Tải bản đầy đủ (.doc) (38 trang)

Đầu tư phát triển tại tập đoàn Điện lực Việt Nam: thực trạng và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (305.97 KB, 38 trang )

Đề án môn học
PHẦN MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu xuất hiện từ cuối năm 2008 và bùng phát vào
đầu năm 2009 đã có những tác động không nhỏ tới các quốc gia trên thế giới, trong đó
có Việt Nam và gây ra nhiều tác động tiêu cực đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế,
suy thoái kinh tế khiến cho kế hoạch phát triển của hầu hết các ngành kinh tế đều bị ảnh
hưởng.
Đối với ngành công nghiệp năng lượng nói chung và ngành điện lực nói riêng,
khủng hoảng đã gây ra những khó khăn đáng kể, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh
doanh của ngành. Đặc biệt là với điện lực, đây là ngành công nghiệp trọng yếu của quốc
gia, phục vụ cho hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, một thay đổi nhỏ trong khả năng
cung ứng của ngành này cũng gây ra tổn thất lớn cho quốc gia. Mặt khác, trước khủng
hoảng, vốn vẫn là bài toán khó tháo gỡ của ngành điện, dưới tác động của khủng hoảng
kinh tế việc tìm vốn cho đầu tư phát triển ngành điện lại càng khó khăn, trong khi yêu cầu
mở rộng sản xuất gia tăng sản lượng điện cung ứng cho nền kinh tế vẫn ngày càng tăng
cao. Tình trạng thiếu điện cho sinh hoạt và sản xuất vốn đã là sức ép lớn đối với ngành
điện thì với tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế việc đầu tư mở rộng sản xuất đối với
ngành điện đã và đang gặp phải những chướng ngại lớn. Đối với ngành điện lực nước
ta,Tập đoàn điện lực Việt Nam là đơn vị cung ứng lớn nhất và độc quyền phân phối trên
cả nước. Do đóng vai trò chủ đạo, nên hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn
quyết định toàn bộ tình hình sản xuất kinh doanh của cả ngành điện lực Việt Nam.
Chính vì vậy để làm rõ các vấn đề liên quan đến đầu tư phát triển ngành điện
trong giai đoạn khủng hoảng và sau khủng hoảng, đặc biệt là việc tìm ra các hạn chế và
tháo gỡ những khó khăn nhằm đạt hiệu quả đầu tư tốt nhất, em đã tiến hành nghiên cứu
đề tài “ Đầu tư phát triển tại tập đoàn Điện lực Việt Nam: thực trạng và giải pháp”. Đề
án gồm có 3 chương:
Chương I : Những lý luận chung về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Chương II : Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Chương III : Giái pháp đối với hoạt động đầu tư phát triển tại Tập đoàn Điện lực Việt
Nam.
Em xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Nguyễn Bạch Nguyệt đã tận tình chỉ dẫn,


giúp em hoàn thành đề án này. Tuy nhiên, với kiến thức còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế
ít ỏi nên bài viết này không tránh được những sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến từ phía các thầy cô, và bạn bè để đề án được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
1
Đề án môn học
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP
I. Lý luận chung về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
1.1. Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp:
Đầu tư nói chung là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực ở hiện tại để tiến
hành các hoạt động nào đó với kỳ vọng đem lại cho nền kinh tế và xã hội những kết quả
(hoặc lợi ích) trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Các nguồn lực được sử dụng bao gồm nguồn lực vật chất và phi vật chất, chẳng hạn như
tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ… Các nguồn lực này được sử dụng
một cách hợp lý để tạo ra các kết quả tốt với một chi phí thấp nhất. Còn các kết qủa đạt
được có thể là sự gia tăng về tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn
nhân lực có đủ trình độ tay nghề, khả năng làm việc với năng suất và hiệu quả cao…
Và chính những kết quả này lại là điều kiện để thực hiện một hoặc một tập hợp các mục
tiêu của chủ đầu tư.
Trong đầu tư có ba loại đầu tư chính luôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ với
nhau. Đó là: đầu tư phát triển, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại. Đầu tư tài chính
là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng từ có giá để
hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất tùy thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của
công ty phát hành. Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra
mua hàng hóa và sau đó bán lại với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi
mua và khi bán. Hai loại đầu tư này không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ tăng
tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở
hữu hàng hóa giữa người bán và người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ.

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, một hình thức của đầu tư trực tiếp, là
việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo
ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị...) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng...), gia
tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển. Đầu tư phát triển bao
gồm các hoạt động chuẩn bị đầu tư, mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình đầu tư, thi
công xây lắp công trình, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và xây lắp cơ bản khác
có liên quan đến sự phát huy tác dụng sau này của công cuộc đầu tư phát triển. Hoạt
động đầu tư này nhằm tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh
hoạt đời sống xã hội.
Như vậy chỉ những hoạt động đầu tư nào mà sự hy sinh các nguồn lực gắn liền trực tiếp
với sự gia tăng các năng lực của nền kinh tế mới được coi là đầu tư phát triển. Những
kết quả được tạo ra từ hoạt động đầu tư phát triển không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp
cho chủ đầu tư mà còn đem lại lợi ích, hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế xã hội. Bởi vậy
đầu tư phát triển đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của nền
kinh tế tại mỗi quốc gia. Hình thức đầu tư này là tiền đề cơ sở cho các hoạt động đầu tư
khác. Các hoạt động đầu tư không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển.
Ngược lại, các hoạt động đầu tư khác hỗ trợ và tạo điều kiện để tăng cường đầu tư phát
triển. Như vậy luôn có mối quan hệ và tác động qua lại giữa các hình thức đầu tư. Tuy
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
2
Đề án môn học
nhiên đầu tư phát triển vẫn là loại đầu tư quyết định trực tiếp cho sự phát triển của nền
kinh tế xã hội, là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của các
cơ sở sản xuất kinh doanh.
Hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là một nhân tố có thể được coi là quyết
định sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để tạo dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật cho bất kì cơ sở, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ nào đều cần phải xây dựng
nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị, tiến hành công tác xây
dựng cơ bản và thực hiện các chi phí gắn liền với hoat động trong cùng một chu kì.
Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, hoạt động đầu tư phát triển có thể là việc tiến

