Tải bản đầy đủ (.doc) (112 trang)

THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU MẶT HÀNG DA GIÀY SANG TH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DA GIÀY VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (585.44 KB, 112 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trêng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n
khoa kinh tÕ vµ kinh doanh quèc tÕ
Chuyªn ngµnh qu¶n trÞ kinh doanh quèc tÕ
  
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI : THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU MẶT HÀNG DA GIÀY
SANG THỊ TRƯỜNG EU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
DA GIÀY VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Anh Minh
Sinh viên thực hiện : Phạm Tuấn Anh
Lớp : KDQT46A
Hệ : Chính qui
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368


Hµ Néi 4 - 2008
2
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
MỤC LỤC
Lời mở đầu 4
Chương 1 : Cơ sở lý luận về xuất khẩu và sự cần thiết phải xuất khẩu mặt
hàng da giày của Việt Nam Việt Nam sang thị trường EU 7
1.1. Những vấn đề chung về xuất khẩu
1.1.1. Khái niệm 7
1.1.2. Vai trò của xuất khẩu 7
1.1.3. Các hình thức xuất khẩu 11
1.1.4. Nội dung của hoạt động xuất khẩu 15
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu 24


1.2. Lý luận về thúc đẩy xuất khẩu 34
1.2.1. Khái niệm thúc đẩy xuất khẩu 34
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá thúc đẩy xuất khẩu của doanh nghiệp 34
1.2.3. Các biện pháp doanh nghiệp có thể áp dụng để thúc đẩy xuất khẩu 36
1.3. Đặc điểm của mặt hàng da giày và sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu mặt
hàng da giày sang thị trường EU 42
1.3.1. Đặc điểm của mặt hàng da giày 42
1.3.2. Sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng da giày 42
sang thị trường EU
Chương 2 : Thực trạng xuất khẩu mặt hàng da giày của công ty cổ phần da
giày Việt Nam 47
2.1. Giới thiệu về công ty cổ phần da giày Việt Nam 47
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
1
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty 47
2.1.2. Mô hình bộ máy quản trị và tổ chức sản xuất 49
2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần da giày Việt
Nam 53
2.1.4. Những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của công ty ảnh hưởng tới hoạt động
xuất khẩu mặt hàng da giày 56
2.2 . Thực trạng xuất khẩu mặt hàng da giày sang thị trường EU của công ty cổ
phần da giày Việt Nam 61
2.2.1. Đặc điểm của thị trường da giày EU 61
2.2.2. Tình hình thực hiện hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần 69
da giày Việt Nam sang thị trường EU
2.2.3. Đánh giá hoạt động xuất khẩu mặt hàng da giày sang thị trường EU của
công ty cổ phần da giày Việt Nam 78
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng da giày sang thị trường
EU của công ty cổ phần da giày Việt Nam 84

3.1. Cơ hội và thách thức đối với mặt hàng da giày của Việt Nam trên thị trường
EU 84
3.1.1. Cơ hội 84
3.1.2. Thách thức 86
3.2. Phương hướng xuất khẩu mặt hàng da giày sang thị trường EU của công ty
cổ phẩn da giày Việt Nam 88
3.2.1. Mục tiêu phát triển chung của công ty 89
3.2.2. Phưong hướng xuất khẩu của công ty cổ phần da giày Việt Nam sang thị
trường EU 89
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
2
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
3.3. Các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng da giày sang thị trường
EU của công ty cổ phần da giày Việt Nam 90
3.3.1. Các giải pháp tháo gỡ những khó khăn trước mắt của công ty 90
3.3.2. Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu trong tương lai 96
3.3.3. Một số kiến nghị 101
Kết Luận 106
Danh mục tài liệu tham khảo 107
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
3
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1. 1 : Lợi thế so sánh của Việt Nam về lao động và chất lượng 45
sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp
Bảng 2.1 : Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ 54
phần Da Giày Việt Nam
Bảng 2.2 : Cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổ phần Da Giày Việt Nam 58
Bảng 2.3 : Danh mục đất đai, nhà xưởng công ty cổ phần Da Giày Việt 61
Nam

Bảng 2.4 : Phân loại nhóm sản phẩm da giày tại thị trường EU 67
Bảng 2.5 : Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng da giày của công ty cổ phần 71
da giày Việt Nam sang thị trường EU
Bảng 2.6 : Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của công ty cổ phần da giày 73
Việt Nam sang thị trường EU
Bảng 2.7 : Cơ cấu thị trường xuất khẩu (thị trường EU) của công ty 76
cổ phần Da Giày Việt Nam
Bảng 2.8 : Các hình thức xuất khẩu của công ty cổ phần Da Giày 77
Việt Nam
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 : Mô hình bộ máy tổ chức công ty cổ phần Da Giày Việt Nam 51

PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
4
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
LỜI MỞ ĐẦU
Tính tất yếu của đề tài
Ngành da giày Việt Nam là ngành công nghiệp chiếm vị trí thứ ba về kim ngạch
xuất khẩu, chỉ sau ngành dệt may và dầu khí, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Là ngành có định hướng xuất khẩu rõ rệt
( chiếm trên 90% sản lượng sản xuất ), tỷ lệ xuất khẩu của ngành luôn chiếm
khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Việt Nam luôn là một trong
10 nước sản xuất và xuất khẩu giày lớn nhất trên thế giới. Từ năm 2004, Việt
Nam đã trở thành nước đứng thứ tư thế giới về xuất khẩu giày dép sau Trung
Quốc, Hồng Kông, Italya. Trong số các thị trường xuất khẩu chủ yếu, EU là thị
trường xuất khẩu lớn nhất của ngành da giày Việt Nam. Hàng năm có khoảng
90% sản phẩm do ngành sản xuất được xuất khẩu sang các thị trường, trong đó
thị trường EU chiếm tỷ trọng 59% ( không kể số xuất khẩu qua các nước thứ ba ),
thị trường Mỹ 20%, thị trường Nhật Bản 3%, còn lại là các thị trường nhỏ khác.
Theo thống kê của EU, từ năm 1996, Việt Nam đã đạt vị trí thứ ba ( sau Trung

Quốc và Indonexia ) trong số các nước xuất khẩu giày dép nhiều nhất vào EU.
Tuy nhiên, xuất phát từ nội tại sản xuất nhiều năm qua, ngành da giày Việt
Nam còn nhiều tồn tại chưa khắc phục được. Dù là nước xuất khẩu lớn, nhưng
các doanh nghiệp da giày Việt Nam chủ yếu sản xuất và xuất khẩu theo phương
thức gia công, không chủ động được nguồn nguyên liệu, bị hạn chế về vốn và
công nghệ. Trong khi đó đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam là Trung
Quốc đã xây dựng được ngành công nghiệp hỗ trợ như ngành sản xuất nguyên
phụ liệu và các trung tâm phát triển mẫu mốt nằm cạnh các khu công nghiệp sản
xuất giày dép, rất thuận lợi cho việc đáp ứng triển khai mẫu mã mới của khách
hàng. Với những thuận lợi đó, Trung Quốc hiện đang chiếm lĩnh thị phần thống
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
trị tại các thị trường lớn như 83,5 % tại Mỹ và hơn 64 % thị trường EU. Đây thực
sự là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp thuộc ngành da giày của Việt
Nam.
Hiện nay, dù Việt Nam đã là thành viên của WTO, ngành da giày Việt
Nam vẫn chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ các đối thủ mạnh như Trung Quốc, Ấn
Độ, Indonexia, Thái Lan… do họ có ưu thế hơn về vốn, công nghệ, đặc biệt là
chủ động về nguồn nguyên liệu.
Ngoài những thách thức và áp lực trong cạnh tranh, mức thuế 10 % mà EC
đang áp dụng đối với mặt hàng giày mũ da xuất xứ Việt Nam ( từ tháng 10/2006)
đã khiến nhiều doanh nghiệp da giày gặp khó khăn trong đàm phán, tiếp nhận các
đơn hàng mới và đứng trước nguy cơ bị mất đơn hàng, mất luôn cả khách hàng.
Là một doanh nghiệp có truyền thống lâu đời trong lĩnh vực da giày, công
ty cổ phần da giày Việt Nam cũng không tránh khỏi những khó khăn và thách
thức nói trên. Hoạt động sản xuất và xuất khẩu mặt hàng da giày của công ty
trong những năm gần đây đã có những dấu hiệu giảm sút.
Trước thực trạng nói trên, em đã quyết định chọn đề tài : “ THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU MẶT HÀNG DA GIÀY SANG TH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

