………………………………………………………………………………………………………….2
CHƯƠNG 1 Ý NGHĨA MÔI SINH CỦA RỪNG VÀ VAI TRÒ ................................................. 5
CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG ..................................................................... 5
1.1. RỪNG VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG:........................................... 5
1.2. PHÁP LUẬT - CÔNG CỤ HỮU HIỆU TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG………………..11
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM ..10
2.1. KHÁI LUẬN LỊCH SỬ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM: ............................10
2.1.1. Pháp luật bảo vệ rừng dưới các triều đại phong kiến Việt Nam: ....................................11
2.1.2. Pháp luật bảo vệ rừng dưới chế độ Pháp thuộc: .............................................................11
2.1.3. Pháp luật bảo vệ rừng của Nhà nước Việt Nam từ 1945 đến nay. ..................................12
2.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG VIỆT NAM: ...................24
2.2.1. Các nguyên tắc của pháp luật bảo vệ rừng: ....................................................................15
2.2.2. Quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng: .................................................................................27


2.2.3. Chính sách phát triển rừng, giao đất lâm nghiệp và khoán rừng: ..................................32
2.2.4. Quyền lợi và nghĩa vụ của chủ rừng: .............................................................................39
2.2.5. Bảo vệ các loài động thực vật hoang dã, quí hiếm và đa dạng sinh học: ..................................46
2.2.6. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ rừng: .....................................................................51
2.2.7. Hợp tác quốc tế bảo vệ rừng: ..........................................................................................53
2.3. PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI. ....................59
2.3.1. Hiện trạng rừng ở các nước: ..........................................................................................59
2.3.2. Chính sách pháp luật bảo vệ rừng ở một số quốc gia trên thế giới: ................................60
2.3.3. Kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc xây dựng chính sách pháp luật bảo vệ rừng: 66
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN ....................................68
PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG VIỆT NAM. ..................................................................................68
3.1. HIỆN TRẠNG RỪNG Ở VIỆT NAM. .................................................................................68
3.2. MỘT SỐ NHẬN XÉT BƯỚC ĐẦU VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM. ..76
3.2.1. Về chính sách phát triển rừng, giao đất lâm nghiệp và khoán rừng chúng ta còn gặp
phải những vướng mắc như:....................................................................................................81
3.2.2. Quy định về tài chính liên quan đến rừng khá đầy đủ về mặt văn bản nhưng khó đi vào
cuộc sống..................................................................................................................................83
3.2.3. Quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng còn nhiều điểm vướng mắc: .....................................85
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN
RỪNG. ........................................................................................................................................89

1


3.3.1. Về chính sách pháp luật bảo vệ rừng: ............................................................................89
3.3.2. Tổ chức thực hiện những qi định pháp luật về bảo vệ rừng: ........................................103
3.2.3. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng:.................................................................108
KẾT LUẬN ...................................................................................................................................110
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………………………………………………………………114


2


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN

Hiệp hội các nước Đông nam á

ADB

Ngân hàng phát triển châu á

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BV&PTR

Bảo vệ và phát triển rừng

CBD

Công ước Đa dạng sinh học 1992

CITES


Công ước buôn bán các loài động thực vật hoang dã có nguy
cơ bị đe doạ 1973

CH XHCNVN

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

EU

Cộng đồng châu Âu

FAO

Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hiệp quốc.

FIPI

Viện Điều tra quy hoạch rừng.

HĐBT

Hội đồng bộ trưởng.

IUCN

Hiệp hội quốc tế về bảo tồn thiên nhiên

KHCN&MT

Khoa học công nghệ và môi trường .


KH&ĐT

Kế hoạch và đầu tư.

NN&PTNT

Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

RAMSAR

Công ước quốc tế về bảo vệ các vùng đất ngập nước có tầm
quan trọng quốc tế, 1971.

UBND

Uỷ ban nhân dân.

UNDP

Chương trình phát triển Liên hợp quốc.

WB

Ngân hàng thế giới.

WWF

Quỹ bảo tồn động vật hoang dã thế giới.


-1-


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, kinh tế... con
người cũng đang phải đối mặt với những thách thức lớn cho sự phát triển. Đó là
nguy cơ suy giảm nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự suy
thoái các yếu tố quan trọng, căn bản của môi trường sống mà yếu tố đề cập đến
đầu tiên là rừng. Tình hình đó đã đặt ra cho toàn nhân loại nhiệm vụ cấp thiết,
phải có những hành động thiết thực để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi
trường.
Đã có một sự nhất trí rộng rãi giữa các quốc gia trên thế giới, rừng, tài
nguyên và đất rừng phải được quản lý tốt để đáp ứng các nhu cầu khác nhau về
xã hội, kinh tế, sinh thái và văn hóa, tinh thần của các thế hệ hiện nay và tương
lai. Bên cạnh việc đem lại những lợi ích kinh tế, rừng có vai trò cực kỳ quan
trọng trong việc giữ đất, giữ nước, điều hoà không khí và bảo vệ môi trường
sinh thái. Hiện trạng mất rừng và suy thoái rừng đã và đang gây ra những hậu
quả vô cùng tai hại cho đời sống nhân dân cũng như sự ổn định nhiều mặt của
đất nước. Trong hơn nửa thế kỷ qua, các hoạt động khai thác lâm sản quá mức,
đốt phá rừng làm nương rẫy, chiến tranh và thiên tai đã làm cho Việt Nam mất
đi một diện tích rừng rất lớn, đặc biệt là vụ cháy rừng U Minh trong năm 2002
vừa qua.
Vì vậy, bảo vệ rừng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, bảo
vệ môi trường của đất nước, đòi hỏi Nhà nước phải có chế độ quản lý, bảo vệ
thích hợp nguồn tài nguyên này, đặc biệt là quản lý bằng pháp luật. Trong hệ
thống pháp luật bảo vệ môi trường thì pháp luật về bảo vệ rừng có bề dày lịch sử

và một hệ thống văn bản đồ sộ. Tuy nhiên, hiệu quả của việc bảo vệ và phát triển
rừng đạt được chưa cao, rừng vẫn ngày một bị thu hẹp, cháy rừng thường xuyên đã
trở thành vấn đề thời sự. Hậu quả gây ra trực tiếp từ việc mất rừng và suy thoái
rừng như lũ lụt, hạn hán, lở đất, đặc biệt là những trận lụt lịch sử diễn ra ở vùng
Tây Bắc, vùng ven biển miền Trung và bão lớn ở Nam bộ trong những năm gần
đây.

-3-


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

Do đó việc nghiên cứu tiến tới nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng ở
Việt Nam có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, có vai trò quan
trọng trong việc bảo vệ rừng, bảo tồn và phát huy các giá trị quí báu mà rừng
mang lại cho đất nước, cho xã hội và cho mỗi người, góp phần thực hiện thành
công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà dân tộc ta đang trên
con đường tiến tới.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần nghiên cứu, làm sáng tỏ các
qui định của pháp luật về bảo vệ rừng. So sánh pháp luật bảo vệ rừng ở nước ta
với pháp luật bảo vệ rừng ở một số quốc gia khác nhằm tham khảo những kinh
nghiệm quốc tế quý báu. Đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam
và đưa ra phương hướng hoàn thiện về mặt xây dựng pháp luật bảo vệ rừng cũng
như cách thức tổ chức thực hiện.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :


-

Đánh giá vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ rừng.

- Đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ rừng và đưa ra phương hướng
hoàn thiện.
- Nghiên cứu so sánh pháp luật bảo vệ rừng của mật số nước trong khu
vực và thế giới.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp lôgic và lịch sử, phân
tích, thống kê, so sánh và tổng hợp. Luận văn dựa trên cơ sở lý luận Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đồng thời luận văn đã vận dụng
các tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới tư duy - chính trị pháp
lý, về cải cách hành chính , cải cách tư pháp.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Đề tài: “Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay”.
KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:

-4-


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

Phần mở đầu.
Chƣơng 1 - Ý nghĩa môi sinh của rừng và vai trò của pháp luật trong

việc bảo vệ rừng.
Chƣơng 2 - Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam.
Chƣơng 3 - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo vệ
rừng ở Việt Nam.
Phần kết luận.
Danh mục tài liệu tham khảo.

-5-


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

CHƢƠNG 1
Ý NGHĨA MÔI SINH CỦA RỪNG VÀ VAI TRÕ CỦA PHÁP LUẬT
TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG
1.1. RỪNG VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG

Từ xa xưa diện tích rừng tự nhiên đã che phủ phần lớn bề mặt của trái đất,
nhưng do tác động của con người diện tích rừng tự nhiên giảm đi đáng kể. Chỉ
tính riêng giai đoạn 1990- 1995 ở các nước phát triển có hơn 65 triệu ha rừng bị
mất, tính đến năm 1995 diện tích rừng của toàn thế giới kể cả rừng tự nhiên và
rừng trồng chỉ còn 3454 triệu héc ta (số liệu của FAO – 1997), tỷ lệ che phủ chỉ
chiếm khoảng 35%. Hiện nay, mỗi tuần trên thế giới có khoảng 500 000 héc ta
rừng tự nhiên bị mất hoặc bị thoái hoá. Tổng diện tích rừng trên toàn cầu là
3.869 triệu ha, rừng tự nhiên là 3.682 triệu ha và rừng trồng là 187 triệu ha [21].
Ở Việt Nam, năm 1943 diện tích rừng có khoảng 14,3 triệu héc ta, tỷ lệ
che phủ khoảng 43%, năm 1995 tổng diện tích rừng và đất rừng cả nước khoảng
19,03 triệu héc ta; trong đó chỉ có 8,25 triệu héc ta rừng tự nhiên và 1,05 triệu

héc ta rừng trồng, còn lại là đất trống đồi núi trọc. Rừng tự nhiên tập trung chủ
yếu ở Tây nguyên, Trung nam bộ, miền Trung. Trong số diện tích rừng tự nhiên
còn lại chỉ có 9% là rừng giàu (trữ lượng >150m3/ha), 33% rừng trung bình (trữ
lượng 80m3- 150m3/ha) còn lại là rừng nghèo kiệt (< 80m3/ha). Hiện nay, tổng
diện tích đất rừng Việt Nam tính đến năm 2002 là 11.314.626 ha rừng các loại,
chiếm 35,7% diện tích toàn lãnh thổ [8, tr 19].
Cùng với việc mất rừng tự nhiên, môi trường sống của nhiều loài động vật
rừng cũng bị mất, đây là nguy cơ làm cho nhiều loài động vật rừng quí hiếm
đang bị tuyệt chủng, đa dạng sinh học đang bị suy thoái nhanh chóng. Chính vì
vậy, vai trò của rừng trong việc bảo vệ và cải tạo môi trường đã trở thành vấn đề
thời sự lôi cuốn sự quan tâm của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau. Sự phát triển công nhiệp, quá trình đô thị hoá và nạn phá rừng ở các nước
đang phát triển đã và đang làm nhiễm bẩn môi trường sống của loài người, phá
vỡ cân bằng sinh thái trong sinh quyển. Ngày nay, vấn đề bảo vệ, gây trồng rừng
-7-


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

không chỉ còn mang ý nghĩa của việc bảo vệ phát triển nguồn tài nguyên mà
còn là để bảo vệ và cải tạo môi trường sống của loài người. Rừng có ảnh hưởng
nhiều mặt đến môi trường tự nhiên, làm thay đổi điều kiện khí hậu, đất đai, sinh
vật,... từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái con người.
Nghiên cứu vai trò của rừng đối với môi trường không chỉ có ý nghĩa lý
luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc bảo vệ sử dụng hợp lý nguồn
tài nguyên, gây trồng các loại rừng phòng hộ, hạn chế ảnh hưởng của thiên tai,
làm tăng thêm ý nghĩa cảnh quan văn hoá xã hội của rừng.
1.1.1. Vai trò tác động của rừng đến khí hậu

- Rừng có ảnh hưởng tổng hợp đến các nhân tố khí hậu, thuỷ văn. Vùng
rừng núi, vùng đồng bằng, vùng sa mạc... có chế độ khí hậu hoàn toàn khác
nhau. Rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ gió của từng địa phương. Chế độ
gió thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi chế độ nhiệt và độ khô ẩm của không khí.
- Rừng là chướng ngại trên đường di chuyển của gió, làm thay đổi tốc độ
và hướng gió. Rừng làm thay đổi tốc độ gió ở xung quanh rừng trong một phạm
vi nhất định ở mặt đón gió cũng như ở mặt khuất gió. Phạm vi ảnh hưởng của
rừng khiến gió phụ thuộc vào chiều cao của rừng - rừng càng cao thì phạm vi
ảnh hưởng của rừng đến gió càng lớn. Ảnh hưởng của rừng đến gió còn phụ
thuộc vào cấu trúc của rừng, rừng có cấu trúc nhiều tầng thì ảnh hưởng của rừng
đến gió càng nhiều.
- Rừng là công cụ cơ bản và quan trọng nhất để cân bằng khí CO 2 và O2
trong khí quyển thông qua quá trình quang hợp. Thảm thực vật rừng trên thế
giới giữ vai trò quyết định trong chu trình tuần hoàn các-bon tự nhiên trong khí
quyển. Nếu không có chu trình này thì chỉ trong 30 - 35 năm, toàn bộ CO2 trong
khí quyển sẽ bị tiêu hao hoàn toàn, sự sống sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
- Trong những thập kỷ vừa qua, do đốt phá rừng làm nương rẫy, mở mang
diện tích đất canh tác không hợp lý, do phát triển công nghiệp ồ ạt nên tỷ lệ CO 2
trong khí quyển tăng dần gây ra hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ của trái đất cũng

-8-


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

tăng lên. Điều đó còn chứng tỏ vai trò của rừng trong việc cân bằng nhiệt độ
trong không khí.
Ngược lại, nhiệt độ là một nhân tố sinh thái giữ vai trò quan trọng trong