hành sửa chữa, nâng cấp hoặc thay mới máy móc, thiết bị, cơ sở kĩ thuật bị hao mòn, hư
hỏng…để thích ứng, phù hợp với điều kiện hoạt động mới của doanh nghiệp.
1.2. Vai trò của hoạt động đầu tư đối với doanh nghiệp
Trên góc độ vi mô thì đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển
của các cơ sở sản xuất cung ứng dịch vụ và của cả các dơn vị vô vị lợi. Để tạo dựng cơ
sở vật chất, kỹ thuật cho sự ra đời của bất kì cơ sở đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ
nào cũng đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm, lắp đặt máy móc
thiêt bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác và thực hiện các chi phí gắn liền với
hoạt động trong một chu kỳ chứa các cơ sở vật chất kỹ thuât vừa được tạo ra. Đây chính là
biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư đối với các đơn vị đang hoạt động, khi cơ sở vật
chất kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn hư hỏng cần phải tiến hành sửa chữa lớn hoặc
thay mới các cơ sở vật chất kỹ thuật đã hư hỏng hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng
với điều kiện hoạt động mới của sự phát triên khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của
nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ
đã lỗi thời. Đó chính là hoạt động đầu tư.
1.3.Vốn và nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Khi tiến hành bất cứ một hoạt động đầu tư thì vốn luôn là một nguồn lực vô cùng
quan trọng, ảnh hưởng quyết định tới quá trình đầu tư. Căn cứ theo nguồn hình thành và
mục tiêu sử dụng thì vốn đầu tư được hiểu là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn
khác được đưa vào trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực hoạt động
của các cơ sở sẵn có và tạo ra tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
Trước đây, theo quan niệm truyền thống, vốn đầu tư phát triển chỉ là những chi
phí bằng tiền dùng cho việc xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại và khôi phục tài sản
cố định trong nền kinh tế. Như vây, về thực chất, vốn đầu tư phát triển chỉ gồm những
chi phí trực tiếp làm tăng tài sản cố định. Theo khái niệm đầu tư phát triển vừa nêu ở
trên, vốn đầu tư phát triển dược quan niệm là những chi phí bỏ ra găn liền với việc làm
tăng thêm tài sản cho toàn xã hội. Nghĩa là, vốn đầu tư phát triển ngoài vai trò làm tăng
tài sản cố định còn làm tăng tài sản lưu động, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực, nâng cao
mức sống dân cư, mặt bằng dân trí, bảo vệ môi trường sinh thái... Nói cách khác, vốn

đầu tư phát triển có thể chia thành các nội dung cơ bản sau: vốn đầu tư xây dựng cơ bản
và sửa chữa lớn tài sản cố định; vốn lưu động bổ sung; vốn đầu tư phát triển khác (đây
là tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm gia tăng năng lực phát triển của xã hội, nâng
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
3
Đề án môn học
cao trình độ dân trí, cải thiện chất lượng môi trường…). Trong đó, vốn đầu tư xây dựng
cơ bản chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ để chỉ các nguồn tích luỹ, tập trung và
phân phối cho đầu tư phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và xã hội.
Với các doanh nghiệp, việc nghiên cứu nội dung, tính chất của nguồn vốn sẽ là cơ sở
cho việc lựa chọn, khai thác, huy động và sử dụng vốn một cách phù hợp với nhu cầu
vốn và khả năng cho phép của mình. Đứng trên góc độ vi mô, nguồn vốn đầu tư của các
DN, các đơn vị thực hiện đầu tư bao gồm hai nguồn chính là nguồn vốn bên trong và
nguồn vốn bên ngoài. Nguồn vốn bên trong được hình thành từ phần tích luỹ nội bộ DN
(vốn góp ban đầu, thu nhập giữ lại…) và phần khấu hao hàng năm. Nguồn vốn này có
vai trò rất lớn đối với hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh của mọi DN, nó tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp thực hiện thêm các hoạt động đầu tư mới khác, tạo cho các
doanh nghiệp vị thế vững chắc bằng chính khả năng của mình. Ở các nước phát triển, sự
lớn mạnh của nhiều Công ty, Tổng công ty, tập đoàn đã chứng tỏ khả năng tạo chỗ đứng
vững chắc trên trường quốc tế chính bằng tiềm lực tích luỹ của họ. Tuy nhiên, trong một
số trường hợp, nếu chỉ dựa vào nguồn vốn này thì sẽ tạo ra cản trở cho hoạt động đầu tư
của DN.
Nguồn vốn bên ngoài được hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành chứng
khoán ra công chúng thông qua hai hình thức tài trợ chủ yếu là tài trợ gián tiếp thông
qua các trung gian tài chính (ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng…) hoặc tài trợ
trực tiếp qua thị trường vốn (như thị trường chứng khoán, hoạt động tín dụng thuê
mua…). Với các DN có quy mô trung bình thì nguồn vốn bên ngoài luôn đóng vai trò
quan trọng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tạo tiền đề để DN có thể
phát triển, mở rộng hơn về quy mô. Các DN Việt Nam hiện nay thường lựa chọn hình