DA GIÀY VIỆT NAM “ nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp góp phần thúc
đẩy hoạt động xuất khẩu của công ty sang thị trường EU.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Công ty cổ phần da giày Việt Nam và hoạt động xuất khẩu các mặt hàng
da giày của công ty sang thị trường EU trong thời gian qua nhằm tìm ra các giải
pháp phù hợp để thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu của công ty sang thị trường này
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Phương pháp nghiên cứu
Tập hợp và phân tích những số liệu thu thập được nhằm đưa ra cái nhìn
tổng quát về hoạt động xuất khẩu của công ty, qua đó đề xuất một số giải pháp.
Kết cấu của đề tài
Chương 1 : Cơ sở lý luận về xuất khẩu và sự cần thiết phải thúc đẩy xuất
khẩu mặt hàng da giày Việt Nam sang thị trường EU
Chương 2 : Thực trạng xuất khẩu mặt hàng da giày của công ty cổ phần da
giày Việt Nam
Chương 3 : Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng da giày sang thị trường
EU của công ty cổ phần da giày Việt Nam
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ SỰ CẦN
THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY XUÂT KHẨU MẶT HÀNG DA GIÀY
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
1.1. Những vần đề chung về xuất khẩu
1.1.1. Khái niệm
Xuất khẩu là hoạt động đưa các hàng hoá, dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia
khác.Xuất khẩu được coi là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít rủi ro

và chi phí thấp. Dưới giác độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng hoá và
dịch vụ. Dưới giác độ phi kinh doanh như quà tặng hoặc viện trợ không hoàn lại
thì hoạt động đó lại là việc lưu chuyển hàng hoá hoặc dịch vụ qua biên giới quốc
gia.
1.1.2. Vai trò của xuất khẩu
1.1.2.1. Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển nền kinh tế
Xuất khẩu được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối
ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc mở rộng xuất khẩu để
tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho sự
phát triển kinh tế là một mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thương mại.
 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất
nước
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để
khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để công nghiệp hoá
đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu
máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như :
• Xuất khẩu hàng hoá
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
8
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
• Đầu tư nước ngoài
• Vay nợ, viện trợ
• Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ
• Xuất khẩu sức lao động
Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ… tuy quan
trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này.
Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước là xuất
khẩu. Xuất khẩu quyết định qui mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu.
Ở Việt Nam, thời kỳ 1986 – 1990, nguồn thu từ xuất khẩu hàng hoá đảm

bảo tới trên 75 % nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, tương tự, thời kỳ 1991 – 1995
là 66 % và 1996 – 2000 là 50 % (đó là chưa thống kê nguồn vốn thông qua xuất
khẩu dịch vụ ).
Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên nhưng mọi cơ hội đầu tư
và vay nợ nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và
người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu – nguồn vốn chủ yếu để trả nợ –
trở thành hiện thực.
 Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ. Đó là thành
quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển của nền
kinh tế thế giới và là tất yếu đối với nước ta.
Có 2 cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế :
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
• Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ các sản phẩm thừa do sản xuất
vượt quá nhu cầu nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu, chậm
phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dung. Do vậy,
nếu chỉ thụ động chờ ở sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ
nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp. Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ
diễn ra rất chậm chạp.
• Hai là coi thị trường, đặc biệt là thị trường thế giới là huớng quan trọng
để tổ chức sản xuất. Quan điểm thứ 2 chính là xuất phát từ nhu cầu của thị
trường thế giới để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này
đến sản xuất thể hiện ở chỗ :
o Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có cơ hội phát triển thuận lợi.

Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho
việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bong, sợi hay thuốc
nhuộm, công nghiệp tạo mẫu… Sự phát triển của ngành công nghiệp
chế biến thực phẩm xuất khẩu, dầu thực vật, chè… có thể sẽ kéo theo
sự phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó.
o Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho
sản xuất phát triển và ổn định.
o Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
o Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và
nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Điều này muốn nói xuất khẩu là
phương tiện quan trọng tạo ra vốn, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến từ
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
10
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
thế giới bên ngoài vào Việt Nam, nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất
nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới.
o Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của nước ta sẽ tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc canh
tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu
sản xuất luôn thích nghi được với thị trường.
o Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn
thiện công việc quản trị kinh doanh, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị
trường.
 Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến việc làm và đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trước
hết, sản xuất, chế biến và dịch vụ hàng xuất khẩu đang trực tiếp là noi thu hút
hàng triệu lao động vào làm việc với mức thu nhập không thấp.
Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu

phục vụ trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu
tiêu dùng của nhân dân.
Quan trọng là việc xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất, làm cho cả
qui mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành
nghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng nhiều
hơn, năng suất lao động cao và đời sống nhân dân được cải thiện.
 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của
nước ta
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại
phụ thuộc lẫn nhau. Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ kinh tế này phát triển.
Chẳng hạn, xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín
dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế… Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối
ngoại chúng ta vừa kể lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để
phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nước
1.1.2.2. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp
Xuất khẩu là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít bị rủi ro, không tốn
nhiều chi phí, dễ áp dụng trong giai đoạn đầu thâm nhập thị trường quốc tế của
doanh nghiệp.
Xuất khẩu có thể mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích :
• Tăng doanh số bán hàng của doanh nghiệp
• Doanh nghiệp có thể tiếp thu được kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, tận
dụng được năng lực dư thừa khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu hàng
hoá
• Xuất khẩu giúp doanh nghiệp phân tán được rủi ro khi thị trường nội
địa có những biến động lớn

• Có những thị trường nước ngoài mang lại lợi nhuận cao hơn cho doanh
nghiệp so với những thị trường trong nước
• Doanh nghiệp có thể phát triển một hệ thống khách hàng lớn hơn để
phục vụ chiến lược qui mô kinh doanh của mình
1.1.3. Các hình thức xuất khẩu
1.1.3.1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty cho các
khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài.
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
12
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Xuất khẩu trực tiếp có 2 hình thức chủ yến là :
• Đại diện bán hàng : đại lý bán hàng là hình thức bán hàng không mang
danh nghĩa của mình mà lấy danh nghĩa của người uỷ thác nhằm nhận
lương và một phần hoa hồng trên cơ sở giá trị hàng hoá bán được. Trên
thực tế, đại diện bán hàng hoạt động như là nhân viên bán hàng của công
ty ở thị trường nước ngoài. Công ty sẽ ký hợp đồng trực tiếp với khách
hàng ở nước đó.
• Đại lý phân phối : đại lý phân phối là người mua hàng hoá của công ty
để bán theo kênh tiêu thụ ở khu vực mà công ty phân định. Công ty khống
chế phạm vi phân phối, kênh phân phối ở thị trường nước ngoài . Đại lý
phân phối chấp nhận toàn bộ rủi ro liên quan đến việc bán hàng hoá ở thị
trường đã phân định và thu lợi nhuận qua chênh lệch giữa giá mua và giá
bán.
1.1.3.2. Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng hoá và dịch vụ của công ty ra nước
ngoài thông qua trung gian ( thông qua người thứ ba ).
Các trung gian mua bán chủ yếu trong kinh doanh xuất khẩu là : đại lý,
công ty quản lý xuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Các trung
gian mua bán này không chiếm hữu hàng hoá của công ty nhưng trợ giúp công ty

xuất khẩu hàng hoá sang thị trường nước ngoài.
• Đại lý : là các cá nhân hay tổ chức đại diện cho nhà xuất khẩu thực hiện
một hay một số hoạt động nào đó ở thị trương nước ngoài. Đại lý chỉ thực
hiện một công việc nào đó cho công ty uỷ thác và nhận thù lao. Đại lý
không chiếm hữu và sỡ hữu hàng hoá. Đại lý là người thiết lập quan hệ
hợp đồng giữa công ty và khách hàng ở thị trường nước ngoài.
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
13
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
• Công ty quản lý xuất khẩu : là công ty nhận uỷ thác và quản lý công tác
xuất khẩu hàng hoá. Công ty quản lý xuất khẩu hàng hóa hoạt động trên
danh nghĩa của công ty xuất khẩu nên là nhà xuất khẩu gián tiếp. Công ty
quản lý xuất khẩu đơn thuần làm các thủ tục xuất khẩu và thu phí dịch vụ
xuất khẩu. Bản chất của công tác quản lý xuất khẩu là làm các dịch vụ
quản lý và thu được một khoản thù lao nhất định từ các hoạt động đó.
• Công ty kinh doanh xuất khẩu : là công ty hoạt động như nhà phân phối
độc lập có chức năng kết nối các khách hàng nước ngoài với các công ty
xuất khẩu trong nước để đưa hàng hoá ra nước ngoài tiêu thụ. Bản chất của
công ty kinh doanh xuất khẩu là thực hiện các dịch vụ xuất khẩu nhằm kết
nối khách hàng nước ngoài với công ty xuất khẩu.
• Đại lý vận tải : là các công ty thực hiện dịch vụ thuê vận chuyển va
những hoạt động có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như khai báo
hải quan, áp biểu thuế quan, thực hiện giao nhận chuyên chở và bảo hiểm.
1.1.3.3. Gia công xuất khẩu
Đó là hoạt động mà một bên – gọi là bên đặt hàng – giao nguyên vật liệu, bán
thành phẩm, có khi cả máy móc, thiết bị và chuyên gia cho bên kia – gọi là bên
nhận gia công – để sản xuất một mặt hàng mới theo yêu cầu của bên đặt hàng.
Sau khi sản xuất xong, bên đặt hàng nhận hàng hoá đó từ bên nhận gia công và
trả tiền công cho bên làm hàng gọi là hoạt động gia công. Khi hoạt động gia công
vượt ra khỏi pham vi biên giới quốc gia thị gọi là gia công xuất khẩu.