đời sống của rừng, nó có ảnh hưởng quyết định đến cường độ các quá trình sinh
lý của cây rừng, như quang hợp, hô hấp, thoát hơi nước, hấp thu nước và các
chất dinh dưỡng khoáng...
- Nhiệt độ là yếu tố quan trọng kích thích hạt giống nảy mầm và có ảnh
hưởng đến quá trình nảy lộc, ra lá, ra hoa, kết quả... của cây rừng. Nhiệt độ, độ
ẩm và nước có ảnh hưởng quyết định đến phân bố rừng trên thế giới. Quy luật
phân bố rừng có liên quan chặt chẽ đến quy luật phân bố nhiệt độ theo vành đai,
độ vĩ và độ cao.
1.1.2. Vai trò, tác động của rừng đến nguồn nước
Tục ngữ Ấn Độ có câu: “Rừng là nguồn nước, nước là sự sống”. Điều
đó đã nói lên vai trò to lớn của rừng đến nguồn nước trên trái đất. Rừng có tác
dụng giữ nguồn nước, hạn chế lũ lụt, hạn hán, bảo vệ đất đai chống xói mòn,
nâng cao độ phì của đất và làm sạch những nguồn nước bị nhiễm bẩn. Ở những
nơi có rừng nước mưa rơi xuống một phần được giữ lại ở tán rừng và sau đó bốc
hơi trở lại khí quyển, một phần tiếp tục rơi xuống đất và chảy dọc theo thân cây,
cành cây. Phần nước rơi xuống đất lại bị cây bụi, thảm tươi, tầng cành khô, lá
rụng ngăn cản cơ học làm tốc độ dòng chảy chậm lại hạn chế xói mòn đất. Khi
độ ẩm bão hòa, một phần nước trong đất chảy theo chiều thẳng đứng bổ sung
cho lượng nước ngầm.
- Tầng cành cây lá rụng và đất rừng giữ vai trò như một chiếc phin lọc
chất bẩn. Rừng có khả năng chuyển hóa dòng nước chảy trên mặt đất thành dòng
chảy trong lòng đất. Khả năng ngăn chặn dòng chảy của rừng rất lớn. Lượng
dòng chảy ở rừng hỗn giao loài lá rộng có độ tán che 0,7 - 0,8 là 44,3m3/ha/năm,
còn ở đất rừng sau khai thác trắng là 1.888,7m3/ha/năm (theo tác giả Bùi Ngạnh
(1973-1976) - nghiên cứu ở Núi Tiên - Hữu Lũng - Lạng Sơn).

-9-


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay


Nguyễn Thanh Huyền

- Ngược lại, nước cũng là nhân tố sinh thái giữ vai trò quan trọng trong
đời sống của cây rừng. Cùng với nhiệt độ, nước là nhân tố ảnh hưởng đến sự
phân bố rừng trên thế giới. Nước là một trong những điều kiện cần thiết để hạt
giống nảy mầm, xúc tiến quá trình thoát hơi nước và hấp thu chất dinh dưỡng
khoáng... Nước ảnh hưởng đến rừng dưới 3 dạng: mưa, độ ẩm không khí và độ
ẩm đất. Lượng mưa và phân bố lượng mưa trong năm có ảnh hưởng trực tiếp đến
thời kỳ sinh trưởng của cây rừng. Cường độ mưa ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng
hấp thu nước của thực vật rừng và độ xói mòn đất nhất là trong điều kiện địa hình
đồi núi.
- Ở nước ta, nhìn chung lượng mưa cao lại phân bố không đều, cường độ
mưa lớn nên khả năng gây ra xói mòn đất rất lớn. Sự bào mòn tầng mặt đất màu
mỡ trong lưu vực thượng nguồn là nguyên nhân làm tăng nồng độ phù sa của
những dòng sông. Riêng sông Hồng hàng năm đổ ra biển từ 80-130 triệu tấn phù
sa. Nhiều hồ thuỷ điện ở nước ta bị cạn dần do xói mòn đất xuống lòng hồ. Phá
rừng đốt nương rẫy làm giảm độ che phủ của tán rừng và kết quả là gây ra xói
mòn đất nghiêm trọng và đất đai thoái hóa.
1.1.3. Vai trò tác dụng của rừng đến đất
Rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến đất thông qua sự rơi rụng của cành lá
cây rừng, thảm mục rừng tạo ra sự tuần hoàn dinh dưỡng khoáng trong rừng,
thông qua đó rừng ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất.
Vật rơi rụng và thảm mục rừng.
- Vật rơi rụng như cành, lá, hoa quả rụng xuống đất là nguồn cung cấp
chất hữu cơ cho đất rừng. Vi sinh vật phân giải, vật rơi rụng biến thành thảm
mục rừng. Thảm mục là thành phần đặc trưng chỉ có trong hệ sinh thái rừng.
Thảm mục là kho chứa các chất dinh dưỡng khoáng làm tăng độ phì nhiêu của
đất. Thảm mục có tác dụng điều tiết nguồn nước, ngăn cản dòng chảy, hút một
lượng nước lớn làm giảm lưu lượng dòng chảy, tăng lượng nước thấm vào đất,


- 10 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

giảm lượng bốc hơi mặt đất. Do vậy, thảo mục có vai trò rất quan trọng trong
việc duy trì nguồn nước, chống lũ lụt, hạn hán và xói mòn đất.
Ở vùng rừng nhiệt đới, mặc dầu vật rơi rụng nhiều hơn vùng rừng ôn đới,
nhưng do điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao nên quá trình phân giải thảm mục
rừng diễn ra chậm hơn vùng rừng ôn đới. Trong điều kiện này, thảm mục
chuyển thành than bùn. Hiện tượng này gặp phổ biến ở rừng tràm U Minh, rừng
tràm Nam Bộ. Cải tạo vùng đất phèn ở miền nam nước ta là một vấn đề có ý
nghĩa thực tiễn to lớn. Phát triển vùng đất phèn thành vùng sản xuất nông – lâm
nghiệp kết hợp đem lại kết quả kinh tế cao.
Rừng có khả năng tự cải tạo đất thông qua quá trình tuần hoàn dinh
dưỡng trong rừng: Tuần hoàn dinh dưỡng khoáng là một đặc trưng chỉ có ở hệ
sinh thái rừng. Những chất dinh dưỡng khoáng trong đất được rễ cây rừng hấp
thụ, nuôi dưỡng cây, phần còn lại trả về đất thông qua vật rơi rụng và rễ cây bị
chết trong đất. Vật rơi rụng và rễ cây lại tiếp tục phân giải thành mùn cung cấp
chất dinh dưỡng khoáng cho cây. Toàn bộ quá trình di chuyển các chất khoáng
trên đây tạo nên chu trình tuần hoàn dinh dưỡng khoáng trong rừng. Nhờ có chu
trình này mà rừng có khả năng tự cải tạo đất.
- Khi rừng bị phá hoại, chu trình tuần hoàn dinh dưỡng khoáng bị phá vỡ,
rừng không còn khả năng tự cải tạo đất, đất đai bị xói mòn, độ phì đất bị thoái
hoá. Tập quán du canh du cư, đốt rừng làm rẫy không chỉ huỷ diệt tài nguyên
thiên nhiên rừng trên mặt đất mà còn phá hoại cả nguồn tài nguyên đất đai phì
nhiêu dưới tán rừng mưa nhiệt đới, gây lũ lụt hạn hán trên phạm vi cả nước.