thức huy động vốn thông qua các trung gian tài chính. Còn việc huy động vốn trực tiếp
như thông qua thị trường chứng khoán chưa được các DN lựa chọn nhiều.
Tóm lại, mỗi nguồn vốn đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định đối với
mỗi loại hình DN. Tuỳ theo từng hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, các DN cần có những
sự lựa chọn phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh của mình.
II. Nội dung đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Hoạt động đầu tư phát triển bao gồm nhiều nội dung khác nhau. Tuy nhiên, dưới
góc độ doanh nghiệp thì hoạt động này bao gồm một số nội dung chủ yếu sau:
2.1. Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản:
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố định của
doanh nghiệp. Đầu tư XDCB bao gồm các hoạt động chính như: xây lắp và mua sắm
máy móc trang thiết bị. Đầu tư xây dựng công trình là hoạt động có liên quan đến việc
bỏ vốn ở giai đoạn hiện tại nhằm tạo dựng TSCĐ (là công trình xây dựng) để tiến hành
khai thác công trình, sinh lợi trong một khoảng thời gian nhất định nào đó ở tương lai.
Còn đầu tư mua sắm thiết bị máy móc là hoạt động mua sắm trang thiết bị nhằm làm
tăng năng suất lao động hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngoài ra còn có một số
hoạt động khác như đầu tư sửa chữa, nâng cấp, lắp đặt máy móc, thiết bị… Hoạt động
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
4
Đề án môn học
đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỉ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của
đơn vị.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một trong những cơ sở đầu tiên nhằm hình thành nên
DN cũng như tài sản cho DN. Chính hoạt động này sẽ giúp DN nâng cao năng suất,
chất lượng sản phẩm; từ đó tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Đầu tư nhằm tái tạo
TSCĐ là một trong những hoạt động cơ bản nhất của DN nhằm tạo tiền đề và cơ sở cho
hoạt động đầu tư vào hàng tồn trữ, đầu tư marketing cũng như hoạt động nghiên cứu
phát triển khoa học công nghệ.
Đối với các hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đầu tư chủ yếu bao gồm chi

phí xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, chi phí mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện
vận tải, chi phí lắp đặt máy móc thiết bị, chi phí đầu tư sửa chữa TSCĐ…
2.2.Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ:
Hàng tồn trữ trong DN là toàn bộ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm
hoàn thành được tồn trữ trong DN. Với mỗi loại hình DN khác nhau thì những yêu cầu
về hàng tồn trữ cũng khác nhau. Nhưng có thể nói rằng, hàng tồn trữ đóng một vai trò
khá quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, góp phần đảm bảo cho quá
trình kinh doanh được tiến hành liên tục. Chính vì thế, đầu tư vào hàng tồn trữ là điều
không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi một doanh nghiệp. Do vậy, việc
xác định quy mô đầu tư hàng dự trữ tối ưu cho doanh nghiệp là rất cần thiết. Mỗi doanh
nghiệp đều cần phải xác định một lượng hàng dự trữ hợp lý. Lượng hàng tồn kho
dự trữ hợp lý là lượng dự trữ vừa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh liên tục, vừa không
gia tăng chi phí tồn kho gây ứ đọng vốn.
Hàng tồn trữ nhằm bảo đảm yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất cũng như góp
phần ổn định mức sản xuất của đơn vị trong khi nhu cầu biến đổi. Ngoài ra, hàng tồn trữ
còn giúp bảo vệ DN trước những dự báo thấp về nhu cầu…
Đầu tư vào hàng tồn trữ tức là đầu tư vào các nguyên vật liệu của quá trinhg sản
xuất cũng như các thành phẩm, bán thành phẩm… Như thế có nghĩa là các chi phí liên
quan đến hàng tồn trữ chủ yếu bao gồm chi phí đặt hàng, chi phí liên quan đến hàng tồn
trữ trong kho và giá vốn hàng hoá. Tóm lại, đầu tư vào hàng dự trữ là điều không thể
thiếu của một doanh nghiệp. Nhưng dự trữ bao nhiêu là đủ. Đầu tư vào hàng dự trữ tạo
ra doanh thu cho doanh nghiệp nhưng nó cũng có thể làm gia tăng chi phí cho doanh
nghiệp.Vì thế, việc xác định quy mô đầu tư vào hàng dự trữ có vai trò rất quan trọng
trong quay vòng vốn, tiết kiệm chi phí, ổn định sản xuất và đáp ứng được nhu cầu luôn
biến đổi của khách hàng.
2.3. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực:
Đứng trên góc độ vĩ mô, nguồn nhân lực đựợc hiểu là nguồn lực con người của
một quốc gia, vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động,
quản lí để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn
lực tài chính…

Còn trên giác độ vi mô, nguồn nhân lực trong 1 tổ chức chính là lực lượng lao
động của từng đơn vị, tổ chức, cơ quan. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực chính là hoạt
động đầu tư để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, là điều kiện quyết định để doanh
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
5
Đề án môn học
nghiệp có thể đứng vững và giành thắng lợi trong môi trường cạnh tranh ngày càng
khốc liệt. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm: đầu tư cho hoạt động đào tạo
(chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ…)
đội ngũ lao động; đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe, y tế; đầu tư cải thiện môi
trường, điều kiện làm việc cho người lao động, cũng như việc trả lương đúng và đủ cho
người lao động…
2.4. Đầu tư nghiên cứu và triển khai hoạt động khoa học công nghệ:
ĐTPT KHCN là phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi
cần đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ.
Theo quan điểm hiện đại thì đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển khoa học kỹ
thuật là hình thức của đầu tư phát triển nhằm hiện đại hoá dây chuyền công nghệ và
trang thiết bị cũng như trình độ nhân lực, tăng năng lực sản xuất kinh doanh cũng như
cải tiến đổi mới sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, đây cũng là hoạt động đầu tư vào lĩnh vực
phần mềm của công nghệ như thông tin, thương hiệu và thể chế doanh nghiệp.
Hoạt động ĐTPT KHCN cũng là một hoạt động đầu tư phát triển. Do đó, hoạt
động này có những đặc điểm sau đây: về nguồn vốn ĐTPT KHCN đồi hỏi 1 số vốn lớn.
Từ hoạt động ĐTPT máy móc thiết bị hiện đại, đến việc ĐTPT nguồn nhân lực thông
qua đào tạo …đều đòi hỏi khối lượng vốn lớn. Do đó, về nguồn huy động vốn có thể là
rất đa dạng, việc ĐTPT KHCN không chỉ huy động nguồn vốn nội lực mà còn có thể
huy động từ bên ngoài như ODA hay FDI. Từ đó đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng
vốn sao cho có hiệu quả nhất. Về thời gian thì ĐTPT KHCN có thời gian thực hiện lâu
dài và thời gian vận hành kết quả lâu dài. Về kết quả của hoạt động đầu tư vào KHCN là
những tài sản có giá trị lớn như những công trình khoa học, trang thiết bị tiên tiến hay
trình độ nguồn nhân lực.