Tóm lại, gia công xuất khẩu là đưa các yếu tố sản xuất ( chủ yếu là nguyên
liệu ) từ nước ngoài về để sản xuất hàng hoá, nhưng không phải để tiêu dùng
trong nước mà để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch do tiền công đem lại. Vì vậy,
suy cho cùng, gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu lao động, nhưng là loại
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
14
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
lao động dưới dạng được sử dụng (được thể hiện trong hàng hoá ), chứ không
phải dưới dạng xuât khẩu nhân công ra nước ngoài.
Có 2 loại quan hệ gia công quốc tế :
• Một là, bên đặt gia công cung cấp nguyên liệu hoặc bán thành phẩm
( không chịu thuế quan ) cho người nhận gia công để chế biến sản phẩm và
giao trở lại cho bên đặt gia công. Ở đây chưa có sự chuyển giao quyền sở
hữu đối với nguyên liệu, bán thành phẩm. Thực chất đây là hình thức “
làm thuê “ cho bên đặt gia công , bên nhận gia công không có quyền chi
phối sản phẩm làm ra.
• Hai là, nguyên liệu hoặc bán thành phẩm được xuất đi nhằm gia công
chế biến và sau đó nhập thành phẩm trở lại. Trong quan hệ này, quyền sở
hữu đối với nguyên liệu, bán thành phẩm đã được chuyển giao. Vì vây, khi
nhập trở lại các bộ phận giá trị thực tế tăng thêm đều phải chịu thuế quan.
Thực chất đây là hình thức bên đặt gia công giao nguyên vật liệu , giup đỡ
kỹ thuật cho bện nhận gia công và bao tiêu sản phẩm.
Các hình thức gia công xuất khẩu :
• Gia công sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ( bao gồm cả tiểu thủ công
nghiệp ).
• Gia công sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu ( bao gồm trồng trọt và chăn
nuôi ).
1.1.3.4. Tái xuất khẩu và chuyển khẩu
Mỗi quốc gia có một định nghĩa riêng về tái xuất. Nhiều nước Tây Âu và Mỹ La-
ting quan niệm tái xuất là xuất khẩu những hàng ngoại quốc từ kho hải quan,

chưa qua chế biến ở nước mình. Anh, Mỹ và một số nước khác lại coi đó là việc
xuất khẩu những hàng ngoại quốc chưa qua chế biến ở trong nước dù hàng đó đã
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
15
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
qua lưu thông nội địa. Như vậy, các nước đều thống nhất quan niệm tái xuất là lại
xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng trước đây đã nhập khẩu , chưa qua chế
biến ở nước tái xuất.
Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về
một số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn luôn thu hút ba
nước : nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu. Vì vậy người ta còn gọi
giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác.
Các loại hình tái xuất : tái xuất có thề được thực hiên bằng một trong hai
hình thức sau :
• Tái xuất theo đúng nghĩa của nó : hàng hoá đi từ nước xuất khẩu tới
nước tái xuất, rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu.
Ngược chiều với sự vân động của hàng hoá là sự vận động của đồng tiền :
nước tái xuất trả tiền nước xuất khẩu và thu tiền của nước nhập khẩu.
• Chuyển khẩu : hàng hoá đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập
khẩu. Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền của nước nhập
khẩu.
Cần phân biệt các loại hình tái xuất khẩu với kinh doanh quá cảnh. Kinh
doanh quá cảnh là kinh doanh dịch vụ vận tải chở hàng nước ngoài từ một cửa
khẩu này đến một cửa khẩu biên giới khác.
1.1.4. Nội dung của hoạt động xuất khẩu
1.1.4.1. Nghiên cứu tiếp cận thị trường xuất khẩu
1. Nghiên cứu thị trường
Công việc đầu tiên của người làm công tác nghiên cứu thị trường là thu thập
những thông tin có liên quan đến thị trường và mặt hàng mình cần quan tâm. Có
2 phương pháp nghiên cứu thị trường :

PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
16
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
• Phương pháp nghiên cứu văn phòng hay nghiên cứu tại bàn
• Nghiên cứu hiện trường
 Nghiên cứu tại bàn :
Về cơ bản, nghiên cứu tại bàn bao gồm việc thu thập thông tin từ các nguồn tư
liệu, xuất bản hay không xuất bản và tìm những nguồn đó.
Nghiên cứu tại bàn là phương pháp phổ thông nhất về nghiên cứu thị
trường , vì nó đỡ tốn kém và phù hợp với khả năng của những người xuất khẩu
mới tham gia vào thị trường thế giới. Tuy nhiên, nó cũng hạn chế như chậm và
mức độ tin cậy có hạn. Kết quả nghiên cứu tại bàn cũng cần phải được bổ sung
bằng nghiên cứu hiện trường.
Chìa khoá thành công của nghiên cứu tại bàn là phát hiện ra các nguồn
thông tin và triệt để khai thác những thông tin đó.
 Nghiên cứu tại hiện trường :
Nghiên cứu tại hiện trường bao gồm việc thu thập thông tin chủ yếu thông qua
tiếp xúc với mọi người trên hiện trường. Nghiên cứu tại hiện trường là một
phương pháp quan trọng trong nghiên cứu thị trường. Về mặt trình tự, nghiên cứu
hiện trường có thể được thực hiện sau khi đã sơ bộ phân tích đánh giá những kết
quả nghiên cứu tại bàn, nghĩa là sau khi đã xử lý thông tin. Những việc thu thập
và xử lý thông tin là một quá trình liên tục, nhiều khi nó xảy ra cùng một lúc và
luôn được bổ sung thông tin mới, cũng như thường xuyên xử lý để có sự điều
chỉnh, phản ứng linh hoạt.
Nghiên cứu tại bàn chủ yếu thu thập thông tin qua các nguồn đã được công
khai xuất bản, còn nghiên cứu tại hiện trường chủ yếu thu thập thông tin từ trực
quan và qua các quan hệ giao tiếp với thương nhân và người tiêu dùng. Xét về
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
17
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP

tính phức tạp va mức độ chi phí, nghiên cứu hiện trường là một hoạt động tốn
kém và không phải ai cũng đủ trình độ để làm được.
2. Lựa chọn thị trường và mặt hàng trong kinh doanh xuất khẩu
 Lựa chọn thị trường : cần đề ra những tiêu chuẩn và dựa vào những tiêu chuẩn
đó để đánh giá và lựa chọn thị trường phù hợp.
Các tiêu chuẩn đánh giá thị trường:
• Tiêu chuẩn chung:
o Tiêu chuẩn về địa lý
o Tiêu chuẩn về kinh tế
o Tiêu chuẩn về kỹ thuật
• Tiêu chuẩn về qui chế thương mại và tiền tệ :
o Biện pháp bảo hộ mậu dịch
o Tình hình tiền tệ
• Tiêu chuẩn về thương mại :
o Phần của sản xuất nội địa
o Sự cạnh tranh quốc tế trên các thị
trường lựa chọn
 Lựa chọn mặt hàng kinh doanh :
Dựa vào kết quả nghiên cứu thị trường nhà kinh doanh phải xác định mặt hàng
dự định kinh doanh là mặt hàng gì, quy cách, phẩm chất, nhãn hiệu, bao bì đóng
gói hàng hoá đó như thế nào?
Vấn đề khá quan trọng trong giai đoạn này là xác định được số lượng hàng
xuất khẩu để đạt mục đích thu được lợi nhuận tối đa.
1.1.4.2. Chuẩn bị và ký kết hợp đồng xuất khẩu
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
18
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Sau giai đoạn nghiên cứu tiếp cận thị trường là giai đoạn giao dịch, thương lượng
với nhau về các điều kiện để đi đến ký kết hợp đồng.
1. Các bước giao dịch