Rừng ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất:
- Ảnh hưởng của rừng đến quá trình hình thành đất thông qua tác dụng
của vật rơi rụng, thảm mục rừng, chu trình tuần hoàn dinh dưỡng khoáng. Tiểu
khí hậu dưới tán rừng có ảnh hưởng tốt đến quá trình hình thành đất. Động vật
rừng, vi sinh vật trong rừng cải thiện tính chất lý học, hoá học của đất. Rễ cây
rừng chằng chịt dưới đất làm cho đất tơi xốp thoáng khí, có độ hút nước cao.
Mỗi loại rừng khác nhau ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất khác nhau. Đất

- 11 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

rừng lá thưa, đất rừng lá rộng, đất rừng tre nứa... đều có những đặc trưng khác
nhau.
1.1.4. Vai trò, tác dụng của rừng đến việc chống ô nhiễm và làm sạch
không khí.
Rừng có khả năng làm sạch không khí.
- Hô hấp của sinh vật nói chung và con người nói riêng, các chu trình đốt
cháy, công nghiệp hoá luôn thải các chất CO 2 vào khí quyển. Nếu không có quá
trình quang hợp của thực vật, đặc biệt là cây rừng sử dụng CO2 thì cân bằng CO2
và O2 trong khí quyển sẽ bị phá huỷ và loài người không thể tồn tại được. Để
đảm bảo quang hợp bình thường hàng năm mỗi hecta rừng cần 4 tấn Cácbonic
tương đương với hàm lượng CO2 có trong 1.800.000m3 không khí.
- Rừng là một “nhà máy lọc bụi” khổng lồ. Theo tài liệu của Menden
(1956): một hecta rừng cây Vân Sam có khả năng hút 32 tấn bụi trong không
khí; rừng thông: 36,4 tấn, người ta gọi đây là khả năng chống nhiễm bẩn vật lý
môi trường của rừng [9].

Rừng còn có khả năng chống nhiễm bẩn hoá học môi trường.
- SO2 là chất độc đối với con người, nhất là khi gặp không khí ẩm tạo
thành H2SO3 sẽ tác động mạnh đến cơ quan hô hấp. Rừng có tác dụng ngăn cản
cơ giới sự truyền lan SO2 và làm giảm nồng độ của chúng.
Trong những năm gần đây, một mối nguy hiểm mới xuất hiện là sự nhiễm
bẩn môi trường không khí, đất, nước bởi các sản phẩm do phân huỷ phóng xạ,
đặc biệt nguy hiểm là các đồng vị phóng xạ stronti-90, xezi137, ... Việc nghiên
cứu vai trò của rừng trong việc chống ô nhiễm phóng xạ có nguồn gốc nhân tạo
đang trở nên có ý nghĩa quan trọng. Rừng rất mẫn cảm với các bức xạ ion hoá và
có tác dụng hạn chế các tác hại của nó. Rừng giữ vai trò đặc biệt quan trọng
trong quá trình làm yếu hiệu quả của việc phân huỷ hạt nhân dưới dạng nhiễm
bẩn phóng xạ trong khí quyển. Rừng có khả năng ngăn cản, phân phối lại và tích
luỹ bụi phóng xạ. Theo tài liệu của Duya Kơ (1966) tổng lượng phóng xạ trong

- 12 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

nước mưa ở những nơi không được bảo vệ bởi rừng lớn hơn 32 lần so với rừng.
Các chất phóng xạ rơi xuống được tích luỹ nhiều ở đất rừng [9].
Rừng còn có khả năng phân phối lại, hấp thụ và làm giảm tiếng ồn, và
rừng còn tạo ra một hoàn cảnh tiểu khí hậu có tác dụng tốt đến sức khoẻ và kéo
dài tuổi thọ cho con người. Nhiều loài cây rừng có khả năng điều tiết các chất
phitonxit có tác dụng sát trùng, diệt vi khuẩn như thông, long não, bạch đàn, quế
... Vì vậy, ngày nay, việc thiết kế vành đai xanh, trồng cây trên các đường phố,
xây dựng các công viên trở thành nội dung không thể thiếu được trong các thiết
kế và dự án xây dựng các thành phố và khu trung tâm công nghiệp.

Tóm lại, ảnh hưởng của rừng đến môi trường mang tính tổng hợp như đất,
nước, không khí... và rừng là yếu tố cơ bản để duy trì cân bằng sinh thái của môi
trường. Rừng không còn thì sự sống của loài người sẽ bị đe doạ. Số phận của
rừng là số phận của hành tinh chúng ta. Nếu như giá trị kinh tế của rừng (gỗ và
đặc sản) có thể xác định được thì chức năng bảo vệ và cải tạo môi trường sống
của rừng trở nên vô giá đối với sự sống còn của loài người.
Chính vì ý nghiã và vai trò to lớn đó của rừng mà ngày nay hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề phát triển và bảo vệ rừng. Nó
không còn là vấn đề của riêng một quốc gia nào mà là vấn đề toàn cầu. Thế giới
đã có rất nhiều các hội nghị bàn về môi trường nói chung mà đặc biệt là môi
trường rừng. Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển của Liên Hợp
Quốc họp tại Brazin tháng 6 năm 1992 đã chính thức thừa nhận phương châm
“phát triển bền vững” là mục tiêu phát triển lâu dài cần đạt được của mọi quốc
gia. Quan điểm chung của sự phát triển bền vững là bảo đảm sao cho việc đáp
ứng các nhu cầu của thế hệ hôm nay không tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu
của thế hệ mai sau.
1.2. PHÁP LUẬT- CÔNG CỤ HỮU HIỆU TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG.

Lịch sử thế giới đã ghi nhận những hậu quả nặng nề của nhiều dân tộc do
tình trạng phá rừng mà nhiều quốc gia đất đã bị sa mạc hoá, thiếu đất canh tác,
mùa màng thất bát, nạn đói và thiếu nước đe doạ thường xuyên. Mất rừng sẽ làm
mất luôn khả năng điều tiết và duy trì nguồn nước, làm cho lũ lụt và hạn hán xảy
- 13 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