2.5. Một số hoạt động đầu tư khác:
Đó là các hoạt động đầu tư vào tài sản vô hình khác của DN như đầu tư cho hoạt
động Marketing, việc mua hoặc thuê quyền sử dụng đất, đầu tư vào tài sản trí tụê, các
yếu tố vô hình của sản nghiệp thương mại…
III. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư:
3.1. Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển
3.1.1. Khối lượng vốn đầu tư thực hiện
* Xét về mặt giá trị
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện bao gồm tổng số tiền đã chi để tiến hành các
hoạt động của các công cuộc đầu tư, bao gồm các chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư
xây dựng nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt máy móc thiết bị để tiến hành
các công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán và
được ghi trong dự án đầu tư được duyệt.
- Đối với các dự án đầu tư xây dựng hoặc lắp đặt do Ngân sách Nhà nước tài trợ, để số
vốn đã chi được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện thì các kết quả của quá trình
đầu tư được tách theo phương pháp đơn giá với công thức sau:
I
V
= ∑Q
i
P
i
+ C
in
+ W
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
6
Đề án môn học
Trong đó:
I

V
: Mức vốn đầu tư thực hiện
Q
i
: Khối lượng công việc hoàn thành theo đúng tiêu chuẩn.
P
i
: Đơn giá dự toán tính cho một đơn vị khối lượng công việc
C
in
: Phụ phí bao gồm những chi phí chưa được tính trong đơn giá dự toán. C
in
được
quy định theo tỷ lệ % so với một loại chi phí nào đó và được phân biệt theo từng công
trình và từng khu vực lãnh thổ đất nước Việt Nam.
W: Lãi định mức, được Nhà nước quy định theo tỷ lệ % so với giá thành dự toán
hoặc giá trị dự toán của khối lượng công việc hoàn thành.
- Đối với công tác mua sắm trang thiết bị máy móc.
+ Đối với những trang thiết bị cần lắp:
Iv
TB
= Giá mua + CP vận chuyển + CP bảo quản cho đến khi giao lắp
+ Đối với những trang thiết bị không cần lắp:
Iv
TB
= Giá mua + Chi phí vận chuyển đến kho và nhập kho.
* Xét về mặt hiện vật:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thông qua hoạt động xây lắp được chuyển hoá thành
các công trình và hạng mục công trình đã hoàn thành hoặc s t n máy đã lắp xong, các
linh kiện cấu kiện được tạo ra ngay tại công trình.

3.1.2. Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình đối tượng xây
dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã
làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt động được ngay.
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất, phục
vụ của các TSCĐ đã được huy động vào sử dụng chúng để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến
hành các hoạt động dịch vụ theo quy định được ghi trong dự án đầu tư.
Các TSCĐ được huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là các sản
phẩm cuối cùng của các công cuộc đầu tư, chúng có thể được biểu hiện bằng tiền mặt
hoặc bằng hiện vật. Các chỉ tiêu biểu hiện bằng hiện vật như số lượng các TSCĐ được
huy động, công suất hoặc năng lực phát huy tác dụng của các TSCĐ được huy động, mức
tiêu dùng nguyên vật liệu trong một đơn vị thời gian...
Công thức tính giá trị TSCĐ huy động được của một dự án đầu tư:
F = Iv
o
- C
Trong đó: F: Giá trị TSCĐ được huy động.
Iv
o
: Vốn đầu tư đã được thực hiện của các đối tượng, hạng mục công trình đã được
huy động.
C: Các chi phí không làm tăng giá trị TSCĐ bao gồm: chi phí đào tạo cán bộ, nhân
viên; chi phí quản lý công trình xây dựng, chi phí cho chuẩn bị sản xuất, chuẩn bị xây
dựng...
3.1.3. Chỉ tiêu phản ánh mức độ đạt được kết quả cuối cùng trong số vốn đầu tư
đã được thực hiện.
Hệ số này càng lớn thì chứng tỏ dự án mang lại kết quả về giá trị TSCĐ huy
động được lớn. Cũng đồng nghĩa với dự án là một dự án mang tính vững chắc cao.
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
7

Đề án môn học
Hệ số huy động TSCĐ của dự án = Giá trị TSCĐ đã được huy động của dự án/ Tổng
vốn đầu tư đã được thực hiện của dự án.
3.1.4. Chỉ tiêu phản ánh cường độ thực hiện đầu tư và kết quả cuối cùng của đầu tư.
i
v
= Iv
o
/F
Trong đó: i
v
: Vốn đầu tư thực hiện của một đơn vị TSCĐ huy động.
Iv
o
: Vốn đầu tư đã thực hiện
F: Giá trị TSCĐ huy động.
Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt nhưng phải luôn > 1 thì mới đảm bảo cho hoạt động đầu
tư ngày càng mở rộng và việc triển khai các kết quả của đầu tư thuận lợi.
3.2. Hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển
3.2.1. Khái niệm và phân loại hiệu quả đầu tư:
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả
kinh tế-xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả
đó trong một thời kì nhất định và được đánh giá thông qua các chỉ tiêu đo lường hiệu quả.
Việc xác định các chỉ tiêu này phụ thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp, thỏa mãn tiêu
chuẩn hiệu quả trên cơ sở sử dụng các định mức hiệu quả do doanh nghiệp định ra.
Theo phạm vi lợi ích thì phân loại hiệu quả đầu tư gồm hiệu quả tài chính và hiệu
quả kinh tế- xã hội. Hiệu quả tài chính hay được gọi là hiệu quả hạch toán kinh tế, được
xem xét trong phạm vi một doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế- xã hội của hoạt đông đầu tư
là hiệu quả tổng hợp được xem trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế.
Để đáp ứng nhu cầu quản lý và nghiên cứu thì có thể phân loại hiệu quả đầu tư