 Hỏi giá : về phương diện pháp luật thi đây là lời thỉnh cầu bước vào giao dịch.
Nhưng xét về phương diện thương mại thì đây là việc người mua đề nghị người
bán báo giá cho mình biết giá cả và các điều kiện để mua hàng.
 Phát giá : luật pháp coi đây là lời đề nghị ký kết hợp đồng và như vậy phát giá
có thể do người bán hoặc người mua đưa ra. Nhưng trong buôn bán thì phát giá là
chào hàng, là việc người xuất khẩu thể hiện rõ ý định bán hàng của mình.
 Đặt hàng : Lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua được đưa
ra dưới hình thức đặt hàng. Trong đặt hàng, người mua nêu cụ thể về hàng hoá
định mua và tất cả những nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng
 Hoàn giá : Khi người nhận được chào hàng (đặt hàng ) không chấp thuận hoàn
toàn chào hàng (đặt hàng ) đó, mà đưa ra một đề nghị mới thì đề nghị mới này là
hoàn giá.
 Chấp nhận : Chấp nhận là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện của chào
hàng (đặt hàng) mà phía bên kia đưa ra.
 Xác nhận : Hai bên mua và bán, sau khi đã thống nhất thoả thuận với nhau về
điều kiện giao dịch, có khi cẩn thận ghi lại mọi điều đã thoả thuận, gửi cho đối
phương. Đó là văn kiện xác nhận.
2. Các hình thức đàm phán
 Đàm phán qua thư tín : Ngày nay thư từ và điện tín vẫn còn là phương tiện
chủ yếu để giao dịch giữa những người xuất nhập khẩu. Những cuộc tiếp xúc ban
đầu thường qua thư từ. Ngay khi sau này hai bên đã có điều kiện tiếp xúc trực
tiếp thì việc duy trì qua hệ cũng phải thông qua thư tin thương mại.
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
19
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
 Đàm phán qua điện thoại : Việc trao đổi qua điện thoại nhanh chóng, giúp
người giao dịch tiến hành đàm phán một cách khẩn trương, đúng vào thời cơ cần
thiết.
 Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp : Việc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để
trao đổi về các điều kiện giao dịch, vấn đề liên quan đến ký kết và thực hiện hợp

đồng mua bán là hình thức đàm phán đặc biệt quan trọng. Hình thức đàm phán
này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát
cho những đàm phán bằng thư tín và điện thoại kéo dài quá lâu mà không có kết
quả.
3. Ký kết hợp đồng xuất khẩu
Việc giao dich đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn đến việc ký kết hợp đồng xuất
khẩu. Hợp đồng có thể được thành lập dưới hình thức văn bản, hình thức miệng
hoặc hình thức mặc nhiên. Ở nước ta, hợp đông phải được ký kết dưới hình thức
văn bản.
Hợp đồng dưới hình thức văn bản có thể được thành lập dưới nhiều cách :
• Hợp đồng một văn bản, trong đó ghi rõ nội dung mua bán, mọi điều
kiện giao dịch đã thoả thuận và có chữ ký của hai bên.
• Hợp đồng gồm nhiều văn bản như những điện báo, thư từ giao dịch.
1.1.4.3. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
1. Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá
Đối với mặt hàng thuộc danh mục hàng hoá xuất khẩu có điều kiện thì doanh
nghiệp phải xin giấy phép xuất khẩu của cơ quan có thẩm quyền.
2. Chuẩn bị hàng xuất khẩu
 Đối với các doanh nghiệp thương mại kinh doanh xuất khẩu : chuẩn bị hàng
xuất khẩu bao gồm các công đoạn sau đây :
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
20
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
• Thu gom tập trung thành lô hàng xuất khẩu : do đặc điểm sản xuất hàng
xuất khẩu ở nước ta, nhiều loại hàng còn manh mún và phân tán. Nguồn
hàng đê xuất khẩu chủ yếu là hàng sơ cấp ( nguyên vật liệu qua sơ chế,
hàng bán thành phẩm ), hàng thủ công mỹ nghệ, hàng nông, lâm, thổ, thuỷ
sản. Do đó, phần lớn phải thu gom từ các cơ sở sản xuất nhỏ, từ trong nhân
dân, từ các cơ sở thu mua…
• Bao bì đóng gói hàng xuất khẩu : trong thực tế buôn bán hàng hoá nói