ra thường xuyên hơn. Mất rừng do tình trạng chặt rừng, đốt rừng làm nương rẫy

đã làm cho bầu không khí trên trái đất bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây ra hiệu ứng
nhà kính làm cho trái đất nóng lên hàng năm 0,50C băng ở hai cực tan ra, nước
biển dâng lên làm ngập đất đai trồng trọt, làm thủng tầng ôzôn, gây ảnh hưởng
xấu đến sự sống trên trái đất.
Mất rừng gây ra hiện tượng xói mòn đất nghiêm trọng hàng năm ở vùng đồi
núi mất đi khoảng 0,9 đến 1,2 cm tầng đất mặt. Theo tính toán của các nhà khoa
học muốn hình thành 2,54cm tầng đất mặt phải mất thời gian là 30 năm (Napier và
pouster 1982) [9]. Xói mòn đất không những làm cho đất vùng đồi bị thoái hoá
nghiêm trọng mà còn làm bồi đắp các lòng sông, lòng hồ gây ảnh hưởng không nhỏ
đến các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện và các hệ thống giao thông đường thuỷ.
Rừng bị huỷ hoại, tàn phá là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự
tuyệt chủng của nhiều loài động thực vật trên thế giới. Sự tàn phá những hệ sinh
thái đa dạng đã dẫn đến dự đoán rừng: trong vòng 20 đến 30 năm tới 1/4 tổng số
loài sinh vật trên thế giới có nguy cơ bị diệt vong (Ravex, 1998) [9].
Rừng bị huỷ hoại, tàn phá làm cho cảnh quan, môi trường xơ xác tiêu
điều, ảnh hưởng không tốt tới đời sống văn hoá, an ninh, quốc phòng.
Với vai trò và tác dụng to lớn của rừng đối với môi trường sống nói chung
và sự tồn vong của loài người nói riêng cũng như tác hại của việc rừng bị hủy
hoại vừa phân tích trên đây cho thấy việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng cần
thiết hơn bao giờ hết. Quản lý, bảo vệ rừng bằng nhiều công cụ và biện pháp
khác nhau. Tuy nhiên, công cụ hữu hiệu nhất và không thể thiếu được ở bất kì
quốc gia nào đó là pháp luật.
Ngay từ ngày đầu giành được độc lập chính phủ Việt Nam quan tâm ngay
tới vấn đề bảo vệ rừng bằng việc ban hành sắc lệnh 124/SL ngày 21/12/1949 do
Hồ Chủ Tịch ký. Quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp
luật bảo vệ rừng. Tiếp theo đó, Quyết định 72/TTg ngày 7/7/1962 của Thủ tướng
Chính phủ về việc thành lập khu rừng quốc gia Cúc Phương. Nghị định 39/CP
ngày 5/4/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về săn bắt

- 14 -



Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

chim thú rừng. Đến thời kỳ gần đây, Pháp lệnh về bảo vệ rừng ngày 11/9/1972 ,
Luật bảo vệ môi trường 1993, Luật bảo vệ và phát triển rừng1991, Luật đất đai
1993 (được sửa bổ sung năm 1997, 1998, 2000, 2001), Luật phòng cháy chữa
cháy 2001 ...
Có thể đánh giá pháp luật bảo vệ rừng có một bề dày lịch sử trong hệ
thống pháp luật Việt Nam. Điều đó thể hiện nhận thức cực kỳ đúng đắn của Nhà
nước tới công tác bảo vệ và phát triển rừng cũng như coi trọng việc quản lý, bảo
vệ rừng.
- Để thực hiện chức năng quản lý và bảo vệ rừng, Nhà nước với tính cách
là chủ thể đặc biệt quản lý xã hội, có thể thực hiện nhiều phương thức, biện pháp
khác nhau để giữ gìn và phát triển vốn rừng hiện có. Tuy nhiên, công cụ hữu
hiệu nhất để Nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình trong việc quản lý rừng
chính là pháp luật. Chỉ có thể thông qua pháp luật và bằng pháp luật, Nhà nước
mới có thể điều chỉnh hành vi của các chủ thể tới rừng phát triển đúng hướng.
Sự điều chỉnh của pháp luật đối với việc bảo vệ rừng thể hiện ở chỗ một mặt
Nhà nước xây dựng một hệ thống các qui phạm đầy đủ và đồng bộ qui định chặt
chẽ các nguyên tắc và phương thức khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển
rừng, các tài nguyên và hệ sinh thái rừng. Mặt khác, bảo đảm thực hiện các qui
phạm đó bằng quyền lực cưỡng chế của Nhà nước. Trong những giai đoạn phát
triển cụ thể của xã hội, chức năng quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước sẽ được
thực hiện thông qua công cụ pháp luật với các giá trị khác nhau: chiến lược,
chính sách, qui hoạch, kế hoạch, phương thức quản lý và sử dụng các tài nguyên
và bảo vệ rừng. Có thể nói, sự hiện diện của pháp luật là một đòi hỏi tất yếu
khách quan đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng (nguồn tài nguyên quí

giá không chỉ cho thế hệ hôm nay và cho cả thế hệ mai sau). Chỉ có pháp luật
mới định hướng được việc bảo vệ và phát triển rừng và mới bảo đảm cho các ý
chí đó của Nhà nước được áp dụng trong thực tiễn.
- Pháp luật sẽ xác lập những phạm vi và nội dung các quyền của con người,
quyền công dân trong mối liên hệ và tác động qua lại với môi trường rừng.

- 15 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

- Pháp luật quy định các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi công
dân mỗi tổ chức và của các cộng đồng địa phương trong việc khai thác, sử dụng,
bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên và hệ sinh thái rừng.
- Quy định các biện pháp quản lý bảo vệ rừng, sử dụng và phát triển rừng.
- Các hình thức khuyến khích khen thưởng đối với những người có công
bảo vệ rừng và các biện pháp xử phạt đối với người vi phạm pháp luật.
- Pháp luật sẽ tạo cơ sở pháp lý để nhà nước bằng quyền lực cưỡng chế,
ngăn chặn mọi hành vi xâm phạm đến rừng, vi phạm các quy định pháp luật về
bảo vệ môi trường vừa xử lý nghiêm minh những người có hành vi sai phạm.
- Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng, không thể thiếu trong sự nghiệp
bảo vệ môi trường rừng ở Việt Nam. Bởi vì, để sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá phát triển bền vững thì nhà nước không chỉ sử dụng pháp luật để quy
định việc thu thuế các sản phẩm của rừng như thời phong kiến và thời Pháp thuộc
mà pháp luật để bảo vệ và phát triển rừng vì sự phát triển của đất nước, vì cân bằng
môi trường sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo phát triển bền vững trên cơ
sở bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành. Điều đó có ý
nghĩa sống còn cho sự tồn tại của loài người ở cả hiện tại và tương lai.