theo các tiêu thức sau đây:
- Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội có hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả
kĩ thuật hiệu quả quốc phòng.
- Theo phạm vi tác dụng của hiệu quả, có hiệu quả đầu tư của từng dự án, từng
doanh nghiệp, từng ngành, địa phương và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Theo phạm vi lợi ích có hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội. Hiệu quả
tài chình là hiệu quả kinh tế được xem xét trong phạm vi một doanh nghiệp còn hiệu
quả kinh tế-xã hội là hiệu quả tổng hợp được xem xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế.
-Theo cách tính toán có hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối .Hiệu quả tuyệt
đối là hiệu quả được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí. Còn hiệu quả tương đối
được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.
3.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư :
2.2.1. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư :
Hiệu quả tài chính (E
tc
) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu phát
triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống của người lao động
trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở vốn đầu tư mà cơ sở đã sử dụng
so với các kì khác, các cơ sở khác hoặc so với định mức chung. Việc phân tích đánh giá
hiệu qủa tài chính của dự án đầu tư dựa trên các báo cáo tài chính của Công ty về tình
hình hoạt động tài chính tại doanh nghiệp. Trong quá trình phân tích bằng các chỉ tiêu
giá trị cần phải tính tới giá trị thời gian của tiền. Bởi vì, các kết quả do hoạt động đầu tư
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
8
Đề án môn học
đem lại rất đa dạng và trong một thời gian dài, trong khi đó giá trị của tiền lại hay thay
đổi theo thời gian.
Etc được coi là hiệu quả khi E
tc
>E

tc0
.
Trong đó: E
tc0
: chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của các kỳ khác mà cơ sở đạt
được chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của đơn vị khác đạt tiêu chuẩn hiệu quả.
Để đánh giá hiệu quả tài chính chúng ta phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu như:
a, Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án:
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư và phải được tính chuyển về
mặt bằng tiền tệ theo thời gian.
Chỉ tiêu lợi nhuận thuần (W-Worth) tính cho từng năm của đời dự án, phản ánh hiệu quả
hoạt động trong từng năm của đời dự án và được xác định như sau:
W
i
= O
i
– C
i
Trong đó: O
i
– Doanh thu thuần năm i
C
i
: Các chi phí ở năm i bao gồm tất cả các khảon chi có liên quan đến sản
xuất, kinh doanh ở năm i (chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm, chi phí quản lý
hành chính…)
( ) ( )
∑ ∑
= =
+


+
=
n
i
n
i
i
i
i
i
r
C
r
B
NPV
0 0
11
Đây là chỉ tiêu vô cùng quan trọng khi đánh giá các dự án đầu tư. Một dự án được coi là
có hiệu quả tài chính khi NPV > 0.
b, Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư:
Nếu tính cho từng năm hoạt động:
RR
i

= W
ipv
/ Iv
o
RR

i
là mức sinh lời của vốn đầu tư năm i
W
ipv
là lợi nhuận năm I tính chuyển về thời điểm hiện tại .
I
v0
là vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại (tại thòi điểm dự án bắt đầu hoạt động)
Nếu tính cho cả đời dự án:
npv = NPV / I
vo
npv: mức thu nhập thuần tính trên một đơn vị vốn đầu tư
NPV: Thu nhập thuần tính chuyển về thời điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từng năm trên một đơn vị vốn đầu tư
phát huy tác dụng (1000đ, 1000000đ,…).
c, Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn tự có:
Vốn tự có là một bộ phận rất quan trọng của vốn đầu tư, là một thành phần giữ vai trò
quyết định trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp bởi đây là yếu tố cơ bản để xem xét tiềm
lực tài chính cho việc tiến hành các công cuộc đầu tư có hiệu quả. Chỉ tiêu này được xác
định:
- Nếu tính cho từng năm hoạt động của dự án: r
Ei
= W
i
/ E
i
trong đó: r
Ei
: Tỷ suất sinh lời vốn tự có năm i
E

i
: Vốn tự có bình quân năm i
W
i
: Lợi nhuận thuần năm i
- Nếu tính cho cả đời dự án: npv
E
= NPV / E
pv
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
9
Đề án môn học
trong đó : npv : mức thu nhập thuần tính trên một đơn vị vốn tự có
E
pv
: Vốn tự có bình quân năm của đời dự án tính ở thời điểm dự án bắt đầu đi
vào hoạt động
Chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập của đời dự án tính ở thời điểm dự án bắt đầu đi vào
hoạt động.
d, Tỷ suất giữa giá trị gia tăng với tổng vốn
Giá trị gia tăng
Tỷ suất giữa giá trị gia tăng với tổng vốn = ------------------ x100%
Tổng vốn
Chỉ tiêu này phản ảnh cứ một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh
tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng nhằm thực hiện tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp,
đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nguời lao
động. Tỷ suất giá trị gia tăng phản ảnh một cách tổng quát và đầy đủ nhất hiệu quả sản
xuất kinh doanh đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, phản ảnh cả hiệu quả kinh tế lẫn xã
hội mà doanh nghiệp nhà nước tạo ra trong quá trình hoạt động.
e, Tỷ suất giữa thuế với tổng vốn