chung và buôn bán hàng hoá xuất khẩu nói riêng, hàng hoá phải qua khâu
bao bì đóng gói.
• Ký mã hiệu hàng xuất khẩu : kỹ mã hiệu là những ký hiệu bằng chữ,
bằng số hoặc bằng hình vẽ được ghi bên trong bao bì nhằm thông báo
những chi tiết cần thiết cho việc giao nhận, bốc dỡ hoặc bảo quản hàng
hoá.
 Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh : Đây là phương thức giao dịch
buôn bán trực tiếp giữa người sản xuất trong nước với người nhập khẩu. Ở đây,
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không phải làm nhiệm vụ thu gom hàng
hoá, hàng xuất khẩu chính là những sản phẩm của doanh nghiệp. Các bước còn
lại tiến hành giống như đối với doanh nghiệp thương mại.
3. Kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu
Kiểm tra chất lượng hàng hóa xuất khẩu là công việc cần thiết, đó là sự tiếp tục
quá trình các công đoạn thực hiện hợp đồng trong kinh doanh xuất khẩu.
Trước khi xuất khẩu, các nhà xuất khẩu phải có nghĩa vụ kiểm tra về phẩm
chất, số lượng, trọng lượng, bao bì… (kiểm nghiệm).Nếu hàng hoá là động vật,
thực vật phải kiểm tra khả năng lây lan bệnh tật ( kiểm dịch động, thực vật ).
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
21
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Việc kiểm nghiệm và kiểm dịch phải được tiến hành ở 2 cấp : ở cơ sở và ở
cửa khẩu, trong đó, kiểm tra ở cơ sở do phòng KCS tiến hành có vai trò quyết
định và có tác dụng triệt để nhất. Kiểm tra ở cửa khẩu có tác dụng kiểm tra lại kết
quả kiểm tra ở cơ sở.
4. Thuê tàu và lưu cước
Trong quá trình thực hiện thực hiện hợp đồng xuất khẩu, việc thuê tàu sẽ dựa vào
căn cứ sau đây :
• Những điều khoản hợp đồng mua bán
• Đặc điểm hàng hoá mua bán
• Điều kiện vận tải

5. Mua bảo hiểm
Chuyên chở hàng hoá bằng đường biển thường gặp rất nhiều rủi ro, tồn thất. Bởi
vậy, trong kinh doanh thương mại quốc tế, bảo hiểm hàng hoá đường biển là loại
bảo hiểm phổ biến nhất. Tuỳ thuộc vào hợp đồng mua bán mà bên xuất khẩu
hoặc bên nhập khẩu sẽ có trách nhiệm mua bảo hiểm cho chuyến hàng.
6. Làm thủ tục hải quan
Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để xuất khẩu đều phải làm thủ tục
hải quan. Việc làm thủ tục hải quan gồm 3 bước chủ yếu sau đây :
 Khai báo hải quan : Chủ hàng phải kê khai chi tiết hàng hoá lên tờ khai để cơ
quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ. Việc kê khai phải trung thực, chính
xác.
 Xuất trình hàng hoá : Hàng hoá xuất khẩu phải sắp xếp trật tự, thuận tiện cho
việc kiểm soát.
Thông thường với khối lượng hàng hoá ít, người ta vận chuyển hàng hoá
tới kho hải qua để kiểm lượng, làm thủ tục hải quan và nộp thuế. Đối với hàng
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
22
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
xuất khẩu khối lượng lớn, việc kiểm tra hàng hoá và giấy tờ hải quan có thể diễn
ra ở 2 nơi :
• Tại nơi đóng gói bao kiện : nhân viên hải quan có thể kiểm tra theo
nghiệp vụ của mình và nội dung hàng hoá được niêm phong kẹp chì.
• Tại cửa khẩu : nhân viên hải quan kiểm tra hàng hoá và giấy tờ ngay tại
cửa khẩu xuất hàng hoá.
 Thực hiện các quyết định của hải quan : sau khi kiểm tra giấy tờ và hàng hoá,
hải quan sẽ ra các quyết định :
• Cho hàng qua biên giới ( thông quan )
• Cho hàng hoá qua biên giới với điều kiện ( ví dụ phải sửa chữa, khắc
phục các khuyết tật, phải bao bì lại ).
• Cho hàng hoá qua biên giới sau khi chủ hàng đã nộp thuế xuất khẩu

• Không được phép xuất khẩu
Trách nhiệm của chủ hàng là phải nghiêm túc thực hiện các quyết định
trên. Nếu vi phạm các quyết định trên sẽ thuộc vào tội hình sự.
7. Giao hàng xuất khẩu
Phần lớn hàng xuất khẩu được vận chuyển bằng đường biển, đường sắt,
container.
Nếu hàng hoá được giao bằng đường biển, chủ hàng phải tiến hành các
việc sau đây :
• Căn cứ vào chi tiết hàng xuất khẩu lập bản đăng ký hàng chuyên chở
• Xuất trình bản đăng ký hàng chuyên chở cho người vận tải để lấy hồ sơ
xếp hàng
• Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng
PHẠM TUẤN ANH KINH DOANH QUỐC TẾ 46A
23

×