CHƢƠNG 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG
Ở VIỆT NAM
2.1. KHÁI LUẬN VỀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM

2.1.1. Pháp luật bảo vệ rừng dưới các triều đại phong kiến Việt Nam:
Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, rừng là một loại tài nguyên
thuộc sở hữu các vương triều (nhà vua) nhưng trong thực tế người dân vẫn tự do
vào rừng khai thác, hái lượm, kết hợp với săn bắt thú rừng. Cùng với sự phát
triển của lịch sử, các triều đại phong kiến ở nước ta cũng có quy định luật lệ
thành văn về lâm nghiệp, trước hết là các thể lệ về thu thuế các sản vật của rừng.
Như sách “ Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú đã ghi vào tháng
3/1013 vua Lý Thái Tổ đã định ra lệ thu thuế sản vật rừng, có 6 loại thuế khác
nhau, trong đó có các loại thuế liên quan đến sản vật khai thác ở rừng như : thuế
sản vật núi rừng, thuế sừng tê giác, ngà voi, thuế thu vào các loại hương liệu
- 16 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

khai thác của dân Mạn Lào (dân tộc ít người), thuế thu vào gỗ, và các loại hoa
quả ở đầu nguồn [30].
Trong Quốc triều hình luật của triều đại nhà Lê (năm 1428-1788) cũng đã
có điều luật quy định về lĩnh vực bảo vệ rừng - điều 22 trong chương Tạp luận
quy định : Người chiếm cứ những hoa lợi ở núi, rừng, hồ, đập thì xử phạt 60
trượng [35, tr 201].
Nội dung chủ yếu của các qui định trên nhằm bảo vệ chế độ sở hữu của
vua chúa đối với tài nguyên rừng. Ngoài ra, các triều đại phong kiến cũng đã có

quy định, thể lệ về thuế lâm sản, về thủ tục khai thác các loại lâm sản đế cống
nạp cho nhà vua. Thời vua Lê Dụ Tông (1715) bỏ lệnh cấm lưu thông gỗ quế,
cho phép dân được tự do lưu thông buôn bán. Nơi có rừng quế tự nhiên cho
phép người bóc vỏ quế, người bóc vỏ quế được hưởng một nửa, nộp vào cho nhà
nước một nửa hoa lợi về quế; Năm 1720 Chúa Trịnh Cương quy định lại thể lệ
về quản lý cây quế rất chặt chẽ. Người muốn buôn bán quế phải làm tờ khai xin
phép, mua được bao nhiêu phải báo cáo cho quan sở tại ghi chép, đem đựng vào
sọt 100 cân, vận tải trên đường có tuần ty kiểm tra lại, về đến kinh đô phải trình
giấy tờ để quan kiểm tra lại trước khi đem về nhà cất giữ. Khi có thuyền buôn
của người nước ngoài đến mua thì phải làm tờ khai để trình lên chúa Trịnh xem
xét và chuẩn y cho nộp thuế [30].
Đời vua Gia Long (1802), theo sách “Đại Nam hội điển”, nhà vua đặt chế
độ thuế đối với lâm thổ sản (Mật ong rừng, Trầm hương, Ngà voi, Sừng tê giác,
Cánh kiến, Sừng hươu, Kỳ nam,...). Năm 1804 Gia Long đặt lệ thưởng cho
những người bẫy, bắt, giết được Hổ. Triều đình đã hạ lệnh cho các tỉnh thu mua
cống nạp cho nhà vua các loại gỗ và lâm sản quý. Cũng có những triều đại quy
định những thể chế để tiết kiệm gỗ như thời vua Minh Mạng năm 1840 [30].
Tóm lại, các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã quan tâm chú trọng
đến việc quản lý, bảo vệ rừng tuy nhiên, chủ yếu vẫn là các quy định về việc thu
thuế cống nạp sản vật từ rừng cho nhà vua, rất hiếm gặp các quy định về bảo vệ
động vật rừng. Các qui định pháp luật bảo vệ rừng dưới các triều đại phong kiến

- 17 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

chủ yếu nhằm mục đích bảo vệ một loạt tài sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp

phong kiến chứ chưa đặt ra ý thức về vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo
vệ rừng và phát triển bền vững cho các đời sau. Mặc dù vậy những qui định đó
cũng thể hiện hành động cụ thể trong việc bảo vệ rừng và tài nguyên rừng.
2.1.2. Pháp luật bảo vệ rừng dưới chế độ Pháp thuộc
Người Pháp xâm lược Việt Nam bắt đầu từ năm 1858. Ngay khi vào Việt
Nam, chúng đã tiến hành mọi chương trình khai thác, vơ vét tài nguyên một
cách triệt để, trong đó có tài nguyên rừng. Năm 1875, người Pháp ban hành quy
chế cấp giấy phép khai thác, thủ tục trình báo khi khai thác, vận chuyển gỗ, và
quy định đường kính tối thiểu được phép khai thác đối với 43 loại gỗ, phân
thành 4 nhóm. Hầu hết cấp đường kính tối thiểu được phép khai thác là 45cm
[30]. Theo quy tắc này, gỗ được khai thác rất tự do để kiếm lời. Chính vì vậy,
trong những thập kỷ đầu xâm lược và đô hộ nước ta, rừng ở các tỉnh Nam Kỳ bị
phá hoại rất nhanh chóng, làm cho nhà cầm quyền có những lo lắng và bắt đầu
đề ra những biện pháp chặt chẽ hơn để quản lý và bảo vệ rừng.
Vì vậy, ngay từ năm 1891 và sau đó 1894 Pháp đã ban hành Nghị định
liên tiếp về việc thiết lập các khu rừng cấm (Reseive Forestiere). Đó là những
khu mà ở đó cấm hẳn các hành động khai thác tự do. Thời Pháp thuộc cũng như
thời phong kiến, song có nhiều điểm tiến bộ, đã có những chính sách quan tâm
tới vấn đề bảo vệ rừng cho dù vì mục đích thương mại, ví dụ: Người khai thác
phải khai thác theo một quy tắc nhất định để đảm bảo tái sinh các khu rừng này
trong một chu kỳ từ 15 đến 20 năm. Ở các khu rừng cấm, người khai thác phải
áp dụng kỹ thuật đánh dấu các cây được chặt và phải giữ lại những cây non của
các cây có giá trị để làm cho các khu rừng ngày càng có nhiều loại gỗ quí có giá
trị thương mại cao hơn. Ba khu rừng cấm đầu tiên được thiết lập ở Thủ Dầu
Một. Việc thiết lập các khu rừng cấm và những quy định về những quy tắc khai
thác gỗ ở những khu rừng đó theo các Nghị định ban hành năm 1891 được xem
là “hòn đá tảng” về quy tắc quản lý rừng trong những năm sau đó.

- 18 -



Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

Ngày 3/6/1902 thực dân Pháp đã ban hành các chế độ thể lệ lâm nghiệp ở
Bắc Kỳ. Ngày 20/8/1902 ban hành các quy chế về khai thác rừng ở các khu vực
rừng cấm ở Bắc Kỳ. Ngày 27/3/1914 toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thiết
lập chế độ độc quyền khai thác rừng ở Bắc Kỳ. Tiếp theo đó, ngày 26/8/1914
toàn quyền Đông Dương lại tiếp tục ra Nghị định thành lập chế độ độc quyền
khai thác rừng ở Trung Kỳ [30].
Nhìn chung, các quy định pháp luật về lâm nghiệp trong thời kì thực dân
Pháp đô hộ nước ta chủ yếu nhằm mục đính khai thác, bảo vệ quyền lợi của nhà
cầm quyền Đông Dương.
2.1.3. Pháp luật bảo vệ rừng của nhà nước Việt Nam từ 1945 đến nay.
Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ
đã qui định phải xóa bỏ những pháp luật, thể chế có tính chất độc quyền, bóc lột
hà khắc và không phù hợp với lợi ích của nhân dân, nhất là nhân dân lao động.
Tuân theo các qui định đó, Bộ Quốc Dân Kinh Tế và sau này là Bộ Canh Nông
đã ra nhiều Nghị định để bãi bỏ những thể chế lâm nghiệp có tính chất hà khắc,
độc quyền đã được áp dụng trong thời kỳ Pháp thuộc và xác định rõ: Rừng và
các nguồn tài nguyên khác là của toàn dân nên Nhà nước Việt Nam mới chú
trọng xây dựng một chính sách lâm nghiệp hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế
đất nước, gìn giữ bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng không chỉ cho thế
hệ hôm nay mà còn giữ nguyên kho tài sản truyền cho hậu thế. Có thể tạm chia
làm các giai đoạn:
2.1.3.a. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1960.
Theo đề nghị của ông Tổng thanh tra các nha thuộc Bộ Canh nông, ngày
24/7/1946, Bộ Canh Nông đã ra Nghị định số 288, thiết lập tại Bộ Canh nông
một Uỷ ban nghiên cứu lâm chính có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lâm