Thuế phải nộp
Tỷ suất giữa thuế với tổng vốn = ---------------------- x 100%
Tổng vốn
Chỉ tiêu này phản ảnh cứ một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh tạo được bao nhiêu đồng thuế nộp vào ngân sách nhà nước. Tỷ suất thuế trên vốn
phản ánh rõ nét hiệu quả đóng góp của doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế quốc
dân.
f, Tỷ suất giữa lợi nhuận với tổng vốn
Lợi nhuận hoạt động sau thuế
Tỷ suất giữa lợi nhuận = ----------------------------------x100%
với tổng vốn Tổng vốn
Lợi nhuận hoạt động= [Doanh thu - Tổng chi phí chưa trừ chi phí trả lãi] [1 - Thuế suất
thuế lợi tức]
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn phản ánh đúng hiệu qủa kinh tế của việc sử dụng tài sản
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh trong việc tạo ra kết quả thực chất do doanh
nghiệp nhà nước mang lại. Bên cạnh đó, cách tính này phản ánh rõ nét mức độ hoàn
vốn, bởi vì tổng vốn sử dụng bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ vay nên kết quả đạt được
phải hoàn lại cho chủ sở hữu và chủ nợ ở dạng lợi nhuận sau thuế và chi phí lãi vay sau
thuế.
g, Tỷ suất giữa lợi nhuận với vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất giữa lợi nhuận với = --------------------------- x 100%
vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất giữa lợi nhuận với vốn chủ sở hữu phản ảnh một cách rõ nét nhất, hiện hữu
nhất, tập trung nhất trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp đó là lợi nhuận. Nó
là thước đo hoàn hảo đánh giá sự thành công của doanh nghiệp, phản ánh một cách tổng
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
10
Đề án môn học
hợp hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả của chính sách tài chính mà doanh nghiệp áp

dụng.
h, Tỷ số nợ
Nợ phải trả
Tỷ số nợ = -------------------x 100%
Tổng vốn
Chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ phần trăm sử dụng nợ (vay dài hạn, ngắn hạn, chiếm
dụng) để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ số nợ là chỉ tiêu phản
ánh cơ cấu, không trực tiếp phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng sự
thay đổi của nó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
i, Hệ số khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán là công cụ đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
nó là điều kiện, là cơ sở đầu tiên để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Tùy theo khả
năng chuyển hóa thành tiền mặt của các loại tài sản trong năm thực tế của mỗi doanh
nghiệp, có thể sử dụng các hệ số khả năng thanh toán sau đây: hệ số khả năng thanh
toán hiện hành, hệ số khả năng thanh toán nhanh, hệ số khả năng thanh toán bằng tiền.
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Hệ số khả năng = ------------------------------------------ x100%
thanh toán ngắn hạn Nợ ngắn hạn
Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn. Nếu hệ số
này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của
mình khi tới hạn. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình tài
chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để
huy động thêm vốn.
Ngoài ra, còn có một số chỉ tiêu khác nhằm đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt
động đầu tư như: Hệ số huy động TSCĐ (so với vốn đầu tư thực hiện trong kỳ hay so
với toàn bộ vốn đầu tư thực hiện), mức chi phí đầu tư tiết kiệm được so với tổng mức
dự toán; thời gian hoàn thành sớm so với thời gian dự kiến đưa công trình vào hoạt động
song vẫn đảm bảo chất lượng công trình và chi phí trong phạm vi được duyệt.
2.2.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội:
Một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của đầu tư trong doanh

nghiệp như sau:
- Mức đóng góp cho ngân sách tăng thêm trong kỳ nghiên cứu của doanh nghiệp
so với vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu của doanh nghiệp (kỳ nghiên
cứu có thể là 1 năm hoặc một số năm): chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị vốn đầu tư phát
huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu của doanh nghiệp đã đóng góp cho ngân sách với mức
tăng thêm là bao nhiêu.
- Số lao động có việc làm do đầu tư và số lao động có việc làm tính trên 1 đơn vị
vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu: chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị vốn đầu
tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu tạo ra số chỗ việc làm tăng thêm là bao nhiêu.
- Thu nhập bình quân của người lao động
Tổng thu nhập của lao động
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
11
Đề án môn học
Thu nhập bình quân NLĐ = -----------------------------------x100%
Số lao động bình quân
Nâng cao thu nhập người lao động là tiêu chuẩn để đánh gía doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả hay không, điều này xuất phát từ mục đích của nền kinh tế xã hội
nước ta. Chú ý rằng, tăng thu nhập bình quân của người lao động được đánh giá tích cực
khi tốc độ tăng của nó phải nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động. Bởi vì, chỉ đảm bảo
tốt nguyên tắc đó mới đảm bảo tái sản xuất mở rộng và việc nâng cao thu nhập người
lao động mới bền vững.
- Mức thu nhập tăng thêm so với vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên
cứu của doanh nghiệp: chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị vốn đầu tư phát huy tác dụng trong
kỳ nghiên cứu đem lại mức thu nhập (tiền lương của người lao động) tăng thêm là bao
nhiêu. Ngoài các chỉ tiêu cơ bản trên, trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội của
doanh nghiệp nhà nước còn có thể sử dụng các chỉ tiêu khác như mức nâng cao trình độ
nghề nghiệp, mức độ đáp ứng các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của
đất nước so với vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu.
- Một số lợi ích xã hội khác thu được từ việc thực hiện dự án.