chính. Ngày 16/11/1947 Bộ Canh Nông đã ban hành Nghị định số 300B ấn định
cách tính giá bán lâm sản và trong những năm kháng chiến, Bộ Canh Nông đã
nhiều lần sửa đổi chế độ thu tiền bán lâm sản như : quy định các cơ quan nhà
nước khi được khai thác lâm sản đều phải trả tiền bán lâm sản, để lại cho ngân
sách xã có rừng một số tiền trong tổng số tiền bán khoán lâm sản thu được.
- 19 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

Ngày 21/8/1954 Bộ Canh nông và Bộ Tài Chính đã ban hành Nghị định liên bộ
số 8CN/TN/ND quy định cách tính tiền bán lâm sản phải trả cho nhà nước. Văn
bản này còn được áp dụng trong suốt giai đoạn xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc. Ngày 12/3/1954 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số
366/TTg về việc trồng cây gây rừng. Thông tư này đã xác định chính sách sử
dụng đất đai công thế vào mục đích trồng rừng (quyền sở hữu đất đai vẫn là của
quốc gia) và chính sách hưởng lợi “ai gây rừng thì đƣợc quyền hƣởng hoa
lợi về cây cối đã trồng”, “chính quyền phải cử cán bộ chuyên môn để
giúp dân và có thể ƣơm cây con (nhƣ cây phi lao) để bán lại cho nhân
dân” [41]. Có thể nói, đây là chính sách hết sức tiến bộ trong thời kì này mặc dù
quy định đất đai thuộc sở hữu của nhà nước nhưng người gây rừng thì lại được
toàn quyền hưởng hoa lợi về cây cối đã trồng. Chính sách này thúc đẩy nhân dân
gây trồng và bảo vệ rừng.
Về thể chế bảo vệ rừng, sản xuất, lưu thông và xuất khẩu lâm sản được
chính phủ rất quan tâm. Ngày 5/11/1945 Uỷ ban nhân dân Bắc Bộ đã ban hành
Thông tư số 828 gửi Chủ tịch UBND các tỉnh Bắc bộ về việc bảo vệ và duy trì
rừng, ra mệnh lệnh “cấm chỉ nhân dân không ai đƣợc tự tiện khai khẩn hoặc
đốt phá rừng núi” [42].

Ngày 28/6/1946 Bộ Nội vụ và Bộ Canh nông đã ra Thông tư liên bộ số
1303/BCN/VP về việc bảo vệ rừng. Thông tư này đã xác định “rừng núi có hai
nhiệm vụ quan trọng là nhiệm vụ xã hội và nhiệm vụ kinh tế” và khẳng định:
“thể lệ lâm chính có mục đích bảo vệ rừng núi..., mỗi năm chỉ khai thác
phần thặng dƣ và giữ nguyên kho tài sản truyền cho hậu thế” và cấm ngặt
việc đốt phá rừng vô ý thức, việc khai thác rừng nhất thiết phải tuân theo mệnh
lệnh của Nha lâm chính [43]. Có thể nói, đây là qui định hết sức tiến bộ cả về
mặt ý nghĩa xã hội và về mặt lập pháp. Bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên
rừng, không chỉ cho hôm nay mà cho cả mai sau đó chính là ý tưởng “phát triển
bền vững” mà ngày nay chúng ta đang hướng tới.

- 20 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

Những tội phạm: (chính phạm và tòng phạm) vi phạm Thông tư trên sẽ do
Nha lâm chính làm biên bản đưa ra toà án và sẽ bị phạt tiền, phạt tù hay hay phải
bồi thường theo thể lệ đã ấn định. Thông tư này còn quy định trách nhiệm của
Uỷ ban hành chính các làng, xã đối với việc đốt nương làm rẫy, phòng chống
cháy rừng và trách nhiệm hợp tác chặt chẽ với sở lâm chính để bảo vệ rừng.
Trong thời kì khôi phục và cải tạo kinh tế ở miền Bắc XHCN, ngày
8/9/1959 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 335/TTg về công tác lâm
nghiệp, trong chỉ thị này đã nêu lên nhận định về tình hình lâm nghiệp từ sau
ngày lập lại hòa bình và chỉ thị cho Bộ Nông Lâm phối hợp với các bộ, các
ngành liên quan nghiên cứu những vấn đề rất cần thiết, cơ bản như :
- Xây dựng đường lối công tác và phương hướng phát triển lâm nghiệp
dài hạn; nắm tình hình rừng để xác định trữ lượng và sản lượng hàng năm; chủ

trương định canh ở miền núi, quy hoạch sử dụng đất đai; lập quy hoạch kinh
doanh rừng cho mỗi cấp tỉnh, xã, xí nghiệp.
- Chấn chỉnh công tác quản lý, chú trọng vấn đề: phân cấp quản lý rừng
cho các cấp hành chính, đăc biệt cho các xã, giao rừng và tổ chức việc kinh
doanh về lâm nghiệp cho các đơn vị sản xuất như nông trường, xí nghiệp, hợp tác xã
...
- Xây dựng chính sách chế độ bảo vệ rừng và thú rừng, trồng cây gây
rừng, khai thác, sử dụng gỗ, chính sách giá cả chế độ sử dụng tiền bán lâm sản
vào việc tu bổ, cải tạo rừng và kiến thiết đường trong rừng.
Tóm lại, ở thời kì này nhà nước quản lý bảo vệ rừng ở những mặt thiết
yếu nhất và ban hành văn bản pháp quy về vấn đề này chủ yếu bằng chỉ thị của
Thủ tướng Chính phủ và Thông tư của các bộ, ngành; Nghị định của các
bộ...chưa ban hành văn bản ở cấp cao hơn. Mặc dù vậy, những nội dung quy
định về bảo vệ rừng đã tương đối đầy đủ, hoàn chỉnh và kịp thời
2.1.3.b. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1990
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam
năm 1960 đường lối phát triển lâm nghiệp được xác định cụ thể hơn. Ngày
10/3/1961 Trung ương Đảng có Chỉ thị số 15CT/CTTW xác định rõ “rừng là tài
- 21 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

sản của toàn dân, phải do nhà nƣớc thống nhất quản lý”. Trong thời kì này
Tổng cục Lâm nghiệp đã chú ý tăng cường công tác xây dựng chính sách và thể
chế lâm nghiệp, đề xuất với Chính phủ ban hành nhiều chính sách, thể lệ, văn
bản pháp quy về lâm nghiệp. Ngày 29/12/1961 Hội đồng Chính phủ ban hành
Nghị định số 221/CP/HĐCP về một số thể lệ về phòng cháy và chữa cháy rừng;

Chỉ thị số 134/TTg ngày 21/6/1960 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm bắt
voi, Nghị định số 39CP ngày 5/4/1963 quy định Điều lệ tạm thời về săn, bắt chim
thú rừng.
Trong thời kỳ này, Chính phủ còn ban hành nhiều chính sách quan trọng
khác nhằm khuyến khích nhân dân tham gia xây dựng phát triển lâm nghiệp
như:
- Quyết định 72/TTg ngày 7/7/1962 của Thủ tướng chính phủ về việc
thành lập khu rừng quốc gia Cúc Phương.
- Chỉ thị số 77/TTg ngày 5/8/1963 của Thủ tướng Chính phủ về việc
lập
quy hoạch dài hạn phát triển lâm nghiệp.
- Nghị quyết số 183CP ngày 25/9/1966 của Thủ tướng Chính phủ về công
tác trồng cây gây rừng
- Nghị quyết số 38CP ngày 12/3/1968 của Hội đồng Chính phủ về công
tác định canh định cư kết hợp với tác hóa đối với đồng bào hiện còn du canh, du cư.
- Quyết định số 179/CP ngày 12/11/1968 của HĐCP đối với một số hợp
tác xã có kinh doanh nghề rừng.
- Quyết định số 17/CP ngày 3/2/1972 của HĐCP về quản lý thống nhất
việc khai thác, thu mua, phân phối gỗ và cơ sở cưa xẻ gỗ.
Đặc biệt, năm 1972 “Pháp lệnh quy định về bảo vệ rừng” đã được ban
hành và công bố vào ngày 11/9/1972, pháp lệnh này gồm 26 điều 5 chương, quy
định về các vấn đề: nguyên tắc chung; những biện pháp bảo vệ rừng, tổ chức
bảo vệ rừng, thưởng phạt và điều khoản chung.

- 22 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền


Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 155CP ngày 3/10/1973 về việc thi
hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng và Nghị định số 101CP ngày
21/5/1973 quy định hệ thống tổ chức và quyền hạn của lực lượng kiểm lâm
nhân dân.
Việc ban hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng và các văn bản về thi
hành pháp lệnh này ngay trong những năm còn chiến tranh đã biểu hiện sự quan
tâm của nhà nước về công tác bảo vệ rừng và tạo điều kiện pháp lý để ngành lâm
nghiệp tổ chức việc bảo vệ rừng có hiệu quả hơn.
Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, Chính phủ ban hành Quyết định
số 61CP ngày 7/3/1975 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý thống nhất giống
cây trồng rừng.
- Chỉ thị số 257/TTg ngày 6/7/1975 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy
mạnh trồng rừng và giao đất, giao rừng cho hợp tác xã kinh doanh.
- Ngày 24/1/1977 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/TTg
về quy định các khu rừng cấm (quy định 10 khu rừng cấm đầu tiên trong cả nước)
và xác định những nguyên tắc quản lý bảo vệ rừng, xây dựng các khu rừng cấm.
- Quyết định số 360/TTg ngày 7/7/1978 của Thủ tướng Chính phủ về
việc thành lập khu rừng cấm Nam bãi Cát Tiên thuộc huyện Tân Phú - Đồng
Nai; Quyết định số 79/CT ngày 31/3/1986 của chủ tịch HĐBT về việc thành lập
vườn quốc gia Cát Bà. Quyết định số 194/CT ngày 9/8/1986 của chủ tịch
HĐBT về việc quy định về các khu rừng cấm tiếp tục công nhận 73 khu rừng cấm ở
Việt Nam.
- Thông tư số 32/TT/LB ngày 21/10/1986 của Liên Bộ Viện kiểm sát
nhân dân tối cao- Bộ Lâm nghiệp về mối quan hệ phối hợp giữa hai ngành Kiểm
sát và Lâm nghiệp trong việc phòng, chống các vi phạm, tội phạm về quản lý bảo vệ
rừng.
Về cơ chế tổ chức quản lý việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo
vệ rừng, ở trung ương có Tổng cục Lâm nghiệp (từ năm 1976 là Bộ Lâm
nghiệp) là cơ quan chuyên ngành của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện việc

thống nhất quản lý nhà nước về rừng, đất trồng rừng trong phạm vi cả nước, ở
cấp tỉnh có các Ty Lâm nghiệp (từ năm 1976 đổi thành Sở Lâm nghiệp) là cơ
- 23 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

quan quản lý Nhà nước về lâm nghiệp của tỉnh kiêm cả việc quản lý doanh
nghiệp lâm nghiệp. Ở cấp huyện có các Hạt kiểm lâm tức thuộc UBND huyện
đồng thời là cơ quan ngành dọc của các Ty Lâm nghiệp tỉnh.
2.1.3.c. Giai đoạn từ năm 1991 đến nay
Giai đoạn này được mở đầu bằng việc Quốc hội thông qua Luật bảo vệ và
phát triển rừng ngày 12/8/1991. Luật gồm 9 chương, 54 điều là sự tiếp thu, kế
thừa và phát triển hệ thống các quy phạm trước đó, đặc biệt là Pháp lệnh bảo vệ
rừng năm 1972, cho phù hợp với xu hướng phát triển trong thời kỳ mới, thời kỳ
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Ngoài ra, Nghị định số 17/HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ
trưởng đã quy định chi tiết việc thi hành luật bảo vệ và phát triển rừng. Nghị
định gồm 4 chương 22 điều cụ thể hoá các vấn đề về quản lý nhà nước, phát
triển và sử dụng rừng, đất trồng rừng.
Nhà nước đã xây dựng một hệ thống các quy phạm pháp luật để điều
chỉnh các quan hệ xã hội liên quan tới việc trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh
rừng, giao đất lâm nghiệp và khoán rừng, các văn bản pháp luật quy định là: luật
đất đai 1993, Quyết định số 202/TTg ngày 2/2/1994 của Thủ tướng Chính phủ
về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng, Nghị định
số 7/CP ngày 5/2/1996 của chính phủ về việc quản lý giống cây trồng, Nghị định
số 8/1997/QH10 của quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 2 về dự án trồng mới 5 triệu
hecta rừng, Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính

phủ về mục tiêu, chính sách, nhiệm vụ và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5
triệu hecta rừng.
Nhà nước đã xây dựng và ban hành hệ thống các quy phạm về quản lý
rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, khai thác chế biến xuất khẩu lâm sản và
bảo vệ động thực vật rừng quý hiếm. Chỉ thị số 130/TTg ngày 27/1/1993 của
Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý và bảo vệ động vật và thực vật quý hiếm,
Nghị định 22/CP ngày 9/3/1995 của Chính phủ quy định về phòng cháy chữa
cháy rừng, Luật phòng cháy chữa cháy 2001, Chỉ thị số 359/TTg ngày

- 24 -


×