Việc thực hiện dự án đầu tư có thể sẽ góp phần phát triển ngành chủ quản hoặc các
ngành khác, có thể thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, góp phần phát triển địa
phương tăng thêm thu nhập, điều chỉnh thu nhập, điều chỉnh cơ cấu kinh tế góp phần
thực hiện chủ trương phát triển của Nhà nước. Các chỉ tiêu này không thể định lượng
được nhưng không thể không tính tới chúng.
Kết luận Chương I:
Chương này đề cập đến những khái niệm cơ bản về đầu tư phát triển trong doanh
nghiệp cũng như các cách đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động này. Năm vững
được các lý luận chung nêu trên sẽ giúp các doanh nghiệp nhận thức đầy đủ và đúng đắn
hơn về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp mình, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
12
Đề án môn học
Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI TẬP
ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM (EVN)
I. Giới thiệu về tập đoàn Điện lực Việt Nam
1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tổng Công ty Điện lực Việt Nam được chuyển đổi thành Tập đoàn Điện lực Việt
Nam – EVN từ năm 2006 theo Quyết định số 48/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ. EVN là đơn vị kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực. Trong đó, sản xuất, kinh
doanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực là ngành nghề kinh doanh
chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu
triển khai, đào tạo.
Mục tiêu hoạt động của EVN thể hiện rõ qua 3 tiêu chí: Kinh doanh có lãi, bảo
toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào
các doanh nghiệp khác; Giữ vai trò trung tâm để phát triển một Tập đoàn Điện lực Quốc
gia Việt Nam đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối; Tối đa hóa hiệu quả hoạt
động của EVN.
Hiện nay, EVN có 11 công ty điện lực kinh doanh điện năng đến khách hàng,

trong đó, có 3 công ty điện lực vùng và 8 công ty điện lực tỉnh, thành phố. Lĩnh vực
truyền tải cũng đang có những bước phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của Tổng Công ty
Truyền tải Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại 4 công ty Truyền tải (Công ty Truyền tải 1, 2,
3, 4) và 3 Ban Quản lý dự án (Ban Quản lý dự án miền Bắc, Trung, Nam). Bên cạnh đó,
lĩnh vực cơ khí điện lực và viễn thông công cộng ngày càng chiếm vị trí quan trọng trên
thị trường với những cái tên như: Công ty CP Cơ khí Điện lực, Công ty CP Chế tạo
Thiết bị Điện Đông Anh… hay EVNTelecom. Ngoài các lĩnh vực chính kể trên, EVN
cũng không ngừng phát huy thế mạnh của mình trên các lĩnh vực như: Tư vấn; nghiên
cứu – đào tạo, tài chính – ngân hàng… Đây sẽ là những thế mạnh khác giúp EVN phát
triển vững mạnh và toàn diện hơn.
Nhằm định hướng cho quá trình phát triển ngành điện Việt Nam, ngày 5 tháng 10
năm 2004 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 176/2004/QĐ-TTG phê duyệt Chiến
lược phát triển ngành Điện Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010, định hướng đến 2020.
Theo đó, mục tiêu phát triển của ngành Điện Việt Nam trong thời gian tới là: sử dụng
tốt các nguồn thuỷ năng, khí và than để phát triển cân đối nguồn điện; xây dựng các
cụm khí - điện - đạm ở Phú Mỹ và khu vực Tây Nam; xúc tiến nghiên cứu, xây dựng
thuỷ điện Sơn La; nghiên cứu phương án sử dụng năng lượng nguyên tử; đồng bộ hoá,
hiện đại hoá mạng lưới phân phối điện quốc gia; đa dạng hoá phương thức đầu tư và
kinh doanh điện; có chính sách thích hợp về sử dụng điện ở nông thôn, miền núi; tăng
sức cạnh tranh về giá điện so với khu vực.
Dựa trên những mục tiêu phát triển đưa ra, chiến lược hoạt động của EVN trong
thời gian tới là kinh doanh đa ngành, đa sở hữu, có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và
chuyên môn hóa cao; trong đó, các ngành sản xuất và kinh doanh điện năng, viễn thông
công cộng, cơ khí điện lực vẫn là những ngành kinh doanh chính, làm nòng cốt để ngành
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
13
Đề án môn học
công nghiệp điện lực Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh và hội nhập
kinh tế quốc tế có hiệu quả.
1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy

Theo Quyết định số 163/2007/QĐ-TTg ngày 22/10/2007 về Điều lệ tổ chức và
hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), EVN là công ty mẹ trong Tập đoàn
Điện lực Quốc gia Việt Nam, có tư cách pháp nhân, thuộc sở hữu nhà nước, được thành
lập theo Quyết định số 148/2006/QĐ-TTg ngày 22/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ.
Cơ cấu tổ chức quản lý và điều hành của EVN gồm Hội đồng quản trị (HĐQT),
Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy giúp
việc. HĐQT là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại EVN, thực hiện các
quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty con do EVN nắm giữ 100% vốn
điều lệ và chủ sở hữu đối với cổ phần, vốn góp của EVN tại các doanh nghiệp khác. Ban
kiểm soát có tối đa 5 thành viên do HĐQT thành lập để giúp HĐQT kiểm tra, giám sát
tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh,
sổ sách kế toán, báo cáo tài chính và việc chấp hành Điều lệ của EVN, nghị quyết, quyết
định của HĐQT.
1.3 Tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh
Được hình thành trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty Điện lực Việt Nam
và các đơn vị thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam. (EVN) là Tập đoàn kinh tế đa sở
hữu có trình độ công nghệ tiên tiến, trình độ quản lý hiện đại và chuyên môn hóa cao,
kinh doanh đa ngành. Trong đó, sản xuất và kinh doanh điện năng, viễn thông công
cộng, cơ khí điện lực, tài chính, ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm là những ngành
kinh doanh chính, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất kinh doanh với khoa học, công nghệ,
nghiên cứu triển khai, đào tạo, làm nồng cốt để ngành công nghiệp điện lực Việt Nam
phát triển nhanh và bền vững, đủ sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế có
hiệu quả.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam tiếp tục nắm giữ 100% vốn điều lệ đối với những
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực truyền tải hệ thống điện quốc gia, sản xuất điện
quy mô lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh; nắm
giữ hơn 50% tổng số cổ phần những doanh nghiệp có vai trò bảo đảm cân đối lớn của
nền kinh tế, bình ổn thị trường hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện.
Chỉ trong giai đoạn từ 1995-2008, tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm ở nước
ta luôn ở mức cao nhất trong khu vực và trên thế giới, bình quân đạt 15,06%, tăng gấp 2

lần tăng trưởng GDP. Đến nay, 100% số huyện, 97,32% số xã và 94,67% số hộ dân
nông thôn có điện, cao hơn nhiều nước trong khu vực, vượt trước chỉ tiêu của nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ X đề ra.
Hiện nay, tổng công suất nguồn điện thuộc sở hữu và chi phối của EVN chiếm
68% công suất toàn hệ thống điện, sản lượng điện sản xuất chiếm 71,53% sản lượng
điện toàn hệ thống. Với quy mô 71 đơn vị thành viên và trực thuộc, 22 đơn vị liên kết,
về cơ bản EVN đã hoàn thiện các cơ chế quản lý, điều hành. Bên cạnh lĩnh vực sản xuất
và kinh doanh điện năng, hai ngành nghề kinh doanh chính khác là viễn thông công
cộng và cơ khí chế tạo thiết bị điện được mở rộng. Các hoạt động kinh doanh khác như
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
14
Đề án môn học
tài chính, ngân hàng... cũng từng bước phát triển, tạo thêm kênh huy động vốn hiệu quả
cho các dự án đầu tư xây dựng nguồn và lưới điện của Tập đoàn.
EVN còn là một doanh nghiệp đi đầu trong thực hiện liên kết lưới điện liên quốc
gia, kết nối lưới điện ở cấp điện áp 110kV và 220kV với Công ty Lưới điện Phương
Nam (Trung Quốc), đang cung cấp điện cho Thủ đô Phnômpênh của Căm-pu-chia qua 2
đường dây 220kV, đồng thời bán điện cho nhiều địa phương khác trên nước bạn Căm-
pu-chia và Lào ở nhiều điểm dọc biên giới.
EVN là một trong những tập đoàn kinh tế mạnh hàng đầu của Việt Nam, phát
triển và ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh
doanh, quản lý, điều hành có hiệu qụả. Các hệ thống thông tin trong các lĩnh vực tài
chính, kế toán, quản lý vật tư, sản xuất kinh doanh điện và kinh doanh viễn thông đã
được thực hiện đồng bộ trên phạm vi 64 tỉnh, thành phố trong cả nước và tại tất cả các
đơn vị thành viên của EVN với các phần mềm dùng chung. Cho đến nay, EVN Telecom
đang là một trong ba nhà cung cấp dịch vụ viễn thông có đầy đủ các giấy phép thiết lập
mạng và kinh doanh dịch vụ viễn thông công cộng, bao gồm: Dịch vụ điện thoại cố định
có dây và không dây); Dịch vụ điện thoại di động; Dịch vụ cho thuê kênh riêng; Dịch vụ
Internet (LSP và IXP); Dịch vụ kết nối cổng Quốc tế; Dịch vụ điện thoại đường dài
trong nước và quốc tế với mã số 179.

Do nguồn và hệ thống lưới điện phát triển mạnh và tăng nhanh, EVN đã đặc
biệt chú trọng công tác đào tạo lại và đào tạo mới nguồn nhân lực để đáp úng nhu cầu
nhân lực cho vận hành các nhà máy và hệ thống lưới điện. EVN hiện có Trường đại học
Điện lực Hà Nội, Trường cao đẳng Điện lực TP Hồ Chí Minh, Trường cao đẳng Điện
lực miền trung và đang hoàn tất hồ sơ để nâng cấp Trường đào tạo nghề Điện hiện nay
thành Trường cao đẳng nghề Điện. Các trường này đã mở thêm sáu ngành nghề đào tạo
hệ đại học, 15 ngành nghề hệ cao đẳng, 10 ngành nghề hệ trung cấp.
II. Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển tại tập đoàn Điện lực Việt Nam
2.1 Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển tại tập đoàn điện lực Việt Nam
Giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực trọng yếu của quốc gia, đầu tư phát triển tại
EVN đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng cho phát triển kinh
tế và đời sống nhân dân. Trong cơ cấu ngành điện hiện nay, do EVN đang quản lý toàn
bộ hệ thống truyền tải điện quốc gia, hệ thồng điều độ quốc gia, hệ thống phân phối
điện, chính vì thế đầu tư phát triển tại tập đoàn Điện lực Việt Nam được định hướng bởi
các kế hoạch và chính sách của Nhà nước với mục tiêu đáp ứng cơ bản nhu cầu điện cho
phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo điện cho sản xuất và xuất khẩu; đảm bảo tiến độ đầu
tư cho các công trình nguồn và lưới điện trong Quy hoạch điện VI (QHĐVI).
Tập trung đầu tư chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất và truyền tải điện năng, mở
rộng quy mô sản lượng điện, mở rộng mạng lưới điện nông thôn, không ngừng khai thác
và mở rộng các nguồn điện, nâng cao năng lực cung ứng đảm bảo nguồn điện cho phát
triển kinh tế.
Đối với các lĩnh vực kinh doanh khác, như ngân hàng, tài chính, viễn thông…đầu
tư với kế hoạch hợp lý. Tập trung sắp xếp lại tổ chức kinh doanh viễn thông công cộng,
tăng cường sự phối hợp giữa EVNTelecom và các đơn vị khác. Đầu tư nâng cao chất
Trần Khánh Linh - Lớp: Kinh tế đầu tư 49D
15

×